Đã có một số nghiên cứu trước ở nước ngoài về hành vi tuân thủ thuế TTT như: i Parka & Hyunb 2003 thực hiện tại Hàn Quốc nhằm nghiên cứu các yếu tố như: Thu nhập thực tế, Thuế suất, Mức
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ TUÂN THỦ THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ KINH TẾ
Đà Nẵng - Năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ TUÂN THỦ THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Đóng góp của nghiên cứu 3
6 Cấu trúc của luận văn 3
7 Các công trình nghiên cứu liên quan 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA HÀNH VI TUÂN THỦ THUẾ 9
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ THUẾ TNDN VÀ HÀNH VI TUÂN THỦ THUẾ 9
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò thuế TNDN 9
1.1.2 Khái niệm, thước đo hành vi tuân thủ thuế 13
1.2 LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI TUÂN THỦ THUẾ 16
1.2.1 Lý thuyết về hành vi 16
1.2.2 Lý thuyết về hành vi tuân thủ thuế 18
1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 21
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 27
2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 27
2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội Tp Đà Nẵng 27
2.1.2 Tình hình quản lý thuế trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 29
2.2 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 32
2.3 XÂY DỰNG MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 33
Trang 52.4 XÂY DỰNG THANG ĐO TRONG MÔ HÌNH 51
2.5 THU THẬP THÔNG TIN VÀ XỬ LÝ DỮ LIỆU 54
2.5.1 Thu thập thông tin 54
2.5.2 Xử lý số liệu 54
2.6 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 58
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 61
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 62
3.1 MÔ TẢ MẪU ĐIỀU TRA 62
3.2 KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH THANG ĐO BẰNG HỆ SỐ CRONBACH’S ANPHA 65
3.3 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ EFA 72
3.4 PHÂN TÍCH HỒI QUY 75
3.5 PHÂN TÍCH ANOVA 81
3.5.1 Kiểm định Anova giới tính 81
3.5.2 Kiểm định Anova trình độ 82
3.5.3 Kiểm định Anova kinh nghiệm 83
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 84
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 85
4.1 KẾT LUẬN 85
4.2 KIẾN NGHỊ CÁC BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG TUÂN THỦ THUẾ 86 4.2.1 Kiến nghị tăng cường tác thanh – kiểm tra thuế 86
4.2.2 Kiến nghị hoàn thiện dịch vụ, hỗ trợ thuế 87
4.2.3 Kiến nghị liên quan đến thuế suất 88
4.2.4 Kiến nghị mức phạt 89
4.2.5 Kiến nghị khác 89
4.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 95
KẾT LUẬN 96
Trang 6PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
GIẤY ĐỀ NGHỊ BẢO VỆ LUẬN VĂN
BIÊN BẢN HỌP HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN VĂN (Bản sao) NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 1
NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 2
BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT NSNN Ngân sách Nhà nước
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Số hiệu
1.1 Tóm tắt các mô hình nghiên cứu trước đây 23
2.1 Số liệu thanh kiểm tra tại Cục Thuế Tp Đà Nẵng năm
2.3 Mô tả kết quả nghiên cứu định tính các nhân tố tác động
3.2 Tổng hợp các nhân tố có độ tin cậy phù hợp 72
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Số hiệu
1.1 Mô hình xu hướng hành vi của Ajzen (1991) 19
1.2 Mô hình lý thuyết về động lực của Braithwaite và cộng
1.3 Mô hình contractarian của Scholz (1997) 21 1.4 Mô hình lý thuyết động lực đám đông của Fred (1997) 22
Mô hình các yếu tố tác động đến tính tuân thủ của các
doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn Tp Đà Nẵng
2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức Cục thuế Đà Nẵng 30
2.3 Mô hình các yếu tố tác động đến tính tuân thủ của các
doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn Tp Đà Nẵng 35
3.1 Các nhân tố tác động đến tuân thủ thuế tại Đà Nẵng (Mô
hình điều chỉnh sau khi phỏng vấn sâu chuyên gia) 61 3.2 Thông tin về giới tính của đối tượng khảo sát 63 3.3 Thông tin về trình độ chuyên môn đối tượng khảo sát 64 3.4 Thông tin về kinh nghiệm đối tượng khảo sát 64
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tại bất cứ quốc gia nào trên thế giới, nguồn thu từ thuế cũng là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước (NSNN) và ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia Mỗi quyết định về thuế đều liên quan đến các vấn đề từ vĩ mô đến vi mô của nền kinh tế như vấn đề tích lũy, đầu tư công, tiêu dùng, và các vấn đề phân bổ nguồn lực trong xã hội Vì vậy, các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng đều nổ lực hoàn thiện hệ thống thuế, nhằm gia tăng nguồn ngân sách nhà nước
Trong các sắc thuế hiện nay, thuế TNDN là một trong những sắc thuế quan trọng nhất, đóng vai trò là nguồn thu chính trong tổng thu thuế Chính vì vậy, các hiện tượng trốn thuế, tránh thuế và nợ thuế thường tập trung vào thuế TNDN Để hạn chế tình trạng này, các cơ quan có chức năng quản lý thuế luôn tìm cách thúc đẩy hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế
Đã có một số nghiên cứu trước ở nước ngoài về hành vi tuân thủ thuế (TTT) như: (i) Parka & Hyunb (2003) thực hiện tại Hàn Quốc nhằm nghiên cứu các yếu tố như: Thu nhập thực tế, Thuế suất, Mức phạt, Tỷ lệ kiểm toán, Hàng hóa công, Chuẩn mực xã hội tác động đến hành vi tuân thủ thuế; (ii) Chau và Leung (2009) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế, bao gồm các yếu tố như đặc điểm chủ doanh nghiệp, thời điểm không tuân thủ, thái độ, nhận thức và cấu trúc hệ thống thuế; (iii) Bame-Aldred, Cullen, Martin, & Parboteeah (2011) khảo sát 3331 doanh nghiệp trên toàn thế giới, nghiên cứu ảnh hưởng của Trình độ của quốc gia (Chủ nghĩa cá nhân, Định hướng thành tích, Sự quả quyết, Định hướng nhân đạo, Quy định của Pháp luật; Gánh nặng thuế TNDN, Gánh nặng thuế TNCN, GDP); Trình
độ của doanh nghiệp (Khả năng của công ty kiểm toán, Quy mô doanh
Trang 11nghiệp, Hình thức sở hữu cá nhân, Ngành nghề; Nhận thức về gánh nặng thuế) đến hành vi tuân thủ thuế của các doanh nghiệp
Ở Việt Nam cũng có một số nghiên cứu về tính tuân thủ thuế, tuy nhiên
đa số các nghiên cứu chỉ tập trung vào các sắc thuế nói chung Đồng thời, xét theo phạm vi lãnh thổ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, một trong những thành phố tập trung nhiều doanh nghiệp lớn của Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào về hành vi tuân thủ thuế TNDN
Chính vì vậy tác giả chọn “Các yếu tố tác động đến sự tuân thủ thuế của các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu trong luận văn này của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Với đề tài này, tác giả tập trung vào các mục tiêu sau:
- Hệ thống hóa các cơ sở lí luận về hành vi tuân thủ thuế
- Xây dựng mô hình và thang đo nghiên cứu những yếu tố tác động đến
sự tuân thủ thuế TNDN của các doanh nghiệp tư nhân hoạt động trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Chỉ ra những yếu tố tác động đến sự tuân thủ thuế TNDN của các doanh nghiệp tư nhân hoạt động trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Đề xuất các kiến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sự tuân thủ thuế TNDN của các doanh nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ khảo sát các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
4 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp định lượng Từ những nghiên cứu trước đây, tác giả rút ra mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế, và
Trang 12tiến hành phỏng vấn chuyên gia nhằm xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ đã đầy đủ và hợp lý chưa để điều chỉnh cho hợp lý
Tác giả tiến hành khảo sát các nhân viên phụ trách lĩnh vực kế toán thuế tại các doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Phương pháp thu thập dữ liệu:
+ Dữ liệu sơ cấp: thông qua bảng phỏng vấn và bảng khảo sát các các nhân viên phụ trách lĩnh vực kế toán thuế tại các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
+ Dữ liệu thứ cấp: thông qua báo cáo, số liệu của Cục thuế thành phố Đà Nẵng
Phương pháp phân tích dữ liệu: Cronbach’s Alpha; Phân tích nhân tố khám phá EFA; Hồi quy tuyến tính để đưa ra mô hình và kiểm định độ tin cậy của thang đo
5 Đóng góp của nghiên cứu
Về mặt khoa học: Nghiên cứu bổ sung cơ sở lý thuyết về những yếu tố
tác động đến sự tuân thủ thuế của các doanh nghiệp
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu là căn cứ khoa học để cơ quan
thuế quản lý nguồn thu thuế, quản lý sự tuân thủ thuế của các đối tượng nộp thuế
Về người nghiên cứu: Nghiên cứu giúp tác giả trau dồi thêm kiến thức,
và củng cố năng lực của bản thân
6 Cấu trúc của luận văn
Với phương pháp nghiên cứu được đưa ra ở trên, tác giả xây dựng luận văn thành 4 chương như sau:
Mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn hành vi tuân thủ thuế
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Trang 13Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Kết luận và Hàm ý chính sách
Kết luận
7 Các công trình nghiên cứu liên quan
Để hoàn thiện luận văn này, tác giả đã tìm hiểu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước được công bố chính thức trên sách, báo, tạp chí có liên qua đến lĩnh vực Thuế Cụ thể tiêu biểu là:
7.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Slemrod (1985) “An Empirical Test for Tax Evasion” trong nghiên cứ
thử nghiệm về hành vi trốn thuế đã tiến hành khảo sát trên hồ sơ của 23.111 người nộp thuế được lưu tại Kho bạc Hoa Kỳ từ năm 1977 Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy đa biến để phân tích dữ liệu và tìm thấy rằng thu nhập gộp, tuổi tác, tình trạng hôn nhân là những nhân tố tác động đến hành vi trốn thuế của người nộp thuế Đây được coi là một trong những nghiên cứu đầu tiên về hành vi không tuân thủ thuế
Fischer và cộng sự (1992)“Detection Probability and Taxpayer
Compliance: A Review of the Literature” đã tổng hợp các nghiên cứu trước
đây thành 4 nhóm nhân tố tác động đến cơ hội không tuân thủ thuế đó là: Quan điểm; Nhận thức của người nộp thuế; Các nhân tố liên quan đến hệ thống thuế; Các nhân tố nhân khẩu học Mô hình này cung cấp cho người đọc một khuôn khổ lý thuyết về tác động của những nhân tố kinh tế xã hội và tâm
lý học đến quyết định tuân thủ thuế của người nộp thuế
Parka & Hyunb (2003) “Examining the determinants of tax compliance by
experimental data: a case of Korea” thực hiện tại Hàn Quốc vào năm 2003
Qua phân tích thực nghiệm dữ liệu bằng phương pháp hồi quy đa biến đã tìm thấy rằng những người nộp thuế có cùng mức độ tuân thủ bất kể thu nhập của
họ Ngược lại tỷ lệ kiểm toán, mức phạt, hàng hóa công và chuẩn mực xã hội là
Trang 14các yếu tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ của các doanh nghiệp, trong đó mức phạt là yếu tố có mức ảnh hưởng lớn hơn các yếu tố khác
Hofmann và cộng sự (2008) “Preconditions of Voluntary Tax
Conpliance: Knowledge and Evaluation of Taxation, Norms, Fairness, and Motivation to Cooperate” sự hợp tác giữa người nộp thuế và cơ quan thuế
phụ thuộc vào các yếu tố bên trong và bên ngoài Các yếu tố bên trong đó là: thuế suất, thu nhập, xác suất bị phát hiện và mức phạt Bên ngoài, tuân thủ thuế phụ thuộc vào: sự hiểu biết của người dân về pháp luật thuế, thái độ của người dân đối với Chính phủ và hệ thống thuế, chuẩn mực cá nhân, nhận thức chuẩn mực xã hội, công bằng, xu hướng tạo động lực thực hiện và chiến lược can thiệp tăng tính công bằng thuế
Chau và Leung (2009)“A critical review of Fischer tax compliance
model: A research synthesis” đã mở rộng mô hình của Fisher và cộng sự
(1992) bằng cách bổ sung thêm các nhân tố: Văn hóa; Cơ hội không tuân thủ với hệ thống thuế Nghiên cứu này cũng cho rằng hầu hết những nghiên cứu hiện có về tuân thủ thuế được thực hiện ở các quốc gia phát triển, trong khi các quốc gia đang phát triển bị tác động nhiều hơn bởi hành vi không tuân thủ thuế Vì vậy tác giả đề nghị cần tiến hành nhiều nghiên cứu thực nghiệm hơn
về hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế tại các quốc gia đang phát triển
Palil và Mustapha (2011)“The Evolution and Concept of Tax
Compliance in Asia and Europe” tìm thấy rằng việc tuân thủ thuế bị ảnh
hưởng đặc biệt bởi xác suất được kiểm toán, nhận thức về chi tiêu của Chính phủ, sự cưỡng chế, khó khăn tài chính cá nhân; Bên cạnh đó, Alabede và đồng
sự (2011) “Determinants of Tax Compliance Behaviour: A Proposed Model
for Nigeria” cũng nghiên cứu ảnh hưởng của tình trạng tài chính lên các yếu
tố ảnh hưởng đến hành vi TTT ở Nigeria và cho thấy tình hình tài chính ảnh hưởng tương đối lớn đến mối quan hệ giữa thu nhập và hành vi TTT
Trang 15Nzioki và Peter (2014) “Analysis of Factors Affecting Tax Compliance
in Real Estate Sector: A Case of Real Estate Owners in Nakuru Town, Kenya” đưa ra 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ thuế đó là: chi phí
tuân thủ, phạt và xử phạt, nhận thức cơ hội trốn thuế, sự hiểu biết và giáo dục
về thuế Trong nghiên cứu nhóm tác giả cho thấy rằng chi phí tuân thủ tác động mạnh mẽ nhất đến mức độ tuân thủ thuế Bên cạnh đó một hệ thống thuế với mức phạt và tiền phạt hợp lí sẽ cải thiện được tính tuân thủ thuế
7.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009) “Hoàn thiện quản lí thu thuế của nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp – Nghiên cứu tình huống của Hà Nội” tác giả tiến hành nghiên cứu các yếu tố thuộc các nhóm khác nhau tác động đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp và khẳng định vai trò thu thuế Nhà nước trong việc tác động lên các yếu tố nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội Qua nghiên cứu chứng minh mô hình các cấp tuân thủ thuế đã điều chỉnh và đặc trưng của 4 cấp độ tuân thủ thuế được cụ thể hơn qua phân tích 3 chỉ số tự nguyện, đủ và đúng thời gian; xác định những yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế theo cách tiếp cận kinh tế và tâm lí xã hội
Võ Đức Chín (2011) “Các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế
của doanh nghiệp – trường hợp tỉnh Bình Dương” khảo sát các doanh nghiệp
tại Bình Dương với 200 mẫu tìm ra 6 nhóm nhân tố tác động đến tính tuân thủ của người nộp thuế gồm: nhóm nhân tố về đặc điểm doanh nghiệp, nhóm nhân tố về ngành kinh doanh, nhóm nhân tố về xã hội, nhóm nhân tố về kinh
tế, nhóm nhân tố liên quan hệ thống thuế, nhóm nhân tố về tâm lí
Văn Công Tuấn (2012) “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế
của doanh nghiệp – tình huống nghiên cứu tại Chi Cục Thuế Quận 1 Tp.Hồ Chí Minh” tìm ra các nhân tố có ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế của doanh
Trang 16nghiệp: nhân tố kinh tế; nhân tố chính sách thuế, quản lí thuế; nhân tố đặc điểm doanh nghiệp; nhân tố ngành kinh doanh;nhân tố pháp luật xã hội; nhân
tố tâm lí
Nguyễn Minh Hà và Nguyễn Hoàng Quân (2012) “Các yếu tố ảnh
hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của DNTN – Xét trên khía cạnh nộp thuế đúng hạn”, nghiên cứu các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế xét
trên khía cạnh nộp thuế đúng hạn khảo sát 170 doanh nghiệp tư nhân tại Tp.HCM từ năm 2009 – 2010 Nghiên cứu chỉ ra rằng các nhân tố: Lợi nhuận trước thuế; Tổng thuế; Ngành nghề và Giới tính của chủ doanh nghiệp có ảnh hưởng tới hành vi tuân thủ thuế của các doanh nghiệp tư nhân Nghiên cứu này chỉ tập trung vào các nhân tố thuộc về đặc điểm của doanh nghiệp (doanh thu, lợi nhuận trước thuế, tổng nợ, tổng thuế, nguồn vốn, lợi nhuận, ngành nghề) và đặc điểm của chủ doanh nghiệp (giới tính, tôn giáo, kinh nghiệm, trình độ học vấn)
Đặng Thị Bạch Vân (2012)“Các nhân tố tác động đến tuân thủ thuế của
người nộp thuế tại Tp.HCM” tìm ra 7 nhân tố tác động đến tính tuân thủ của
người nộp thuế gồm nhận thức của người nộp thuế về tính công bằng, các nhân tố về thể chế, hình phạt, tình trạng tài chính của người nộp thuế, kiểm tra thuế, nhận thức về chi tiêu chính phủ và thuế suất Tuy nhiên, nghiên cứu này khảo sát chung các đối tượng nộp thuế nói chung, và thực hiện tại Tp.HCM
Đào Mộng Long (2014) “Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ
thuế TNCN tại Tp.HCM” khảo sát đối với 200 người nộp thuế tại Tp.HCM
vào năm 2011cho thấy rằng hành vi tuân thủ thuế TNCN phụ thuộc vào đặc điểm nghề nghiệp, đặc thù thu nhập, danh tiếng nơi làm việc, các yếu tố kinh
tế, xã hội, hệ thống thuế và nhận thức của người nộp thuế
Lê Thị Ngọc Ánh (2016) “Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đến tính
tuân thủ thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế” tìm ra
Trang 17các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế là: chính sách thuế, quản lí thuế; chi phí tuân thủ thuế
Tóm lại, có thể thấy vấn đề nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tính tuân thủ của các đối tượng nộp thuế là một chủ đề không còn mới trên thế giới, và việc nâng cao tính tự nguyện tuân thủ nộp thuế ngày càng trở thành xu hướng của các cơ quan quản lý thuế trên thế giới Cũng như tại Việt Nam nghiên cứu
về hành vi tuân thủ thuế là tương đối đa dạng và đã thực hiện tại nhiều địa phương Tuy nhiên, xét trên phạm vi địa bàn TP Đà Nẵng, một trong những thành phố lớn của Việt Nam thì tính tới thời điểm hiện tại vẫn chưa có nghiên cứu nào về chủ đề tuân thủ thuế được thực hiện Chính vì vậy, việc thực hiện một nghiên cứu với đề tài này là cần thiết
Trang 18Khái niệm thuế
Hiện nay trên thế giới các nhà nghiên cứu kinh tế học vẫn chưa có được khái niệm thống nhất chung về thuế Đứng trên các góc độ khác nhau thì quan điểm về thuế của các nhà kinh tế học cũng có sự khác nhau
Gaston Jeze (1934) “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà Nước” Makkollhell và Bruy (1993) “Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc là chuyển giao bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty và các
hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hóa hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật”
Joseph E Stiglitz (1995) "Thuế khác với đa số những khoản chuyển giao tiền từ người này sang người kia: Trong khi tất cả những khoản chuyển giao
đó là tự nguyện thì thuế lại là bắt buộc"
Chrisopher Pass và Bryan Lowes (1999) "Thuế là một biện pháp của chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản"
Trang 19Từ các định nghĩa trên ta có thể rút ra được một số đặc trưng chung của thuế là:
Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mỗi quan
hệ tiền tệ phát sinh dưới nhà nước và các pháp nhân, các thể nhân trong xã hội
Thứ hai, những mỗi quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nước
Thứ ba, xét theo khía cạnh pháp luật, thuế là một khoản nộp cho nhà nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định
Từ các đặc trưng trên của thuế, có thể cho rằng thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng
Khái niệm thuế TNDN
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống thuế của từng quốc gia cũng có sự phát triển tương ứng Việc ra đời thuế thu nhập doanh nghiệp cũng
là một trong các bước phát triển quan trọng của hệ thống thuế trên thế giới Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế áp đặt trực tiếp trên thu nhập hoặc vốn bởi một quyền tài phán, được áp dụng trên thu nhập của công ty hay các pháp nhân tương tự Nhiều quốc gia áp đặt các loại thuế như vậy ở cấp quốc gia, và một loại thuế tương tự có thể được áp dụng ở cấp tiểu bang hay địa phương
b Đặc điểm của thuế TNDN
- Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là thuế trực thu, là thuế trực thu, người chịu thuế cũng là người nộp thuế và khó có thể chuyển dịch gánh nặng thuế sang cho chủ thể khác, thuế này có tính công bằng hơn thuế gián thu vì phần đóng góp về thuế thường phù hợp đối với khả năng của từng đối tượng
Trang 20nộp thuế, có tính phân loại đối tượng nộp thuế Thông thường, thuế thu nhập
cá nhân chỉ đánh vào thu nhập cao hơn mức khởi điểm thu nhập chịu thuế, không đánh thuế vào những cá nhân có thu nhập vừa đủ nuôi sống bản thân
và gia đình ở mức cần thiết Thêm vào đó khi thu nhập cá nhân tăng lên thì tỷ
lệ thu thuế cũng tăng thêm Ở nhiều nước còn có quy định miễn, giảm thuế cho những cá nhân mang gánh nặng xã hội Ở nước ta hiện nay, thu nhập của các tầng lớp nhân dân có sự chênh lệch nhau, số đông dân cư có thu nhập còn thấp, nhưng cũng có một số cá nhân có thu nhập khá cao, nhất là những cá nhân làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong khu chế xuất hoặc có một số cá nhân người nước ngoài làm việc tại Việt Nam Mặc dù thuế thu nhập cá nhân chưa mang lại số thu lớn cho ngân sách Nhà nước, song xét trên phương diện công bằng xã hội và phương diện công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước thì thuế thu nhập cá nhân có vị trí cực kỳ quan trọng, do đó việc điều tiết thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao
là cần thiết, đảm bảo thực hiện chính sách công bằng xã hội
- Thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư Thuế TNDN được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế, nên chỉ khi các doanh nghiệp, các nhà đầu tư kinh doanh có lợi nhuận mới phải nộp thuế TNDN Thông thường thu nhập chịu thuế phải là thu nhập hợp pháp, đã thực tế phát sinh có tính phổ biến và Nhà nước có thể kiểm soát được Tuy nhiên khi đi vào cụ thể chính sách thuế ở mỗi quốc gia, thu nhập chịu thuế có những quy định riêng tùy theo hoàn cảnh kinh tế và quan điểm đánh thuế của nhà nước nhất là chi phí được khấu trừ trước khi đánh thuế
- Thuế TNDN là thuế khấu trừ trước thuế thu nhập cá nhân Thu nhập
mà các cá nhân nhận được từ hoạt động đầu tư như: lợi tức cổ phần, lãi tiền gửi ngân hàng, lợi nhuận do góp vốn liên doanh, liên kết là phần thu nhập
Trang 21được chia sau khi nộp thuế TNDN Do vậy, thuế TNDN cũng có thể coi là một biện pháp quản lý thu nhập cá nhân
c.Vai trò của Thuế TNDN
Thuế nói chung và thuế TNDN nói riêng không chỉ đơn thuần là một nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước mà thuế còn gắn liền với các vấn
đề về sự tăng trưởng kinh tế, về sự công bằng trong phân phối và sự ổn định
xã hội Trong phạm vi nghiên cứu các vấn đề của tài chính và ngân sách nhà nước, chúng ta sẽ xem xét thuế TNDN với các vai trò cơ bản của nó là: tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, kích thích tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh thu nhập
- Vai trò đầu tiên là tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước Mỗi một loại thuế mà nhà nước ban hành đều nhằm vào mục đích là tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước Trong nền kinh tế thị trường vai trò này của thuế càng nổi bậc bởi thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước
- Vai trò thứ hai của thuế là kích thích tăng trưởng kinh tế Đây là vai trò không kém phần quan trọng bởi vì chính sách thuế ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, giá cả, quan hệ cung cầu, cơ cấu đầu tư và đến sự phát triển hoặc suy thoái của một nền kinh tế
- Ngoài ra thuế còn có vai trò điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội Trong nền kinh tế thị trường, nếu không có sự can thiệp của nhà nước, để thị trường tự điều chỉnh thì sự phân phối của cải và thu nhập sẽ mang tính tập trung rất cao tạo ra hai cực đối lập nhau: một thiểu số người sẽ giàu có lên nhanh chóng, còn cuộc sống của đại bộ phận dân chúng ở mức thu nhập thấp Thực tế, sự phát triển của một đất nước là kết quả nỗ lực của cả một công đồng, sẽ không công bằng nếu không chia xẻ thành qủa phát triển kinh tế cho mọi người Bởi vậy cần có sự can thiệp của nhà nước vào quá trình phân phối thu nhập, sự can thiệp này đặc biệt hiệu qủa bằng cách sử dụng công cụ thuế
Trang 221.1.2 Khái niệm, thước đo hành vi tuân thủ thuế
a Khái niệm hành vi tuân thủ thuế
Jackson và Milliron (1986), Alm (1991) cho rằng tuân thủ thuế là báo cáo tất cả thu nhập, thanh toán toàn bộ nghĩa vụ thuế bằng cách thực hiện các điều khoản quy định của luật, pháp lệnh, hoặc phán quyết của tòa án
Andreoni và cộng sự (1998) cho rằng việc tuân thủ thuế nên được định nghĩa là sự sẵn lòng của người nộp thuế, sự chấp hành pháp luật về thuế để có được trạng thái cân bằng nền kinh tế của một quốc gia
Alm (1991) phạm vi tuân thủ thuế bao gồm, báo cáo thu nhập và thanh toán các nghĩa vụ thuế theo quy định của luật pháp và các quyết định của tòa
án Tuân thủ thuế điển hình có nghĩa là kê khai đúng thu nhập tính thuế, làm đúng nghĩa vụ pháp lý (sự chính xác), kê khai thu nhập đúng hạn, và thanh toán số tiền khi tới hạn (tính chất kịp thời) (Franzoni, 1999)
James và Alley (1999) tuân thủ thuế theo cách hiểu đơn giản nhất là mức
độ người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ thuế được quy định trong luật thuế
Song và Yarbrough (1978) cho rằng tuân thủ thuế là khả năng của người
nộp thuế và sự sẵn lòng tuân thủ luật thuế được xác định bởi vấn đề đạo đức, môi trường pháp lý, và các yếu tố tình huống khác tại từng thời gian và địa điểm cụ thể
Kirchler (2007) đưa ra một định nghĩa đơn giản hơn, tuân thủ thuế là một thuật ngữ trung lập nhất miêu tả việc người nộp thuế sẵn sàng nộp tiền thuế Tuân thủ thuế đề cập đến sự sẵn lòng của người nộp thuế tuân theo pháp luật thuế bằng cách thực hiện các nghĩa vụ thuế
Singh (2003) cho rằng tuân thủ thuế là hành động của một người nộp tờ
khai thuế, công khai chính xác tất cả các khoản thu nhập chịu thuế và thanh toán tất cả các khoản thuế phải nộp trong thời hạn quy định mà không phải chờ đợi hành động của CQT
Trang 23Cùng quan điểm với Singh, Somasundram (2003) cho rằng tuân thủ thuế trở thành một vấn đề chủ yếu trong hệ thống tự khai thuế bởi vì tổng số tiền thuế phải nộp phụ thuộc rất nhiều vào mức độ tuân thủ của người nộp thuế mặc dù không thể tránh khỏi việc CQT sẽ tìm kiếm thông tin từ những người nộp thuế khác trong khu vực để giảm thiểu rủi ro xảy ra các trường hợp không tuân thủ, hoặc họ sẽ thường xuyên thực hiện việc kiểm tra nhiều loại thuế khác nhau, và bằng những hình thức khác chẳng hạn giáo dục kiến thức thuế nhằm tạo ra những tác động nhất định đến việc tuân thủ thuế của người nộp thuế
Tuân thủ thuế là một vấn đề “báo cáo thu nhập thực tế” và cũng tuyên bố rằng hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế bị ảnh hưởng bởi một số tình huống mà trong đó có thể người nộp thuế đưa ra quyết định trong tình trạng không chắc chắn (Clotfelter, 1983)
Từ các định nghĩa trên theo tác giả tuân thủ thuế là hành vi của đối tượng nộp thuế được đo lường qua việc đánh giá sự sẵn lòng của đối tượng nộp thuế
để tuân theo luật thuế, khai báo chính xác thu nhập, xác nhận chính xác các khoản khấu trừ, giảm thuế và thanh toán các khoản thuế đúng hạn
Ngược lại với hành vi tuân thủ thuế, Jackson và Milliron (1986); Kasipillai và Jabbar (2003), không tuân thủ thuế được xác định là việc không
sẵn lòng tuân theo luật thuế và/hoặc khai báo thu nhập không chính xác, thực
hiện kê khai sai các khoản giảm trừ, miễn giảm thuế và/hoặc không thanh toán chính xác nghĩa vụ thuế, ngoài thời gian nộp thuế đã được quy định
b Các thước đo về mức độ tuân thủ thuế
Thước đo mức độ tuân thủ thuế phụ thuộc vào quy định cụ thể của từng quốc gia Tuy nhiên theo Đặng Thị Bạch Vân (2012) có hai cách tiếp cận để
đo lường mức độ tuân thủ thuế:
Trang 24- Thứ nhất: Sử dụng mô hình dự báo nguồn thu thuế và so sánh với số thực thu trong năm Việc xây dựng mô hình thực nghiệm được tiến hành dựa trên các số liệu từ nhiều nguồn khác nhau, nếu tiến hành một cách hiệu quả có thể đưa ra một ước tính đầy đủ hơn về số tiền thuế có thể thu được Nhưng cách này lại phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của các số liệu hiện có, các giả định đưa ra, và các mô hình cụ thể được áp dụng Cần đặc biệt chú ý rằng
để đánh giá được số thu thuế tiềm năng sử dụng mô hình dự báo doanh số thu thuế vi mô, các dữ liệu nên sử dụng từ hai nguồn: (i) bộ dữ liệu quản lý thuế
và (ii) cơ sở dữ liệu liên quan khác, như các cuộc điều tra thương mại và công nghiệp, các tài khoản quốc gia và điều tra dân số
- Thứ hai: Dựa vào số liệu đang quản lý, ước tính sự chênh lệch giữa số liệu dự đoán và số liệu thực tế từng phần trong quy trình quản lý thuế Cách tiếp cận này dựa vào các số liệu về quản lý thuế có thể không ước tính hết được mức độ thất thoát do thiếu thông tin về đối tượng chịu thuế tiềm năng hay khả năng tăng trưởng của các đối tượng chịu thuế Tuy nhiên, cách này phản ánh những ước tính thực tế tốt nhất mà các CQT thực hiện
Trên cơ sở các số liệu về quản lý thuế, mức độ tuân thủ thường được ước tính cho ba giai đoạn chính của quá trình quản lý thuế (kê khai, tính thuế, và nộp thuế/thu thuế)
• Tuân thủ về nộp tờ khai: Mức độ tuân thủ về nộp tờ khai có thể được chia thành ba chỉ số khác nhau Đầu tiên là tuân thủ trong nộp tờ khai của người nộp thuế Chỉ số này đo lường tỉ lệ giữa số tờ khai được nộp và số người nộp thuế thực tế được đăng ký tại CQT Các tờ khai được nộp có thể bao gồm cả tờ khai nộp đúng hạn và tờ khai chậm nộp Thứ hai, là tuân thủ trong việc nộp tờ khai đúng hạn, được đo bằng tỉ lệ giữa số tờ khai nộp đúng hạn trên tổng số tờ khai đã được nộp Và thứ ba là mức độ tuân thủ trong nộp
tờ khai nói chung tổng hợp, là tỉ lệ giữa số tờ khai đã nộp đúng hạn chia cho
Trang 25tổng số người nộp thuế đã đăng ký Mức độ tuân thủ kê khai nói chung tổng hợp này được ước tính là kết quả của hai chỉ số đầu tiên
• Tuân thủ về kê khai thuế: Mức độ tuân thủ về kê khai thuế là nói đến việc kê khai trung thực các khoản thu nhập chịu thuế, doanh thu, và sản lượng liên quan đến thuế trực thu hay thuế gián thu Tuân thủ về kê khai thuế được định nghĩa là tỉ lệ giữa số thu nhập hay doanh thu kê khai với số thu nhập/doanh thu được dự đoán sẽ kê khai Tuân thủ trong kê khai có thể được phát hiện trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế
• Tuân thủ trong nộp thuế: Mức độ tuân thủ trong nộp thuế là nói đến việc nộp thuế đúng hạn Mức độ tuân thủ này được định nghĩa là tỉ lệ giữa số nghĩa vụ thuế được nộp đúng hạn và toàn bộ số nghĩa vụ thuế mà của người nộp thuế phải nộp
1.2 LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI TUÂN THỦ THUẾ
1.2.1 Lý thuyết về hành vi
Đầu tiên khi nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế, ta tiến hành tổng hợp các lý thuyết cơ bản về hành vi của con người, bởi vì hành động tuân thủ thuế cũng là một loại hành vi, mà chủ thể của nó chính là con người, cụ thể hơn là đối tượng nộp thuế Lý thuyết về hành vi con người bao gồm 2 lý thuyết chính, đó là: thuyết lý luận hành động và lý thuyết về hành vi dự định
a Thuyết lý luận hành động (TRA)
Thuyết lý luận hành động được phát triển bởi Ajzen & Fishbein (1975) bắt nguồn từ một số nghiên cứu có trước liên quan đến thái độ của con người Theo thuyết lý luận hành động thì dự định hành vi của một người chịu ảnh hưởng hay bị tác động bởi thái độ về phía hành vi (attitude toward the behavior), hay gọi tắt là thái độ (attitude) và chuẩn chủ quan (subjective norms) Và hệ quả là dự định hành vi sẽ quyết định hành vi theo sau của một người
Trang 26- Thái độ: Tập hợp các niềm tin (beliefs) có gán trọng số về phía một hành vi cụ thể
- Chuẩn chủ quan: Đề cập mức độ ảnh hưởng của những người xung quanh lên dự định hành vi của một cá nhân Những người khác nhau cũng có mức độ ảnh hưởng khác nhau lên một cá nhân nào đó
- Dự định hành vi: Dự định thực hiện một hành vi cụ thể nào đó Nó là một hàm phụ thuộc vào thái độ và chuẩn chủ quan
Theo Ajzen thì thái độ về phía hành vi và chuẩn chủ quan không đóng vai trò ngang bằng nhau trong việc dự đoán hành vi Thay vào đó mức độ của hai yếu tố này sẽ có sự khác biệt tùy thuộc vào mỗi cá nhân và tình huống cụ thể
b Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior – TPB)
Thuyết hành vi dự định được phát triển từ lý thuyết hành động hợp lý của Ajzen & Fishbein (1975), giả định rằng một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các xu hướng để thực hiện hành vi đó Các xu hướng hành
vi được giả sử bao gồm các yếu tố động cơ mà ảnh hưởng đến hành vi, và được định nghĩa như là mức độ nỗ lực mà mọi người cố gắng để thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991)
Xu hướng hành vi là một hàm gồm ba yếu tố là thái độ, chuẩn chủ quan
và kiểm soát hành vi cảm nhận Thái độ được khái niệm như là đánh giá tích cực hay tiêu cực của con người về hành vi thực hiện Chuẩn chủ quan là các tiêu chuẩn xã hội, sức ép xã hội được cảm nhận để thúc đẩy thực hiện hay không thực hiện hành vi đó Kiểm soát hành vi cảm nhận phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi; điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi
Trang 27Ajzen (1991) đề nghị rằng yếu tố kiểm soát hành vi tác động trực tiếp đến xu hướng thực hiện hành vi, và nếu đương sự chính xác trong cảm nhận
về mức độ kiểm soát của mình, thì kiểm soát hành vi còn dự báo cả hành vi
Sơ đồ xu hướng hành vi được trình bày theo hình 1.1
Hình 1.1 Mô hình xu hướng hành vi của Ajzen (1991)
Nguồn: Tác giả dịch từ nghiên cứu của Ajzen (1991)
Tóm lại, theo lý thuyết hành vi, thì hành động chịu ảnh hưởng cơ bản bởi thái độ, chuẩn chủ quan và việc kiểm soát hành vi cảm nhận của đối tượng thực hiện Đây chính là nền tảng lý thuyết ban đầu cơ bản nhất, để các nhà nghiên cứu đi sâu vào nghiên cứu về hành vi tuân thủ pháp luật của con người
1.2.2 Lý thuyết về hành vi tuân thủ thuế
Lý thuyết về hành vi tuân thủ pháp luật đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đề cập trong các nghiên cứu trước đây, các nghiên cứu này có thể chia làm 3 hướng lý thuyết, cụ thể như sau:
Lý thuyết về động lực của Braithwaite và cộng sự
Đây là một trong những phương pháp tiếp cận sự tuân thủ theo các quy định của pháp luật Lý thuyết này dựa trên nền tảng nghiên cứu về tâm lý học, làm thế nào để con người quản lý và chịu trách nhiệm về nó
Hành vi thực
sự
Trang 28Nghiên cứu của Brehm và Brehm (1981), dự đoán rằng bất kỳ nỗ lực nào
để kiểm soát con người đều thông qua phần thưởng, phạt, hoặc giám sát đặc biệt Nhu cầu tuân thủ và sức mạnh cưỡng chế của nhà nước được xem là mối
đe dọa đối với hành vi không tuân thủ của con người
Theo Braithwaite, Murphy, và Reinhart (2007) thái độ động cơ là các niềm tin, thái độ, sở thích của con người, sẽ tác động thúc đẩy hành vi tuân thủ hay không tuân thủ pháp luật
Hình 1.2 Mô hình lý thuyết về động lực của Braithwaite và cộng sự (2007)
Nguồn: Tác giả dịch từ nghiên cứu của aithwaite và cộng sự (2007)
Lý thuyết contractarian của Scholz
Scholz đã sử dụng lý thuyết trò chơi để tìm hiểu sự tương tác giữa các nhà quản lý và các quy định Ông đã phát triển lý thuyết tuân thủ về chính sách thuế, với một vài trường hợp ngoại lệ dưới một góc độ tâm lý học hành vi
Sholz cho rằng con người sẽ chỉ đáp ứng các nghĩa vụ của họ nếu họ bị cưỡng chế Xét trên phạm vi tuân thủ thuế, lý thuyết của Sholz cho rằng việc tuân thủ thuế là một cam kết đạo đức, do đó, sự thay đổi về hành vi tuân thủ hay không tuân thủ thuế phụ thuộc vào công lý tự nhiên, thứ hai là về sự thay đổi của chính sách thuế (xét trên góc độ chi phí), thứ ba là lợi ích mà người
Công
lý tự nhiên
Ứng phó nhạy cảm
Thái độ động cơ
Hành vi tuân thủ
Trang 29nộp thuế nhận được từ các chính sách tài chính khi thay đổi về chính sách thuế
Hình 1.3 Mô hình contractarian của Scholz (1997)
Nguồn: Tác giả dịch từ nghiên cứu của Scholz (1997)
a Lý thuyết kinh tế - tâm lý của Frey (1997b)
Frey cho rằng có hai loại động lực chính: động lực bên ngoài và động lực bên trong Động lực bên ngoài tương ứng với lợi ích đang nhận được và chi phí được áp đặt Động lực bên trong là các hiệu ứng thúc đẩy nằm bên trong của con người Động lực bên trong là một sự khuyến khích thêm ngoài động lực bên ngoài, hai loại động lực này có tác dụng hỗ trợ tác động lẫn nhau
Theo đó, chính sách pháp luật sẽ tạo ra hiệu ứng giá, đây là cơ chế thay đổi hành vi của con người khi có sự thay đổi về các lợi ích được nhận và chi phí bỏ ra Ngoài ra, chính sách pháp luật còn tạo ra hiệu ứng chèn lấn, phản ứng ngược chiều với hiệu ứng giá Như vậy, với khi thực hiện chính sách
Công lý
tuân thủ
Hành vi của người nhận
Trang 30pháp luật, đã kích hoạt hiệu ứng giá, hiệu ứng chèn lấn tác động đến động lực bên trong và bên ngoài động lực của con người, điều này ảnh hưởng đến hành
vi tuân thủ pháp luật của con người
Hinh 1.4 Mô hình lý thuyết động lực đám đông của Fred (1997)
Nguồn: Tác giả dịch từ nghiên cứu của Fred (1997)
1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
Các nhà nghiên cứu trước đây cho rằng tính tuân thủ thuế chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau Tác giả liệt kê một số nghiên cứu trước đây về các nhân tố ảnh hưởng tính tuân thủ thuế trong bảng 1.1
Bảng 1.1 Tóm tắt các mô hình nghiên cứu trước đây
Biến nghiên cứu
Thang
đo
Kích thước mẫu
Kết quả
Quốc gia thực hiện
1 Damayanti 2012
Thái độ, chuẩn chủ quan, kiểm soát hành
Thang
đo Likert 8
114 người nộp
Thái độ, chuẩn chủ quan,
Hiệu ứng chèn lấn
Động lực bên trong
Hành vi tuân thủ
Hiệu ứng giá
Động lực bên ngoài
Trang 31Biến nghiên cứu
Thang
đo
Kích thước mẫu
Kết quả
Quốc gia thực hiện
vi cảm nhận loại câu
trả lời
thuế kiểm soát
hành vi cảm nhận
xã hội), Rủi ro phát hiện; Mức phạt
Thang
đo Likert 5 loại câu trả lời
369 người nộp thuế
Chuẩn mực (đạo đức, xã hội), Rủi
ro phát hiện;
Thang
đo Likert 7 loại câu trả lời
196 người nộp thuế
Thái độ, Chuẩn chủ quan, Nhân khẩu (Giới tính;
Thang
đo Likert 7 loại câu trả lời
3331 Doanh nghiệp
Trình độ của quốc gia (Chủ nghĩa cá nhân, Định hướng
Toàn thế giới
Trang 32Biến nghiên cứu
Thang
đo
Kích thước mẫu
Kết quả
Quốc gia thực hiện
định của Pháp luật; Gánh nặng thuế TNDN, Gánh nặng thuế TNCN, GDP);
Trình độ của doanh nghiệp (Khả năng của công ty kiểm toán, Quy mô doanh nghiệp, Hình thức sở hữu cá nhân, Ngành: Nông nghiệp, Ngành:
Xây dựng, Nhận thức về gánh nặng thuế)
tích, Sự quả quyết, Định hướng nhân đạo, Quy định của Pháp luật);
Trình độ của doanh nghiệp (Khả năng của công ty kiểm toán, Quy
mô doanh nghiệp, Ngành:
Xây dựng, Nhận thức về gánh nặng
Trang 33Biến nghiên cứu
Thang
đo
Kích thước mẫu
Kết quả
Quốc gia thực hiện
Đạo đức; Thái độ; chuẩn chủ quan
Thang
đo Likert 7 loại câu trả lời
79 Sinh viên tốt nghiệp MBA
Ý định tuân thủ thuế;
Kiểm soát hành vi; Đạo đức; Thái độ; chuẩn chủ quan
Canada
6 Parka &
Hyunb 2003
Thu nhập thực tế; Thuế suất;
Mức phạt; Tỷ
lệ kiểm toán;
Hàng hóa chi tiêu công;
Chuẩn mực xã hội
Phỏng vấn sâu, câu hỏi
mở
15 sinh viên
Tỷ lệ kiểm toán;
Mức phạt, Thuế suất
Hàn Quốc
7 Hanno &
Violette 1996
Thái độ; Kiểm soát hành vi;
Quy tắc xã hội; Mô tả xã hội; Chuẩn chủ quan, Hành vi trong quá khứ;
Ý định hành vi
Thang
đo Likert 7 loại câu trả lời
73 Sinh viên
Thái độ;
Kiểm soát hành vi; Chuẩn chủ quan, Hành vi trong quá khứ;
USA
Trang 34Biến nghiên cứu
Thang
đo
Kích thước mẫu
Kết quả
Quốc gia thực hiện
Jackson, &
Mckee
lệ kiểm toán, Mức phạt, Hàng hóa chi tiêu công,
sát trên
hồ sơ
đã lưu trữ
Sinh viên
suất, Tỷ
lệ kiểm toán, Mức phạt, Hàng hóa chi tiêu công
9 Slemrod 1985
Thuế suất cận biên; Thu nhập gộp; Tuổi;
Tình trạng hôn nhân
Khảo sát trên
hồ sơ
đã lưu trữ
23111 người nộp thuế
Tuổi;
Tình trạng hôn nhân
USA
(Nguồn: Tác giả tự thu thập cho mục đích nghiên cứu)
Tóm lại, qua việc lược khảo các nghiên cứu trước đây, có thể thấy rằng
đa số các nghiên cứu về tính tuân thủ thuế đều chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố liên quan đến thái độ người nộp thuế, chuẩn chủ quan xã hội, các mức phạt, thuế suất… Thông qua việc lược khảo nghiên cứu trên là tiền đề cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu ở chương 2
Trang 35KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1, tác giả đã tóm tắt các lý thuyết về khái niệm, đặc điểm vai trò của thuế TNDN, cũng như khái niệm và cách thức đo lường hành vi tuân thủ thuế
Bên cạnh đó tác giả còn tóm tắt các lý thuyết nền về hành vi tuân thủ thuế như: thuyết lý luận hành động, thuyết hành vi dự định, lý thuyết về động lực của Braithwaite và cộng sự, lý thuyết contractarian của Scholz, lý thuyết kinh tế - tâm lý của Frey… làm cơ sở để giải thích cho các vấn đề liên quan đến hành vi tuân thủ thuế
Đồng thời, tác giả còn tìm hiểu, liệt kê theo thời gian các công trình nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước với chủ đề tương tự
Việc tìm hiểu các lý thuyết và công trình nghiên cứu liên quan là cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu ở các chương tiếp theo
Trang 36CHƯƠNG 2
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội Tp Đà Nẵng
a Vị trí địa lý của Tp Đà Nẵng
Đà Nẵng nằm ở vị trí trung bộ của Việt Nam, có vị trí trọng yếu cả về kinh tế - xã hội lẫn quốc phòng - an ninh; là đầu mối giao thông quan trọng về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không Đà Nẵng hiện nay có tám quận, huyện với tổng diện tích là 1285,4 km² Theo kết quả điều tra năm
2013, dân số thành phố là 992.800 người Dân số Đà Nẵng đạt 1.029.000 người Tổng sản phẩm trong nước (GDP) trên địa bàn năm 2012 là 46.368,6
tỷ đồng
Năm 2014 và 2015, Đà Nẵng tiếp tục giữ vị trí đầu tiên trong bảng xếp hạng, năm thứ ba liên tiếp trụ vững ngôi đầu bảng và lần thứ sáu thành phố này dẫn đầu cả nước kể từ khi chỉ số này được công bố 10 năm trước kể từ năm 2006
Trong những năm gần đây, Đà Nẵng đã tích cực đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng, cải thiện môi trường, nâng cao an sinh xã hội và được coi là "thành
phố đáng sống" của Việt Nam
b Đặc điểm kinh tế - xã hội Tp Đà Nẵng
Từ năm 2015-2020, Đà Nẵng phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 6,5 – 7%/năm Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2015 là 14.789 tỷ đồng, trong đó thu nội địa 12.233,5 tỷ đồng đạt 133,2% dự toán Trung ương, 129,6% dự toán địa phương và bằng 133,3% so với năm 2014
Đà Nẵng có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) đứng đầu Việt Nam liên tiếp trong ba năm 2008, 2009 và 2010, 2013, 2014, 2015, đồng thời đứng đầu về chỉ số hạ tầng và xếp thứ tư về môi trường đầu tư
Trang 37Trong bảng xếp hạng PCI của Việt Nam năm 2012, Đà Nẵng xếp ở vị trí thứ 12 trên 63 tỉnh, thành.Năm 2013, Đà Nẵng đã trở lại vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Năm 2011, Đà Nẵng có 36 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mới được cấp Giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn đăng ký là 318,9 triệu
đô la Mỹ Năm 2012, con số này là 33 dự án với tổng số vốn đăng ký 124,09 triệu đô la Mỹ, giảm hơn 60% so với năm 2011
Đà Nẵng có ngành kinh tế khá đa dạng bao gồm cả công nghiệp, nông nghiệp cho tới dịch vụ, du lịch, thương mại, trong đó dịch vụ, du lịch chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nền kinh tế thành phố Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành dịch vụ, công nghiệp và giảm tỷ trọng nông nghiệp Tỷ trọng nhóm ngành dịch vụ trong GDP năm 2011 là 51%, công nghiệp – xây dựng là 46% và nông nghiệp là 3% Đến năm 2020, ngành dịch
vụ chiếm tỷ trọng trong GDP từ 62-65%, công nghiệp-xây dựng 35-37%, nông nghiệp 1-3%
Ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng bình quân 20%/năm Thuỷ sản, dệt may, da giày, cao su,… là những lĩnh vực mũi nhọn được tập trung phát triển Bên cạnh đó, thành phố còn chú tâm đến ngành Công nghệ thông tin, ngành công nghệ sinh học Đà Nẵng còn chủ trương ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp sạch phục vụ mục tiêu “Xây dựng Đà Nẵng – Thành phố môi trường”
Về thương mại, thành phố có 30 trung tâm thương mại và siêu thị Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 21,1%/năm Đà Nẵng hiện có hai chợ lớn nhất nằm
ở trung tâm thành phố là chợ Hàn vàChợ Cồn cùng những siêu thị lớn mới mở trong vòng vài năm trở lại đây như Metro, BigC, Vincom, Parkson, Lotte Mart, Co.opMart, Intimex, Viettronimex, Nguyễn Kim… Đà Nẵng là trung tâm tài chính lớn, trên địa bàn thành phố hiện có đến 60 chi nhánh tổ chức tín dụng và 233 phòng giao dịch, điểm giao dịch, quỹ tiết kiệm với sự đa dạng về
Trang 38loại hình hoạt động: 55 ngân hàng thương mại, một ngân hàng chính sách xã hội, một công ty tài chính, một công ty cho thuê tài chính…
2.1.2 Tình hình quản lý thuế trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Cục Thuế TP Đà Nẵng được thành lập theo Quyết định số TC/TCCB ngày 14/12/1996 của Bộ trưởng Bộ Tài chính trên cơ sở thực hiện Nghị quyết tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX ngày 6/11/1996 về chia tách địa giới hành chính tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng thành 2 đơn vị hành chính mới trực thuộc trung ương (tỉnh Quảng Nam và TP Đà Nẵng) Sơ đồ bộ máy
1136-tổ chức Cục thuế Đà Nẵng được trình bày theo hình 2.1
Hình 2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức Cục thuế Đà Nẵng
Nguồn: Thu thập từ Cục Thuế Đà Nẵng
Phòng Quản lý thuế TNCN Phòng Tuyên Truyền và Hỗ trợ NNT Phòng Quản Lý Nợ-Cưỡng Chế Nợ Thuế Phòng Kiểm tra Thuế
Phòng Tin học
Phòng Kiểm tra Nội Bộ
Trang 39Trong năm 2016, Cục Thuế thành phố Đà Nẵng đã thực hiện:
- Kiểm tra 19.431 hồ sơ kê khai thuế của NNT Sau khi kiểm tra, kết quả điều chỉnh tăng số thuế phải nộp 32.892 triệu đồng, giảm lỗ 36.024 triệu đồng, giảm khấu trừ 5.044 triệu đồng;
- Kiểm tra tại 2.132 trụ sở NNT, chiếm tỷ lệ 11,9% số đơn vị Cục thuế
Tp Đà Nẵng quản lý Sau khi kiểm tra truy thu 63.300 triệu đồng, giảm lỗ 263.736 triệu đồng, giảm khấu trừ 23.180 triệu đồng;
- Thanh tra 169 doanh nghiệp Sau khi thanh tra, tiến hành truy thu 22.140 triệu đồng, giảm lỗ 58.617 triệu đồng, giảm khấu trừ 2.268 triệu đồng,
xử phạt 14.48 triệu đồng
Từ số liệu trên cho thấy việc chấp hành chế độ tự kê khai nộp thuế của người nộp thuế vẫn còn xảy ra nhiều sai sót, bên cạnh đó công tác tổ chức thanh, kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế của cơ quan thuế vẫn chưa thật
sự toàn diện do hạn chế về nhân sự
Trong năm 2016, Cục Thuế Tp Đà Nẵng đã triển khai thanh tra 169 đơn
vị, trong đó đã hoàn thành và ra quyết định xử lý 155 đơn vị Tổng số tiền thuế truy thu, thu hồi hoàn và phạt: 43.206 triệu đồng;
Bảng 2.1 Số liệu thanh kiểm tra tại Cục Thuế Tp Đà Nẵng năm
Trang 40Nguồn: Tác giả thu thập số liệu tại Cục Thuế Tp Đà Nẵng
ký, không có hợp đồng lao động; chi phí phí hàng hoá dịch vụ mua vào không
có hoá đơn; chi phí không liên quan đến doanh thu xác định thu nhập chịu thuế; chi trả tiền lãi vay vượt định mức, lãi vay quá hạn hoặc chi trả lãi vay nhưng vốn góp theo điều lệ chưa đủ, trích khấu hao không đúng theo quy định
Đối với ưu đãi thuế, sai phạm thường xảy ra: không thực hiện đúng các điều kiện để được hưởng ưu đãi theo quy định tại Giấy phép đầu tư nhưng khi