Do đó, để người dân tích cực tham gia vào các chương trình dự án nông nghiệp xanh và phát huy những lợi ích của các biện pháp sinh học trong canh tác lúa nói riêng và nông nghiệp nói chu
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LÂM HỒNG NHUNG
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH
SỬ DỤNG BIỆN PHÁP SINH HỌC THAY THẾ CHO
SỬ DỤNG HÓA CHẤT TRONG SẢN XUẤT LÚA CỦA HỘ NÔNG DÂN: TRƯỜNG HỢP HUYỆN HÒA
VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Đà Nẵng - Năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LÂM HỒNG NHUNG
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH
SỬ DỤNG BIỆN PHÁP SINH HỌC THAY THẾ CHO
SỬ DỤNG HÓA CHẤT TRONG SẢN XUẤT LÚA CỦA HỘ NÔNG DÂN: TRƯỜNG HỢP HUYỆN HÒA
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung trực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Lâm Hồng Nhung
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Kết cấu của luận văn 6
6 Tổng quan nghiên cứu 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 16
1.1 CÁC KHÁI NIỆM QUAN TRỌNG 16
1.2 CÁC LÝ THUYẾT VỀ DỰ ĐỊNH HÀNH VI 17
1.2.1 Thuyết hành động hợp lý 17
1.2.2 Thuyết hành vi được hoạch định 19
1.2.3 Mô hình chấp nhận công nghệ 20
1.2.4 Các mô hình kết hợp 21
1.3 MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30
CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 31
2.1 GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 31
2.2 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 33
2.3 XÂY DỰNG THANG ĐO 34
2.3.1 Thang đo ban đầu 34
2.3.2 Thang đo chính thức và bảng hỏi điều tra 42
2.4 TỔ CHỨC THU THẬP DỮ LIỆU 43
2.4.1 Chọn mẫu 43
2.4.2 Tổ chức khảo sát 44
2.4.3 Chuẩn bị xử lý số liệu 44
Trang 52.4.4 Phương pháp phân tích số liệu 45
2.5 CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 45
2.5.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 46
2.5.3 Phân tích hồi quy đa biến và phân tích tương quan 47
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 51
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 52
3.1 MÔ TẢ MẪU 52
3.1.1 Thông tin về mẫu 52
3.1.2 Phân tích thống kê mô tả 52
3.1.3 Thống kê mô tả đặc trưng có liên quan đến PPSH 53
3.2 PHÂN TÍCH ĐỘ TIN CẬY THÔNG QUA HỆ SỐ CRONBACH ALPHA 54
3.3 PHÂN TÍCH NHÂN TỐ EFA 57
3.4 KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC GIẢ THUYẾT 61
3.4.1 Kiểm định hệ số tương quan Pearson 61
3.4.2 Phân tích hồi quy 63
3.5 KIỂM ĐỊNH GIẢ THUYẾT 67
3.6 KIỂM ĐỊNH SỰ KHÁC BIỆT CỦA CÁC BIẾN ĐỊNH TÍNH 68
3.6.1 Sự khác biệt theo độ tuổi 68
3.6.2 Sự khác biệt theo giới tính 69
3.6.3 Sự khác biệt theo thu nhập 69
3.6.4 Sự khác biệt theo trình độ học vấn 70
3.6.5 Khác biệt về địa phương sinh sống 71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 72
CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 73
4.1 MỘT SỐ HÀM Ý VỚI CÁC CHỦ THỂ LIÊN QUAN 73
4.1.1 Đối với UBND huyện 74
Trang 64.1.2 Đối với phòng NN&PTNT huyện 76 4.2 CÁC HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO CỦA ĐỀ TÀI 78
KẾT LUẬN 80 PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
GIẤY ĐỀ NGHỊ BẢO VỆ LUẬN VĂN (Bản sao)
BIÊN BẢN HỌP HỘI ĐỒNG
CÁC NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN
BẢN TƯỜNG TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ANOVA : (Analysis of Variance) Phương pháp phân tích phương sai
BA : (barriers attractiveness) Nhận thức về rào cản
PPSH : Phương pháp sinh học
PU : (Perceived Usefulness) Nhận thức sự hữu ích
SAPs : (Sustainable Aricultural Practices) thực hành nông nghiệp bền vững
SN : (Subjective Norms) Chuẩn chủ quan
SPSS : Phần mềm SPSS phân tích dữ liệu
TPB : (Theory of Planned Behavior) Thuyết hành vi dự định
TRA : (Theory of Reasoned Action) Thuyết hành động hợp lý
VIF : (Variance Inflation Factor) Hệ số phóng đại phương sai
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Thang đo nhận thức sự hữu ích của PPSH 35 2.2 Thang đo Nhận thức về việc cải thiện môi trường 37
2.7 Mô tả các biến trong phương trình hồi quy đa biến 49
3.2 Kết quả khảo sát về cách thức bảo vệ đồng lúa 53
3.3 Kết quả khảo sát về cách thước tiếp cận với PPSH: 53 3.4 Kết quả khảo sát về mức độ sử dụng PPSH 54
3.6 Kết quả Cronbach’s Alpha cho các thang đo sau khi loại
biến
56
3.8 Kết quả phân tích phương sai được giải thích 59
Trang 93.17 Kiểm định ANOVA – độ tuổi 68
3.22 Kiểm định phương sai theo trình độ học vấn 70
3.24 Kiểm định phương sai theo địa phương sinh sống 71 3.25 Kiểm định ANOVA - địa phương sinh sống 71
Trang 10Số hiệu Tên hình Trang
1.4 Mô hình kết hợp TPB và TAM của nghiên cứu 22
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kích thích tăng trưởng, các loại phân bón hóa học, cộng với kỹ thuật trong canh tác còn hạn chế đang tiềm ẩn những nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới cộng đồng cũng như sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp Theo thống kê của Tổ chức Nông nghiệp Thế giới FAO (2016), trung bình mỗi năm Việt Nam nhập khẩu hơn 700 triệu USD thuốc bảo vệ thực vật Trong đó, có tới 50% số lượng hóa chất trên có xuất xứ không rõ ràng hoặc có nguồn gốc từ Trung Quốc, cả nước hiện còn tồn đọng trên 706 tấn thuốc cần tiêu hủy và 19 600 tấn rác bao bì thuốc bảo vệ thực vật chưa được thu gom và xử lý, hàng năm phát sinh mới khoảng 9 000 tấn Hơn nữa, thống kê của FAO cũng chỉ ra rằng tại Việt Nam có đến 80% việc sử dụng chất bảo vệ thực vật là sai cách dẫn đến tình trạng ngộ độc thực phẩm ngày càng ra tăng Theo thống kê của Bộ Y tế (2016), trung bình mỗi năm Việt Nam có khoảng 150-200 vụ ngộ độc thực phẩm với 5 000 - 7 000 người là nạn nhân Lo ngại về những tác động tiêu cực của nông nghiệp hiện đại đối với sức khỏe con người, môi trường và tài nguyên thiên nhiên đã thúc đẩy phát triển và phổ biến một giải pháp thay thế được gọi là nông nghiệp bền vững Nông nghiệp bền vững là cách tiếp cận không chỉ làm cho việc sử dụng tốt hơn các hàng hóa và dịch vụ tự nhiên cho nhu cầu của con người mà không gây tổn hại đến môi trường, nhưng giảm thiểu việc sử dụng các đầu vào bên ngoài Bên cạnh đó, nó cho phép nông dân sử dụng kiến thức và kỹ năng của họ hiệu quả hơn (Shiri et al 2012) Tuy nhiên, quyết định của nông dân áp dụng một công nghệ nông nghiệp mới phụ thuộc vào các yếu tố phức tạp Một trong những yếu
tố ảnh hưởng đến nhận thức của nông dân là đặc điểm của công nghệ mới Các yếu tố khác ảnh hưởng đến việc áp dụng của nông dân là nguồn tài nguyên, tình trạng kinh tế xã hội, đặc điểm nhân khẩu học và tiếp cận các dịch vụ thể chế
Trang 12(Negatu và Parikh, 1999) Sinh kế của dân cư vùng nông thôn chủ yếu phụ thuộc vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp và cây trồng chủ đạo là lúa Tuy nhiên, người nông dân vẫn sử dụng nhiều thuốc trừ sâu cộng với kỹ thuật canh tác không bền vững và những thói quen xấu khiến côn trùng gây hại và dịch bệnh trên cây trồng bùng phát, suy thoái tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trường Biện pháp hóa học đang bộc lộ nhiều nhược điểm, vì vậy sản xuất theo quy trình an toàn, thân thiện với môi trường đang là hướng đi được ngành chức năng khuyến khích áp dụng Với thực trạng và điều kiện của Việt Nam hiện nay, nông nghiệp sinh học chính là xu hướng tối ưu cho nền nông nghiệp nước ta Nông nghiệp sinh học là nền nông nghiệp dựa trên việc sử dụng các mối quan hệ tương tác giữa các cơ thể sống và môi trường xung quanh trong một hệ thống nông nghiệp Tức là mối quan hệ giữa cây trồng, vật nuôi, môi trường đất, vi sinh vật trong đất và môi trường khí hậu nên rất an toàn và thân thiện phù hợp với tiêu chí phát triển nông nghiệp bền vững
Trong khi việc nghiên cứu các tiến bộ kỹ thuật khoa học vào nông nghiệp được chú ý khá nhiều, thì khả năng và sự sẵn sàng của những người tiếp nhận nó để thay đổi hệ thống canh tác hiện tại của họ thường bị bỏ qua Mặc dù, áp dụng công nghệ mới là cần thiết, nhưng ít nghiên cứu giải quyết được vai trò của thái độ và nhận thức trong các quyết định thông qua; đặc biệt
là đối với các công nghệ có tiềm năng kinh tế rõ rệt mà nông dân không thực hiện Trong lĩnh vực nông nghiệp, việc nghiên cứu hành vi của người sản xuất khá phổ biến đối với các nước trên thế giới nhưng ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào được thực hiện, rất khó để tìm được những nghiên cứu xem xét về vấn đề này Phân tích hành vi người sản xuất đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp tại Việt Nam vẫn còn đang bị bỏ ngỏ Vì vậy, cần thiết phải có một nghiên cứu để xem xét vấn đề này một cách có hệ thống Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng các biện pháp sinh học thay thế cho
Trang 13việc sử dụng hóa chất trong sản xuất lúa của hộ nông dân vì thế vừa có ý nghĩ
lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn cao
Huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đảm bảo các điều kiện phù hợp để tiến hành việc nghiên cứu Huyện Hòa Vang có quỹ đất nông nghiệp không nhiều, nhưng diện tích sản xuất nông nghiệp khá tập trung nên dễ tiến hành nghiên cứu; mặt khác, huyện cũng đã bước đầu đã áp dụng những kĩ thuật mới, an toàn vào những vùng chuyên canh sản xuất lúa Cụ thể, Hòa Vang là một huyện của thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 73 489 ha, trong
đó đất nông nghiệp chiếm hơn 2/3 diện tích Hòa Vang cũng hoàn thành được vùng chuyên sản xuất lúa giống với diện tích 180 ha, cụ thể hợp tác xã Hòa Tiến 1: 100ha, hợp tác xã Hòa Tiến 2: 50ha, Hòa Khương 30ha và hằng năm cung cấp khoảng 1 800 tấn giống có phẩm cấp cao phục vụ sản xuất trên địa bàn huyện và trong khu vực Xây dựng các cách đồng mẫu lớn ở các địa phương như Hòa Khương, Hòa Phong, Hòa Tiến với diện tích 100ha Thực hiện các chương trình phục tán giống lúa Mặc dù, có rất nhiều chương trình
về phát triển nông nghiệp sinh học nhưng vẫn còn tồn tại khá nhiều vương mắc trong việc tham gia của người dân vào những chương trình trên Do đó,
để người dân tích cực tham gia vào các chương trình dự án nông nghiệp xanh
và phát huy những lợi ích của các biện pháp sinh học trong canh tác lúa nói riêng và nông nghiệp nói chung, cần phải có một nghiên cứu mang tính hệ thống để tìm ra những nhân tố tác động đến ý định sử dụng các biện pháp sinh học của nông dân trên đồng ruộng của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng và mức độ tác động của chúng đến ý định
sử dụng các biện pháp sinh học thay thế cho hóa học của nông dân trồng lúa tại huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng
Trang 142.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Tìm hiểu thực trạng sử dụng các biện pháp bảo vệ thực vật trong sản xuất lúa của hộ nông dân tại huyện Hòa Vang
- Xác định và lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng các biện pháp sinh học thay thế cho việc sử dụng hóa chất trong sản xuất lúa của nông dân tại huyện Hòa Vang
- Đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm có định hướng đúng trong hành
vi sản xuất nông nghiệp của nông dân theo hướng sản xuất nông nghiệp bền vững
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng các biện pháp sinh học thay
thế cho việc sử dụng hóa chất trong sản xuất lúa của nông dân Huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng,
Phạm vi nghiên cứu
+ Về phạm vi: Đề tài tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng các biện pháp sinh học thay thế cho việc sử dụng hóa chất trong sản xuất lúa của nông dân tại huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng
+ Về thời gian: Thực trạng trong giai đoạn 2013-2017 và giải pháp đề xuất trong luận văn có ý nghĩa trong những năm tới
4 Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, cụ thể nghiên cứu được thực hiện qua hai giai đoạn:
Giai đoạn nghiên cứu sơ bộ: Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua thảo luận chuyên gia và thảo luận nhóm nông dân sau khi đã xây dựng được mô hình nghiên cứu đề xuất Xác định đối tượng phỏng vấn và tiêu
Trang 15liệu trước các đối tượng có thể trả lời câu hỏi của người phỏng vấn để xây dựng bảng hỏi
Giai đoạn nghiên cứu chính thức: Với cách tiếp cận nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua các phương pháp phân tích nhân tố, phân tích hồi quy dựa trên dữ liệu điều tra, khảo sát nông dân trồng lúa trên địa bàn huyện Hòa Vang, đề tài trả lời các câu hỏi nghiên cứu
Các phương pháp thu thập và công cụ xử lý thông tin được vận dụng để thực hiện nghiên cứu này bao gồm:
Phương pháp thu thập dữ liệu:
Nguồn dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu đề tài bao gồm cả nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp
Đối với thông tin sơ cấp: áp dụng kết hợp phương pháp thảo luận chuyên gia, thảo luận nhóm hộ nông dân và điều tra thực tế bằng bản hỏi những hộ đã từng áp dụng các phương pháp sinh học mới, hoặc chưa từng áp dụng
Đối với thông tin thứ cấp: áp dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn để thu thập thông tin từ các nguồn: báo cáo, chuyên đề, tạp chí chuyên ngành và báo cáo nông nghiệp
Phương pháp phân tích:
Nghiên cứu áp dụng phối hợp các phương pháp phân tích thống kê mô
tả, phân tích nhân tố, phân tích hồi qui đa biến và các kiểm định T-Test, ANOVA
Công cụ xử lý thông tin: Sử dụng phần mềm SPSS 22
Câu hỏi nghiên cứu
- Các nhân tố nào và mức độ tác động của các nhân tố đó đến ý định sử dụng biện pháp sinh học thay thế cho biện pháp hóa học trong sản xuất lúa?
Trang 16- Có sự khác biệt về việc sử dụng biện pháp sinh học thay cho hóa học giữa những người trẻ và những người già hoặc những người có trình độ thấp với trình độ cao không?
- Những gợi ý nào để người nông dân, các cơ quan hữu quan có thể tham khảo để áp dụng biện pháp sinh học thay thế?
Ý nghĩa và đóng góp của nghiên cứu
Về mặt lý luận:
Luận văn làm sáng tỏ hơn các cơ sở lý luận trong đo lường và đánh giá mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng các biện pháp sinh học thay thế cho việc sử dụng hóa chất trong sản xuất lúa của nông dân Kết quả nghiên cứu góp phần phát triển hệ thống thang đo và mô hình nghiên cứu tác động đến ý định sử dụng các biện pháp sinh học thay thế cho việc sử dụng hóa chất trong sản xuất lúa của nông dân
Về mặt thực tiễn:
Đề tài phân tích và khám phá các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định sử dụng các biện pháp sinh học thay thế cho việc sử dụng hóa chất trong sản xuất lúa của nông dân theo hướng tăng trưởng xanh tại Hòa Vang, TP Đà Nẵng Kết quả của nghiên cứu này sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách và được coi là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu về ý định sử dụng các biện pháp sinh học thay thế cho việc sử dụng hóa chất trong sản xuất lúa của nông dân theo hướng tăng trưởng xanh
Từ đó, tháo gỡ những rào cản khiến người nông dân khó thực hiện sự thay đổi phương thức canh tác sử dụng quá nhiều chất hóa học sang các biện pháp sinh học an toàn hơn
5 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu
Chương 2: Giới thiệu địa bàn và thiết kế nghiên cứu
Trang 17Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Hàm ý chính sách
6 Tổng quan nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu các tài liệu về đề tài nông nghiệp tác giả thấy rằng việc nghiên cứu dự định hành vi và những nhân tố tác động đến hành vi
dự định đã được nghiên cứu và kiểm chứng không chỉ riêng ở Việt Nam mà trên toàn thế giới từ nhiều góc độ khác nhau trong nhiều lĩnh vực như marketing, tâm lý và quan điểm kinh tế, tuy nhiên trong lĩnh vực nông nghiệp còn hạn chế đặc biệt là những nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hành vi của những người sản xuất nông nghiệp để có thể thay đổi hệ thống canh tác hiện tại của họ Mặc dù, việc áp dụng những công nghệ mới vào sản xuất là cần thiết, nhưng ít nghiên cứu giải quyết vai trò thái độ của người chấp nhận công nghệ trong các quyết định thông qua; đặc biệt là đối với các công nghệ có tiềm năng kinh tế rõ rệt mà nông dân không thực hiện Về vấn đề này, trên thế giới cũng có một số những nghiên cứu điển hình về dự định hành vi của nông dân trong sản xuất nông nghiệp sinh học, nhưng tại Việt Nam hầu như còn là một đề tài mới mẻ chưa được quan tâm nhiều, rất khó để có thể tìm được những bài báo, công trình nghiên cứu xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi của người sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp tại Việt Nam, mà thường tập trung vào phân tích dự định hành vi mua của người tiêu dùng… Nghiên cứu này sẽ là một đóng góp cho đề tài còn chưa được sự quan tâm nhiều của giới chuyên môn ở Việt Nam đó là xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng các biện pháp sinh học thay thế cho việc sử dụng hóa chất trong sản xuất lúa của hộ nông dân, nghiên cứu thực hiện tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng Trên cơ sở nghiên cứu dự định hành vi, đề tài trình bày học thuyết quan trọng là thuyết dự định hành vi (Ajzen, 1991) và mô hình chấp nhận công nghệ (Teo, T., Su Luan, W., & Sing, C.C., 2008) Mô
Trang 18hình chấp nhận công nghệ (TAM) dựa trên nền tảng lý thuyết Thuyết hành động hợp lý TRA trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý (Eagly & Chaiken, 1993; Olson & Zanna, 1993; Sheppard, Hartwick, & Warshaw, 1998) Các mô hình
đã được phát triển dần dần bằng cách loại bỏ và thêm các biến cho phù hợp hơn, cụ thể là mô hình TAM rút gọn đã bỏ đi nhân tố thái độ trong mô hình TAM Dưới đây trình bày một số nghiên cứu điển hình có sử dụng thuyết dự định hành vi trong lĩnh vực nông nghiệp cụ thể là những nhân tố ảnh hưởng đến việc chấp tham gia vào nông nghiệp sinh học của nông dân:
“Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của nông dân vào nông nghiệp môi trường Đo lường: Bằng chứng từ một nghiên cứu điển hình” (E Defrancesco, P.Gatto, F.Runge, and S, Trestini, 2006) đã khám phá không chỉ các yếu tố cấu trúc và kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quyết định của nông dân tham gia hay không vào nông nghiệp môi trường (AEM), mà còn là (1) thái độ và (2) niềm tin của họ đối với môi trường xung quanh, AEMs và nhu cầu của xã hội nói chung, có thể giúp các nhà hoạch định chính sách xác định tốt hơn các biện pháp phù hợp và nhắm mục tiêu hơn nhằm nâng cao tỷ lệ chấp nhận AEM của nông dân Bài báo này đóng góp vào việc đạt được mục tiêu này bằng cách ước tính hai mô hình có thể mô tả các mô hình nông dân, hành vi và thái độ đối với AEM Cụ thể, mô hình người tham gia phổ biến - tập trung vào một phổ từ thụ động đến hành vi tham gia tích cực phụ thuộc vào các nhân tố nhân khẩu học, những trang trại được quản lý bởi (3) những người có trình độ học vấn cao và (4) tương đối trẻ, với các quan điểm đầu tư trong trang trại, họ muốn đăng ký hợp đồng AEMs trong bất kỳ điều kiện nào Một nghiên cứu tương tự được thực hiện tại miền Bắc nước Ý “Các yếu tố ảnh hưởng sự tham gia của nông dân trong các biện pháp nông nghiệp môi trường: miền bắc nước Ý” (Defrancesco, E., Gatto, P., Runge, F and Trestini, S.; 2008) Các biện pháp nông nghiệp - môi trường đóng một vai trò quan
Trang 19trọng ở các vùng nông thôn của Ý, như thể hiện trong cam kết tài chính đối với các chương trình phát triển nông thôn Tuy nhiên, trái ngược với các nước
EU khác, các nhà hoạch định chính sách vẫn còn ít kinh nghiệm về cách thức người nông dân tiếp cận các chương trình khuyến khích môi trường Bài báo này đưa ra khía cạnh mới về vấn đề này từ viễn cảnh phía bắc Ý Lý do của quá trình ra quyết định của nông dân được khảo sát bằng cách sử dụng hai mô hình đa thức Đầu tiên, giải thích xác suất không tham gia hoặc tham gia vào một trong ba biện pháp nông nghiệp và môi trường cụ thể Kết quả mô hình cho thấy (1) các loại hình thâm canh lao động sử dụng nhiều lao động và (2)
sự phụ thuộc cao vào thu nhập của hộ gia đình đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp hạn chế sự tham gia của nông dân, trong khi những với những kinh nghiệm trước đây, thực tiễn (3) nông nghiệp thân thiện với môi trường
và (4) bồi thường đầy đủ các chi phí bổ sung khuyến khích sự tham gia Mô hình thứ hai nghiên cứu ảnh hưởng của (5) thái độ và (6) niềm tin của nông dân về những khuynh hướng của họ đối với sự tham gia vào bất kỳ kế hoạch nào Kết quả cho thấy, bên cạnh các yếu tố thu nhập, tương lai của nông trại trong kinh doanh và (7) mối quan hệ với nông dân lân cận và ý kiến của họ đối với các hoạt động thân thiện với môi trường, tất cả đều có những tác động đáng kể đến việc áp dụng các biện pháp nông nghiệp và môi trường Báo cáo kết luận bằng cách cho thấy rằng thái độ và niềm tin của nông dân, cũng như ảnh hưởng hành vi địa phương phải được tính đến khi thiết kế và truyền đạt các biện pháp nông nghiệp và môi trường
Học thuyết về dự định hàng vi cũng được sử dụng phổ biến để phân tích nghiên cứu các vấn đề trong nông nghiệp như bài nghiên cứu “ Lồng ghép lý thuyết bản sắc xã hội và lý thuyết dự định hành vi để giải thích các quyết định tham gia vào các hoạt động nông nghiệp bền vững” (Kelly , 2011) Nghiên cứu đã kết hợp các khía cạnh cốt lõi của lý thuyết bản sắc xã hội với lý thuyết
Trang 20về hành vi theo kế hoạch để điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia vào các hoạt động nông nghiệp bền vững Theo dự đoán, (1) hành vi trong quá khứ, (2) nhận thức được nhìn nhận là những dự báo có ý nghĩa cho ý định Bài viết bài viết đã đưa ra được hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới ý định của người nông dân tham gia vào nông nghiệp bền vững và các vấn đề của người nông dân thực hiện canh tác nông nghiệp bền vững, ngoài ra công (3) tác quản lý ảnh hưởng đến việc canh tác nông nghiệp bền vững
Bài báo “Quan điểm của nông dân đối với chuyển đổi sang canh tác hữu cơ” (D Laepple and T Donnellan, 2008) cho thấy rằng người nông dân có động lực vừa phải để làm theo lời khuyên của người khác hoặc (1) hành động dựa trên thông tin nhận được từ các nguồn như các sự kiện thông tin hoặc báo chí nông nghiệp Các cố vấn trang trại dường như là nhóm có ảnh hưởng nhất đối với việc chuyển đổi Do đó, quảng bá nông nghiệp hữu cơ thông qua báo chí nông nghiệp và các chuyên gia tư vấn nông nghiệp có thể vượt qua được tình cảm tiêu cực và thúc đẩy hoạt động hữu cơ Các vấn đề được nhận thức
có các biến (2) kiến thức và kỹ năng hữu cơ của nông dân Một nhận thức mang tính nghịch biến của nông dân rằng khi áp dụng nông nghiệp hữu cơ, (4) họ sẽ "sản xuất ra một sản phẩm mà chỉ những người giàu mới có thể đủ khả năng mua" dường như là rào cản chính Ảnh hưởng này mạnh hơn cả hai nhân tố thúc đẩy chấp nhận hữu cơ, là (5) thu nhập nông trại ngày càng tăng
do hỗ trợ cao hơn thanh toán và (6) nhận giá cao hơn Những kết quả này chỉ
ra rằng sự hấp thụ tương lai của nông nghiệp hữu cơ có thể sẽ được định hướng về tài chính, nhưng nông dân không muốn sản xuất ra một sản phẩm
mà họ nhận thấy chỉ những người giàu mới có thể mua được Cá nhân các cuộc phỏng vấn cũng đã xác nhận kết quả này, vì hầu hết nông dân đã đề cập đến họ cảm thấy không ai có thể mua được thực phẩm hữu cơ vì nó được xem
là quá đắt
Trang 21Bài báo “Xác định và hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng các công nghệ mới vào các trang trại sữa ở Anh sử dụng lý thuyết hành động có lý trí” (Rehman, T., McKemey, K., Yates, C.M., Cooke, R.J., Garforth, C.J., Tranter, R.B., Park, J.R., and Dorward, P.T., 2007) trình bày các nghiên cứu gần đây đã sử dụng một phương pháp tiếp cận mới nhằm kiểm tra vai trò của thái độ của người chấp nhận trong việc xác định các yếu tố thúc đẩy và rào cản áp dụng Nghiên cứu liên quan đến công nghệ cho các hệ thống chăn nuôi
ở Anh Quốc, đặc biệt là phát hiện động dục, quản lý nguồn cung cấp nitơ và, bao gồm cỏ ba lá trắng Hành vi chấp nhận được phân tích sử dụng lí thuyết
xã hội-tâm lý học về hành động hợp lý để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng các công nghệ được xác nhận bằng cách sử dụng các phân tích thành phần chính Các kết quả trình bày ở đây liên quan đến hành vi chấp nhận công nghệ cụ thể đối với thời gian quan sát được khuyến cáo của Hội đồng phát triển sữa về phát hiện nhiệt Các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng công nghệ này là: (1) hiệu quả chi phí, (2) cải thiện khả năng phát hiện
và tỷ lệ thụ thai như là động lực chính Nghiên cứu này cho thấy rõ rằng việc thúc đẩy công nghệ và chuyển giao kiến thức cho một hệ thống canh tác cần phải tính đến những niềm tin và thái độ của người tiềm năng chấp nhận nông nghiệp hữu cơ Mối quan tâm của nông dân khi áp dụng hữu cơ là (3) kiến thức và kỹ năng hữu cơ của nông dân và (4) thời gian nuôi trồng hữu cơ Những con số này cho thấy những nông dân thông thường thường tin rằng họ không được thông tin rõ ràng về canh tác hữu cơ Do vậy việc quảng bá và tăng cường thông tin về canh tác hữu cơ có thể vượt qua một số rào cản Một nghiên cứu tương tự liên quan đến chấp nhận công nghệ mới “Ý định của những người nông dân truyền thống chuyển đổi sang canh tác hữu cơ” (Doris Läpple, and Hugh Kelley, 2010) bằng cách sử dụng lý thuyết xã hội-tâm lý học về hành vi dự kiến chỉ ra rằng chuyển đổi thực sự bị ảnh
Trang 22hưởng bởi (1) thái độ của người nông dân, (2) áp lực xã hội và (3) khả năng tham gia nông nghiệp hữu cơ của nông dân đó Các yếu tố thúc đẩy và rào cản chuyển đổi sang canh tác hữu cơ được xác định bằng cách áp dụng một khái niệm dựa trên niềm tin Các thước đo tiêu chuẩn chủ quan xem xét nông dân
bị tác động bởi khuyến khích từ những người quan trọng khác để chuyển đổi
và khả năng của mình và liệu trang trại của họ có phù hợp cho canh tác hữu
cơ, (4) ưu đãi về tài chính được là một yếu tố quan trọng Điều này có thể được hiểu là tiện ích dự kiến mà nông dân nhận được từ kết quả cụ thể xảy ra
nó là các biến thuận chiều của hành vi chuyển đổi
P L Nuthall trong nghiên cứu “Tâm lý ra quyết định trong quản lý nông trại” đã chỉ ra đánh giá sự cải thiện trong khả năng quản lý sẽ cần phải dựa vào một loạt các biện pháp với người đưa ra quyết định đưa ra quyết định của chính mình Nếu người nhận cảm thấy họ đã đạt được lợi nhuận thì rõ ràng họ sẽ cho rằng quá trình sản xuất của họ là thành công Thành công này
sẽ dựa trên nhiều mục đích mà nông dân có thể có Bởi vì, nhìn chung, sản xuất chính là kinh doanh đơn giản, các mục tiêu này sẽ bao hàm một phạm vi rộng Gasson (1973), trong một nghiên cứu tiên phong, đã nhấn mạnh đến yếu
tố này khi nói về các thành phần mục tiêu nông dân: (1) nâng cao thu nhập, (2) xã hội (nhận biết thuộc cộng đồng nông nghiệp), (3) thể hiện bản thân (cảm thấy tự hào về quyền sở hữu, cơ hội sáng tạo) và (4) nội tại (nhiệm vụ công việc)
Một nghiên cứu khác trong nông nghiệp có sử dụng lý thuyết dự định hành vi “Thực hiện nông nghiệp hữu cơ: Điều tra sử dụng lý thuyết về dự định hành vi” (Caroline Hattam, 2006) Các kết quả của bài nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô lớn chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ là không chắc chắn trong ngắn hạn Thái độ tích cực là không đủ để thực hiện nông nghiệp hữu cơ Chúng bị ngăn cản bởi một nhận thức không có khả năng chuyển đổi thành
Trang 23công và áp lực xã hội từ các nhóm tham khảo là quan trọng Các yếu tố tâm lý
là những rào cản đáng kể đối với đối tượng áp dụng nông nghiệp hữu cơ TPB giả định rằng (1) truyền thông hiệu quả là một phương pháp hữu hiệu để gây ảnh hưởng đến niềm tin có ý định Sử dụng (2) thái độ tích cực làm nền tảng, nếu sản xuất hữu cơ được khuyến khích giữa các nhà sản xuất bơ Hành động cần phải được hướng tới các (3) đối tượng cụ thể và quan trọng ở các đối tượng có tác động lớn nhất trong chuỗi Điều này có thể là các nhà nông học
và các nhà cung cấp đầu vào, người sản xuất nhưng bản chất là do người tiêu dùng có tác động ảnh hưởng vô cùng lớn tới phong trào hữu cơ, nâng cao nhận thức cũng phải tập trung về người mua hàng Một môi trường thuận lợi phải được thúc đẩy, tập trung vào khả năng chấp nhận của người sản xuất Điều này có thể được hỗ trợ bởi các hội thảo thực tế cho các nhà sản xuất, mà còn bởi một nguồn cung cấp chất lượng đầu vào hữu cơ Nó còn ủng hộ trường hợp đào tạo thêm các nhà nông học và tạo ra nguồn thông tin mới trong phương pháp hữu cơ, hoặc sinh thái, sản xuất, nhưng cũng cắt giảm chi phí những nỗ lực như chứng nhận nhóm Điều này đặc biệt quan trọng đối với phần biên nhà sản xuất mà phong trào hữu cơ muốn giúp đỡ Bài nghiên cứu này đã đi tìm hiểu khá khái quát và đầy đủ các vấn đề khi người sản xuất nông nghiệp bắt đầu chấp nhận sản xuất theo hướng hữu cơ bền vững
Trong nghiên cứu của Genius, M., Pantzios, C.J., Tzouvelekas, V., (2006) các kết quả thực nghiệm cho thấy việc nông dân được cung cấp các thông tin nông nghiệp khiến học chấp nhận việc áp dụng hữu cơ vào canh tác Thông tin từ các nguồn khác nhau đóng một vai trò bổ sung trong quyết định của nông dân Chính sách thúc đẩy nông nghiệp sinh học trong nghiên cứu cho thấy rằng các biện pháp để thúc đẩy việc áp dụng các kỹ thuật canh tác hữu cơ nên cấu trúc hóa nông nghiệp chứ không phải là trợ cấp Cụ thể, các phát hiện cho thấy việc nuôi trồng nông nghiệp hữu cơ sẽ bị ảnh hưởng chủ yếu bởi (1) các biện pháp chính sách khuyến khích việc nghỉ hưu của nông
Trang 24dân lớn tuổi; (2) cải thiện giáo dục, (3) nhận thức về môi trường và (4) các kênh thông tin và mạng lưới của nông dân; (5) khuyến khích đa dạng hóa sản lượng nông nghiệp; (6) dịch vụ tín dụng gia hạn trước; và (7) tổ chức các cuộc hội thảo và họp bàn tròn giữa nông dân và các bên liên quan nông thôn Hơn nữa, việc phát triển các dịch vụ khuyến nông (công cộng hoặc tư nhân) dường như là then chốt nếu một chiến lược tiếp nhận hữu cơ được theo đuổi Nghiên cứu Nông dân trồng chuối chấp nhận thực hành nông nghiệp bền vững ở Vùng cao Việt Nam: Trường hợp của tỉnh Quảng Trị (N.V.Thanh, C.Yapwattanaphun, 2015) chỉ ra rằng 65% các hộ gia đình trồng chuối có tỉ lệ chấp nhận sản xuất chuối theo hướng hữu cơ thấp, trong khi đó tỉ lệ chấp nhận sản xuất chuối hữu cơ cao chiếm 35% Kết quả thực nghiệm cho thấy những người có có tỷ lệ chấp nhận sản xuất chuối hữu cơ cao có các yếu tố liên quan đến thu hoạch và sau thu hoạch, sử dụng kiến thức bản địa, quản lý gia súc trong các lĩnh vực, luân canh và khống chế cỏ dại; trong khi đó, những người được phỏng vấn có tỉ lệ chấp nhận ở mức thấp hoặc không muốn áp dụng có liên quan đến việc sử dụng đầu vào (đất, nước, hóa chất và cây giống), quản
lý chất lượng sản phẩm, liên kết trong tiêu thụ, hợp tác sản xuất và nhãn hiệu sản phẩm Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy có 5 yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến việc áp dụng phương pháp sinh học của nông dân, cụ thể là (1) nhận thức nông nghiệp bền vững, (2) tình trạng kinh tế, (3) các khóa học mở rộng, (4) giáo dục và (5) tính khả thi của thực tiễn trong đó nhận thức nông nghiệp bền vững có ảnh hưởng lớn nhất đến việc áp dụng sản xuất nông nghiệp bền vững Nghiên cứu khuyến cáo rằng những nỗ lực để tăng cường áp dụng SAP của nông dân trồng chuối nên tập trung vào việc cải thiện nhận thức nông nghiệp bền vững, đặc biệt là nhận thức về đầu vào cũng như nâng cao kiến thức và kỹ năng tiếp cận thị trường và hợp tác sản xuất Hơn nữa, các khóa học khuyến nông nên được thực hiện nhiều hơn để nâng cao kiến thức và kỹ năng của nông dân về SAP
Trang 25Nghiên cứu “Sử dụng một số chế phẩm sinh học trong sản xuất lúa an toàn theo hướng Vietgap ở tỉnh Thừa Thiên Huế” (Xuân Phương, 2016) đề tài xác định được các nguy cơ và nguyên nhân gây mất an toàn trong sản xuất lúa tại tỉnh Thừa Thiên Huế và nghiên cứu sử dụng một số chế phẩm sinh học
và xây dựng mô hình sản xuất lúa an toàn theo hướng VietGAP nhằm đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, tăng thu nhập cho người sản xuất, góp phần phát triển sản xuất lúa gạo bền vững tại tỉnh Thừa Thiên Huế Đề tài đã nêu khá rõ ràng những lý do tại sao phải thay thế thuốc trừ sâu bằng các chế phẩm sinh học trong sản xuất lúa Tuy nhiên, chưa đề cập đế các nguyên nhân tại sao nông dân chưa mạnh dạn tiến hành đổi mới các biện pháp bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất của mình
Từ những đề tài nghiên cứu của các tác giả trên thế giới có thể đưa ra một vài nhận xét như sau có rất nhiều những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng chấp nhận nông nghiệp sinh học của người nông dân như thái độ, niềm tin, khả năng nhận thức của nông dân vào sản xuất nông nghiệp sinh học, ngoài ra
có những nhân tố chuẩn chủ quan là những tác động của xã hội kiến cho người dân chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ Bên cạnh những nhân tố rào cản là khiến cho ý định sử dụng của người nông dân trở nên khó thực hiện hơn Dựa trên cơ sở những nghiên cứu trước đây đề tài sẽ xây dựng mô hình nghiên cứu với các nhấn tố tác có tác động đến ý định sử dụng các biện pháp sinh học thay thế cho việc sử dụng hóa chất trong sản xuất lúa của nông dân: trường hợp huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng Mặt khác, đề tài có thể phát hiện nhân tố mới ảnh hưởng đến ý định sử dụng các biện pháp sinh học thay thế cho việc sử dụng hóa chất trong sản xuất lúa của nông dân: trường hợp huyện Hòa Vang Từ đó giúp các nhà hoạch định chính sách trong việc xây dựng các giải pháp nhằm khuyến khích người nông dân sử dụng biện pháp sinh học thay cho hóa học trong sản xuất
Trang 26CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 CÁC KHÁI NIỆM QUAN TRỌNG
Nông nghiệp sinh học: hay còn gọi là Nông nghiệp sinh thái là một hệ
thống sản xuất duy trì sự khỏe mạnh cho đất, của hệ sinh thái và con người Nó phụ thuộc vào các quá trình trình thái, phụ thuộc vào hệ sinh thái và các chu trình phù hợp cho từng điều kiện địa phương Nông nghiệp sinh thái kết hợp giữa các phương pháp truyền thống và hiện đại cũng như khoa học để đem lại lợi ích cho môi trường và nâng cao mối quan hệ bình đẳng, chất lượng cuộc sống tốt
cho tất cả bộ phận có liên quan (World Board, 3/2008-IFOAM)
Nông nghiệp sinh học phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Không phá hoại môi trường
- Ðảm bảo năng suất ổn định
- Ðảm bảo khả năng thực thi, không phụ thuộc vào bên ngoài
- Ít lệ thuộc vào hàng ngoại nhập
Phương thức nông nghiệp sinh học ở Việt Nam gồm:
- Phương thức hữu cơ là phương thức sản xuất hoàn toàn sạch vì
không sử dụng hóa chất
- Thâm canh lúa cải tiến là phương thức sử dụng hóa chất một cách
hợp lý
- Quản lý sâu bênh là sử dụng tối thiểu thuốc bảo vệ thực vật đồng thời
kết hợp sử dụng nhiều vi sinh vật trong sản xuất
- Phương pháp nông lâm kết hợp và nông nghiệp bảo tồn được sử
dụng ở miền núi, đồi dốc xói mòn
- Mô hình vườn-ao-chuồng kết hợp bioga là hình thức kết hợp sản xuất
trồng trọt, chăn nuôi và tạo ra khí đốt
Trang 27Phương pháp sinh học
- Sử dụng giống kháng sâu hại
- Sử dụng các giống biến đổi gen
Thuốc bảo vệ thực vật về cơ bản có thể hiểu là các hợp chất hóa học, chế
phẩm sinh học có nguồn gốc động, thực vật được con người sử dụng để bảo vệ cây trồng khỏi sự tàn phá của nhiều loại sinh vật gây hại (Sâu bọ, chim chuột, muông thú, nấm, vi khuẩn ) (Chi Cục Bảo Vệ Thực Vật Phú Thọ, 2009)
Thuốc bảo vệ thực vật hóa học: là thuốc điều chế từ các chất hóa học
Nhìn chung, các chất độc hóa học để tiêu diệt các loại vi sinh vật gây hoại
trong nông nghiệp
1.2 CÁC LÝ THUYẾT VỀ DỰ ĐỊNH HÀNH VI
1.2.1 Thuyết hành động hợp lý
Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) được xây dựng bởi Ajzen và Fishbenin từ cuối thập niên 60 của thế kỉ 20 và được hiệu chỉnh mở rộng trong thập niên 70 Theo lý thuyết TRA hai nhân tố chính ảnh hưởng đến ý định là thái độ cá nhân và chuẩn chủ quan
Trong đó:
Thái độ của một cá nhân được đo lường bằng niềm tin và sự đánh giá đối với kết quả của hành vi đó Trong mô hình thuyết TRA, Ajzen định nghĩa rằng thái độ đối với hành vi được đo lường bằng nhận thức tích cực hay tiêu
Trang 28Đo lường niềm tin đối với
những thuộc tính của phương
pháp mới
Thái độ
Niềm tin đối với những thuộc
tính của phương pháp mới
Sự thúc đẩy làm theo ý muốn của
những người ảnh hưởng
Chuẩn chủ quan
Niềm tin về những người ảnh
Thuyết TRA được mô hình hóa dưới đây:
Nguồn: Davis, Bagozzi và Warshaw, 1989, trích trong Chutter M.Y., 2009,
Hình 1.1: Thuyết hành động hợp lý (TRA)
Ý định
Trang 291.2.2 Thuyết hành vi được hoạch định
Lý thuyết hành vi được hoạch định (Theory of Planned Behaviour - TPB) do Ajzen (1991) dựa trên nền tảng thuyết hành động hợp lý nên nó đã
kế thừa hai nhân tố của thuyết hành động hợp lý và thêm vào nhân tố thứ ba
đó là Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived Behavioral Control) Nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi
và việc thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát hay hạn chế hay không (Ajzen,
1991, tr 183) Thuyết hành vi được hoạch định giải quyết những hạn chế của thuyết hành động hợp lý bởi khả năng giải thích lý do vì sao trong một số tình huống con người giữ một thái độ cực kì thuận lợi cũng như nhận áp lực xã hội cực kì mạnh mẽ đối với việc thực hiện hành vi nhưng họ vẫn không thực hiện Những trường hợp đó đã được giải thích bởi thuyết hành vi được hoạch định
vì con người nhìn nhận được những trở ngại hay khó khăn trong khi thực hiện hành vi Hoặc có thể nhận thức của người có năng lực thấp để thực hiện hành
vi cũng làm giảm ý định thực hiện hành vi của một người và do đó làm cho người đó không thực hiện hành vi
Trang 30Nhận thức kiểm soát hành vi
Đo lường niềm tin đối với những thuộc
tính của phương thức mới
Thái độ
Niềm tin đối với những thuộc tính
của phương thức mới
Sự thúc đẩy làm theo ý muốn của
những người ảnh hưởng
Chuẩn chủ quan
Niềm tin về những người ảnh
hưởng sẽ nghĩ rằng tôi nên thực
hiện hay không thực hiện hành vi
Thuyết hành vi được hoạch định được mô hình hóa ở Hình 1.2
Nguồn: Ajzen, I., The theory of planned behaviour,1991,
Hình 1.2: Thuyết hành vi được hoạch định (TPB)
1.2.3 Mô hình chấp nhận công nghệ
Con người luôn đứng trước các lựa chọn những công nghệ mới Một trong những công cụ hữu ích trong việc giải thích ý định chấp nhận một công nghệ mới là mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) Theo Legris và cộng sự (2003, trích trong Teo, T., Su Luan, W., & Sing, C.C., 2008, tr 266), mô hình
Ý định hành vi
Niềm tin kiểm soát
Khả năng nhận thức
Trang 31Thái độ hướng tới
sử dụng Nhận thức tính dễ sử
dụng
Ý định sử dụng Nhận thức sự hữu ích
TAM đã dự đoán thành công khoảng 40% việc sử dụng một hệ thống mới Lý thuyết TAM được mô hình hóa và trình bày ở Hình 3
Nguồn: Davis, 1985, tr 24, trích trong Chutter M.Y., 2009, tr 2
Hình 1.3: Mô hình chấp nhận công nghệ
Trong đó, Nhận thức sự hữu ích (PU – Perceived Usefulness) là cấp độ
mà cá nhân tin rằng sử dụng một phương pháp đặc thù sẽ nâng cao kết quả
thực hiện của họ (Davis, 1985, trích trong Chuttur, M.Y., 2009, tr 5) Nhận
thức tính dễ sử dụng (PEU – Perceived Ease of Use) là cấp độ mà một người
tin rằng sử dụng một phương pháp đặc thù sẽ không cần nỗ lực (Davis, 1985, trích trong Chuttur, M.Y., 2009, tr 5)
1.2.4 Các mô hình kết hợp
Trên cơ sở nghiên cứu dự định hành vi, đề tài trình bày học thuyết quan trọng là thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) và mô hình chấp nhận công nghệ (Teo, T., Su Luan, W., & Sing, C.C., 2008) Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) dựa trên nền tảng lý thuyết Thuyết hành động hợp lý TRA trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý ( Eagly & Chaiken, 1993; Olson & Zanna, 1993; Sheppard, Hartwick, & Warshaw, 1998) đã thừa nhận rằng nhận thức sự hữu ích và nhận thức tính dễ sử dụng có tác động quan trọng đến ý định sử dụng công nghệ và ý định được xem là một nhân tố trung gian quan trọng tác động đến hành vi sử dụng công nghệ thực sự Trong nghiên cứu về ý định sử dụng một công nghệ mới, Davis, Bagozzi và Warshaw (1989, trích trong Chutter,
M.Y, 2007) đã chứng minh rằng Nhận thức sự hữu ích và Nhận thức tính dễ
Trang 32sử dụng có ảnh hưởng trực tiếp đến ý định sử dụng Trên cơ sở đó, nghiên cứu
chỉ xem xét tác động trực tiếp của Nhận thức sự hữu ích và Nhận thức tính dễ
sử dụng lên ý định hành vi Ngoài ra, yếu tố Nhận thức kiểm soát hành vi có
bao hàm đến yếu tố “dễ sử dụng”, vì thế nghiên cứu không xét đến yếu tố
Nhận thức tính dễ sử dụng trong mô hình Mô hình kết hợp TPB – TAM được
đề xuất và trình bày ở Hình 1.4
Hình 1.4: Mô hình kết hợp TPB và TAM của nghiên cứu
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu đã bổ sung một số các biến vào mô hình kết hợp này Thường thấy nhất là các biến nhận thức về rào cản và niềm tin về lợi ích của chủ thể dự định hành vi Việc áp dụng một công nghệ mới là có lợi Tuy nhiên, việc áp dụng cũng có nhiều rào cản Theo kinh tế học vi mô, đây chính là “rào cản chuyển đổi” (switching barriers) Jones và cộng sự (2000, trích trong Julander, C.R & Soderlund, M., 2003, tr 4) định nghĩa rào cản chuyển đổi là chi phí kinh tế, xã hội, tâm lý làm cho khách hàng khó thay đổi nhà cung cấp
Rào cản chuyển đổi được chia làm 3 loại, gồm có (1) sự hấp dẫn của sản phẩm thay thế, (2) mối quan hệ giữa cá nhân và (3) nhận thức chi phí chuyển đổi Trong đó, sự hấp dẫn của sản phẩm thay thế được hiểu là danh tiếng, thương hiệu và chất lượng của các sản phẩm thay thế hiện có trên thị trường Mối quan hệ cá nhân là sức mạnh của mối quan hệ cá nhân được phát triển
Nhận thức sự hữu ích
Nhận thức kiểm soát hành vi
Trang 33giữa khách hàng và nhà cung cấp Và nhận thức chi phí chuyển đổi là việc một cá nhân chuyển đổi ở đây có thể là thời gian, tiền bạc, nỗ lực và bất kỳ chi phí tâm lý kết hợp với quá trình thay đổi phương thức canh tác E Defrancesco, P.Gatto, F.Runge, and S, Trestini nghiên cứu nhận thức của người nông dân trong việc tham gia nông nghiệp môi trường cho thấy rằng những người có ý thức bảo vệ môi trường tốt sẽ tham gia vào chương trình vì niềm tin của họ đối với cải thiện môi trường xung quanh
1.3 MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Phương pháp sinh học được xem là một phương pháp mới Dự định áp dụng phương pháp mới này vì thế có thể được tiếp cận dưới góc độ của lý thuyết hành vi trong khuôn khổ của mô hình chấp nhận công nghệ có điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu cụ thể trong đó chủ thể dự định hành vi là người nông dân Việt Nam và lĩnh vực sản xuất nông nghiệp E Defrancesco và cộng sự (2006) đã khám phá nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của nông dân tham gia hay không vào nông nghiệp môi trường (AEM)
là yếu tố thu nhập, tương lai của nông trại trong kinh doanh, thái độ niềm tin của họ đối với môi trường xung quanh và mối quan hệ với nông dân lân cận
và ý kiến của họ đối với các hoạt động thân thiện với môi trường, tất cả đều
có những tác động đáng kể đến việc áp dụng các biện pháp nông nghiệp và môi trường Một nghiên cứu tương tự liên quan đến ý định của những người nông dân truyền thống chuyển đổi sang canh tác hữu cơ của Doris Läpple, and Hugh Kelley, (2010) chỉ ra rằng chuyển đổi thực sự bị ảnh hưởng bởi thái
độ của người nông dân, áp lực xã hội và khả năng tham gia nông nghiệp hữu
cơ của nông dân đó Các yếu tố thúc đẩy và rào cản chuyển đổi sang canh tác hữu cơ được xác định bằng cách áp dụng một khái niệm dựa trên niềm tin Các thước đo tiêu chuẩn chủ quan xem xét nông dân bị tác động bởi khuyến khích từ những người quan trọng khác để chuyển đổi và nhân tố nhận thức
Trang 34kiểm soát hành vi là khả năng của nông dân và điều kiện trang trại của họ có phù hợp cho canh tác hữu cơ, ưu đãi về tài chính được là một yếu tố quan trọng Điều này có thể được hiểu là tiện ích dự kiến mà nông dân nhận được
từ kết quả cụ thể xảy ra nó là các biến thuận chiều của hành vi chuyển đổi D Laepple and T Donnellan, (2008) cho thấy rằng người nông dân có động lực vừa phải để làm theo lời khuyên của người khác đó là tác động của yếu tố chuẩn chủ quan, mặt khác, nhân tố nhận thức sự hữu ích là thu nhập nông trại ngày càng tăng do hỗ trợ cao hơn thanh toán và nhận giá cao hơn đó thúc đẩy người dân sử dụng PPSH Một nhận thức mang tính nghịch biến của nông dân rằng khi áp dụng nông nghiệp hữu cơ, họ sẽ phải đối mặt với những rủ ro đó
là những rào cản lớn cản trở nông dân tham gia vào nông nghiệp hữu cơ Từ những nghiên cứu trước đây, đề tài đề xuất mô hình nghiên cứu ở Hình 1.5, với 5 nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng PPSH trong canh tác lúa của các
hộ nông dân huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng
Nguồn: đề xuất của tác giả
Nhận thức về việc cải thiện môi trường
Nhận thức về những rào cản
Nhận thức kiểm soát hành vi
Ý định sử dụng PPSH trong canh tác
Chuẩn chủ quan
Nhận thức sự hữu ích của PPSH
Trang 35Các giả thuyết nghiên cứu:
Nhận thức sự hữu ích của PPSH
Sản xuất lúa theo PPSH là một phương thức canh tác huy động tối đa nguồn lực và tài nguyên thiên nhiên, với mục tiêu nâng cao chất lượng nông sản, mang lại hiệu quả kinh tế giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho người nông dân Mô hình sản suất lúa theo PPSH đã áp dụng các kĩ thuật mới vào khâu sản xuất tập trung như: dùng phân vi sinh để cải tạo đất, cùng một loại giống, cùng thời gian gieo sạ từ đó giảm chi phí đầu vào, tăng năng suất lao động Với phương pháp canh tác cũ người dân sử dụng hóa chất để bảo vệ thực vật khiến sâu bọ phát sinh nhiều làm tăng chi phí sản xuất; trong khi nếu dùng phương pháp sản xuất mới tức là không phun hóa chất bảo vệ thực vật ,
sử dụng phân bón hữu cơ kết hợp việc sử dụng giống lúa Thiên ưu 8 vào trong sản xuất với nhiều đặc tính tốt khiến khả năng chống chịu sâu bệnh (rầy nâu, đạo ôn đốm vằn…) của lúa cao nhìn chung sâu bệnh hại xảy ra ít giúp tiết kiệm chi phí sản xuất cho bà con Mặt khác, thông qua việc tự làm thuốc trừ sâu sinh học nông dân trồng lúa tiết kiệm chi phí sản xuất hơn so với thuốc trừ sâu hóa học, chuột bọ ít cắn phá, nhưng lại cho năng suất lúa ổn định như kết quả gặt thống kê ở cánh đồng thôn Dương Lâm 2, Túy Loan Tây
1 xã Hòa Phong năng suất bình quân của lúa hữu cơ là 65 tạ/ha trong khi năng suất lúa ngoài chương trình sạ cùng trà năng suất chỉ dạt 58 tạ/ha theo thống
kê của hội nông dân huyện Hòa Vang, chất lượng gạo thơm, ngon, bảo quản
dễ dàng và lâu hơn, mẫu mã cũng đẹp mắt hơn phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng hiện nay nên bán được sản phẩm với giá cao gấp 2 lần so với gạo thường (20 000 đồng/kg), từ đó mang lại hiệu quả kinh tế cao giúp cải thiện đời sống nông dân trồng lúa Do đó ta thấy rằng nếu người dân càng nhận
thức được sự hữu ích của PPSH thì ý định sử dụng PPSH cao
Trang 36Giả thuyết H 1: Nhận thức về sự hữu ích của PPSH càng lớn thì ý định
sử dụng PPSH càng cao
Nhận thức về cải thiện môi trường
Các hợp chất hóa học dùng trong bảo vệ thực vật chẳng những độc đối với các sinh vật gây hại mà còn độc đối với các sinh vật có ích, bao gồm cả loài động vật máu nóng, kể cả con người Khi sử dụng thiếu cẩn thận, không đúng kỹ thuật, có thể gây độc cho người, gia súc, có trường hợp làm cho người và gia súc bị chết Kỹ thuật trồng trọt trong nền nông nghiệp sinh học
sử dụng các loại sinh vật xuất phát từ thiên nhiên, lấy của thiên nhiên rồi lại trả lại cho thiên nhiên nên sản phẩm làm ra an toàn cho người và môi trường sống Vì vậy, sử dụng PPSH không độc với người và các sinh vật có ích nên
có thể bảo vệ được sự cân bằng sinh học trong tự nhiên (cân bằng giữa thiên địch và sâu hại), ít gây tình trạng bùng phát dịch côn trùng Mặt khác, thời gian phân hủy trong tự nhiên nhanh chóng, ít để lại dư lượng độc trên nông sản và có thời gian cách ly ngắn nên rất thích hợp sử dụng cho các nông sản yêu cầu có độ sạch cao như các loại rau, chè… Phương pháp sinh học bao gồm việc sử dụng các chế phẩm sinh học, bẫy bắt sâu bọ, kỹ thuật canh tác v.v…để phòng trừ sinh vật gây hại mà không gây ô nhiễm môi trường Ngoài
ra, các nguyên liệu để làm thuốc trừ sâu sinh học thường có sẵn và rất phổ biến ở mọi nơi, mọi lúc như ớt, tỏi, hành, rừng nên vừa tiết kiệm chi phí lại rất an toàn với con người và những sinh vật có ích trên đồng ruộng Mô hình lúa hữu cơ sản xuất theo PPSH giúp cho người nông dân làm quen với sử dụng sản phẩm sạch, đảm bảo về sức khỏe hạn chế bệnh tật Mô hình này nhằm góp phần đảm bảo về vệ sinh an toàn thực phẩm vấn đề bức xúc hiện nay Vì vậy, nếu nông dân có nhận thức càng cao về cải thiện môi trường thì
có ý định sử dụng PPSH càng cao
Trang 37Giả thuyết H 2: Nhận thức về cải thiện môi trường của PPSH càng lớn thì ý định sử dụng PPSH càng cao
Chuẩn chủ quan
Doris Läpple, and Hugh Kelley, (2010) sử dụng lý thuyết xã hội-tâm lý học về hành vi dự định để chỉ ra rằng việc chuyển đổi hình thức canh tác nông nghiệp thực sự bị ảnh hưởng bởi áp lực xã hội Các thước đo tiêu chuẩn chủ quan xem xét nông dân bị tác động bởi khuyến khích từ những người quan trọng khác để chuyển đổi Ý định hành vi của một cá nhân có thể bị tác động bởi những người xung quanh như gia đình, bạn bè, các chuyên gia hoặc chính quyền Nói cách khác, nhận thức áp lực xã hội thực hiện hành vi của một người càng cao thì ý định thực hiện hành vi của họ càng cao Chủ chương của Nhà nước, đặc biệt là ngành nông nghiệp đang đẩy mạnh tập trung phát triển nông nghiệp hữu cơ, hiện Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đang trình Chính phủ về Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ nhằm tạo hành lang pháp lý để phát triển.Việc thực hiện nông nghiệp sinh học có sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước về giống, một phần vật tư, phân bón nên tạo sự phấn khởi cho các hộ tham gia mô hình, mặt khác có sự thống nhất đồng thuận của Đảng ủy, UBND, Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam xã trong việc triển khai sản xuất Việc triển khai mô hình lúa sản suất theo PPSH tại các thôn xã trong địa bàn huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng có sự đồng thuận nhất trí của nhiều nông dân Trong quá trình thực hiện, Hội Nông dân và chính quyền địa phương có các biện pháp khuyến khích nông dân tham gia sản xuất lúa theo PPSH thông qua việc cử các cán bộ kĩ thuật Chi cục trồng trọt và bảo vệ thực vật xuống địa phương tập huấn cho người dân, và điều hành toàn bộ các khâu từ làm đất, lịch gieo sạ, phát giống, phát phân bón…thu mua và bao tiêu toàn bộ sản phẩm cho các hộ nông dân tham gia sản xuất lúa hữu cơ Vì vậy, nếu người
Trang 38dân trồng lúa của Huyện Hòa Vang nhận thức áp lực xã hội thực hiện sử dụng PPSH càng lớn thì ý định sử dụng PPSH của họ càng lớn
Giả thuyết H 3: Chuẩn chủ quan tác động tích cực đến ý định sử dụng PPSH
Nhận thức kiểm soát hành vi
Nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi và việc thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát hay hạn chế hay không (Ajzen, 1991, tr 183) Việc người nông dân ở Huyện Hòa Vang,
TP Đà Nẵng có ý định hành vi sử dụng PPSH phụ thuộc vào nhận thức của người có năng lực những điều kiện về vật chất như diện tích đất trồng lúa để thực hiện ý định của mình Vì vậy, những nông dân trồng lúa trong địa bàn được chọn để thí điểm mô hình lúa hữu cơ của Huyện Hòa Vang thường có một số kinh nghiệm trong việc đầu tư thâm canh và có khả năng tiếp nhận nhanh những tiến bộ về khoa học kĩ thuật, áp dụng làm theo quy trình kĩ thuật khắt khe một cách chặt chẽ để tạo nên sản phẩm chất lượng Do đó, nếu những người có kiểm soát hành vi tốt là có đủ điều kiện, năng lực và sẵn sàng tiếp nhận PPSH thì họ có ý định sử dụng PPSH cao
Giả thuyết H 4: Nhận thức kiểm soát hành vi càng cao thì ý định sử dụng PPSH càng lớn
Nhận thức về rào cản
Cùng với thực trạng chung về sản xuất nông nghiệp hữu cơ trong cả nước tại Huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng cũng có những thách thức Thật sự có rất nhiều rào cản kiến người dân chưa mạnh dạn tiếp nhận phương pháp sản xuất lúa mới Một trong số đó là bởi vì, PPHH có rất nhiều ưu điểm là sự tiện lợi, linh hoạt, nhanh chóng và hiệu quả cao v.v Phần lớn nông dân vẫn chưa muốn chuyển đổi sang sản xuất nông nghiệp hữu cơ do chưa thấy được sự hấp dẫn, lợi ích đạt được khi tham gia xây dựng nông nghiệp hữu cơ
Trang 39Thêm nữa việc sản xuất lúa theo PPSH đồi hỏi quy trình sản xuất khắt khe, những tiêu chuẩn ràng buộc, kĩ thuật và kiến thức trong việc cải tạo đất bảo vệ hệ sinh thái và môi trường sống, việc tuyên truyền vận động nhân dân, chuyển đổi sang sản xuất nông nghiệp hữu cơ còn hạn chế Quy mô sản xuất nhỏ lẻ cũng là một trong những hạn chế phát triển nông nghiệp hữu cơ
Để phát triển sản xuất hữu cơ, nông dân cần trang bị những kiến thức cần thiết
để sửu dụng các thiên địch theo PPSH để phòng chống sâu bệnh hại cho cây trồng Ngoài ra, đến nay nước ta vẫn chưa có bộ tiêu chuẩn quốc gia và khung pháp lý đồng bộ cho sản xuất, chứng nhận và giám sát quy trình sản xuất lúa theo PPSH Mặt khác, PPSH có một số nhược điểm như tốn nhiều công sức hơn, chi phí một số chế phẩm sinh học cao mà khi sản phẩm ra ngoài thị trường lại phải cạnh tranh giá cả với các loại gạo khác khiến người dân phải chịu rủi ro cao trong sản xuất lúa theo PPSH Do đó, nhận thức về rào cản càng nhỏ thì ý định sử dụng PPSH càng lớn
Giả thuyết H 5 : Nhận thức về rào cản càng lớn thì ý định sử dụng PPSH
càng thấp
Các yếu tố về nhân khẩu học
Ajzen (1991) bên cạnh các nhân tố ảnh hưởng đến ý định thực hiện hành
vi của con người các yếu tố nhân khẩu học được xem xét vào để kiểm định sự khác biệt giữa các đối tượng ảnh hưởng đến dự định hành vi Ngoài ra, Burton (2014) cho rằng các nhân tố nhân khẩu học phải được xét đến khi nghiên cứu
dự định hành vi con người đó là sự khác biệt về độ tuổi, giới tính, địa phương, trình độ …
Giả thuyết H 6 :Có sự khác biệt trong ý định sử dụng PPSH giữa nam và
nữ, các độ tuổi, trình độ học vấn và địa phương sinh sống
Trang 40KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 đã tổng hợp các nghiên cứu trước cho thấy ý định là yếu tố quan trọng dẫn đến hành vi của mỗi cá nhân Mô hình nghiên cứu được xây dựng trên hai mô hình chính của Thuyết hành vi dự định và Mô hình chấp nhân công nghệ, đồng thời kết hợp với các yếu tố khác phù hợp với điều kiện vào bối cảnh kinh tế xã hội địa bàn nghiên cứu
Trên cơ sở 5 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng là Nhận thức
về sự hữu ích của PPSH, Nhận thức về cải thiện môi trường, Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi và Nhận thức về rào cản và mô hình nghiên cứu
đề xuất hình 1.5, có 5 giả thuyết tương ứng được đưa ra với biến phụ thuộc là
ý định sử dụng PPSH trong trồng lúa Trong 5 giả thuyết được đưa ra, có giả thuyết nhân tố Nhân thức về rào cản tác động nghịch chiều với ý định sử dụng
PPSH trong khi 4 nhân tố còn lại tác động cùng chiều với PPSH