Với nhận thức đó, trong những năm qua, các cấp, các ngành đã làm tốt công tác chỉ đạo, quản lý, hướng dẫn và tuyên truyền sâu rộng những quy định của pháp luật, tiêu chuẩn quy phạm về an
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
HOÀNG BÁCH TÙNG
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS BÙI QUANG BÌNH
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Hoàng Bách Tùng
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Nội dung nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 3
7 Cơ sở tài liệu 4
8 Bố cục của luận văn 4
9 Tổng quan các nghiên cứu 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 9
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 9
1.1.1 Một số khái niệm 9
1.1.2 Vai trò và tính chất của quản lý an toàn, vệ sinh lao động 10
1.2 NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ QUẢN LÝ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 15
1.2.1 Ban hành và quản lý thống nhất các quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp 15
1.2.2 Tổ chức tuyên truyền quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp 16
1.2.3 Tổ chức đào tạo và tập huấn về quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp 17
1.2.4 Tổ chức thanh kiểm tra về thực hiện an toàn, vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp 18
Trang 41.2.5 Điều tra, thống kê tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp 20
1.2.6 Xử lý các vi phạm về an toàn, vệ sinh lao động 21
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI DOANH NGHIỆP 21
1.3.1 Điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển kinh tế xã hội 21
1.3.2 Quản lý Nhà nước 22
1.3.3 Nhân tố người sử dụng lao động, người quản lý 24
1.3.4 Nhân tố người lao động tại doanh nghiệp 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ 29
2.1 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 29
2.1.1 Vị trí điều kiện tự nhiên 29
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế của quận Sơn Trà 30
2.1.3 Doanh nghiệp, người sử dụng lao động 31
2.1.4 Người lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn quận Sơn Trà 32 2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AT VSLĐ TRONG DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ 36
2.2.1 Thực trạng ban hành và quản lý thống nhất các quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp 36
2.2.2 Thực trạng tổ chức tuyên truyền quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp 40
2.2.3 Thực trạng tổ chức đào tạo và tập huấn về quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp 42
Trang 52.2.4 Tổ chức thanh kiểm tra về thực hiện an toàn, vệ sinh lao động
trong các doanh nghiệp 42
2.2.5 Thực trạng công tác điều tra, thống kê tai nạn lao động và bệnh
nghề nghiệp 45 2.2.6 Tình hình xử lý các vi phạm về an toàn, vệ sinh lao động 50
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 51
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ 52
3.1 PHƯƠNG HƯỚNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ATVSLĐ TẠI DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ 52 3.1.1 Những quan điểm và sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về bảo hộ lao
động 52
3.1.2 Định hướng của việc nâng cao năng lực an toàn, vệ sinh lao động
54
3.2 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ 55 3.2.1 Cải tiến việc ban hành và quản lý thống nhất các quy định của
pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp 55
3.2.2 Tổ chức tốt việc tuyên truyền quy định của pháp luật về an toàn,
vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp 57
3.2.3 Tổ chức tốt việc đào tạo và tập huấn về quản lý an toàn, vệ sinh
lao động trong các doanh nghiệp 59
3.2.4 Tổ chức tốt thanh kiểm tra về thực hiện an toàn, vệ sinh lao động
tại các doanh nghiệp 60
Trang 63.2.5 Cải thiện việc công tác điều tra, thống kê tai nạn lao động và bệnh
nghề nghiệp 61 3.2.6 Xử lý các vi phạm về an toàn, vệ sinh lao động 63
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VẬN DỤNG MÔ HÌNH CẢI THIỆN ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG 64
3.3.1 Vận dụng mô hình phương pháp quản lý 5 S của Nhật Bản 64 3.3.2 Phương pháp WISE (Work Improvement in Small enterprises) 68 3.3.3 Phương pháp POSITIVE 75
KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (Bản sao)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.1 Tăng trưởng GTSX các DN trên địa bàn quận Sơn Trà 30
2.2 Đóng góp NSNN của các doanh nghiệp quận Sơn Trà
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công tác an toàn vệ sinh lao động luôn là một trong những chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm chăm lo cải thiện điều kiện lao động, bảo đảm an toàn tính mạng, sức kho người lao động, bảo vệ tài sản của nhà nước và cơ sở lao động, giảm thiểu đến mức thấp nhất, ho c không để xảy ra cháy nổ, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Do
đó quan tâm thực hiện tốt công tác an toàn vệ sinh lao động - phòng chống cháy
nổ là trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ sở lao động và của bản thân
m i người lao động
Với nhận thức đó, trong những năm qua, các cấp, các ngành đã làm tốt công tác chỉ đạo, quản lý, hướng dẫn và tuyên truyền sâu rộng những quy định của pháp luật, tiêu chuẩn quy phạm về an toàn vệ sinh lao động - phòng chống cháy nổ đến các cơ quan, đơn vị, các cơ sở lao động và người lao động nhờ đó công tác an toàn vệ sinh lao động – phòng chống cháy nổ đã có những chuyển biến tích cực, hiệu quả, từng bước đi vào đời sống xã hội
Tuy nhiên vẫn còn những đơn vị, địa phương, cơ sở lao động và cá nhân người lao động chưa nhận thức đúng vị trí, ý nghĩa, vai trò và lợi ích của công tác an toàn vệ sinh lao động nên trong quá trình lao động sản xuất còn thiếu tính nghiêm túc, chủ quan, coi nhẹ công tác này… dẫn đến những bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động, cháy nổ xảy ra Bên cạnh đó, công tác quản lý an toàn vệ sinh lao động vẫn còn một số bất cập
Thực tế, theo thống kê cho thấy cả nước trung bình hàng năm xảy ra khoảng 6.000 vụ tai nạn lao động, cháy nổ làm chết và bị thường nhiều người Khi tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp xảy ra, bản thân người lao động và thân nhân của họ không những bị mất mát về con người, suy giảm sức khỏe
mà khả năng làm việc, thu nhập cũng bị giảm sút và những đau đớn về thể
Trang 10xác và tinh thần Người sử dụng lao động bị thiệt hại về kinh tế là rất lớn khi tai nạn xảy ra và uy tín của doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng, hoạt động sản xuất bị gián đoạn do phải ngừng việc để khắc phục hậu quả
Quận Sơn Trà nằm về phía Đông thành phố Đà Nẵng ó diện tích tự nhiên không lớn khoảng 6.081 ha, tổng dân số 119.564 người Trong những năm gần đây Quận Sơn Trà tập trung phát triển kinh tế theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp để thúc đẩy phát triển các ngành du lịch, dịch vụ và thu hút đầu tư nước ngoài vào, với tổng số doanh nghiệp trên địa bàn quận là 756 doanh nghiệp đang hoạt động theo Luật doanh nghiệp
Với những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý
nhà nước về an toàn vệ sinh lao động trên địa bàn quận Sơn Trà ” làm luận
văn thạc sỹ chuyên ngành Kinh tế phát triển
Với kết quả nghiên cứu đề tài của mình, qua đó sẽ góp phần đánh giá đúng thực trạng của công tác an toàn vệ sinh lao động hiện nay và đề xuất những giải pháp giúp cải thiện tình hình đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, bảo vệ sức khỏe cho người lao động trên địa bàn quận
2 Mục tiêu của đề tài
- Đáng giá thực trạng công tác quản lý an toàn vệ sinh lao động trên địa bàn quận Sơn Trà (Đánh giá thông qua công cụ quản lý của cơ quan nhà nước, đánh giá việc chấp hành các văn bản quy phạm pháp luật về ATVSLĐ của các doanh nghiệp và đánh giá vai trò của tổ chức Công đoàn với công tác ATVSLĐ)
- Đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện công tác quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh lao động trên địa bàn quận Sơn Trà
- Kiến nghị với Đảng, Nhà nước và tổ chức Công đoàn Việt Nam tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về an toàn vệ sinh lao động
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống
Trang 11thanh tra, kiểm tra về an toàn vệ sinh lao động quận Sơn Trà
Đối tượng khảo sát là người quản lý, người sử dụng lao động và Công đoàn cơ sở ở một số doanh nghiệp trên địa bàn quận Sơn Trà
Đề tài tiếp cận nghiên cứu vấn đề từ nhiều phía như: các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương, tổ chức công đoàn, người sử dụng lao động, người quản lý
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hồi cứu, sưu tầm, tra cứu thu thập và chọn lọc thông tin
có liên quan Các văn bản pháp luật quy định về ATVSLĐ, các báo cáo chuyên ngành, các công trình nghiên cứu và các tài liệu có liên quan
- Phương pháp tổng hợp so sánh và phân tích thống kê: Khai thác tư
liệu, số liệu của các cơ quan quản lý ở địa phương, tham khảo thông tin truyền thông khác như mạng Internet Tổng hợp phân tích, sử dụng kết quả đã công bố
- Phương pháp khảo sát thực tế: tiếp xúc với các đối tượng nghiên cứu
để tìm hiểu các nội dung liên quan nhằm đáng giá thực trạng công tác quản lý
an toàn vệ sinh lao động ở đơn vị để có cơ sở thực tiễn của luận văn
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của các ban, ngành liên
quan về an toàn vệ sinh lao động - Bảo hộ lao động và Bảo vệ môi trường
5 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan về công tác quản lý an toàn vệ sinh lao động hiện nay
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh lao động trên địa bàn quận Sơn Trà
- Đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện công tác quản lý nhà nước an toàn
vệ sinh lao động trên địa bàn quận Sơn Trà
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của Luận văn được dựa trên cơ sở lý luận và khoa
Trang 12học thống kê, phân tích thực trạng vì vậy đảm bảo độ tin cậy cao, có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những người làm công tác quản lý an toàn vệ sinh lao động, cho học sinh, sinh viên các trường đào tạo ngành an toàn vệ sinh lao động
- Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, vì sẽ góp phần vào việc ngăn ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, đảm bảo sức khỏe cho người lao động
- Luận văn cũng phát hiện được những bất cập trong công tác quản lý an toàn vệ sinh lao động của nước ta hiện nay
- Luận văn đề xuất các giải pháp quản lý có thể triển khai nhằm tăng cường công tác quản lý an toàn vệ sinh lao động và đ c biệt có ý nghĩa trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa
7 Cơ sở tài liệu
Luận văn được viết trên cơ sở:
- Các văn bản pháp luật liên quan đến công tác an toàn vệ sinh lao động
- Tình hình quản lý an toàn vệ sinh lao động trong những năm qua trên địa bàn quận Sơn Trà
- Các số liệu thống kê, các báo cáo về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trên địa bàn quận Sơn Trà
- Các tài liệu chuyên ngành, tài liệu nghiên cứu về các giải pháp giảm thiểu tai nạn lao động đã công bố trên sách, báo, tạp chí trong và ngoài nước
8 Bố cục của luận văn
Luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, đã kết cấu thành 3 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp
Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động tại
Trang 13các doanh nghiệp trên địa bàn quận Sơn Trà
Chương 3 Giải pháp quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn quận Sơn Trà
9 Tổng quan các nghiên cứu
Đây là một chủ đề khá nóng trong quản lý doanh nghiệp hiện nay nên
đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu Chính vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu, bài viết viết về vấn đề ATVSLĐ, trong đó có đề cập đến công tác ATVSLĐ ở góc độ lý luận, chính sách và các hoạt động thực tiễn Tiêu biểu có thể kể đến một số công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài như sau:
Nghiên cứu của Dietmar Elsler (2012) cho rằng một số quốc gia thành
viên EU sẵn sàng đưa ra hàng loạt các hình thức khen thưởng tài chính khác nhau cho doanh nghiệp đầu tư vào công tác an toàn cho NLĐ Hình thức khen thưởng rất đa dạng từ các khoản trợ cấp, h trợ của nhà nước cho đến các hình thức miễn thuế; các khoản vay ngân hàng với kỳ hạn ưu đãi hay tiền phí đóng bảo hiểm thấp Nghiên cứu đã chỉ ra rằng ở Liên minh Châu Âu đã nhận thấy được sự cần thiết trong việc sử dụng các biện pháp khuyến khích kinh tế
từ đó thúc đẩy doanh nghiệp áp dụng các điển hình tốt cho công tác phòng ngừa tại cơ sở của mình Nghiên cứu cho thấy những biện pháp khuyến khích kinh tế ngoài nước có thể thúc đẩy hơn nữa đầu tư vào công tác phòng ngừa tại tất cả các tổ chức, từ đó dẫn tới tỉ lệ tai nạn lao động sẽ giảm bớt Kết quả nghiên cứu cho thấy dấu hiệu rõ nét nhất về tính hiệu quả của các biện pháp khuyến khích kinh tế, đồng thời khích lệ các tổ chức tiến hành cải thiện công tác ATVSLĐ tại cơ sở của mình Theo Elsler (2010), thông qua các biện pháp khuyến khích kinh tế, m i đồng euro bỏ ra sẽ tích kiệm được trên 4,81 đồng euro khác do giảm thiểu được tỉ lệ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, đồng thời tỉ lệ nghỉ làm cũng giảm bớt do điều kiện làm việc được cải thiện
Trang 14Nghiên cứu này cũng khuyến nghị nên có kế hoạch khuyến khích kinh tế, đ c biệt đối với các công ty bảo hiểm tư nhân và công ty bảo hiểm nhà nước, được đưa ra như sau: (i) Cải thiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (đ c biệt
ở các công ty lớn); (ii) Nâng cao danh tiếng của công ty bảo hiểm; (iii) Tạo lập vị thế 50/50 với khách hàng; (iv) Lợi thế cạnh tranh (đối với các công ty
tư nhân)
Luận án Ths của Lê Thị Phương Thúy (2008) Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động, sự cần thiết của việc ban hành các quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ và việc thực thi pháp luật trên thực tế trong các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam Đánh giá kết quả, những bất cập và nguyên nhân của những bất cập, tồn tại Đề xuất một số yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ; sửa đổi, bổ sung một số quy định an toàn, vệ sinh lao động cho lao động nữ Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn; tăng cường công tác quản lý, thanh tra, xử phạt, nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ
Năm 2012, Cục An toàn lao động phối hợp với Viện Khoa học Lao động
và Xã hội đã tiến hành triển khai thí điểm hệ thống quản lý ATVSLĐ tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực có nguy cơ cao như khai thác đá, sản xuất vật liệu xây dựng tại hai tỉnh Hà Nam (60 doanh nghiệp), Quảng Ninh (60 doanh nghiệp) và khu vực làng nghề Theo đó, các doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn được lựa chọn để áp dụng thí điểm sẽ được các chuyên gia trong lĩnh vực ATVSLĐ tư vấn cũng như h trợ kinh phí giúp xây dựng hệ thống quản
lý ATVSLĐ ở đơn vị mình như: cung cấp các tài liệu, thiết bị an toàn, xây
Trang 15dựng góc bảo hộ lao động, công tác huấn luyện,… Nhằm giúp doanh nghiệp xây dựng hệ thống quản lý ATVSLĐ vừa đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của pháp luật vừa giúp doanh nghiệp thực hiện tốt công tác ATVSLĐ, giúp giảm thiểu TNLĐ và BNN trong Trên cơ sở này tổng kết, rút kinh nghiệm để hoàn thiện quy trình xây dựng mô hình Từ đó nhân rộng việc áp dụng hệ thống quản lý ATVSLĐ trong cả nước
Lê Vân Trình (2000) cho rằng nhà nước cần phải có những quy định về điều kiện làm việc để bảo đảm ATVSLĐ cho lao động nhất là vấn đề môi trường làm việc vì tính chất không hoàn hảo của thông tin thị trường lao động
mà thường lao động không có những thông tin về điều kiện làm việc của mình Cũng theo nghiên cứu này yếu tố kinh tế quyết định rất nhiều tới môi trường và điều kiện làm việc trong các doanh nghiệp Nếu muốn khắc phục tình trạng này thì các biện pháp kinh tế của chính phủ có vai trò quan trọng
Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu những biện pháp tuyên truyền, phổ biến về
an toàn vệ sinh lao động tại các doanh nghiêp” có mã số CB 2007-02-02 do Cục An toàn lao động – Bộ LĐTBXH thực hiện năm 2007 Mục tiêu nghiên cứu Đề xuất những biện pháp tuyên truyển, phổ biến an toàn vệ sinh lao động gắn với xây dựng văn hóa an toàn trong các doanh nghiệp, nhằm nâng cao nhận thức, kiến thức về an toàn vệ sinh lao động của người sử dụng lao động
và người lao động, góp phần giảm thiểu tai nạn lao động, bảo vệ sức khỏe người lao động Kết quả nghiên cứu Đề tài đã phân tích, đánh giá thực tiễn công tác thông tin, tuyên truyền về an toàn vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp và nhận thức, ý thức của người sử dụng lao động, người lao động, làm
cơ sử xây dựng biện pháp tuyên truyền, phổ biến an toàn vệ sinh lao động hữu hiệu, góp phần quan trọng nâng cao nhận thức, ý thức của người sử dụng lao động và người lao động tại các doanh nghiệp trong giai đoạn hội nhập
Đề tài nghiên cứu “Xây dựng quy trình quản lý an toàn - vệ sinh lao
Trang 16động trong các loại hình doanh nghiệp” do Cục An toàn Lao động thực hiện năm 2010 Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá thực trạng quá trình thực hiện hệ thống quản lý ATVSLĐ tại cơ sở và các doanh nghiệp; khuyến nghị xây dựng quy trình quản lý ATVSLĐ trong các cơ sở và doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu: Đề tài cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm xây dựng quy trình quản
lý công tác ATVSLĐ ngày một tốt hơn, giúp các cơ sở sản xuất và doanh nghiệp hạn chế những rủi ro, chết người trong qúa trình lao động sản xuẩt, nâng cao hiệu quả sản xuất; khuyến nghị các giải pháp bảo đảm ATVSLĐ trong các cơ sở và doanh nghiệp
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.1 Một số khái niệm
An toàn, vệ sinh lao động: là các hoạt động đồng bộ trên các m t pháp
luật, tổ chức quản lý, KTXH, KHCN nhằm cải thiện điều kiện lao động, bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động, phòng chống tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, bảo vệ tính mạng và sức khỏe cho con người trong lao động
Điều kiện lao động được hiểu là tổng thể các yếu tố về tự nhiên, xã hội,
kinh tế, kỹ thuật được biểu hiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, đối tượng lao động, quá trình công nghệ, môi trường lao động và sự sắp xếp, bố trí chúng trong không gian và thời gian, sự tác động qua lại của chúng trong mối quan hệ với người lao động tại ch làm việc, tạo nên một điều kiện nhất định cho con người trong quá trình lao động
Kỹ thuật an toàn là hệ thống các biện pháp và phương tiện về tổ chức và
kỹ thuật nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố nguy hiểm gây chấn thương đối với NLĐ trong sản xuất (TCVN 3153-79)
An toàn lao động là tình trạng của điều kiện lao động, mà ở tình trạng đó
không gây nguy hiểm trong sản xuất
Vệ sinh lao động là hệ thống các biện pháp và phương tiện về tổ chức kỹ
thuật vệ sinh, nhằm phòng ngừa tác động của các yếu tố có hại trong sản xuất đối với NLĐ
Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức
năng nào của cơ thể người lao động, ho c gây tử vong, xảy ra trong quá trình
Trang 18Nhiễm độc đột ngột cũng là tai nạn lao động Tai nạn lao động được phân ra: chấn thương, nhiễm độc nghề nghiệp và bệnh nghề nghiệp Chấn thương: là tai nạn mà kết quả gây nên những chấn thương hay hủy hoại một phần cơ thể người lao động, làm tổn thương tạm thời hay mất khả năng lao động vĩnh viễn hay thậm chí gây tử vong Chấn thương có tác dụng đột ngột Bệnh nghề nghiệp: là bệnh phát sinh do tác động của điều kiện lao động có hại, bất lợi (tiếng ồn, rung…) đối với người lao động Bệnh nghề nghiệp làm suy yếu dần sức khỏe hay làm ảnh hưởng đến khả năng làm việc và sinh hoạt của người lao động Bệnh nghề nghiệp làm suy yếu sức khỏe của người lao động một cách dần dần và lâu dài Nhiễm độc nghề nghiệp: là sự hủy hoại sức khỏe do tác dụng của các chất độc xâm nhập vào cơ thể người lao động trong điều kiện sản xuất
Cải thiện điều kiện làm việc không những bảo vệ sức kho , tránh bệnh nghề nghiệp cho người lao động mà còn nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Để cải thiện điều kiện làm việc cần phải làm thay đổi tính chất công việc cũng như cải thiện tình trạng vệ sinh môi trường làm việc Đây chính là mục tiêu chủ yếu của công tác đảm bảo an toàn vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp
1.1.2 Vai trò và tính chất của quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động
a Vai trò của quản lý an toàn, vệ sinh lao động
Là một chính sách lớn của Đảng với Nhà nước, mang lại những lợi ích
về kinh tế, chính trị và xã hội
+ Ý nghĩa chính trị:
Công tác này thể hiện quan điểm coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển Một đất nước có tỷ lệ tai nạn lao động thấp, người lao động kho mạnh, không mắc bệnh nghề nghiệp là một xã hội luôn
Trang 19luôn được bảo vệ và phát triển Công tác an toàn vệ sinh lao động tốt là góp phần tích cực chăm lo bảo vệ sức kho , tính mạng và đời sống người lao động, biểu hiện quan điểm quần chúng, quan điểm quý trọng người của Đảng
và Nhà nước, vai trò của con người trong xã hội được tôn trọng Ngược lại, nếu công tác này không được thực hiện tốt, điều kiện lao động của người lao động còn quá n ng nhọc, độc hại, dễ xảy ra nhiều tai nạn lao động nghiêm trọng thì uy tín của chế độ, uy tín của doanh nghiệp sẽ bị giảm sút
+ Ý nghĩa xã hội:
An toàn, vệ sinh lao động là chăm lo đến đời sống hạnh phúc của người lao động Đây vừa là yêu cầu thiết thực của các hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời là yêu cầu, là nguyện vọng chính đáng của người lao động Các thành viên trong m i gia đình ai cũng mong muốn được kho mạnh, lành
l n, trình độ văn hoá, nghề nghiệp được nâng cao để cùng chăm lo hạnh phúc gia đình và góp phần vào công cuộc xây dựng xã hội Bảo hộ lao động đảm bảo cho xã hội trong sáng, lành mạnh, mọi người lao động được sống kho mạnh, làm việc có hiệu quả cao và có vị trí xứng đáng trong xã hội, làm chủ
xã hội, làm chủ thiên nhiên, làm chủ khoa học kỹ thuật Tai nạn lao động không xảy ra, sức kho của người lao động được đảm bảo thì Nhà nước và xã hội sẽ giảm bớt được những tổn thất trong việc khắc phục hậu quả và tập trung đầu tư cho các công trình phúc lợi xã hội
Lao động tạo ra của cải vật chất, làm cho xã hội tồn tại và phát triển Bất
cứ dưới chế độ xã hội nào, lao động của con người cũng là yếu tố quyết định nhất Xây dựng quốc gia giàu có, tự do, dân chủ cũng nhờ người lao động Trí thức mở mang cũng nhờ lao động (lao động trí óc) vì vậy lao động là động lực chính của sự tiến bộ loài người
+ Lợi ích kinh tế:
Thực hiện tốt công tác an toàn, vệ sinh lao động sẽ đem lại lợi ích kinh tế rõ
Trang 20đau ốm, bệnh tật, điều kiện làm việc thoải mái, không nơm nớp lo sợ bị tai nạn lao động, bị mắc bệnh nghề nghiệp thì sẽ an tâm, phấn khởi sản xuất, sẽ có ngày công, giờ công cao, năng suất lao động cao, chất lượng sản phẩm tốt, luôn luôn hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất và công tác Do vậy, phúc lợi tập thể được tăng lên, có thêm những điều kiện để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của cá nhân người lao động và tập thể lao động Nó có tác dụng tích cực đảm bảo đoàn kết nội bộ để đẩy mạnh sản xuất Ngược lại, nếu để môi trường làm việc quá xấu, tai nạn lao động ho c ốm đau xảy ra nhiều sẽ gây rất nhiều khó khăn cho sản xuất Người bị tai nạn lao động ốm đau phải nghỉ việc để chữa trị, ngày công lao động giảm; nếu nhiều người lao động bị tàn phế, mất sức lao động thì ngoài việc khả năng lao động của họ sẽ giảm và sức lao động của xã hội vì thế cũng giảm sút, xã hội còn phải chăm lo việc chăm sóc, chữa trị và các chính sách xã hội khác liên quan Chi phí về bồi thường tai nạn lao động, ốm đau , điều trị, ma chay là rất lớn, đồng thời kéo theo những chi phí lớn do máy móc, nhà xưởng, nguyên vật liệu bị hư hỏng Nói chung, tai nạn lao động, ốm đau xảy ra dù nhiều hay ít đều dẫn tới sự thiệt hại về người và tài sản, gây trở ngại cho sản xuất Cho nên, quan tâm thực hiện tốt công tác an toàn - vệ sinh lao động là thể hiện quan điểm đầy đủ về sản xuất, là điều kiện đảm bảo cho sản xuất phát triển và đem lại hiệu quả kinh tế cao
b Tính chất của quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động
Có 3 tính chất chủ yếu là: Pháp lý, Khoa học kỹ thuật và tính quần chúng Chúng có liên quan mật thiết và h trợ lẫn nhau
Tính pháp lý
Những quy định và nội dung về an toàn vệ sinh lao động được thể chế hóa thành những luật lệ, chế độ chính sách, tiêu chuẩn và được hướng dẫn cho mọi cấp ngành, mọi tổ chức và cá nhân nghiêm chỉnh chấp hành Những chính sách, chế độ, quy phạm, tiêu chuẩn, được ban hành trong công tác đảm
Trang 21người là vốn quý nhất, nên luật pháp về an toàn lao động được nghiên cứu, xây dựng nhằm bảo vệ con người trong quá trình tham gia sản xuất Mọi cơ
sở kinh tế và mọi người tham gia lao động phải có trách nhiệm tham gia nghiên cứu và thực hiện Đó là tính chất pháp lý của công tác đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động
Tính khoa học kỹ thuật
Mọi hoạt động của công tác an toàn lao động nhằm loại trừ các yếu tố nguy hiểm, có hại, phòng và chống tai nạn, các bệnh nghề nghiệp… đều xuất phát từ những cơ sở của KHKT Các hoạt động điều tra khảo sát phân tích điều kiện lao động, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố độc hại đến con người để đề
ra các giải pháp chống ô nhiễm, giải pháp đảm bảo an toàn đều là những hoạt động khoa học kỹ thuật Hiện nay, việc vận dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào công tác đảm bảo an toàn kỹ thuật ngày càng phổ biến Ví dụ, như trong quá trình kiểm tra mối hàn bằng tia Gamma, nếu không hiểu biết về tính chất và tác dụng của các tia phóng xạ thì không thể có biện pháp phòng tránh hiệu quả, nghiên cứu các biện pháp an toàn khi sử dụng Cần trục, không thể chỉ có hiểu biết về cơ học, sức bền vật liệu mà còn nhiều vấn đề
khác như: Sự cân bằng của cần cẩu, tầm với, điều khiển điện, tốc độ nâng chuyển… Muốn biến điều kiện lao động cực nhọc thành điều kiện làm việc thoải mái, muốn loại trừ vĩnh viễn TNLĐ trong sản xuất, phải giải quyết nhiều vấn đề tổng hợp phức tạp, không những phải hiểu biết về kỹ thuật chiếu sáng,
kỹ thuật thông gió, cơ khí hóa, tự động hóa… mà còn cần những kiến thức về tâm lý lao động, thẩm mỹ công nghiệp, xã hội học lao động… vì vậy công tác đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất khoa học kỹ thuật tổng hợp
Tính quần chúng
Tất cả mọi người từ những người sử dụng lao động đến người lao động đều là đối tượng cần được bảo vệ Đồng thời họ cũng là chủ thể phải tham gia
Trang 22An toàn, vệ sinh lao động có liên quan đến tất cả mọi người tham gia sản xuất Công nhân là những người thường xuyên tiếp xúc với máy móc, trực tiếp thực hiện quy trình công nghệ… do đó họ có nhiều khả năng phát hiện những sơ hở trong công tác đảm bảo an toàn lao động, đóng góp xây dựng các biện pháp về
kỹ thuật an toàn, tham gia góp ý kiến về mẫu mã, quy cách về dụng cụ phòng
hộ, quần áo làm việc…M t khác dù các quy trình, quy phạm an toàn được đề ra
tỉ mỉ đến đâu, nhưng công nhân chưa được học tập, chưa được thấm nhuần, chưa thấy rõ tầm quan trọng của nó thì rất dễ vi phạm Muốn làm tốt công tác đảm bảo an toàn kỹ thuật, phải vận động được đông đảo mọi người tham gia Cho nên an toàn lao động chỉ có kết quả khi được mọi cấp, mọi ngành quan tâm, được mọi người lao động tích cực tham gia và tích cực thực hiện các luật
lệ, chế độ tiêu chuẩn, biện pháp để cải thiện điều kiện làm việc, phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp An toàn lao động là hoạt động hướng về cơ
sở sản xuất và trước hết là người trực tiếp lao động Nó liên quan đến quần chúng lao động, bảo vệ quyền lợi và hạnh phúc cho mọi người, mọi nhà, cho toàn xã hội, vì thế an toàn lao động luôn mang tính chất quần chúng sâu rộng
Do đó, công tác an toàn, vệ sinh lao động được thiết lập nhằm mục đích:
- Đảm bảo an toàn thân thể của người lao động, hạn chế mức thấp nhất ho c không để xảy ra tai nạn, chấn thương gây tàn phế ho c tử vong trong lao động
- Bảo đảm người lao động kho mạnh, không bị mắc bệnh nghề nghiệp
ho c các bệnh tật khác do điều kiện lao động xấu gây ra
- Bồi dưỡng phục hồi sức kho kịp thời và duy trì sức kho , khả năng lao động cho người lao động
Công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm các việc làm nhằm chăm lo cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo nơi làm việc an toàn, vệ sinh phù hợp với những tiêu chuẩn cho phép
Trang 231.2 NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN,
VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
Nội dung của quản lý an toàn, vệ sinh lao động bao gồm các nội dung sau:
1.2.1 Ban hành và quản lý thống nhất các quy định của pháp luật về
an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp
M i vùng, địa phướng có các yếu tố tự nhiên rất khác nhau Nên tùy theo điều kiện cụ thể của địa phương mà các cơ quan quản lý nhà nước về an toàn
vệ sinh lao động sẽ cụ thể hóa các quy phạm đó và xây dựng các quy trình an toàn lao động phù hợp với điều kiện sản xuất tại các doanh nghiệp Đồng thời
sẽ tiến hành triển khai và giám sát việc thực hiện các quy phạm và các quy trình chính sách và chuẩn mực về an toàn lao động đảm bảo ngăn ngừa tai nạn lao động đến mức tối đa Giám sát thường xuyên việc kiểm tra và đối chiếu về báo cáo hoạt động an toàn và sức khỏe
Dù doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nào thì điều kiện tự nhiên vẫn chi phối hoạt động của nó Do vậy chi phí để bảo đảm các điều kiện tiêu chuẩn theo các quy phạm rất khác nhau tùy theo vùng miền, đ c điểm ngành sản xuất Việc quy định và quản lý thống nhất sẽ có chuẩn mực chung cho quản lý, đồng thời quản lý thống nhất sẽ cho phép duy trì m t bằng chung thống nhất không có sự khác biệt giữa các doanh nghiệp góp phần tạo ra sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp Đồng thời cần xây dựng các tiêu chuẩn
và quy trình thực hiện tiêu chuẩn vệ sinh lao động dựa trên nghiên cứu đ c điểm vệ sinh của các quá trình sản xuất và các biến đổi sinh lý, sinh hóa của
cơ thể, trong quá trình sản xuất Một số tiêu chuẩn về vệ sinh như sau: Nhiệt
độ không khí, độ ẩm và vận tốc khí, bức xạ nhiệt
Việc chấp hành các quy định phát luật về ATVSLĐ phụ thuộc vào cả hai phía trong quan hệ lao động nên pháp luật còn quy định quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động, nội dung huấn luyện, đào tạo
Trang 24về ATVSLĐ Để bảo đảm các quy định này cần điều phối việc thực hiện các chương trình ATVSLĐ để nâng cao ý thức và giám sát việc thực thi ATVSLĐ tại các doanh nghiệp Đồng thời phải tổ chức đánh giá việc tuân thủ an toàn lao động, đánh giá rủi ro và các mối nguy hiểm đến ATVSLĐ
Tiêu chí phản ánh
- Số văn bản hướng dẫn thực hiện quy định pháp luật về ATVSLĐ
- Tỷ lệ doanh nghiệp tiếp nhận và triển khai thực hiện các quy định pháp luật về ATVSLĐ
1.2.2 Tổ chức tuyên truyền quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp
Mức độ nhận thức và tính tự giác chấp hành của người sử dụng lao động
và người lao động quyết tính pháp chế của pháp luật mà trong đó có việc chấp hành quy phạm ATVSLĐ Do đó việc tuyên truyền cần phải tiến hành sâu rộng trên nhiều phương diện và công cụ khác nhau như phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức phối hợp giữa tồ chức công đoàn và cơ quan quản lý để tuyên truyền Đồng thời tư vấn, h trợ các đơn vị/ phòng ban chức năng trong công việc thực hiện chương trình an toàn và sức khỏe của công ty
Công tác tổ chức tuyên truyền không chỉ nâng cao nhận thức mà còn cung cấp thông tin về quy định ATVSLĐ cho tất cả người sử dụng lao động
và người lao động để nắm được quyền và nghĩa vụ trong chấp hành các quy định này Trong thực tế điều này rất cần thiết vì thông tin về những quy định này là bất đối xứng Trong nhiều trường hợp, do thông tin không hoàn hảo người lao động không biết những gì mình đang làm và môi trường làm việc phải đạt những tiêu chuẩn quy định nhưng thực tế không như vậy Những thông tin này giúp họ có thể tham gia giám sát và thực hiện tốt hơn
Với nhiều hình thức khác nhau ngoài phương tiện thông tin đại chúng, thì những hình thức khác như phát tờ rơi, tổ chức lớp học, hay hội thi … rất
Trang 25hữu ích
Những người thực hiện bao gồm ngoài các cơ quan quản lý nhà nước thì
tổ chức công đoàn hay đoàn thể tự doanh nghiệp tới địa phương tham gia vào
Tiêu chí:
- Số lượng các đợt tuyên truyền về quy trình an toàn vệ sinh lao động,
- Tỷ lệ doanh nghiệp đã thực hiện tuyên truyền về quy trình an toàn vệ sinh lao động,
- Tỷ lệ lao động trong các doanh nghiệp đã được tuyên truyền về quy trình ATVSLĐ
1.2.3 Tổ chức đào tạo và tập huấn về quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã quy định các đối tượng sau cần phải (bắt buộc) được huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động:
1 Người lao động Đấy là những (i) Người đang làm việc, người mới tuyển dụng, người học nghề, tập nghề, thử việc tại doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh; (ii) Người lao động hành nghề tự do được doanh nghiệp, cơ
sở sản xuất kinh doanh thuê mướn, sử dụng
2 Người sử dụng lao động và người quản lý (gọi chung là người sử dụng lao động) Đây là (i) Chủ doanh nghiệp, cơ sở ho c người được chủ cơ sở uỷ quyền điều hành sản xuất, kinh doanh dịch vụ; (ii) Giám đốc, phó giám đốc doanh nghiệp, cơ sở; Thủ trưởng các tổ chức cơ quan, đơn vị trực tiếp sử dụng lao động; (iii) Người quản lý, điều hành trực tiếp các công trường, phân xưởng ho c các bộ phận tương đương
3 Người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động ở doanh nghiệp cơ sở
Để bảo đảm các quy định này cần điều phối việc thực hiện các chương trình ATVSLĐ để nâng cao ý thức và giám sát việc thực thi ATVSLĐ tại các doanh nghiệp Đồng thời phải tổ chức đánh giá việc tuân thủ ATVSLĐ, đánh
Trang 26giá rủi ro và các mối nguy hiểm đến an toàn lao động
Các quy định này sẽ nâng cao trách nhiệm của người sử dụng lao động trong vấn đề này Đồng thời người lao động không chỉ được hưởng và còn có nghĩa vụ chấp hành và thực hiện tốt các quy định này Đồng thời các cơ quan quản lý cũng cần tổ chức đào tạo huấn luyện cán bộ quản lý và sử dụng lao động những kiến thức về ATVSLĐ, bệnh nghề nghiệp và các biện pháp phòng chống tác hại của môi trường lao động, phải tổ chức cho người lao động học tập các kiến thức đó
Tổ chức đào tạo tập huấn về quản lý ATVSLĐ sẽ tiến hành theo hai nội dung : (i) Các quy định của pháp luật về ATVSLĐ; (ii) Tổ chức quản lý công tác ATVSLĐ trong doanh nghiệp
Cơ quan tổ chức sẽ bao gồm: Sở lao động và Thương binh xã hội với chức năng quản lý nhà nước về công tác này Các cơ quan phối hợp bao gồm Công đoàn, hiệp hội doanh nghiệp …
Đối tượng đào tạo và tập huấn gồm: các nhà quản trị doanh nghiệp, lãnh đạo tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệpATVSLĐ, người lao động Hình thức tổ chức đào tạo: chủ yếu đào tạo ngắn hạn và đào tạo lại
Kinh phí cho quá trình này bao gồm nguồn của cơ quan quản lý nhà nước và nguồn đóng góp của các doanh nghiệp
Tiêu chí:
- Số lượng các đợt tập huấn về ATVSLĐ cho các đối tượng
- Tỷ lệ các doanh nghiệp tham gia đào tạo về quản lý ATVSLĐ
1.2.4 Tổ chức thanh kiểm tra về thực hiện an toàn, vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp
Tổ chức thanh kiểm tra về thực hiện an toàn, vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp là nội dung rất cần thiết để thực hiện quản lý về ATVSLĐ Dù
đã có các quy phạm và quy trình bảo hộ lao động cũng như các quy định
Trang 27quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động nhưng để bảo đảm hiệu lực của chúng và chấp hành của các doanh nghiệp nhất thiết phải thực hiện thanh tra, kiểm tra về an toàn lao động Công việc này phải tiến hành thường xuyên nghiêm túc không hình thức để nhắc nhở và điều chỉnh những sai xót trong việc thực hiện là mục tiêu chính Tuy nhiên cũng cần xử phạt nghiêm những trường hợp vi phạm có tính chất hệ thống Thông thường việc chấp hành các quy phạm và quy trình về an toàn lao động sẽ khiến các doanh nghiệp tốn kém chi phí nên họ sẽ tìm cách giảm bớt điều kiện hay trang bị không đủ phương tiện bảo hộ lao động hay chất lượng kém Ngoài ra tình trạng lao động không được đào tạo hay trang bị kiến thức về an toàn lao động cũng không ít hiện nay
Các cơ quan quản lý phải thường xuyên thanh tra kiểm tra về điều kiện và môi trường lao động Công tác này với mục tiêu chủ yếu để nắm bắt tình hình, nhắc nhở và chấn chỉnh những sai phạm Trong thực tế những khiếm khuyết của hệ thống trang thiết bị, cơ sở vật chất để duy trì môi trường và điều kiện làm việc có thể xuống cấp nên có thể thời điểm này đáp ứng nhưng sau đó không đủ điều kiện do xuống cấp hay lý do nào đó Việc kiểm tra, thanh tra nên tiến hành định kỳ và đột xuất nếu cần thiết nhưng không gây ảnh hưởng tới tình hình sản xuất của doanh nghiệp Đi cùng với thanh kiểm tra cần đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các biện pháp vệ sinh an toàn trong sản xuất
Việc thanh tra có thể thực hiện bằng các hình thức:
+ Thanh kiểm tra của cơ quan QLNN từ bên ngoài gồm
Thanh kiểm tra định kỳ
Thanh kiểm tra đột xuất
+ Thanh kiểm tra của bản thân doanh nghiệp về việc thực hiện bên trong doanh nghiệp mình và của người lao động
Tiêu chí:
Trang 28- Số lượng các doanh nghiệp được thanh tra thường xuyên và đột xuất; -Tỷ lệ doanh nghiệp đủ điều kiện và chấp hành tốt/tổng số doanh nghiệp được thanh kiểm tra;
- Tỷ lệ doanh nghiệp không đủ điều kiện và chấp hành tốt/tổng số doanh nghiệp được thanh kiểm tra
1.2.5 Điều tra, thống kê tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
Điều tra, thống kê tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp là nội dung rất quan trọng vì những kết quả điều tra sẽ cho phép rút ra những bài học và nguyên nhân dẫn tới tai nạn lao động từ đó phát hiện những khiếm khuyết trong các quy phạm về an toàn lao động cũng như công tác quản lý để có điều chỉnh cần thiết Công tác này còn cho phép hạn chế việc các doanh nghiệp trốn tránh trách nhiệm khi xảy ra tình trạng mất an toàn lao động và nhắc nhở doanh nghiệp và người lao động phải chấp hành nghiêm các quy phạm được đề ra Bệnh nghề nghiệp luôn đi cùng với đ c thù của ngành sản xuất và môi trường làm việc không đúng tiêu chuẩn Tiến hành điều tra thống kê nhằm phát hiện những vấn đề đột biến và các nguyên nhân phát sinh để điều chỉnh tiêu chuẩn
quy trình về vệ sinh lao động Phải kiểm tra các yếu tố có hại trong môi trường
lao động trong các doanh nghiệp và có biện pháp xử lý kịp thời Có hồ sơ lưu trữ
và theo dõi kết quả đó theo quy định Đồng thời tiến hành giám định khả năng lao động của người lao động mắc bệnh nghề nghiệp và các bệnh mãn tính khác
Sở Lao động và thương binh xã hội địa phương thực hiện việc điều tra và thanh tra, trong nhiều trường hợp sẽ có sự tham gia của các cơ quan chức năng khác như Công đoàn, Trung tâm y tế dự phòng, công an, viện kiểm soát…Việc thống kê sẽ được thực hiện thường xuyên bởi các doanh nghiệp theo mẫu báo cáo cho bộ phận thống kê của Sở Lao động và thương binh xã hội
Tiêu chí
- Tỷ lệ giảm các vụ tai nạn lao động trong các doanh nghiệp
Trang 29- Giảm tỷ lệ số lao động mắc bệnh nghề nghiệp
1.2.6 Xử lý các vi phạm về an toàn, vệ sinh lao động
Xử lý các vi phạm về an toàn lao động là công việc cần thiết để bảo đảm
tính hiệu lực và hiệu quả của các quy phạm về ATVSLĐ Chỉ có xử lý nghiêm mới có tác dụng với cả doanh nghiệp và người lao động
Luất pháp của nhà nước còn quy định rất ch t chẽ công tác xử phạt về ATVSLĐ Tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động sẽ bị phạt tiền, cấm hoạt động còn có thể bị áp dụng một ho c nhiều biện pháp khắc phục hậu quả như buộc khắc phục, sửa chữa đối với các máy, thiết bị không bảo đảm các tiêu chuẩn về an toàn lao động và vệ sinh lao động; buộc kiểm định và đăng ký các loại máy, thiết bị, vật tư, các chất có yêu cầu nghiêm ng t về an toàn lao động và vệ sinh lao động Tuy nhiên, để các quy phạm pháp luật đi vào thực tế cuộc sống đòi hỏi phải có sự đầu tư về vật chất và đồng lòng của tất cả các bên liên quan trong quan hệ lao động, đ c biệt là sự cam kết thực hiện pháp luật an toàn, vệ sinh lao động của người sử dụng lao động và người lao động
AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI DOANH NGHIỆP
1.3.1 Điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển kinh tế xã hội
Điều kiện tự nhiên của m i vùng là nhân tố ảnh hưởng rất lớn tới an toàn
và vệ sinh lao động Điều kiện tự nhiên bao gồm nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, gió, nắng và thời gian nắng… là những nhân tố tạo ra điều kiện vi khí hậu
Trang 30quyết định tới môi trường làm việc của lao động Ví dụ nhiệt độ cao trên
300 C sẽ khiến lao động làm việc trọng điều kiện này gây ra những tác hại nghề nghiệp nhất định Khi nhiệt độ cơ thể tăng 10
C trong quá trình lao động là cần được chú ý, khi tăng đến 20
C là ngưỡng nguy hiểm, nó gây ra Mất nước và mồ hôi Mất mồ hôi dẫn theo mất các chất ion như ion K, Na, Cl,
Do mất nước nên thể tích máu giảm, tim phải làm việc tăng 125%, đồng thời
hô hấp cũng tăng lên để cung cấp đủ lượng oxy cho cơ thể và gây ra căng thẳng và phản xạ sẽ không chính xác Ảnh hưởng của vi khí hậu đến sức kho
và bệnh tật: những biến đổi sinh lý quá ngưỡng với tính l p lại nhiều lần và thời gian kéo dài sẽ làm ảnh hưởng xấu tới sức kho và phát sinh bệnh nghề nghiệp ho c bệnh mang tính nghề nghiệp Lao động ở nhiệt độ nóng sẽ gây thêm một số bệnh như bệnh thần kinh, bệnh tim mạch và bệnh ngoài da… Ngoài ra điều kiện tự nhiên còn tác hại tới điều kiện an toàn lao động khi
nó chính là nhân tố gây xuống cấp các thiết bị an toàn lao động
Trình độ phát triển kinh tế xã hội cũng là nhân tố tác động mạnh tới
quản lý an toàn vệ sinh lao động trên các góc độ sau:
Cho phép hoàn thiện hơn công cụ pháp lý để quản lý về an toàn vệ sinh lao động;
Cung cấp nguồn lực cho cải thiện điều kiện về an toàn vệ sinh lao động; Đòi hỏi và tạo điều kiện tốt hơn về an toàn vệ sinh lao động;
Nhận thức của xã hội và người lao động cao hơn về quyền và nghĩa vụ của họ trong vấn đề này
1.3.2 Quản lý Nhà nước
Quản lý nhà nước về bảo hộ lao động là một trong những nhân tố cơ bản
ảnh hưởng đến công tác vệ sinh và an toàn lao động Đảng và nhà nước ban
hành và quản lý thống nhất hệ thống tiêu chuẩn VS và ATLĐ đối với máy, thiết bị, nơi làm việc có liên quan đến điều kiện lao động, tiêu chuẩn chất
Trang 31lượng, quy cách các loại phương tiện bảo vệ cá nhân Đây là cơ sở quan trọng
để hình thành các nội dung về quản lý vệ sinh lao động Mục tiêu của hoạt động quản lý này của cơ quan quản lý nhà nước là nhằm tạo ra môi trường lao động với các điều kiện tiêu chuẩn không ảnh hưởng xấu tới sức khỏe hay giảm khả năng lao động hay mắc bệnh nghề nghiệp của người lao động
Các cơ quan chính có chức năng, nhiệm vụ kiểm tra, giám sát về ATVSLĐ trong các doanh nghiệp bao gồm:
- Chức năng thanh tra về ATVSLĐ: gồm các cơ quan theo quy định tại Điều 237 Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2012
- Chức năng kiểm tra về ATVSLĐ: Cục An toàn lao động (theo Quyết định số 1123/2003/QĐ-BLĐTBXH ngày 10/9/2003 của Bộ LĐ-TB và XH) và các cơ quan, ban, ngành quản lý cấp trên của doanh nghiệp (theo theo quy định cụ thể của ban, ngành)
- Chức năng giám sát ATVSLĐ: Tổ chức công đoàn (theo Thông tư số:01/2011/TTLT-BLĐTBXH-BYT ngày 10/01/2011 của Bộ Lao động –Thương binh và xã hội và Bộ Y tế và quy định tại Khoản 1, Điều 21, Nghị định số 06/CP ngày 20/1/1995 của Chính phủ) Đồng thời doanh nghiệp cũng
có nhiệm vụ tự kiểm tra công tác ATVSLĐ của chính mình
Nếu doanh nghiệp có nhu cầu cần kiểm tra an toàn vệ sinh lao động tại doanh nghiệp có thể gửi công văn đề nghị tới các cơ quan trên
Tổ chức công đoàn có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy công tác an toàn
- vệ sinh lao động được thực hiện có hiệu quả hơn vì đây là tổ chức hoạt động
vì lợi ích của người lao động, cùng bảo vệ người lao động như mục tiêu của công tác này
Công đoàn là tổ chức đại diện cho người lao động, bảo vệ quyền lợi của
người lao động về bảo hộ lao động theo pháp luật hiện hành và luật công đoàn Cụ thể là: Công đoàn cơ sở thay m t người lao động ký thoả ước lao
Trang 32động tập thể với người sử dụng lao động, trong đó có nêu rõ các biện pháp cải thiện điều kiện làm việc, đảm bảo an toàn - vệ sinh lao động; Tiến hành kiểm tra việc chấp hành pháp luật, chế độ chính sách về bảo hộ lao động Công đoàn có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước, người sử dụng lao động thực hiện đúng pháp luật, tiêu chuẩn quy định về bảo hộ lao động, có quyền yêu cầu người có trách nhiệm tạm ngừng hoạt động ở những nơi có nguy cơ gây tai nạn lao động; Công đoàn tham gia với cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền xây dựng các văn bản pháp luật, chế độ chính sách, tiêu chuẩn, quy phạm, kế hoạch biện pháp về bảo hộ lao động; Công đoàn cử đại diện tham gia vào các đoàn điều tra tai nạn lao động; Công đoàn tham gia với chính quyền xét thưởng và xử lý kỷ luật trong hệ thống công đoàn; Công đoàn tham gia với các nhà nước xây dựng chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, tham gia và
tổ chức thực hiện các chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo
hộ lao động, xây dựng tiêu chuẩn quốc gia về bảo hộ lao động Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trực tiếp quản lý Viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động quốc gia; Công đoàn tuyên truyền giáo dục và tham gia tổ chức huấn luyện bảo hộ lao động cho người lao động, vận động họ làm tốt nghĩa vụ trong công tác an toàn - vệ sinh lao động; Công đoàn tổ chức, chỉ đạo hoạt động phong trào quần chúng làm bảo hộ lao động và quản lý, chỉ đạo hoạt động mạng lưới an toàn vệ sinh viên
1.3.3 Nhân tố người sử dụng lao động, người quản lý
Người sử dụng lao động có trách nhiệm tạo môi trường làm việc an toàn
cho người lao động Họ là người chủ động thực hiện và quyết định thực hiện công tác an toàn vệ sinh lao động trong m i doanh nghiệp, nên nhận thức và mức độ nhiệt tình của họ khi tham gia thực hiện là nhân tố quyết định đến hiệu quả của công tác
Người sử dụng lao động có nghĩa vụ: Hàng năm, khi xây dựng kế hoạch
Trang 33sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải lập kế hoạch, biện pháp an toàn vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện lao động; Trang bị đầy đủ các phương tiện bảo vệ cá nhân và thực hiện các chế độ khác về an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với người lao động theo quy định của nhà nước; Phân công trách nhiệm và cử người giám sát việc thực hiện các quy định, nội quy, biện pháp an toàn lao động, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp; phối hợp với công đoàn
cơ sở xây dựng và duy trì sự hoạt động của màng lưới an toàn viên và vệ sinh viên; Xây dựng nội quy, quy trình an toàn lao động, vệ sinh lao động phù hợp với từng loại máy, thiết bị, vật tư kể cả khi đổi mới công nghệ, máy, thiết bị, vật tư và nơi làm việc theo tiêu chuẩn quy định của nhà nước; Thực hiện huấn luyện, hướng dẫn các tiêu chuẩn, quy định, biện pháp an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động; Tổ chức khám sức kho định kỳ cho người lao động theo tiêu chuẩn chế độ quy định; Chấp hành nghiêm chỉnh quy định khai báo, điều tra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và định kỳ 6 tháng, hàng năm báo cáo kết quả tình hình thực hiện an toàn - vệ sinh lao động, cải thiện điều kiện lao động với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Y tế nơi doanh nghiệp hoạt động
Người sử dụng lao động có quyền: Buộc người lao động phải tuân thủ
các quy định, nội quy, biện pháp an toàn vệ sinh lao động; Khen thưởng người chấp hành tốt và kỷ luật người vi phạm trong việc thực hiện an toàn vệ sinh lao động; Khiếu nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quyết định của thanh tra viên an toàn vệ sinh lao động, nhưng vẫn phải chấp hành các quyết định đó khi chưa có quyết định mới
Theo thông tư số 01/2011/TTLT-BLĐTBXH-BYT ngày 10 tháng 01 năm 2011 của Liên bộ Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội – Bộ Y tế thì: Doanh nghiệp phải thành lập bộ phận an toàn – vệ sinh lao động theo quy định tối thiểu sau:
Trang 34- Có tổng số lao động trực tiếp dưới 300 người phải bố trí ít nhất 01 cán
bộ an toàn – vệ sinh lao động làm việc theo chế độ kiêm nhiệm;
- Có số lao động trực tiếp từ 300 đến 1000 người phải bố trí ít nhất 01 cán bộ an toàn – vệ sinh lao động, làm việc theo chế độ chuyên trách;
- Doanh nghiệp có tổng số lao động trực tiếp trên 1.000 người phải thành lập Phòng ho c Ban an toàn – vệ sinh lao động ho c bố trí tối thiểu 2 cán bộ chuyên trách an toàn – vệ sinh lao động;
Cán bộ an toàn – vệ sinh lao động phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Có chuyên môn nghiệp vụ về kỹ thuật an toàn, kỹ thuật phòng, chống cháy nổ, kỹ thuật môi trường, vệ sinh lao động
- Có hiểu biết về thực tiễn hoạt động sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch
vụ của cơ sở
Trường hợp doanh nghiệp không thành lập được bộ phận an toàn – vệ sinh lao động đáp ứng các yêu cầu trên thì phải có hợp đồng với tổ chức có đủ năng lực thực hiện các nhiệm vụ an toàn – vệ sinh lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Thông tư số 01/2011/TTLT-BLĐTBXH-BYT
Người cán bộ công đoàn cơ sở: nắm được những quy định pháp luật về
ATVSLĐ để phối hợp tổ chức thực hiện và vận động NSDLĐ, NLĐ thực hiện Có điều kiện thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát việc thực hiện những chế độ, quy định pháp luật về ATVSLĐ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ theo luật định
1.3.4 Nhân tố người lao động tại doanh nghiệp
Người lao động là người hoạt động trong môi trường lao động và chịu
ảnh hưởng trực tiếp của các nhân tố trong đó Một phần trong việc đảm bảo
an toàn, vệ sinh lao động là phụ thuộc vào ý thức chấp hành kỷ luật trong khi làm việc của họ Nếu tất cả mọi người lao động trong cùng một công xưởng đều thực hiện tốt công việc của mình theo đúng các tiêu chuẩn về an toàn, vệ
Trang 35sinh lao động thì sự an toàn của m i người đều được nâng cao
Người lao động có nghĩa vụ chấp hành các quy định, nội quy về an toàn
vệ sinh lao động có liên quan đến công việc, nhiệm vụ được giao; Phải sử dụng và bảo quản các phương tiện bảo vệ cá nhân đã được trang cấp, các thiết
bị an toàn vệ sinh lao động nơi làm việc, nếu làm mất ho c hư hỏng thì phải bồi thường; Phải báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi phát hiện nguy cơ gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, gây độc hại ho c sự cố nguy hiểm, tham gia cấp cứu và khắc phục hậu quả tai nạn lao động khi có lệnh của người sử dụng lao động
Người lao động có quyền được yêu cầu người sử dụng lao động đảm bảo
điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh, cải thiện điều kiện lao động; trang cấp đầy
đủ phương tiện bảo vệ cá nhân, huấn luyện, thực hiện biện pháp phải an toàn lao động, vệ sinh lao động; có quyền từ chối làm công việc ho c dời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, đe doạ nghiêm trọng tính mạng, sức kho của mình và phải báo ngay với người phụ trách trực tiếp; từ chối trở lại làm việc nơi nói trên nếu những nguy cơ đó chưa được khắc phục; khiếu nại ho c tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi người sử dụng lao động vi phạm quy định của nhà nước ho c không thực hiện các giao kết về
an toàn lao động, vệ sinh lao động trong hợp đồng lao động, thoả ước lao động Quản lý về an toàn, vệ sinh lao động còn phụ thuộc vào những yếu tố thuộc về bản thân người lao động như:
- Tuổi tác, sức khỏe, giới tính, tâm lý không phù hợp với công việc
- Trạng thái thần kinh, tâm lý không bình thường, có những đột biến về cảm xúc: vui, buồn, lo sợ, hoảng hốt
- Vi phạm kỷ luật lao động, nội quy an toàn và những điều nghiêm cấm
- Tính chủ quan do không sử dụng đầy đủ bảo hộ lao động đã được trang
bị làm việc trong tình trạng mất ngủ, say rượu, sức khỏe không đảm bảo
Trang 36KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Nghiên cứu Cơ sở lý luận và phương pháp luận, gồm các nội dung
- Sự cần thiết của hệ thống quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp;
- Nội dung quy trình quản lý an toàn, vệ sinh lao động;
- Kinh nghiệm xây dựng tiêu chí và áp dụng hệ thống quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp
Trang 37CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN, VỆ
SINH LAO ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ
2.1 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
2.1.1 Vị trí điều kiện tự nhiên
Về vị trí địa lý
Sơn Trà nằm về phía Đông thành phố Đà Nẵng, trải dài theo hạ lưu phía hữu ngạn sông Hàn, có toạ độ địa lý từ 16004'51''đến 160
09'13'' vĩ độ Bắc, 1080
15'34'' đến108018'42'' kinh độ Đông Đây là một quận có ba m t giáp sông, biển Phía Bắc và Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp Vũng Thùng (Vịnh Đà Nẵng) và sông Hàn, phía Nam giáp quận Ngũ Hành Sơn Sơn Trà là một trong 8 quận, huyện của thành phố Đà Nẵng, Nguồn lợi thuỷ sản dồi dào, phong phú, có giá trị kinh tế cao và nhiều loại hải sản quí hiếm Ngư trường không bó hẹp trong phạm vi của quận, của thành phố, mà được
mở rộng ra các tỉnh lân cận, kéo dài đến vịnh Bắc Bộ và biển Nam Trung Bộ Phát triển đội ngũ tàu khai thác hải sản xa bờ, phát triển nhanh số lượng tàu cá
có công suất lớn và cải hoán, nâng cấp tàu cá công suất nhỏ để vươn khơi, hình thành các đội tàu cùng nghề để h trợ nhau khai thác trên biển
Kết cấu hạ tầng:
Sơn Trà là một quận vừa có vị trí thuận lợi về phát triển kinh tế, có đường nội quận nối với quốc lộ 14B nối Tây Nguyên - Lào, vừa là địa bàn quan trọng về quốc phòng - an ninh, có cảng nước sâu Tiên Sa là cửa khẩu quan hệ kinh tế quốc tế không chỉ của thành phố Đà Nẵng mà của cả khu vực,
có bờ biển đẹp, là khu vực tập trung các cơ sở quốc phòng, có vị trí quan
Trang 38Về khí hậu
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ cao và ít biến động
M i năm có hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 1-9, mùa mưa từ tháng 10-12 Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25oC , cao nhất là vào tháng 6,7,8 trung bình từ 28oC-30oC, thấp nhất vào các tháng 12,1,2 trung bình từ 18-23oC, thỉnh thoảng có những đợt rét đậm nhưng không kéo dài Độ ẩm không khí trung bình là 83,4%, cao nhất là tháng 10,11 trung bình 85,67%-87,67%, thấp nhất vào các tháng 6,7 trung bình từ 76,67% - 77,33%
Đây là các nhân tố ảnh hưởng không nhỏ tới công tác quản lý về an toàn vệ sinh lao động trong đó đ c biệt là mô trường làm việc của lao động
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế của quận Sơn Trà
- Tăng trưởng giá trị SX trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN thể hiện qua bảng 2.1
Bảng 2.1 Tăng trưởng GTSX các DN trên địa bàn quận Sơn Trà
Đơn vị tính: triệu đồng
Giá trị SXCN 515 874 1.291 1.497 1.612 1.771 Tăng trưởng bình quân(%) 17,60
Nguồn: Phòng Kinh tế quận Sơn Trà
Trang 39Đây là kết quả rất tích cực cho thấy kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp khá ổn định, quy mô ngày càng tăng
2.1.3 Doanh nghiệp, người sử dụng lao động
Hiện nay một nhược điểm mà hầu hết các doanh nghiệp còn hạn chế đó
là thiếu cán bộ được đào tạo chính quy về công tác quản lý môi trường và vệ sinh an toàn lao động, nếu có cán bộ thì làm kiêm nhiệm không chuyên trách Một chương trình An toàn Vệ sinh Lao động và Sức khỏe Nghề nghiệp (AT-VSLĐ&SKNN) hoàn chỉnh phải được thống nhất và thực hiện đồng bộ trong cả doanh nghiệp, từ văn phòng của Giám đốc Điều hành cho tới từng dây chuyền sản xuất trong phân xưởng Thực tế trong suốt nhiều năm qua, công tác quản lý an toàn tại các doanh nghiệp được hiểu đơn thuần là quản lý
“phần cứng”, là những thiết bị an toàn như: bình cứu hỏa, hệ thống phòng cháy chữa cháy, ho c là việc cung cấp và trang bị các trang thiết bị bảo hộ cá nhân cho công nhân khi làm việc Với cách hiểu như vậy, công tác an toàn ít nhiều đã không được coi trọng trong doanh nghiệp, thậm chí có nhiều nơi công tác an toàn chỉ được coi là “việc làm thêm” ho c “kiêm nhiệm” Có không ít doanh nghiệp đã hình thức hóa công tác quản lý AT-VSLĐ&SKNN chỉ nhằm mục đích đối phó khi có các đoàn thanh tra đến làm việc Và thực tế
đã có những trường hợp tính mạng của người lao động bị coi r để rồi xảy ra những sự cố hết sức đáng tiếc và gây ra hậu quả tổn thất về cả phía người lao động lẫn người sử dụng lao động Công tác quản lý AT-VSLĐ& SKNN hoàn toàn không được quan tâm trong khi tấm băng rôn với dòng chữ “An toàn là trên hết” vẫn được treo ở cổng chính của doanh nghiệp Một điều nữa là do Nhà nước không quy định rõ kinh phí an toàn vệ sinh lao động cho nên các nhà doanh nghiệp thường hay cắt giảm chi phí đầu tư các thiết bị bảo hộ lao động Tình trạng vi phạm các tiêu chuẩn, quy định về an toàn, vệ sinh lao động
ở các doanh nghiệp vẫn diễn ra thường xuyên và rất phổ biến, với một tỷ lệ
Trang 40khá cao Chưa được xây dựng theo cơ chế hài hoà lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội, lợi ích của các bên tham gia quan hệ lao động nên các quy định này đều
có đ c điểm là tính khả thi và tác dụng rất hạn chế…Nguyên nhân:
+ DN mới thành lập, vốn ít, quy mô nhỏ hẹp (dưới 10 tỷ đồng) nên DN này thường yếu kém trong việc đáp ứng với nhu cầu và yêu cầu thay đổi đầu
tư, cập nhật nâng cấp cơ sở Thậm chí nhiều DN còn cố tình lơ là, bỏ qua việc huấn luyện an toàn lao động Nguyên nhân khác được xác định là do nhận thức việc lợi ích của việc tham gia huấn luyện ATVSLĐ còn chưa sát với quy mô thực tế, nên nhiều nơi chưa nhận thức được vai trò quan trọng của vấn đề này + Chính sách với lao động trong Bộ luật Lao động hiện nay dường như
là chính sách về nguồn nhân lực của Nhà nước nhiều hơn là chính sách về việc làm cho người lao động
+ Các quy định của pháp luật lao động về vấn đề này chưa kết hợp hài hoà lợi ích kinh tế với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
+ Các chế độ ưu đãi với với doanh nghiệp có sử dụng nhiều lao động nữ còn mang n ng cơ chế xin – cho, thủ tục hành chính phức tạp, làm nản lòng
và gây tâm lý ức chế với các doanh nghiệp
+ Về cơ sở vật chất và điều kiện làm việc của công nhân lao động tại các doanh nghiệp cũng chưa được tốt như nhiều doanh nghiệp không có bố trí phòng nghỉ trưa cho công nhân, một ít doanh nghiệp có phòng nghỉ trưa nhưng chưa thật sự sạch sẽ, có nơi CNLĐ nghỉ trưa trên vỉa hè các phòng làm việc của DN, hay ngay trong nhà xưởng nơi làm việc, thiếu chú trọng đến xây dựng phòng tắm, phòng vệ sinh và ch thay quần áo cho nữ công nhân
2.1.4 Người lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn quận
Địa bàn quận Sơn Trà chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, sản xuất kinh doanh các ngành nghề chế biến thủy sản xuất khẩu, vật liệu xây dựng, chế biến giấy bao bì, may giày… nhưng hầu như tập trung vào ngành chế biến