bảng Tên bảng Trang 1.1 Ví dụ về thuộc tính và sai lệch trong thử nghiệm kiểm soát 19 1.2 Tỷ lệ sai lệch cho phép đối với các mức đánh giá rủi ro 2.1 Trách nhiệm cụ thể của từng thành
Trang 1NGUYỄN KHƯƠNG ĐẠI
HOÀN THIỆN KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY
TNHH KIỂM TOÁN AFA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01
ị Ngọc Trai
Đà Nẵng - Năm 2017
Trang 2Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trang 31 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi hay giả thuyết nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
8 Bố cục của đề tài 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 8
1.1 KHÁI QUÁT VỀ KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 8
1.1.1 Khái niệm về kiểm toán báo cáo tài chính 8
1.1.2 Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính 9
1.1.3 Các kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính 12
1.2 KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG THỬ NGHIỆM KIỂM SOÁT 18
1.2.1 Lập kế hoạch chọn mẫu 18
1.2.2 Thực hiện kỹ thuật chọn mẫu 22
1.2.3 Đánh giá kết quả mẫu 22
1.3 KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG THỬ NGHIỆM CƠ BẢN 23
1.3.1 Lập kế hoạch chọn mẫu 24
1.3.2 Thực hiện kỹ thuật chọn mẫu 25
1.3.3 Đánh giá kết quả mẫu 26
Trang 4TY TNHH KIỂM TOÁN AFA 29
2.1 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN AFA 29
2.1.1 Các thông tin chung về công ty kiểm toán AFA 29
2.1.2 Phương châm hoạt động 29
2.1.3 Chức năng và lĩnh vực hoạt động 31
2.1.4 Bộ máy tổ chức 34
2.1.5 Giới thiệu về cơ cấu của một nhóm kiểm toán 35
2.2 QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH ÁP DỤNG THỰC TẾ TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN AFA 42
2.2.1 Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán 42
2.2.2 Giai đoạn thực hiện kiểm toán 44
2.2.3 Giai đoạn kết thúc kiểm toán 45
2.3 NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN AFA 46
2.3.1 Phỏng vấn về các khoản mục có áp dụng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC 46
2.3.2 Khảo sát hồ sơ kiểm toán và phỏng vấn các KTV liên quan 49
2.3.3 Nhận xét về thực tế áp dụng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại AFA 66
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN BCTC TẠI CÔNG TY AFA 71
3.1 SỬ DỤNG KỸ THUẬT CHỌN MẪU THUỘC TÍNH THỐNG KÊ TRONG THỬ NGHIỆM KIỂM SOÁT 71
Trang 5NGHIỆP VỤ 823.3 HOÀN THIỆN KỸ THUẬT CHỌN MẪU THEO ĐƠN VỊ TIỀN TỆ TRONG THỬ NGHIỆM KIỂM TRA CHI TIẾT SỐ DƢ 85
KẾT LUẬN 88 PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)
Trang 6BCTC Báo cáo tài chính
VSA Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
Trang 7bảng Tên bảng Trang
1.1 Ví dụ về thuộc tính và sai lệch trong thử nghiệm kiểm soát 19
1.2 Tỷ lệ sai lệch cho phép đối với các mức đánh giá rủi ro
2.1 Trách nhiệm cụ thể của từng thành viên trong nhóm kiểm
2.3 Hoạt động kiểm soát đối với nghiệp vụ thu chi tiền mặt 53
2.3 Kết quả mẫu chọn đối với thử nghiệm kiểm soát trong
2.4 Kết quả mẫu chọn đối với thử nghiệm chi tiết trong chương
2.5 Xác định cỡ mẫu đối với thử nghiệm chi tiết trong chương
trình kiểm toán chi phí quản lý doanh nghiệp 61
2.5 Kết quả mẫu chọn đối với thử nghiệm chi tiết trong chương
trình kiểm toán chi phí quản lý doanh nghiệp 63
2.6 Xác định giá trị mẫu chọn đối với thử nghiệm chi tiết trong
chương trình kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng 64
2.7 Xác định cỡ mẫu đối với thử nghiệm chi tiết trong chương
trình kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng 65
3.1 Xác định các thuộc tính và sai phạm đối với kỹ thuật chọn
3.2 Xác định hướng kiểm tra và tổng thể chọn mẫu đối với kỹ
Trang 83.3 Xác định tỷ lệ sai lệch chấp nhận đƣợc cho từng thuộc tính
3.4 Xác định tỷ lệ sai phạm tổng thể dự kiến cho từng thuộc
3.5 Xác định cỡ mẫu cho từng thuộc tính trong khoản mục tiền
Kết quả mẫu chọn do áp dụng kỹ thuật chọn mẫu theo đơn
vị tiền tệ lũy kế đối với khoản mục chi phí quản lý doanh
nghiệp
85
Trang 9hình Tên hình Trang
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ những năm 1990, hoạt động kiểm toán đã hình thành ở nước ta Tuy ban đầu chưa thực sự phát triển mạnh nhưng với những chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước trong những năm qua như khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, sự ra đời của sàn giao dịch chứng khoán, nhu cầu về thông tin tài chính của các doanh nghiệp ngày càng tăng cao Từ
đó, dịch vụ kiểm toán đã trở thành dịch vụ theo luật định đối với nhiều loại hình đơn vị hoạt động
Hiện nay, lĩnh vực hoạt động chính của các công ty kiểm toán vẫn là dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính Trong quá trình kiểm toán BCTC, việc thu thập bằng chứng kiểm toán có vai trò đặc biệt quan trọng Tính trung thực
và hợp lý của báo cáo tài chính phụ thuộc vào bằng chứng kiểm toán mà kiểm toán viên thu thập làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán Nhưng chúng ta biết rằng số lượng tài liệu cần được kiểm toán trong mỗi công ty không phải nhỏ, vậy làm sao để kiểm toán viên vừa có thể thu thập đầy đủ những tài liệu thích hợp, vừa đảm bảo được thời hạn kiểm toán đã đặt ra?
Thu thập bằng chứng kiểm toán có nhiều phương pháp khác nhau và cũng vì lý do đó mà các kiểm toán viên cần xác định kỹ thuật chọn mẫu thích hợp Kỹ thuật này sẽ giúp kiểm toán viên tiết kiệm thời gian nhưng vẫn đảm bảo thu thập được những bằng chứng kiểm toán cần thiết để thoả mãn các mục tiêu kiểm toán đặt ra Đánh giá thích hợp về bằng chứng kiểm toán, kiểm toán viên mới có thể đưa ra nhận xét hợp lý về báo cáo tài chính của doanh nghiệp
Đến thời điểm hiện tại, kỹ thuật chọn mẫu tại Công ty TNHH Kiểm toán AFA vẫn còn nhiều bất cập trong việc áp dụng vào cuộc kiểm toán Công ty chưa hướng dẫn cụ thể kỹ thuật chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát, vì vậy
Trang 11kiểm toán viên chủ yếu dựa vào xét đoán nghề nghiệp mà chưa chú trọng việc
áp dụng kỹ thuật chọn mẫu thuộc tính thống kê để đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, rủi ro kết luận sai về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng vẫn có khả năng xảy ra Đối với thử nghiệm kiểm tra chi tiết, Công ty áp dụng
kỹ thuật chọn mẫu phi thống kê và kỹ thuật chọn mẫu thống kê theo đơn vị tiền tệ lũy kế Tuy nhiên, Công ty chưa tiến hành đánh giá kết quả mẫu được chọn có phù hợp với tổng thể hay chưa Chính điều này dẫn đến trường hợp, mẫu được chọn để kiểm tra không có sai sót nhưng tổng thể vẫn có khả năng xảy ra sai sót cao do mẫu được chọn không đại diện cho tổng thể Do đó, tác
giả chọn đề tài “Hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài
chính tại Công ty TNHH Kiểm toán AFA” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ của
mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng vận dụng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán AFA tại các công ty khách hàng,
từ đó đề xuất các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện việc vận dụng kỹ thuật chọn mẫu tại Công ty AFA
3 Câu hỏi hay giả thuyết nghiên cứu
Thực trạng việc áp dụng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán AFA hiện nay như thế nào?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán
báo cáo tài chính áp dụng tại Công ty TNHH Kiểm toán AFA
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC áp dụng tại Công ty AFA trong năm 2016
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống, được tiến hành qua các
bước như sau:
- Phỏng vấn Trưởng phòng kiểm toán và Phó Tổng Giám đốc về các
tình huống, các khoản mục thường áp dụng kỹ thuật chọn mẫu
- Khảo sát hồ sơ kiểm toán có vận dụng kỹ thuật chọn mẫu kết hợp phỏng vấn kiểm toán viên trực tiếp thực hiện để đánh giá về thực trạng vận
dụng kỹ thuật chọn mẫu tại Công ty AFA
Từ kết quả khảo sát, tác giả sẽ đề xuất các giải pháp hoàn thiện kỹ thuật
chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty AFA
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt khoa học, luận văn góp phần làm rõ thêm các vấn đề có liên quan đến kỹ thuật chọn mẫu cũng như ảnh hưởng của việc vận dụng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC
Về mặt thực tiễn, luận văn làm rõ hơn thực trạng áp dụng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại Công ty AFA cũng như nêu ra được ưu và khuyết điểm của việc áp dụng tại Công ty AFA Ngoài ra, luận văn cũng góp phần đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện việc vận dụng kỹ thuật chọn mẫu tại Công ty AFA
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC đã được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài này, các tài liệu chính liên quan đến cơ sở lý luận và thực tiễn về kỹ thuật chọn mẫu mà tác giả tham khảo là hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) ban hành ngày 06/12/2012 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2014), chương trình kiểm toán mẫu do Hội KTV hành nghề ban hành và chương trình kiểm toán mẫu của AFA
Trang 13Ngoài ra, có khá nhiều nghiên cứu liên quan đến đề tài hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu như sau:
- “Thực tiễn chọn mẫu của kiểm toán viên áp dụng trong công ty đại chúng, doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp nhà nước”, Thomas W.Hall, James E Hunton và Bethane Jo Pierce - 2002 [10] Nghiên cứu này chỉ ra rằng kỹ thuật chọn mẫu phi thống kê được kiểm toán viên áp dụng nhiều đối với công ty đại chúng, công ty sản xuất và doanh nghiệp nhà nước Điều này
có thể giải thích được nguyên nhân là do trong một đợt kiểm toán, khối lượng công việc rất lớn nên kiểm toán viên thường áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phi thống kê để tiết kiệm thời gian vì kỹ thuật chọn mẫu thống kê đòi hỏi kỹ thuật tính toán tốn nhiều thời gian Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa đề cập tới quy trình thực hiện kỹ thuật chọn mẫu thống kê và phi thống kê trong kiểm toán báo cáo tài chính
- “Nghiên cứu chọn mẫu kiểm toán: Tổng hợp và ý nghĩa cho nghiên cứu trong tương lai”, Randal J Elder, Abraham D Akresh, Steven M Glover, Julia L Higgs và Jonathan Liljegren - 2013 [11] Nghiên cứu này chỉ ra những hạn chế trong việc áp dụng chọn mẫu kiểm toán Xét đoán KTV rất quan trọng bao gồm: xác định xem có lấy mẫu kiểm toán hay không, kỹ thuật lấy mẫu nào áp dụng (lấy mẫu thuộc tính hay bằng tiền), sử dụng các kỹ thuật thống kê hoặc không thống kê, tổng thể thích hợp để xác định cỡ mẫu và đánh giá kết quả mẫu, đặc biệt khi có sai sót trong mẫu Nghiên cứu chỉ ra rằng kiểm toán viên có thể đánh giá thấp rủi ro và yêu cầu sự đảm bảo để giảm phạm vi kiểm tra Nghiên cứu cũng cho thấy kiểm toán viên đôi khi không dự đoán tỷ lệ sai sót mẫu và có xu hướng quyết định thiên vị khi áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phi thống kê
Trang 14- “Phương pháp chọn mẫu kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
do Công ty Kiểm toán Việt Nam Trách nhiệm hữu hạn thực hiện”, Đỗ Quốc Tuyển - 2004 [6] Nghiên cứu này chỉ ra tính hữu hiệu và hiệu quả của cuộc kiểm toán khi áp dụng kỹ thuật chọn mẫu Kiểm toán viên thường sử dụng kỹ thuật chọn mẫu thuộc tính để đánh giá hệ thống kiểm soát và áp dụng kỹ thuật chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ khi thực hiện các thử nghiệm kiểm tra chi tiết Nghiên cứu này cũng chỉ rõ quy trình thực hiện kỹ thuật chọn mẫu thuộc tính
và chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa đề cập đến việc đánh giá kết quả mẫu chọn được
- “Hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại Công ty Kiểm toán và Kế toán AAC”, Dương Thị Vân Thanh - 2009 [7] Nghiên cứu này chỉ ra các kỹ thuật chọn mẫu thống kê và phi thống được kiểm toán viên
áp dụng trong kiểm toán báo cáo tài chính Kiểm toán viên thường sử dụng
kỹ thuật chọn mẫu thuộc tính để đánh giá hệ thống kiểm soát và áp dụng kỹ thuật chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ khi thực hiện các thử nghiệm kiểm tra chi tiết Nghiên cứu này cũng hướng dẫn chi tiết từng bước thực hiện kỹ thuật chọn mẫu thuộc tính sử dụng phần mềm chọn mẫu và kỹ thuật chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ sử dụng các hàm trong excel Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa tiến hành đánh giá mẫu được chọn có phù hợp với tổng thể hay chưa Chính điều này dẫn đến trường hợp, mẫu được chọn để kiểm tra không có sai sót nhưng tổng thể vẫn có khả năng xảy ra sai sót cao do mẫu được chọn không đại diện cho tổng thể Ngoài ra, nghiên cứu này chưa chỉ ra cách xác định giới hạn sai sót khi thực hiện các thử nghiệm kiểm toán
- “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC”, Lê Nguyễn Ngọc Anh - 2010 [8] Nghiên cứu này chỉ ra các kỹ thuật chọn mẫu thống kê và phi thống được kiểm toán viên áp dụng trong kiểm toán báo cáo
Trang 15tài chính Nghiên cứu đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu như: sử dụng chọn mẫu thuộc tính trong thử nghiệm kiểm soát, kết hợp giữa chọn mẫu phân tầng và chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ lũy kế trong thử nghiệm chi tiết Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa tiến hành đánh giá mẫu được chọn có phù hợp với tổng thể hay chưa Ngoài ra, nghiên cứu này chưa chỉ ra cách xác định giới hạn sai sót khi thực hiện các thử nghiệm kiểm toán
- “Cơ sở lý thuyết của kỹ thuật chọn mẫu thống kê theo đơn vị tiền tệ sử dụng trong kiểm toán báo cáo tài chính”, TS Đoàn Thị Ngọc Trai, Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng - 2012 [9] Nghiên cứu này được thực hiện nhằm chỉ ra cơ sở lý thuyết của kỹ thuật chọn mẫu thống kê, đặc biệt là kỹ thuật chọn mẫu thống kê theo đơn vị tiền tệ đang được các công ty kiểm toán độc lập sử dụng rộng rãi hiện nay Nghiên cứu này chỉ ra được cơ sở lý thuyết của việc xác định cỡ mẫu và đánh giá kết quả mẫu trong kỹ thuật chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ dựa trên phân phối Poisson, cũng như cách thức xác định giới hạn trên của sai sótđược tính dựa trên phân phối Poisson trong thử nghiệm kiểm tra chi tiết Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ mang tính chất tổng quát, chưa áp dụng thực tế vào từng khoản mục trên báo cáo tài chính
Các nghiên cứu trước đây chưa tiến hành đánh giá mẫu được chọn có phù hợp với tổng thể hay chưa Chính điều này dẫn đến trường hợp, mẫu được chọn để kiểm tra không có sai sót nhưng tổng thể vẫn có khả năng xảy
ra sai sót cao do mẫu được chọn không đại diện cho tổng thể Ngoài ra, các nghiên cứu trước cũng chưa chỉ ra cách xác định giới hạn sai sót khi thực hiện các thử nghiệm kiểm toán hoặc có nhưng chưa trình bày chi tiết cách thức áp dụng thực tế vào từng khoản mục trên báo cáo tài chính
Tại Công ty AFA chưa có nghiên cứu nào thực hiện đề tài này, tác giả nhận thấy cần thiết nghiên cứu để hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính áp dụng tại Công ty AFA
Trang 168 Bố cục của đề tài
Đề tài có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính
Chương 2: Nghiên cứu thực trạng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính áp dụng tại Công ty AFA
Chương 3: Hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty AFA
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG
KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1 KHÁI QUÁT VỀ KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1.1 Khái niệm về kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập [4]
Kiểm toán báo cáo tài chính là hoạt động của các kiểm toán viên độc lập
và có năng lực tiến hành thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán về các báo cáo tài chính được kiểm toán nhằm kiểm tra và báo cáo về mức độ trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính được kiểm toán với các tiêu chuẩn, chuẩn mực đã được thiết lập Do báo cáo tài chính bắt buộc phải được lập theo các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành nên các chuẩn mực
kế toán và chế độ kế toán được sử dụng làm thước đo trong kiểm toán báo cáo tài chính [4]
Mục tiêu tổng quát của kiểm toán báo cáo tài chính là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài chính
có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không Ngoài ra mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị
Trang 181.1.2 Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính
Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính được thực hiện qua ba giai đoạn là: giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, giai đoạn thực hiện kiểm toán và giai đoạn kết thúc kiểm toán
a Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Thu thập thông tin cơ sở như ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh, hoạt động kinh doanh, các bên liên quan Đồng thời, KTV còn phải đánh giá việc sử dụng chuyên gia bên ngoài trong những tình huống cần thiết Thu thập thông tin về các nghĩa vụ pháp lý của khách hàng cần phải được kiểm tra ngay sau khi thu thập thông tin cơ bản Những thông tin này được thu thập thông qua việc tìm hiểu điều lệ công ty, các quy chế của công ty khách hàng, các biên bản họp Ban Giám đốc và Hội đồng quản trị, các hợp đồng của công ty
Sau khi đạt được các thông tin trên cần thực hiện các thủ tục phân tích sơ
bộ nhằm để hiểu biết về ngành nghề kinh doanh và công việc kinh doanh của khách hàng, đánh giá khả năng tiếp tục hoạt động kinh doanh, chỉ ra những sai phạm có thể và để giảm công việc kiểm tra chi tiết
Thực hiện các thủ tục phân tích sơ bộ về tổng thể BCTC, xác định mức trọng yếu và đánh giá rủi ro Đánh giá và khoanh vùng rủi ro trọng yếu đối với từng phần hành, từng khoản mục để chuẩn bị cho chương trình kiểm toán Trên cơ sở kế hoạch tổng thể, KTV xây dựng chương trình kiểm toán cụ thể cho từng phần hành kiểm toán Trong quá trình thực hiện kiểm toán, các KTV sẽ phải tuân theo quy trình kiểm toán và chỉ được thay đổi trong các trường hợp đặc biệt
Tóm lại, giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán bao gồm sáu phần chính là chuẩn bị kế hoạch, thu thập thông tin cơ bản về khách hàng, thu thập thông tin
về các nghĩa vụ pháp lý của khách hàng, đánh giá tính trọng yếu và rủi ro, tìm
Trang 19hiểu cơ cấu kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát và việc khai triển kế hoạch kiểm toán toàn bộ và chương trình kiểm toán Mỗi phần trong năm phần đầu nhằm mục đích giúp KTV khai triển phần cuối cùng, một kế hoạch kiểm toán toàn bộ, một chương trình kiểm toán hiệu quả và hiệu lực
b Giai đoạn thực hiện kiểm toán
Giai đoạn thực hiện kiểm toán bao gồm các bước sau:
- Kiểm tra, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ;
- Kiểm tra, đánh giá hệ thống kế toán;
- Kiểm tra chi tiết từng chỉ tiêu trình bày trên Báo cáo tài chính;
- Tổng hợp và đánh giá kết quả kiểm tra chi tiết cho từng khoản mục trình bày trên Báo cáo tài chính
Trong quá trình kiểm toán, KTV sẽ thực hiện thông qua hai phương pháp
là thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản
Mục đích của thử nghiệm kiểm soát để đánh giá hệ thống kiểm soát nội
bộ của khách hàng, phát hiện những điểm cần khắc phục và đề xuất với khách hàng những giải pháp hữu hiệu nhất để đảm bảo an toàn, hiệu quả cho khách hàng trong quá trình hoạt động kinh doanh Đối với những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, KTV thường bỏ qua thủ tục kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bộ
và tiến hành thử nghiệm cơ bản Đối với những doanh nghiệp có quy mô lớn, KTV áp dụng kỹ thuật chọn mẫu để đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ Vì các kết quả của các khảo sát về nghiệp vụ là yếu tố quyết định chủ yếu phạm
vi các cuộc khảo sát chi tiết số dư, chúng thường được thực hiện trước ngày lập bảng cân đối tài sản từ hai hoặc ba tháng Điều này giúp cho kiểm toán viên lập kế hoạch cho những điều ngoài ý muốn, xem xét lại chương trình kiểm toán cho những kết quả ngoài dự kiến và hoàn tất cuộc kiểm toán càng sớm sau ngày lập bảng cân đối tài sản càng tốt
Trang 20Mục đích của thử nghiệm cơ bản để thu thập đầy đủ các bằng chứng về các số liệu và thuyết minh trên báo cáo tài chính để làm cơ sở đưa ra các ý kiến nhận xét về tình hình tài chính cũng như tình hình hoạt động của khách hàng nhằm nâng cao hiệu quả tối đa của kiểm toán Thử nghiệm cơ bản bao gồm các thủ tục phân tích và các cuộc khảo sát chi tiết số dư Thủ tục phân tích nhằm đánh giá tính hợp lý chung của các nghiệp vụ và số dư Các cuộc khảo sát chi tiết về số dư nhằm mục đích khảo sát đối với những sai sót tiền tệ trong các số dư trên báo cáo tài chính KTV thường kiểm tra chi tiết từng khoản mục trên báo cáo tài chính để đảm bảo không có sai sót trọng yếu xảy
ra KTV áp dụng kỹ thuật chọn mẫu thống kê hoặc phi thống kê để đánh giá từng khoản mục trên BCTC có được trình bày hợp lý hay không
c Giai đoạn kết thúc kiểm toán
Sau khi các công việc được thực hiện ở hai giai đoạn trên, KTV phải tổng hợp kết quả và phát hành báo cáo kiểm toán Những nội dung chủ yếu ở giai đoạn này gồm:
- Soát xét những khoản nợ tiềm tàng: là việc xem xét các khoản nợ ngoài ý muốn có thể phát sinh làm ảnh hưởng đến báo cáo tài chính như các khoản tiền có thể bị phạt bị bồi thường do bị kiện tụng…
- Soát xét các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ BCTC: các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ BCTC là những sự kiện có ảnh hưởng đến báo cáo tài chính phát sinh sau khi kết thúc năm tài chính, khóa sổ lập báo cáo tài chính nhưng trước khi ký báo các kiểm toán và cả những sự kiện phát sinh sau khi ký báo cáo kiểm toán
- Đánh giá các kết quả: KTV phải đánh giá các kết quả của cuộc kiểm toán và quyết định xem bằng chứng đã thu thập đầy đủ hay chưa Các tư liệu được xem xét lại bởi những người có nhiều kinh nghiệm hơn người thực hiện ban đầu để phát hiện những sai sót và đánh giá những lời bình và kết luận của
Trang 21người kia Quá trình xem xét lại sự đúng đắn của các tư liệu là cách chủ yếu
để đảm bảo việc thực hiện có chất lượng và sự phán xét độc lập của toàn bộ nhóm kiểm toán
- Công bố báo cáo kiểm toán: căn cứ vào bằng chứng kiểm toán thu thập được và các phát hiện trong quá trình kiểm toán, KTV tổng hợp, đánh giá kết quả và xác định loại báo cáo kiểm toán phù hợp, lập và phát hành báo cáo kiểm toán
1.1.3 Các kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính
a Các khái niệm liên quan đến chọn mẫu trong kiểm toán BCTC
Chọn mẫu kiểm toán là quá trình chọn một nhóm các phần tử hoặc đơn
vị (gọi là mẫu) từ một tập hợp lớn các phần tử hoặc đơn vị (gọi là tổng thể) và
sử dụng các đặc trưng của mẫu để suy rộng cho các đặc trưng của toàn bộ
tổng thể Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 530, “lấy mẫu kiểm toán
là việc áp dụng các thủ tục kiểm toán trên số phần tử ít hơn 100% tổng số phần tử của một tổng thể kiểm toán sao cho tất cả các đơn vị lấy mẫu đều có
cơ hội được lựa chọn nhằm cung cấp cho kiểm toán viên cơ sở hợp lý để đưa
ra kết luận về toàn bộ tổng thể”
Tổng thể là toàn bộ dữ liệu mà từ đó kiểm toán viên lấy mẫu nhằm rút ra kết luận về toàn bộ dữ liệu đó [2] Ví dụ, tất cả các phần tử trong một số dư tài khoản hay một loại nghiệp vụ cấu thành một tổng thể Một tổng thể có thể được chia thành các nhóm hoặc các tổng thể con và mỗi nhóm được kiểm tra riêng
Đơn vị lấy mẫu là các phần tử riêng biệt cấu thành tổng thể [2] Đơn vị lấy mẫu có thể là đơn vị hiện vật (ví dụ các séc trong bảng kê nộp tiền, các nghiệp vụ ghi có trên sổ phụ ngân hàng, hóa đơn bán hàng hoặc số dư nợ các khoản phải thu khách hàng) hoặc đơn vị tiền tệ
Trang 22Cỡ mẫu là số lượng các phần tử trong tổng thể được lựa chọn theo tiêu thức nhất định vào mẫu để kiểm tra Mục 10, 11 của VSA 530 có nêu rằng, kiểm toán viên phải đảm bảo rủi ro kiểm toán do áp dụng phương pháp lấy mẫu giảm xuống mức có thể chấp nhận được khi xác định cỡ mẫu Cỡ mẫu chịu ảnh hưởng bởi mức rủi ro kiểm toán Rủi ro có thể chấp nhận được càng thấp thì cỡ mẫu cần thiết sẽ càng lớn Cỡ mẫu có thể được xác định thông qua các tính toán thống kê hoặc dựa trên xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên
Sai phạm cá biệt là một sai sót hay sai lệch được chứng minh là không đại diện cho các sai sót hay sai lệch của tổng thể [2]
Phân nhóm là việc phân chia một tổng thể thành các tổng thể con, mỗi tổng thể con là một nhóm các đơn vị lấy mẫu có cùng tính chất (thường là chỉ tiêu giá trị) [2]
Sai sót có thể bỏ qua là một giá trị được kiểm toán viên đặt ra mà dựa vào đó kiểm toán viên mong muốn đạt được mức độ đảm bảo hợp lý rằng sai sót thực tế của tổng thể không vượt quá giá trị đặt ra [2]
Tỷ lệ sai lệch có thể bỏ qua là một tỷ lệ sai lệch được kiểm toán viên đặt
ra đối với các thủ tục kiểm soát nội bộ mà dựa vào đó kiểm toán viên mong muốn đạt được mức độ đảm bảo hợp lý rằng tỷ lệ sai lệch thực tế của tổng thể không vượt quá tỷ lệ sai lệch đặt ra [2]
b Sự cần thiết và ý nghĩa của kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính
Kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính được sử dụng rộng rãi, phổ biến do có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu và thực tiễn Kiểm toán báo cáo tài chính là hoạt động mà kiểm toán viên cung cấp một sự đảm bảo hợp lý về tính trung thực và hợp lý về báo cáo tài chính đơn vị được kiểm toán Tuy nhiên đối tượng kiểm toán là một số lượng lớn các nghiệp vụ,
Trang 23tài sản, chứng từ cụ thể, thường được biểu hiện bằng những số tiền nhất định
mà do những hạn chế về thời gian, chi phí cũng như nhân sự nên kiểm toán viên không thể kiểm tra toàn bộ dữ liệu kế toán được Nhưng kiểm toán viên lại phải đảm bảo nguyên tắc thận trọng đúng mực cũng như đem lại niềm tin cho những người sử dụng thông tin, các công ty kiểm toán đã lựa chọn một công cụ hữu hiệu, đó là kỹ thuật chọn mẫu để kiểm tra Việc áp dụng kỹ thuật chọn mẫu giúp kiểm toán viên bảo đảm được chất lượng kiểm toán với chi phí hợp lý
Theo VSA 500 hiện hành, có nhiều cách khác nhau để thu thập bằng chứng kiểm toán: kiểm tra, quan sát, xác nhận từ bên ngoài, tính toán lại, thực hiện lại, thủ tục phân tích, phỏng vấn Cho dù thu thập bằng chứng theo cách nào thì bằng chứng thu thập được cũng cần đảm bảo thích hợp và đầy đủ Vì vậy, kiểm toán viên nên cân nhắc kỹ thuật chọn mẫu kiểm toán phù hợp, để mẫu được chọn đại diện cho tổng thể cần kiểm tra Qua đó, kiểm toán viên có thể đưa ra những ý kiến thích hợp về tổng thể và cung cấp ý kiến chính xác về báo cáo tài chính của đơn vị Do đó, chọn mẫu là một quá trình không thể thiếu trong bất kỳ một quy trình kiểm toán nào, đây là cơ sở để kiểm toán viên nêu ý kiến về báo cáo tài chính của đơn vị Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 500 và VSA 530 yêu cầu kiểm toán viên phải áp dụng kỹ thuật chọn mẫu thích hợp để có thể thỏa mãn các mục tiêu kiểm toán
Vì vậy, kiểm toán viên sẽ áp dụng kỹ thuật chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát cũng như thử nghiệm cơ bản để đảm bảo cung cấp thông tin thích hợp và đầy đủ cho người sử dụng thông tin của đơn vị được kiểm toán
Trang 24
c Các kỹ thuật chọn mẫu áp dụng trong các thử nghiệm kiểm toán
Các kỹ thuật chọn mẫu áp dụng trong các thử nghiệm kiểm toán bao gồm kỹ thuật chọn mẫu thống kê và kỹ thuật chọn mẫu phi thống kê Theo
chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 530, “lấy mẫu thống kê là việc sử dụng
kỹ thuật tính toán toán học để tính kết quả thống kê có hệ thống Phương pháp lấy mẫu này có hai đặc điểm sau:
(i) Các phần tử được lựa chọn ngẫu nhiên vào mẫu;
(ii) Sử dụng lý thuyết xác suất thống kê để đánh giá kết quả mẫu, bao gồm cả việc định lượng rủi ro lấy mẫu
Một phương pháp lấy mẫu không có đặc điểm (i) và (ii) nêu trên được coi là lấy mẫu phi thống kê Việc lựa chọn mẫu sẽ dựa vào phán xét nghề nghiệp của kiểm toán viên chứ không dựa vào lý thuyết xác suất”
Các phương pháp lựa chọn các phần tử vào mẫu bao gồm phương pháp ngẫu nhiên (xác suất) và phương pháp phi ngẫu nhiên (phi xác suất) Đối với
kỹ thuật chọn mẫu thống kê yêu cầu kiểm toán viên phải lựa chọn các phần tử vào mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên Phương pháp lựa chọn các phần tử vào mẫu ngẫu nhiên là một phương pháp lựa chọn các phần tử vào mẫu theo nguyên tắc mỗi phần tử trong tổng thể đều có cơ hội như nhau để được chọn vào mẫu Phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên không có sự phân biệt giữa các phần tử trong tổng thể nên phương pháp này được vận dụng khi các phần tử trong tổng thể được đánh giá là tương đối đồng đều (về khả năng sai phạm, về quy mô…) Phương pháp lựa chọn các phần tử vào mẫu ngẫu nhiên bao gồm lựa chọn theo bảng số ngẫu nhiên, lựa chọn theo chương trình máy tính và chọn mẫu hệ thống
- Bảng số ngẫu nhiên là một bảng liệt kê ngẫu nhiên các chữ số độc lập, được sắp xếp dạng bảng biểu để dễ dàng cho việc lựa chọn các số ngẫu nhiên
Trang 25nhiều chữ số Bảng này được sắp xếp thành các cột và dòng theo kiểu bàn cờ, mỗi số ngẫu nhiên bao gồm năm chữ số thập phân
- Các chương trình chọn mẫu nhiên theo máy tính rất đa dạng, tuy nhiên vẫn bao gồm hai bước đầu tiên của chọn mẫu ngẫu nhiên theo bảng số ngẫu nhiên là lượng hóa đối tượng kiểm toán bằng hệ thống con số duy nhất và xác lập mối quan hệ giữa đối tượng kiểm toán đã định lượng với các số ngẫu nhiên
- Chọn mẫu hệ thống là cách chọn sao cho chọn được các phần tử trong tổng thể có khoảng cách đều nhau gọi là khoảng cách mẫu Khoảng cách mẫu này được tính bằng cách lấy kích cỡ tổng thể chia cho kích cỡ mẫu Nguyên tắc của phương pháp này là kể từ một điểm xuất phát ngẫu nhiên được chọn
sẽ lựa chọn các phần tử cách nhau một khoảng cố định
Đối với phương pháp lựa chọn các phần tử vào mẫu phi ngẫu nhiên, các phần tử không có cơ hội như nhau để được lựa chọn vào mẫu Kiểm toán viên dựa vào nhận định nghề nghiệp để phán xét và quyết định chọn phần tử nào vào mẫu Phương pháp lựa chọn các phần tử vào mẫu phi ngẫu nhiên bao gồm chọn mẫu theo khối (theo lô) và chọn mẫu theo nhận định
- Chọn mẫu theo khối (theo lô) là việc chọn một tập hợp các phần tử kế tiếp nhau trong một tổng thể Trong trường hợp này, phần tử đầu tiên trong khối được chọn thì các phần tử còn lại cũng được chọn tất yếu Mẫu được chọn có thể là một khối liền hay nhiều khối rời gộp lại
- Chọn mẫu theo nhận định là cách chọn các phần tử dựa trên các tiêu thức được xác lập bởi kiểm toán viên Các tiêu thức được sử dụng bao gồm: các phần tử có khả năng sai phạm nhất, các phần tử có đặc trưng của tổng thể hoặc các phần tử có quy mô tiền tệ lớn
Trang 26d Các loại thử nghiệm kiểm toán có thể áp dụng kỹ thuật chọn mẫu
Các thử nghiệm kiểm toán áp dụng trong kiểm toán báo cáo tài chính bao gồm thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản Thử nghiệm kiểm soát nhằm đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng có hoạt động hữu hiệu và hiệu quả hay không, do đó, đối với các thủ tục kiểm soát để lại dấu vết về sự thực hiện thì kiểm toán viên mới áp dụng kỹ thuật chọn mẫu (ví dụ: phiếu chi phải có đầy đủ chữ ký và đính kèm với chứng từ gốc) Ngược lại, đối với các thủ tục kiểm soát không để lại dấu vết, kiểm toán viên phỏng vấn, quan sát sự thực hiện của khách hàng mà không áp dụng các kỹ thuật chọn mẫu
Thử nghiệm cơ bản bao gồm thủ tục phân tích và kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ và số dư Trong đó, kiểm toán viên chỉ áp dụng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ và số dư Kiểm tra nghiệp vụ là kiểm tra chi tiết một số ít hay toàn bộ nghiệp vụ phát sinh để xem xét về mức độ trung thực của khoản mục Kiểm tra số dư là kiểm tra để đánh giá về mức độ trung thực của số dư các tài khoản có nhiều nghiệp vụ phát sinh
Hiện nay, chọn mẫu thuộc tính được sử dụng rộng rãi đối với thử nghiệm kiểm soát khi mà kiểm toán viên muốn ước lượng tỷ lệ sai lệch của các hoạt động kiểm soát so với thiết kế nhằm xác định mức đánh giá thích hợp của rủi
ro kiểm soát Chọn mẫu thuộc tính là phương pháp chọn mẫu được dùng để ước tính tỷ lệ của các phần tử trong một tổng thể có chứa một đặc điểm hoặc một thuộc tính được quan tâm Tỷ lệ này được gọi là tần số xuất hiện và là tỷ
số của các phần tử có chứa thuộc tính đặc thù so với tổng số phần tử trong tổng thể Kiểm toán viên thường quan tâm đến sự xuất hiện của ngoại lệ trong tổng thể và xem tần số xuất hiện là tần số sai lệch hay tần số sai số Đối với thử nghiệm kiểm tra chi tiết, kiểm toán viên thường áp dụng chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ Phương pháp này sử dụng lý thuyết chọn mẫu thuộc tính thể
Trang 27hiện kết luận bằng đơn vị tiền tệ, mỗi đơn vị tiền tệ là một đơn vị tổng thể Do vậy, tổng thể sẽ là tổng số tiền lũy tiến của đối tượng kiểm toán Đặc điểm cơ bản của chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ là nếu khoản mục nào có quy mô tiền tệ càng lớn (chứa đựng càng nhiều đơn vị tổng thể) thì càng có cơ hội được chọn
1.2 KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG THỬ NGHIỆM KIỂM SOÁT
Trong quá trình áp dụng kỹ thuật chọn mẫu để kiểm tra hệ thống kiểm soát, KTV thường cố gắng xác định tính hiệu quả của hoạt động kiểm soát nội
bộ trong quan hệ với những sai lệch so với những chính sách kiểm toán nội bộ quy định Hiện nay, chọn mẫu thuộc tính thường được kiểm toán viên áp dụng trong việc kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bộ Vì vậy, ở phần này sẽ trình bày chọn mẫu cho thử nghiệm kiểm soát theo kỹ thuật chọn mẫu thuộc tính
Trong thực hiện chọn mẫu thuộc tính cho kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên thường thực hiện theo trình tự các bước công việc bao gồm: lập kế hoạch, thực hiện chọn mẫu và đánh giá mẫu chọn
1.2.1 Lập kế hoạch chọn mẫu
a Xác định mục tiêu của những thử nghiệm kiểm soát
Mục tiêu của chọn mẫu thuộc tính khi áp dụng cho kiểm tra hệ thống kiểm soát là đánh giá tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ được quy định Vì vậy, kiểm toán viên cố gắng đánh giá tỷ lệ sai lệch tồn tại cho mỗi hoạt động kiểm soát được lựa chọn kiểm tra Chọn mẫu kiểm toán cho thử nghiệm kiểm soát thường thích hợp khi thực hiện các thủ tục kiểm soát đã để lại bằng chứng về sự thực hiện Ví dụ: chữ ký của người chịu trách nhiệm xét duyệt cho phép bán chịu trên các hóa đơn bán hàng Kiểm toán viên có thể kiểm tra mẫu các hóa đơn bàn hàng về tính hợp lệ trong việc bán chịu hàng hóa
Trang 28Chọn mẫu thuộc tính sẽ cung cấp cho kiểm toán viên những bằng chứng rằng một hoạt động kiểm soát cụ thể đang hoạt động hữu hiệu và hiệu quả nhằm khẳng định mức rủi ro kiểm soát đã được đánh giá sơ bộ trong giai đoạn lập kế hoạch
b Xác định sai lệch từ chính sách và thủ tục kiểm soát
Đối với việc kiểm tra hệ thống kiểm soát, một sự sai lệch xảy ra xuất phát từ quá trình thực hiện hoạt động kiểm soát nội bộ đã được quy định trước Điều này là rất quan trọng đối với kiểm toán viên để xác định cái gì sẽ được xem xét là sai lệch
Bảng 1.1: Ví dụ về thuộc tính và sai lệch trong thử nghiệm kiểm soát
Số hiệu của tài khoản được tính tiền
được ghi trên bản sao hóa đơn bán
hàng
Số hiệu của tài khoản không được ghi vào bản sao hóa đơn bán hàng Một bản sao hóa đơn bán hàng có
Trang 29c Xác định tổng thể
Các khoản mục cấu thành số dư tài khoản hoặc các loại nghiệp vụ tạo nên tổng thể Bởi vì kết quả chọn mẫu có thể suy rộng cho tổng thể nên KTV cần xác định rõ tổng thể mà từ đó mẫu được chọn ra là phù hợp với mục tiêu kiểm toán cụ thể
Nếu kiểm toán viên muốn kiểm tra tính hiệu quả của một hoạt động kiểm soát được thiết kế nhằm khẳng định tất cả các hóa đơn đã được ghi chép một cách đầy đủ thì KTV sẽ không chọn mẫu từ nhật ký bán hàng, vì tổng thể đó bao gồm các khoản doanh thu đã ghi sổ và có thể chúng không bao gồm những hóa đơn chưa được ghi sổ Thay vào đó, tổng thể được xác định làm cơ
sở chọn mẫu phải bao gồm tất cả các nghiệp vụ vận chuyển (ví dụ hồ sơ lưu các hóa đơn) Tổng thể như vậy được xem là tổng thể hợp lý để có thể phát hiện các sai lệch
d Xác định cỡ mẫu
Các nhân tố mà KTV nên xem xét để xác định cỡ mẫu bao gồm: rủi ro
về độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ, tỷ lệ sai lệch chấp nhận được, tỷ lệ sai lệch ước tính của tổng thể và quy mô tổng thể
Rủi ro về độ tin cậy vào hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm rủi ro do độ tin cậy thấp và rủi ro do độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ Đối với rủi ro về độ tin cậy thấp vào hệ thống kiểm soát nội bộ, nghĩa là kết quả mẫu làm KTV đánh giá rủi ro kiểm soát là cao hơn so với thực tế Do đó, KTV sẽ thực hiện các thử nghiệm cơ bản nhiều hơn mức cần thiết, hiệu quả cuộc kiểm toán đạt được không cao Đối với rủi ro về độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ, nghĩa là kết quả mẫu làm KTV đánh giá rủi ro kiểm soát thấp hơn thực tế Trường hợp này, KTV sẽ giảm các thử nghiệm cơ bản một cách không đúng đắn, gây ra rủi ro cho cuộc kiểm toán Kiểm toán viên sẽ xác định
Trang 30rủi ro do độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ dựa vào nhận định nghề nghiệp
Kiểm toán viên xác định tỷ lệ sai lệch chấp nhận được dựa trên mức rủi
ro kiểm soát đã đánh giá theo kế hoạch và mức độ tin cậy dựa vào kết quả đánh giá từ mẫu Khi mức rủi ro kiểm soát đã đánh giá theo kế hoạch càng thấp (hoặc mức tin cậy dựa vào đánh giá từ kết quả mẫu càng cao) thì tỷ lệ sai lệch cho phép càng thấp Theo kinh nghiệm của các KTV, tỷ lệ sai lệch cho phép có thể suy luận như sau:
Bảng 1.2: Tỷ lệ sai lệch cho phép đối với các mức đánh giá
rủi ro kiểm soát [5]
Rủi ro về độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ
Tỷ lệ sai lệch cho phép
Tỷ lệ sai lệch dự kiến của tổng thể rất quan trọng vì tỷ lệ này đại diện cho phần sai lệch mà KTV dự kiến sẽ tìm thấy trong mẫu được chọn ra từ tổng thể Để xét đoán tỷ lệ sai lệch dự kiến của tổng thể, KTV thường sử dụng kết quả mẫu từ năm trước hoặc KTV cũng có thể dựa vào kinh nghiệm của mình với các thử nghiệm tương tự đã thực hiện đối với các cuộc kiểm toán khác hoặc bằng việc kiểm tra thử một mẫu nhỏ
Quy mô tổng thể thường có ảnh hưởng nhỏ hoặc không có ảnh hưởng tới
cỡ mẫu chọn Nếu tổng thể chứa đựng hơn 5.000 đơn vị thì ảnh hưởng của
Trang 31quy mô tổng thể là không đáng kể Để giúp KTV ứng dụng chọn mẫu thuộc tính mà không cần đến các công thức toán học phức tạp, phụ lục 2 được xây dựng để hỗ trợ cho KTV xác định cỡ mẫu cho thử nghiệm kiểm soát với mức 5% và 10% rủi ro về độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ.
1.2.2 Thực hiện kỹ thuật chọn mẫu
Sau khi xác định được quy mô của mẫu cần chọn, KTV sẽ tiến hành việc chọn mẫu theo kỹ thuật chọn mẫu đã xác định Khi chọn mẫu, kiểm toán viên cần phải chọn các mẫu bổ sung nhằm thay thế các mẫu không hợp lệ Mẫu không hợp lệ là mẫu không mang một thuộc tính cụ thể theo yêu cầu
Khi đã chọn được mẫu, kiểm toán viên tiến hành thực hiện các thủ tục kiểm toán để tìm ra các sai phạm của mẫu Kiểm toán viên cần chú ý tới các dấu hiệu không bình thường, chẳng hạn như biểu hiện của gian lận Các thủ tục kiểm toán được thực hiện giống nhau theo cùng cách thức khi chọn mẫu thống kê hay phi thống kê Kiểm toán viên kiểm tra từng phần tử trong mẫu
để xác định mẫu được chọn có phù hợp với định nghĩa thuộc tính hay không
và duy trì sự ghi chép về tất cả các sai phạm tìm được
1.2.3 Đánh giá kết quả mẫu
a Tính toán kết quả chọn mẫu
Xác định các kết quả chọn mẫu trong chọn mẫu thuộc tính có thể được thực hiện bằng chương trình máy tính hoặc các bảng chọn thuộc tính Kiểm toán viên tính độ sai lệch mẫu và tỷ lệ sai lệch cao nhất đã tính toán Tỷ lệ sai lệch chọn mẫu là số sai lệch được phát hiện trong mẫu chia cho số lượng khoản mục Tỷ lệ sai lệch phản ánh ước lượng tốt nhất của KTV về tỷ lệ sai lệch tổng thể Tỷ lệ sai lệch cao nhất đã tính toán thể hiện giới hạn phía trên cho tỷ lệ sai lệch tổng thể được dựa trên cỡ mẫu, số lượng sai lệch, mức rủi ro theo kế hoạch trong đánh giá rủi ro về độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ
Trang 32b Thực hiện phân tích sai lệch
Kiểm toán viên nên đánh giá những khía cạnh chất lượng của các sai lệch được nhận diện Điều này có liên quan đến hai vấn đề cần xem xét:
- Thứ nhất là bản chất của sai lệch và nguyên nhân của sai lệch
- Thứ hai là KTV nên xem xét những sai lệch này có thể ảnh hưởng như thế nào tới các giai đoạn khác nhau của cuộc kiểm toán
c Đưa ra kết luận cuối cùng
Trong kết luận về việc ứng dụng chọn mẫu thống kê trong thử nghiệm kiểm soát, KTV so sánh tỷ lệ sai lệch có thể chấp nhận được với tỷ lệ sai lệch cao nhất theo tính toán
- Nếu tỷ lệ sai lệch cao nhất theo tính toán thấp hơn tỷ lệ sai lệch chấp nhận được, KTV đưa ra kết luận: có thể tin và dựa vào hệ thống kiểm soát
- Nếu tỷ lệ sai lệch cao nhất theo tính toán lớn hơn tỷ lệ sai lệch chấp nhận được, KTV phải kết luận: hệ thống kiểm soát đang hoạt động thấp hơn mức có thể chấp nhận được, cho nên không thể dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ
Tuy nhiên kết luận cuối cùng về rủi ro kiểm soát đối với hệ thống kế toán sẽ được kiểm tra dựa vào những đánh giá mang tính chuyên nghiệp của các KTV từ kết quả chọn mẫu và những thử nghiệm kiểm soát có liên quan như phỏng vấn hay quan sát…
1.3 KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG THỬ NGHIỆM CƠ BẢN
Theo tài liệu hướng dẫn của Alvin A Arens và James K Loebbecke, kỹ thuật chọn mẫu trong thử nghiệm cơ bản áp dụng chọn mẫu theo biến số và chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ Có một số kỹ thuật chọn mẫu tạo thành loại tổng quát của các phương pháp được gọi là chọn mẫu theo các biến số [5] Những phương pháp đã được đề cập là số ước tính chênh lệch, ước tính tỷ lệ
và ước tính số trung bình [5] Tuy nhiên, kỹ thuật chọn mẫu theo biến số đòi
Trang 33hỏi kỹ thuật tính toán phức tạp và ít được vận dụng thực tế trong kiểm toán báo cáo tài chính hiện nay Do đó, trong phần này đề cập đến chọn mẫu cho thử nghiệm kiểm tra chi tiết theo kỹ thuật chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ
Kỹ thuật chọn mẫu kiểm toán cho kiểm tra chi tiết cũng được tiến hành qua ba bước chính là lập kế hoạch, thực hiện chọn mẫu và đánh giá mẫu chọn Các bước công việc thực hiện chọn mẫu trong kiểm tra chi tiết được tiến hành tương tự trong thử nghiệm kiểm soát
1.3.1 Lập kế hoạch chọn mẫu
a Xác định mục tiêu của những thử nghiệm chi tiết
Đối với quá trình chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ, các mục tiêu của cuộc khảo sát là xác định các sai số ước tính trong tổng thể đang được kiểm toán và quyết định liệu tổng thể có được trình bày trung thực hay không Giá trị của các sai số ước tính trong chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ được xem như những giới hạn sai số Sai số ước tính lớn nhất được gọi là giới hạn trên của sai số và sai số ước tính thấp nhất được gọi là giới hạn dưới của sai số
Cách chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ đo lường các sai số bằng tiền trong tổng thể Điểm khác nhau chủ yếu giữa chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ với chọn mẫu thuộc tính là trong chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ, sự đo lường là tiền tệ thay vì là tần số xuất hiện
b Xác định tổng thể
Khi sử dụng cách chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ, tổng thể được định nghĩa như tổng thể số tiền ghi sổ Sau đó kiểm toán viên sẽ đánh giá liệu tổng thể ghi sổ có được báo cáo thừa hoặc thiếu hay không
Phương pháp chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ không thể đánh giá khả năng
có các khoản mục không được ghi sổ vào tổng thể Ví dụ, quá trình chọn mẫu theo đơn vị tiền được dùng để đánh giá liệu hàng tồn kho có được trình bày
Trang 34trung thực hay không KTV không thể sử dụng để đánh giá liệu có một số khoản mục tồn kho chưa được tính hay không
Rủi ro có thể chấp nhận được của việc chấp nhận sai là rủi ro mà kiểm toán viên không chấp nhận một số dư là đúng khi sai số thực sự của số dư đó bằng hoặc lớn hơn rủi ro chấp nhận được Có mối quan hệ nghịch giữa rủi ro
có thể chấp nhận được của việc chấp nhận sai và quy mô mẫu yêu cầu [5]
1.3.2 Thực hiện kỹ thuật chọn mẫu
Để thực hiện các thủ tục kiểm toán, trước hết kiểm toán viên chọn một mẫu căn cứ trên các đơn vị tiền và nhận diện các đơn vị vật chất có chứa các đơn vị tiền đó bằng cách sử dụng một trong những phương pháp như: bảng số ngẫu nhiên, chọn mẫu có hệ thống hoặc dựa vào chương trình máy tính… Sau
đó kiểm toán viên áp dụng các thủ tục kiểm toán thích hợp để xác định từng đơn vị vật chất có hay không có bao gồm sai số [5]
Ví dụ trong quá trình xác nhận các khoản phải thu, kiểm toán viên sẽ chọn mẫu công nợ phải thu khách hàng để gửi thư xác nhận và xác định số tiền sai sót trong từng đối tượng đã xác nhận Đối với những yêu cầu xác nhận không được hồi âm, KTV sẽ áp dụng các thủ tục thay thế để xác định sai số
Trang 35Kiểm toán viên có thể áp dụng các thủ tục kiểm toán thích hợp đối với mỗi khoản mục mà kiểm toán viên chọn mẫu nhằm xác định xem liệu có tồn tại những chênh lệch đòi hỏi phải điều tra và theo dõi hay không Kiểm toán viên phải áp dụng thủ tục kiểm toán thay thế phù hợp với các mục tiêu kiểm toán đối với những khoản mục mà kiểm toán viên không thể thực hiện thủ tục kiểm toán chính
1.3.3 Đánh giá kết quả mẫu
a Tính toán kết quả chọn mẫu
Kiểm toán viên phải ước tính tỷ lệ của sai số đối với từng phần tử của tổng thể có sai số
- Phương pháp tỷ số: được sử dụng khi sai sót của một phần tử liên
quan đến giá trị của phần tử Sai sót dự tính được xác định theo công thức: Sai
sót tiềm tàng dự tính = (Sai sót phát hiện được trong mẫu * Giá trị tổng thể)/(Giá trị của mẫu) [5]
- Phương pháp chênh lệch: được thực hiện khi sai sót không có sự liên quan đến giá trị của phần tử, nghĩa là sai sót sẽ không thay đổi đối với tất cả phần tử và sẽ tăng lên tương ứng với số lượng phần tử trong tổng thể Sai sót
tiềm tàng dự tính được tính theo công thức: Sai sót tiềm tàng dự tính = (Sai
sót phát hiện được trong mẫu * Số lượng phần tử tổng thể)/(Số lượng phần tử của mẫu) [5]
Các kết quả thống kê khi chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ được sử dụng xem như các giới hạn của sai số Cả giới hạn trên và giới hạn dưới của sai số đều phải được tính
b Thực hiện phân tích sai số
Kiểm toán viên cần phải đánh giá bản chất và nguyên nhân của các sai
số Ví dụ, khi xác nhận các khoản phải thu, giả sử tất cả các sai số đều vì công
ty khách hàng không vào sổ hàng hóa bị trả lại Kiểm toán viên phải xác định
Trang 36vì sao loại sai số đó phát sinh thường xuyên như vậy và liệu sai số đó có ảnh hưởng đến sự trung thực của báo cáo tài chính hay không
Phần quan trọng của việc phân tích sai số là việc quyết định liệu có cần bất kỳ sự sửa đổi nào đối với mô hình rủi ro kiểm toán hay không Nếu kiểm toán viên kết luận là việc không ghi sổ hàng hóa trả lại là do nhược điểm của quá trình kiểm soát nội bộ thì có thể cần đánh giá lại rủi ro kiểm soát Điều này dẫn đến kiểm toán viên giảm rủi ro chấp nhận được của việc chấp nhận sai, khiến các giới hạn sai số của các tính toán trong chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ tăng lên [5]
c Đưa ra kết luận cuối cùng
Nguyên tắc quyết định của cách chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ là: nếu cả giới hạn dưới lẫn giới hạn trên của sai số nằm giữa các số tiền sai số báo cáo
dư và báo cáo thiếu chấp nhận được thì chấp nhận kết luận là giá trị ghi sổ không bị báo cáo sai một số tiền nghiêm trọng, nếu khác thì kết luận là giá trị ghi sổ bị báo cáo sai một số tiền nghiêm trọng [5]
Thực hiện khảo sát kiểm toán mở rộng trong các lĩnh vực đặc thù: nếu quá trình phân tích các sai số chỉ rõ là hầu hết các sai số là dạng đặc biệt thì nên hạn chế nỗ lực kiểm toán thêm đối với lĩnh vực có vấn đề đó [5]
Tăng quy mô mẫu: khi kiểm toán viên tăng quy mô mẫu, cả giới hạn trên
và dưới của sai số đều nhỏ hơn nếu tỷ lệ của các sai số trong mẫu mở rộng Tăng dung lượng mẫu có thể thỏa mãn các yêu cầu về sai số chấp nhận được của kiểm toán viên [5]
Điều chỉnh số dư tài khoản: khi một trong những giới hạn sai số lớn hơn mức mà kiểm toán viên chấp nhận thì khách hàng có thể điều chỉnh giá trị ghi
sổ Số tiền điều chỉnh thường được tính bằng cách sử dụng các phương pháp phi thống kê hoặc kỹ thuật chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ nâng cao [5]
Trang 37Yêu cầu khách hàng sửa lại tổng thể: trong một số trường hợp sổ sách của khách hàng không đầy đủ, cần phải sửa lại toàn bộ tổng thể trước khi cuộc kiểm toán có thể hoàn thành Ví dụ, trong các khoản phải thu, khách hàng có thể được yêu cầu lập bảng kê theo thời gian nếu kiểm toán viên kết luận có những sai số đáng kể [5]
Từ chối đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần: nếu kiểm toán viên tin là các
số tiền ghi sổ của các khoản phải thu hoặc của bất kỳ tài khoản nào khác không được báo cáo trung thực thì cần phải theo ít nhất một trong các phương
án ở trên hoặc đưa ra ý kiến kiểm toán một cách thích hợp [5]
Trang 38CHƯƠNG 2
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH ÁP DỤNG TẠI
CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN AFA
2.1 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN AFA
2.1.1 Các thông tin chung về công ty kiểm toán AFA
Tên công ty: Công ty TNHH Kiểm toán AFA
Tên viết tắt: AFAC
Trụ sở chính: 199 Lê Đình Lý, Quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng Điện thoại: (0236) 3633 333
tổ chức niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, các tổ chức phát hành và kinh doanh chứng khoán,…
2.1.2 Phương châm hoạt động
AFA hoạt động theo phương châm “Luôn đồng hành cùng doanh nghiệp” và luôn đề cao nguyên tắc độc lập, khách quan, trung thực và bí mật
số liệu của khách hàng Với mục tiêu giúp khách hàng và các bên khách quan bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, cung cấp những thông tin thiết thực và các giải pháp tối ưu cho việc quản trị và điều hành doanh nghiệp, AFA cam
Trang 39kết mang đến cho khách hàng các dịch vụ chuyên ngành với chất lượng cao nhất và tham gia vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam
Những thế mạnh sau đây làm nên bản sắc và chất lượng dịch vụ của công ty, đó là:
- Hiểu biết đầy đủ và sâu sắc về thị trường trong nước và quốc tế;
- Am hiểu về đặc điểm của nhiều ngành nghề kinh doanh;
- Thường xuyên được mời tham gia các Hội thảo về chuẩn mực kế toán, kiểm toán, tài chính, thuế tại Việt Nam;
- Ban lãnh đạo và nhân viên đã có nhiều năm làm việc cho các hãng kiểm toán lớn của Việt Nam Chuyên nghiệp, tâm huyết với nghề, có trình độ, năng động và sáng tạo trong công việc Được đào tạo thường xuyên liên tục trong nước và các chương trình quốc tế;
- Các cuộc kiểm toán tại doanh nghiệp sẽ do các nhân sự chủ chốt của AFA tham gia trực tiếp, nhằm phát huy tối đa việc tư vấn, hỗ trợ cho quý khách hàng
Hiện nay, AFA có đội ngũ gồm trên 60 nhân viên chuyên nghiệp, 100% tốt nghiệp đại học và trên đại học AFA được điều hành bởi đội ngũ lãnh đạo
và kiểm toán viên có nhiều năm kinh nghiệm làm việc cho các hãng kiểm toán lớn của Việt Nam Chuyên nghiệp, tâm huyết với nghề, năng động, sáng tạo trong công việc cùng với trình độ chuyên môn cao, được đào tạo thường xuyên liên tục trong nước và quốc tế, đội ngũ AFA đã tham gia kiểm toán và
tư vấn cho các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế, các dự án quốc
tế hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau
Trong quá trình phục vụ khách hàng, bản lĩnh nghề nghiệp, hiệu quả công việc và thiện chí của nhân viên AFA được khách hàng đánh giá cao, góp phần tạo ra mối quan hệ tốt đệp của công ty và khách hàng
Trang 402.1.3 Chức năng và lĩnh vực hoạt động
Chỉ mới sau hai năm thành lập, AFA đã từng bước năng lực và uy tín của mình trên thị trường kiểm toán miền Trung nói riêng cũng như thị trường kiểm toán Việt Nam nói chung AFA cung cấp đầy đủ các dịch vụ giá trị gia tăng như kiểm toán, kế toán, tư vấn thuế, tư vấn tài chính và đầu tư, tư vấn quản trị, đào tạo và hỗ trợ chuyên dụng cho các doanh nghiệp
Các dịch vụ chính của công ty kiểm toán AFA bao gồm:
Dịch vụ kiểm toán và soát xét báo cáo tài chính
- Kiểm toán báo cáo tài chính thường niên;
- Kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích thuế;
- Kiểm toán tuân thủ;
- Kiểm toán hoạt động;
- Kiểm toán nội bộ;
- Soát xét báo cáo tài chính;
- Soát xét thông tin tài chính dựa theo các thủ tục thỏa thuận trước;
- Các dịch vụ khác về kiểm toán
Dịch vụ kiểm toán báo cáo quyết toán và dự án hoàn thành
- Kiểm tra hồ sơ pháp lý;
- Kiểm tra nguồn vốn đầu tư;
- Kiểm tra chi phí đầu tư
- Kiểm tra chi phí đầu tư thiệt hại không tính vào giá trị tài sản hình thành qua đầu tư;
- Kiểm tra giá trị tài sản hình thành qua đầu tư;
- Kiểm tra các khoản công nợ và vật tư, thiết bị tồn đọng;
- Xem xét việc chấp hành của chủ đầu tư và các đơn vị có liên quan đối với ý kiến kết luận của các cơ quan Thanh tra, Kiểm tra, Kiểm toán Nhà nước