1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam

101 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn Thiện Công Tác Bảo Trợ Xã Hội Trên Địa Bàn Thị Xã Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam
Tác giả Đặng Thị Bích Trâm
Người hướng dẫn GS. TS. Võ Xuân Tiến
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Kinh Tế Phát Triển
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở các Nghị định của Chính phủ, các Thông tư hướng dẫn thực hiện của các Bộ, ngành và văn bản chỉ đạo hướng dẫn của các cấp, các ngành cấp trên, trong thời gian quan UBND thị xã

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu và kết quả sử dụng trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đều được ghi rõ ràng nguồn gốc của các tài liệu

Tác giả luận văn

Đặng Thị Bích Trâm

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục của đề tài 4

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BTXH 9

1.1 KHÁI QUÁT VỀ BTXH 9

1.1.1 Một số khái niệm: 9

1.1.2 Đặc điểm của công tác BTXH: 12

1.1.3 Ý nghĩa của công tác BTXH: 13

1.2 NỘI DUNG CỦA HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BTXH 14

1.2.1 Mở rộng đối tượng được thụ hưởng BTXH: 14

1.2.2 Tăng mức BTXH: 21

1.2.3 Phát triển các phương thức BTXH 24

1.2.4 Nâng cao chất lượng công tác BTXH 26

1.2.5 Mở rộng mạng lưới công tác BTXH: 27

1.2.6 Tăng nguồn thu để phục vụ cho công tác BTXH: 28

1.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC BTXH 29

1.3.1 Nhân tố phi kinh tế tác động đến công tác BTXH: 29

1.3.2 Nhân tố phi kinh tế tác động đến công tác BTXH: 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BTXH TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM THỜI GIAN QUA 31

2.1 ĐIỂM CỦA THỊ XÃ ĐIỆN BÀN ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC BTXH 31

Trang 5

2.1.3 Đặc điểm kinh tế: 34

2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BTXH TRÊN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM 36

2.2.1 Thực trạng về đối tượng được thụ hưởng chính sách BTXH 36

2.2.2 Thực trạng về mức BTXH: 52

2.2.3 Thực trạng về các phương thức BTXH: 57

2.2.4 Thực trạng về chất lượng công tác BTXH: 59

2.2.5 Thực trạng về mạng lưới công tác BTXH 60

2.2.6 Thực trạng về nguồn BTXH: 61

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC BTXH TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM 63

2.3.1 Thành công và hạn chế: 63

2.3.2 Nguyên nhân những hạn chế trong công tác BTXH 67

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BTXH TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM 70

3.1 CĂN CỨ ĐỂ XÂY DỰNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BTXH 70

3.1.1 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác BTXH 70

3.1.2 Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội Điện Bàn trong thời gian tới 71

3.1.3 Yêu cầu khi xây dựng giải pháp 72

3.2 CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BTXH TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM 74

3.2.1 Mở rộng đối tượng được thụ hưởng 74

3.2.2 Tăng mức BTXH 76

3.2.3 Mở rộng phương thức BTXH 78

3.2.4 Nâng cao chất lượng công tác BTXH 80

Trang 6

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (BẢN SAO)

Trang 7

TT Chữ viết tắt Nội dung đầy đủ

Trang 8

2.3 Tình hình lực lượng lao động tại thị xã Điện Bàn trong

2.4 Cơ cấu kinh tế tại thị xã Điện Bàn trong giai đoạn năm

2.5 Thực trạng nguồn chi ngân sách ở thị xã Điện Bàn thời

2.6

Thực trạng đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng trợ

cấp thường xuyên ở thị xã Điện Bàn giai đoạn năm

2012-2014

38

2.7 Tỷ lệ từng nhóm đối tượng BTXH tại thị xã Điện Bàn

2.8

Thực trạng đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng trợ

cấp thường xuyên ở thị xã Điện Bàn giai đoạn năm

2015-2016

42

2.9

Thực trạng tỷ lệ từng nhóm đối tượng bảo trợ xã hội

được hưởng trợ cấp thường xuyên ở thị xã Điện Bàn

giai đoạn năm 2015-2016

45

2.10 Tỷ lệ đối tượng so với tổng dân số ở thị xã qua các năm

Trang 9

2.11 Đối tượng bảo trợ xã hội ở từng xã, phường trên địa

2.12 Thực trạng đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng cứu

trợ đột xuất ở thị xã Điện Bàn thời gian qua 50

2.13 Thực trạng hệ số trợ cấp thường xuyên ở thị xã Điện

2.14

Thực trạng nguồn kinh phí BTXH chi cho đối tượng được

hưởng trợ cấp thường xuyên ở thị xã Điện Bàn giai đoạn

năm 2012 – 2014

53

2.15

Thực trạng nguồn bảo trợ chi cho đối tượng bảo trợ xã

hội được hưởng trợ cấp thường xuyên ở thị xã Điện

Bàn giai đoạn năm 2015 – 2016

54

2.16 Thực trạng nguồn bảo trợ chi cho đối tượng được

hưởng cứu trợ đột xuất ở thị xã Điện Bàn thời gian qua 56

2.17 Thực trạng đối tượng bảo trợ xã hội với hình thức vay

2.18 Thực trạng đối tượng được cấp thẻ Bảo hiểm y tế miễn

2.19 Nguồn bảo trợ xã hội ở thị xã Điện Bàn thời gian qua 62

Trang 10

Số hiệu

2.1 Tháp dân số thị xã Điện Bàn ước tính đến năm 2016 33

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nước ta là một đất nước đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ

Tổ quốc, bên cạnh đó lại thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, bão lũ, biến đổi khí hậu,…gây ra nhiều thiệt hại to lớn về người và của nên số người cần bảo trợ xã hội (BTXH) của Việt Nam rất lớn Cùng với đó, trong giai đoạn hiện nay nước ta đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhanh làm tăng đội ngũ người làm công ăn lương, cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào nguồn thu nhập từ việc làm thuê Khi có các trường hợp bị

ốm đau, tai nạn, thất nghiệp, … xảy ra sẽ khiến cho cuộc sống của những người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương trở nên bất lợi, khó khăn

Cuộc sống của chúng ta không phải lúc nào cũng gặp những thuận lợi, may mắn mà ngược lại luôn bị đe dọa trước những biến cố, rủi ro, bất hạnh,…

vì nhiều nguyên nhân khác nhau Khi rơi vào những tình huống như vậy, nhu cầu khắc phục khó khăn, đảm bảo cuộc sống, vươn lên hòa nhập cộng đồng trở thành một nhu cầu cấp thiết Đặc biệt, đối với những người nghèo, những người có hoàn cảnh khó khăn, khi rơi vào những hoàn cảnh như vậy, họ lại càng dễ bị đe dọa và tổn thương nặng nề, không đủ khả năng tự lo liệu được cho cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình

Chính vì vậy, công tác BTXH là một biện pháp kiềm chế nguy cơ bị tổn thương, duy trì được thu nhập, sinh kế, tránh rơi vào đói nghèo Ở Việt Nam, BTXH là một trong những chính sách cơ bản thể hiện đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước hướng vào mục tiêu phát triển con người, thúc đẩy công bằng và tiến bộ xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước

Trong bối cảnh xã hội đang ngày một phát triển, vai trò của BTXH càng

Trang 12

trở nên quan trọng và cần thiết, góp phần thu hẹp khoảng cách giàu nghèo mang tính chất quy luật của nền kinh tế thị trường

Bên cạnh đó, BTXH còn thể hiện tính nhân đạo, sẻ chia, tương ái là một trong những giá trị văn hóa, đạo lý truyền thống của con người Việt Nam, thấm sâu trong các gia đình, dòng họ, xóm làng, cộng đồng xã hội từ thế hệ này đến thế hệ khác Tinh thần "Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng", "thương người như thể thương thân" luôn

là một sức mạnh to lớn trong nhân dân ta, đoàn kết, gắn bó để cùng nhau vượt

qua khó khăn, hoạn nạn, thiên tai

Trước tình hình chung đó, thị xã Điện Bàn là một địa phương trực thuộc tỉnh Quảng Nam, thường xuyên gặp nhiều khó khăn như bão tố, lũ lụt,…gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của nhân dân Đồng thời, thị xã Điện Bàn cũng là địa phương chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh với số lượng lớn người khuyết tật Hiện nay, số lượng đối tượng cần được bảo trợ trên địa bàn thị xã ngày một gia tăng, đòi hỏi cần có sự quan tâm đúng mức và kịp thời trong công tác bảo trở xã hội tại địa phương để có thể đáp ứng được yêu cầu mới

Từ những điều đó, có thể thấy rằng công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam là một trong những công tác quan trọng hàng đầu của địa phương

Trên cơ sở các Nghị định của Chính phủ, các Thông tư hướng dẫn thực hiện của các Bộ, ngành và văn bản chỉ đạo hướng dẫn của các cấp, các ngành cấp trên, trong thời gian quan UBND thị xã đã có văn bản chỉ đạo các ban, ngành, địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền về các chính sách BTXH đến với người dân, đồng thời chỉ đạo tiếp tục rà soát, lập hồ sơ kịp thời giải quyết trợ cấp xã hội hàng tháng, trợ cấp đột xuất cho những đối tượng phát sinh

Trang 13

Tuy nhiên, công tác BTXH trên địa bàn thị xã vẫn còn tồn tại nhiều bất cập như xác định sai đối tượng được bảo trợ, chi trả sai đối tượng, mức chi trả chưa đúng quy định, …một số chính sách trợ giúp chưa được triển khai kịp thời, một bộ phận đời sống người dân vẫn còn khó khăn,…Vì vậy tôi đã chọn

đề tài “Hoàn thiện công tác BTXH trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Hệ thống hóa các vấn đề liên quan đến BTXH

- Phân tích thực trạng công tác BTXH tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam trong những năm qua Chỉ ra những kết quả đạt được cũng như những mặt hạn chế, tồn tại của công tác BTXH

- Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác BTXH trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác BTXH tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: tài liệu thứ cấp được thu thập thông qua các cơ quan trên địa bàn thị xã như Phòng lao động, thương binh và

xã hội, Chi cục thống kê, Phòng tài chính – kế hoạch, Bảo hiểm xã hội (BHXH) và thông qua các đề tài có liên quan, sách, báo, tạp chí, internet…

Trang 14

- Phương pháp xử lý tài liệu: các tài liệu thứ cấp được sắp xếp theo yêu cầu của từng nội dung nghiên cứu và phân thành từng nhóm dữ liệu theo từng phần của đề tài, bao gồm: các tài liệu về cơ sở lý luận, tài liệu về thực trạng, các số liệu về tình hình công tác báo trợ xã hội trên địa bàn thị xã Điện bàn, tỉnh Quảng Nam

- Phương pháp phân tích thực chứng: thu thập và phân tích số liệu nhằm khái quát và lý giải các vấn đề, nội dung liên quan đến công tác bả trợ xã hội,

từ đó đưa ra những nhận định chung về BTXH

- Phương pháp so sánh: Nhằm làm rõ sự khác biệt, sự tương đồng, sự biến động của các nhân tố tác động cũng như các số liệu thực tế phản ánh sự ảnh hưởng của BTXH, từ đó có căn cứ để nhận xét, đánh giá

- Phương pháp phân tích tổng hợp: Được sử dụng để phân tích từng nội dung chi tiết, qua đó tổng hợp, nhận xét, đánh giá về nội dung nghiên cứu để

có thể hiểu được các vấn đề liên quan đến công tác BTXH

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

- “Bảo trợ xã hội ở Việt Nam: khái niệm, thực trạng và giải pháp” của

Đặng Nguyên Anh [2] cho rằng đối với Việt Nam, BTXH như một lưới an toàn nhằm bảo đảm sự an toàn về đời sống của người dân khi họ bị rơi vào hoàn cảnh rủi ro và tự bản thân không khắc phục được Các hoạt động cứu trợ

Trang 15

xã hội (CTXH), giảm nghèo nhằm hạn chế nguy cơ dễ bị tổn thương ở những đối tượng yếu thế, mất nguồn thu nhập và sinh kế, và không có điều kiện tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản Đồng thời tác giả cũng đưa ra khái niệm:

“Bảo trợ xã hội là những giải pháp, sáng kiến nhằm đem lại thu nhập và dịch

vụ cơ bản cho các cá nhân và nhóm yếu thế, bảo vệ họ khỏi các nguy cơ đe dọa sinh kế, đói nghèo, giảm nhẹ tính dễ bị tổn thương, thúc đẩy công bằng

xã hội” Bên cạnh đó, BTXH xem xét sự trợ giúp dưới ba hình thức: hỗ trợ thu nhập, trợ cấp xã hội và dịch vụ xã hội

- Theo quan điểm của Lê Bạch Dương và các tác giả (2005), [16] cho rằng, BTXH bao gồm ba chức năng chính là: các biện pháp nhằm nâng cao năng lực, bao gồm chủ yếu là những chính sách vĩ mô, chiến lược phát triển

và các biện pháp thể chế hỗ trợ; các biện pháp phòng ngừa nhằm giúp cho người dân khỏi rơi vào tình trạng khủng hoảng và cần đến sự bảo trợ; các biện pháp bảo vệ, bao gồm lưới an toàn theo nghĩa hẹp dành cho những đối tượng

bị tổn thương thông qua các khoản quyên góp bằng tiền mặt, hiện vật hoặc bằng sự hỗ trợ ngắn hạn khác Đồng thời, trong cuốn sách này, các tác giả nêu

rõ nhu cầu BTXH của ba nhóm thiệt thòi: nông dân nghèo, người khuyết tật

kể cả người nhiễm HIV/AIDS

- Theo quan điểm của Nguyễn Hải Hữu (2007), [18, 19, 20] và một số tác

giả có cùng quan điểm cho rằng, “Đối tượng bảo trợ xã hội cần được trợ cấp hằng tháng gồm: Trẻ em mồ côi; người già cô đơn; người từ 90 tuổi trở lên; người tàn tật; gia đình có từ hai người tàn tật trở lên là người tàn tật nặng không có khả năng tự phục vụ; người nhiễm HIV/AIDS; gia đình, người thân nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; trợ giúp về

y tế; giáo dục; dạy nghề, tạo việc làm; tiếp cận các công trình công cộng; hoạt động văn hóa thể thao và trợ giúp khẩn cấp” Từ đó kiến nghị giải pháp

tiếp tục hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội, khám chữa bệnh, giáo dục và

Trang 16

và những giải pháp chủ yếu nâng cao vai trò của nhà nước trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam

- “Hệ thống chính sách An sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng phát triển” của Nguyễn Hữu Dũng [14], tác giả chỉ ra rằng chính sách

ASXH có phạm vi bao phủ rộng, gồm các chính sách thị trường lao động và việc làm, chính sách BHXH và BHYT, chính sách trợ giúp xã hội và chương trình mạng lưới an toàn xã hội Nhìn chung hệ thống chính sách ASXH của Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế như thiếu tính hệ thống, thiếu tính liên kết hỗ trợ lẫn nhau, tỷ lệ bao phủ còn thấp,…

- “Xây dựng và hoàn thiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam” của Mai Ngọc Cường [11] đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của chính sách an

sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường; thực trạng hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay; phương hướng, giải pháp xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam Cuốn sách đã chỉ rõ tác động mặt trái của kinh tế thị trường: tình trạng phân hóa giàu nghèo, sự bất bình đẳng trong thu nhập, nguy cơ thất nghiệp và bệnh tật, đói nghèo

- “Chính sách an sinh xã hội – thực trạng và giải pháp” của Lê Quốc Lý [10] đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về những trở ngại trong thực thi

chính sách anh sinh xã hội; những trở ngại trong thực thi chính sách an sinh

xã hội ở Việt Nam gần đây thông qua việc đánh giá nhóm cán bộ thực thi và

Trang 17

đối tượng thụ hưởng chính sách; trên cơ sở mục tiêu, quan điểm thực thi chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2020 cuốn sách đã nêu lên 5 nhóm khắc phục những trở ngại trong thực thi chính sách an sinh xã hội ở nước ta: thiết kế và thực thi chính sách an xã hội, xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp, hoàn thiện bộ máy thực thi chính sách an sinh xã hội, nâng cao nhận thức của đối tượng thụ hưởng về chính sách an sinh xã hội

- “An sinh xã hội đối với nông dân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của Mai Ngọc Anh [1] đã đề cập đến một số vấn đề thực tiễn và cấp

bách đang được đặt ra trong thực tiễn nước ta: tác giả đã phân tích và làm rõ các hình thức ASXH truyền thống sẽ tồn tại và phát triển ra sao trong bối cảnh xuất hiện những hình thức ASXH hiện đại? Những hình thức hiện đại có thể thay thế các hình thức truyền thống của ASXH trong nông thôn hay không? Nếu có, thì mức độ thay thế sẽ như thế nào? Với tình trạng thu nhập thấp như hiện nay, Việt Nam có thể xây dựng được các chính sách ASXH hiện đại cho nông dân như các nước phát triển được hay không? Nếu có thì điều kiện nào để thực hiện được? Cuốn sách tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn; phân tích thực trạng để chỉ ra những thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra đối với việc xây dựng hệ thống ASXH đối với nông dân nước ta từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất phương hướng, giải pháp xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân ở nước ta những năm tới

Cùng với những nghiên cứu lý luận, trong thời gian qua, các cơ quan, tổ chức cũng đã thực hiện các nghiên cứu thực trạng đối tượng BTXH, tình hình thực hiện chính sách BTXH nhằm phục vụ cho công tác quản lý, tổ chức thực thi chính sách cũng như đề xuất giải pháp thực hiện chính sách BTXH

- Hội thảo “Phát triển kinh tế và an sinh xã hội – từ lý luận đến thực tiễn các miền tỉnh miền Trung” của Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III

Trang 18

[21] Kỷ yếu hội thảo bao gồm các chuyên đề lý luận về an sinh xã hội; kết quả thực thi chính sách an sinh xã hội trên các lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, trợ cấp xã hội, BHXH, Bảo hiểm y tế (BHYT), nhà ở xã hội ở Miền Trung – Tây Nguyên, thành phố Đà Nẵng

Tổng quan nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn về hoạt động BTXH ở Việt Nam cho thấy, bước đầu đã có được cơ sở lý luận về đối tượng BTXH, đánh giá thực trạng đời sống đối tượng và các nhu cầu của đối tượng làm cơ

sở để đề ra giải pháp Các nghiên cứu về cơ sở lý luận đã xây dựng được phương pháp tiếp cận, xác định đối tượng, phạm vi các chính sách, hệ thống

tổ chức thực thi, điểm mạnh, điểm hạn chế của các quan điểm tiếp cận và đề xuất đối với Việt Nam, các đề xuất, kiến nghị các giải pháp tăng cường năng lực thực thi Tuy nhiên, chưa có các nghiên cứu, bài viết nào đi sâu vào hoạt động BTXH ở các vùng địa phương nước ta

Tính đến thời điểm này, chưa có nghiên cứu nào đề cập đến thực trạng công tác BTXH trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, để từ đó đề ra giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện công tác bảo trợ trong thời gian tới

Từ đó cho thấy rằng việc lựa chọn đề tài “Hoàn thiện công tác bảo trợ

xã hội trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” để làm đề tài nghiên

cứu là cần thiết

Trang 19

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BTXH 1.1 KHÁI QUÁT VỀ BTXH

1.1.1 Một số khái niệm

a Bảo trợ xã hội

Có thể thấy trong những năm gần đây thuật ngữ “bảo trợ xã hội” thường xuyên xuất hiện trong các tài liệu nghiên cứu và các thảo luận chính sách trong nhiều hội thảo BTXH là một thuật ngữ được dịch ra từ cụm từ social protection Tuy nhiên khái niệm này còn phụ thuộc vào cách sử dụng và cách đặt vấn đề ở mỗi quốc gia

Theo Ngân hàng Thế Giới (WB) định nghĩa: “BTXH là những biện pháp công cộng nhằm giúp các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng ứng phó và kiềm chế được nguy cơ có tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tốn thương

và những bấp bênh thu nhập.” [2]

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì : “BTXH là việc cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế nhà nước hoặc tập thể, cộng đồng nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp ”[2]

Theo Viện nghiên cứu Phát triển Hải ngoại (ODI): “BTXH là những hành động công ích nhằm giảm thiểu tính tổn thương, nguy cơ gây sốc và sự bần cùng hóa, là những điều không thể chấp nhận được về mặt xã hội.”[2]

Trong định nghĩa của Ngân hàng Thế giới, tính dễ bị tổn thương được nhìn nhận theo những nguy cơ liên quan đến sự mất ổn định thu nhập và tiêu dùng Còn Tổ chức Lao động Quốc tế thì có xu hướng định nghĩa sự BTXH theo mức sống và quyền của con người,…

Ở nước ta từ thời kỳ phong kiến, những hoạt động mang tính BTXH đã được hình thành như quỹ “nghĩa điền”, quỹ “nghĩa thương”, các hội,

Trang 20

phường,… nhằm cưu mang những người nghèo đói, bất hạnh Bên cạnh đó, các triều đại vua chúa thường ban phát, cứu giúp những người khốn khó, đói nghèo những lúc mất mùa, thiên tai, hoạn nạn Đến thời kỳ Pháp thuộc, bên cạnh việc thực hiện các hình thức BTXH truyền thống trong từng cộng đồng làng, xã, thực dân Pháp đã xây dựng lên những cô nhi viện, nhà tế bần, thực hiện một số chế độ trợ cấp tai nạn lao động, ốm đau cho thợ mỏ, chế độ hưu bổng cho những người làm việc trong bộ máy nhà nước Ngay sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Chính phủ đã tập trung vào các lĩnh vực CTXH, ưu đãi xã hội và thực hiện chế độ một số quyền lợi của BHXH cho một số đối tượng nhất định

Theo Bộ Lao động – Thương binh và xã hội (1999), “Bảo trợ xã hội là thực hiện các chính sách, chế độ, các hoạt động của chính quyền các cấp và hoạt động của cộng đồng xã hội dưới các hình thức và biện pháp khác nhau, nhằm giúp các đối tượng thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc sống có điều kiện tồn tại và có cơ hội hòa nhập với cuộc sống chung của cộng đồng góp phần bảo đảm ổn định và công bằng xã hội.” [6]

Bên cạnh đó còn có khái niệm “cứu trợ xã hội là sự cứu tế và trợ giúp của nhà nước, cộng đồng xã hội đối với các thành viên của mình khi họ lâm vào hoàn cảnh khó khăn đặc biệt vì các nguyên nhân khác nhau nhằm giúp họ vượt qua hoàn cảnh khó khăn, tái hòa nhập đời sống cộng đồng xã hội.”[9]

Mặc dù, với những diễn đạt khác nhau, các khái niệm về BTXH đều có những đặc điểm chung là sự bảo đảm an toàn thu nhập ở mức tối thiểu thông qua hệ thống các chính sách can thiệp nhằm hạn chế các rủi ro liên quan đến nhu cầu cơ bản nhất của con người: rủi ro về sức khỏe, thiếu hoặc mất việc làm, tuổi già, trẻ em, tàn tật,… dẫn đến không có thu nhập tạm thời hoặc vĩnh viễn so với mức sống tối thiểu

Trong phạm vi bài nghiên cứu này, tác giả chọn khái niệm theo quan

Trang 21

điểm Thuật ngữ Lao động Thương binh Xã hội của Bộ Lao động – Thương

binh và xã hội (1999) [6] làm định hướng chính

b Cơ sở của công tác BTXH

- Công bằng xã hội

Công bằng xã hội là một nguyên tắc phân phối lợi ích, thước đo của nó

là sự bình đẳng trong quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, được thực hiện dựa trên sự tự nguyện của các cá nhân Đó là một giá trị cơ bản trong các mối quan hệ xã hội như: quan hệ giữa mức độ lao động và mức độ thu nhập, quan

hệ giữa các thành viên xã hội với hoàn cảnh kinh tế, mức độ phát triển trí lực khác nhau và cơ hội tham gia vào quá trình giáo dục, y tế, hưởng thụ các sản phẩm văn hóa, thể thao,…

Các nhà kinh tế sử dụng hai khái niệm để bàn về vấn đề công bằng xã hội Đó là công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc.[36] Công bằng theo chiều ngang là sự đối xử như nhau đối với những người như nhau Có nghĩa là không phân biệt giới tính, dân tộc, độ tuổi,… những người có kết quả hoạt động kinh tế như nhau thì được đối xử như nhau

Công bằng theo chiều dọc là sự đối xử khác nhau đối với những người

có những khác biệt bẩm sinh hoặc có các điều kiện xã hội khác nhau do có khả năng và kỷ năng lao động khác nhau, cường độ làm việc khác nhau, sự khác nhau về giáo dục – đào tạo, thừa kế và chiếm hữu tài sản khác nhau, gánh chịu rủi ro khác nhau, Thực chất ở đây là lấy của người giàu, chia cho người nghèo

Trong một xã hội, cho dù được đối xử công bằng về chính trị, luật pháp, công bằng trong tự do tín ngưỡng tôn giáo, tự do sản xuất – kinh doanh trong khuôn khổ quy định của pháp luật, công bằng về thụ hưởng lợi ích kinh tế - văn hóa,… nhưng song song với đó vẫn có một bộ phận dân cư gánh chịu rủi

ro, bất trắc như : mồ côi, khuyết tật,… do vậy, xã hội cần có những chính sách

Trang 22

trợ giúp cho họ

Như vậy, bản chất của BTXH chính là tiến hành phân phối lại thu nhập quốc dân để đảm bảo công bằng xã hội và tăng phúc lợi cho người nghèo

- Phân phối lại thu nhập

Như đã nêu ở trên, để đảm bảo công bằng xã hội, Chính phủ phải tiến hành phân phối lại thu nhập Tức là tiến hành điều hòa lại mức thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, giảm bớt sự chênh lệch giữa những người có thu nhập cao và những đối tượng có mức thu nhập dưới mức tối thiểu

Chính phủ có thể trợ giúp cho người nghèo bằng cách chuyển giao tiền

tệ, chuyển giao hiện vật hoặc trợ cấp qua giá cả

Mục đích của việc phân phối lại thu nhập là góp phần phát triển cân đối giữa các ngành, các vùng, các địa phương; đảm bảo nhu cầu chi tiêu cho các khu vực phi sản xuất vật chất như văn hóa, giáo dục, y tế,… và điều tiết thu nhập của các chủ thể trong xã hội nhằm đảm bảo công bằng xã hội, quá trình này thường được thực hiện thông qua việc đánh thuế, trợ cấp và chi tiêu công cộng của Chính phủ

1.1.2 Đặc điểm của công tác BTXH

- Nhà nước là chủ thể chính thực hiện BTXH Nhà nước với pháp luật và nguồn ngân sách của mình sẽ định hướng và tổ chức thực hiện công tác BTXH Cụ thể, Nhà nước có trách nhiệm chính trong việc phân bổ các nguồn lực và thu nhập, chi tiêu ngân sách cho các chương trình, hoạt động trợ giúp

xã hội (TGXH)

- Tạo một môi trường công bằng cho các tầng lớp dân cư, cho người nghèo, cho người lao động, cho các đối tượng gặp biến cố rủi ro tham gia Ngoài việc giảm bớt, hạn chế những khó khăn cho đối tượng nghèo đói, hoạt động BTXH còn phải đa dạng hóa các hình thức hoạt động khác nhau để góp phần thúc đẩy xã hội phát triển

Trang 23

- Hoạt động BTXH mang tính chất nhân đạo, thể hiện truyền thống tương thân tương ái, đoàn kết giúp đỡ nhau của cộng đồng Trên cơ sở sự liên kết, hợp tác của cộng đồng những rủi ro, hoạn nạn được chia sẻ, đây là yếu tố phát huy sức mạnh của cộng đồng, phát huy giá trị truyền thống của dân tộc

ta

- Hoạt động BTXH góp phần phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, giữa những người lao động làm công ăn lương, giữa những người gặp khó khăn, biến cố rủi ro, giữa những người nghèo, người già cô đơn không nơi nương tựa …

- BTXH không nhằm mục đích lợi nhuận mà chủ yếu thực hiện mục đích

xã hội vì cộng đồng

- Thực hiện các chế độ trợ giúp tại hộ gia đình, cộng đồng nơi đối tượng thụ hưởng sinh sống và do cấp xã quản lý, tổ chức thực hiện Đồng thời thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng tập trung trong các trung tâm BTXH

- Các chính sách BTXH được cung cấp dựa vào nhu cầu của đối tượng thụ hưởng, không yêu cầu sự đóng góp của đối tượng thụ hưởng Nguồn tài chính chủ yếu lấy từ thuế (trong khi các chính sách an sinh xã hội khác, đặc biệt các chính sách về BHXH, BHYT được thực hiện thông qua nguyên tắc đóng hưởng với sự tham gia của doanh nghiệp, người lao động và nhà nước)

1.1.3 Ý nghĩa của công tác BTXH

- BTXH thể hiện đầy đủ và sâu sắc tính nhân đạo, tương ái cộng đồng của dân tộc Việt Nam, của Đảng và Nhà nước ta trong công tác chăm lo đời sống của mọi thành viên trong xã hội Mục tiêu cơ bản của BTXH là tạo môi trường công bằng cho các tầng lớp dân cư, cho người nghèo, cho người lao động, cho các đối tượng gặp biến cố rủi ro tham gia BTXH thể hiện truyền thống tương thân tương ái, đoàn kết giúp đỡ nhau của cộng đồng Trên cơ sở liên kết, hợp tác của cộng đồng, những rủi ro hoạn nạn được chia sẻ, đây là

Trang 24

yếu tố phát huy sức mạnh cộng đồng, giá trị truyền thống của dân tộc ta

- Dưới góc độ kinh tế, BTXH không vì mục đích kinh doanh lợi nhuận nhưng lại có ý nghĩa là công cụ phân phối lại tiền bạc, của cải và dịch vụ có lợi cho các thành viên bất hạnh của xã hội, thu hẹp dần sự chênh lệch mức sống, giảm bớt bần cùng, nghèo đói Nhà nước thông qua chính sách hỗ trợ người nghèo, các đối tượng yếu thế, điều chỉnh nguồn lực cho các vùng nghèo, vùng chậm phát triển, tạo nên sự phát triển hài hòa, giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng, hạn chế bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư, tạo nên sự đồng thuận giữa các tầng lớp, các nhóm xã hội trong quá trình phát triển và duy trì sự ổn định xã hội Bên cạnh đó, thông qua hỗ trợ người nghèo, người yếu thế tham gia thị trường lao động, giảm nghèo, giảm bất bình đẳng,… BTXH nâng cao nguồn vốn con người, tăng cường cơ hội phát triển con người và tăng cường sự hòa nhập…, là tiền đề cho tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và tăng cường gắn kết xã hội

- Đối với người được thụ hưởng, đây là nguồn tài chính đảm bảo cho họ

có được cuộc sống tối thiểu trong xã hội, giúp họ từng bước khắc phục khó khăn, hòa nhập cộng đồng; đồng thời là nguồn an ủi rất lớn về mặt tinh thần đối với nhóm đối tượng chịu thiệt thòi trong cuộc sống

- Hoàn thiện công tác BTXH là góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội Xét cho cùng trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia đều có chung một mục đích cuối cùng là đảm bảo và có những cải thiện nhất định cho hạnh phúc của mỗi người và đem lại lợi ích cho mọi người

1.2 NỘI DUNG CỦA HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BTXH

1.2.1 Mở rộng đối tượng được thụ hưởng BTXH

Đối tượng được BTXH là mọi thành viên trong xã hội khi có các sự cố xảy ra do nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau làm họ không đủ khả năng hoặc không tự lo được cuộc sống của bản thân và gia đình, cần có

Trang 25

sự trợ giúp, cứu tế từ Nhà nước và cộng đồng để đảm bảo mức sống tối thiểu Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng ngày càng rộng Nhiều văn bản pháp luật ra đời đã không ngừng mở rộng diện bao phủ đến các nhóm xã hội yếu thế cần trợ giúp; tiêu biểu là Nghị định số 07 của Chính phủ về chính sách CTXH, Nghị định số 168 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số

07, Nghị định số 67 về chính sách trợ giúp các đối tượng BTXH, Nghị định số

13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67 Nhìn chung, các nghị định này tập trung vào cá nhân, nhóm yếu thế trong xã hội đang gặp khó khăn

về sức khỏe, bệnh tật, trẻ mồ côi, người khuyết tật, người già không nơi nương tựa Điểm nổi bật là các nghị định đã từng bước mở rộng, cập nhật đối tượng thụ hưởng nảy sinh do các biến cố kinh tế - xã hội Nếu Nghị định 07/2000 chỉ có 4 nhóm đối tượng thụ hưởng là trẻ em mồ côi, người già cô đơn, người tàn tật nặng, người tâm thần mãn tính thì Nghị định 67/2007 đã tăng lên đến 9 nhóm đối tượng, trong đó nhiều nhóm đối tượng mới được bổ sung như: người cao tuổi (85 tuổi trở lên); người nhiễm HIV/AIDS; hộ gia đình có từ 02 người trở lên tàn tật nặng, không có khả năng tự phục vụ; gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, Điều đáng lưu ý là hai Nghị định này sau khi ban hành 3 - 4 năm đã được sửa đổi, bổ sung một số điều nhằm tiếp tục điểu chỉnh tiêu chí xét đối tượng hưởng lợi Chẳng hạn, Nghị định 168/2004 bổ sung nhóm trẻ em nhiễm HIV dương tính, Nghị định 13/2010 mở rộng tới các đối tượng tàn tật nặng không có khả năng lao động không chỉ ở các hộ nghèo Sự điều chỉnh này dẫn đến đối tượng hưởng lợi TGXH thường xuyên tăng lên, với hai nhóm hưởng lợi mới là người cao tuổi và người nhiễm HIV/AIDS

Trong giai đoạn năm 2012 - 2016, đối tượng được hưởng BTXH bao gồm đối tượng hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên và đối tượng được hưởng TGXH đột xuất theo quy định của Nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày

Trang 26

13/4/2007 của Chính phủ áp dụng đến năm 2014 và Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ [28] áp dụng trong năm

2015 - 2016 Cụ thể :

- Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo nghị định 67:

+ Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; trẻ

em có cha và mẹ, hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt

tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng; trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc

hộ gia đình nghèo Người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nhưng đang đi học văn hóa, học nghề, có hoàn cảnh như trẻ em nêu trên

+ Người cao tuổi cô đơn, thuộc hộ gia đình nghèo; người cao tuổi còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo (theo chuẩn nghèo được Chính phủ quy định cho từng thời kỳ)

+ Người từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp BHXH + Người tàn tật nặng không có khả năng lao động hoặc không có khả năng tự phục vụ, thuộc hộ gia đình nghèo

+ Người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm và có kết luận bệnh mãn tính, sống độc thân không nơi nương tựa hoặc gia đình thuộc diện hộ nghèo

+ Người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động, thuộc hộ gia đình nghèo

+ Gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi + Hộ gia đình có từ 02 người trở lên tàn tật nặng, không có khả năng tự phục vụ

Trang 27

+ Người đơn thân thuộc diện hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi; trường hợp con đang đi học văn hoá, học nghề được áp dụng đến dưới 18 tuổi

- Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo nghị định 136:

+ Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thuộc một trong các trường hợp quy định sau đây:

* Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;

* Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang trong thời gian chấp hành

án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

* Cả cha và mẹ mất tích theo quy định của pháp luật;

* Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở BTXH, nhà xã hội;

* Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

* Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở BTXH, nhà xã hội;

* Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục

Trang 28

bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

* Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở BTXH, nhà xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc

+ Người từ 16 tuổi đến 22 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng theo quy định mà đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất

+ Trẻ em bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo; người bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo không còn khả năng lao động mà không có lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng, trợ cấp ưu đãi người có công hàng tháng, trợ cấp hàng tháng khác

+ Người thuộc hộ nghèo không có chồng hoặc không có vợ; có chồng hoặc vợ đã chết; có chồng hoặc vợ mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi hoặc đang nuôi con từ 16 tuổi đến 22 tuổi nhưng người con đó đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất (sau đây gọi chung là người đơn thân nghèo đang nuôi con)

+ Người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

* Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng;

* Người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc diện trên này mà không có lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng;

* Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở BTXH, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng

Trang 29

+ Trẻ em khuyết tật, người khuyết tật thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội theo quy định của pháp luật về người khuyết tật [26]

- Đối tượng hưởng TGXH đột xuất theo nghị định 67: là những người,

hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc những lý do bất khả kháng khác gây ra, bao gồm:

+ Hộ gia đình có người chết, mất tích;

+ Hộ gia đình có người bị thương nặng;

+ Hộ gia đình có nhà bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng;

+ Hộ gia đình bị mất phương tiện sản xuất, lâm vào cảnh thiếu đói;

+ Hộ gia đình phải di dời khẩn cấp do nguy cơ sạt lở đất, lũ quét;

+ Người bị đói do thiếu lương thực;

+ Người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú dẫn đến bị thương nặng, gia đình không biết để chăm sóc;

+ Người lang thang xin ăn trong thời gian tập trung chờ đưa về nơi cư trú

- Đối tượng hưởng TGXH đột xuất theo nghị định 136:

+ Hộ gia đình thiếu đói trong và sau thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa, giáp hạt hoặc lý do bất khả kháng khác

+ Người bị thương nặng do thiên tai, hỏa hoạn; tai nạn giao thông, tai nạn lao động đặc biệt nghiêm trọng hoặc các lý do bất khả kháng khác tại nơi

cư trú hoặc ngoài nơi cư trú

+ Hộ gia đình có người chết, mất tích do thiên tai, hỏa hoạn; tai nạn giao thông, tai nạn lao động đặc biệt nghiêm trọng hoặc các lý do bất khả kháng khác

+ Hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn có nhà ở

bị đổ, sập, trôi, cháy hoàn toàn do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác mà không còn nơi ở

Trang 30

+ Hộ phải di dời nhà ở khẩn cấp theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền do nguy cơ sạt lở, lũ, lụt, thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác

+ Hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn có nhà ở

bị hư hỏng nặng do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác mà không ở được

+ Trẻ em có cả cha và mẹ chết, mất tích do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác mà không còn người thân thích chăm sóc, nuôi dưỡng được hỗ trợ theo quy định

+ Hộ gia đình bị mất phương tiện, tư liệu sản xuất chính do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác, mất việc làm được xem xét trợ giúp tạo việc làm, phát triển sản xuất

Phải mở rộng đối tượng được thụ hưởng BTXH bởi vì như đã nói ở trên, nước ta với các yếu tố địa lý, lịch sử, kinh tế xã hội nên có rất nhiều đối tượng cần được BTXH

Mở rộng đối tượng được hưởng BTXH bằng cách sửa đối, bổ sung những điểm bất hợp lý về quy định các đối tượng được hưởng BTXH

Mặc dù đối tượng thụ hưởng BTXH ngày càng mở rộng, tuy nhiên hiện nay vẫn còn một số đối tượng cũng cần được quan tâm, hỗ trợ nhưng vẫn chưa được đề cập đến chẳng hạn như đối tượng đang gặp khó khăn về lao động, việc làm, nhóm lao động làm việc ở các khu vực phi chính thức ở nước

ta hiện nay, việc làm của họ bấp bênh, mức lương thấp và chưa được hưởng chế độ phúc lợi đầy đủ của chủ doanh nghiệp

Đối với đối tượng hưởng TGXH đột xuất có thể mở rộng cho cả những

cá nhân gặp khó khăn đột xuất mà không phải do nguyên nhân khách quan, như: nạn nhân của bạo lực gia đình, nạn nhân của việc buôn bán phụ nữ, trẻ

em, nạn nhân của bạo lực học đường, nạn nhân của nạn ấu dâm,… nhằm tạo

Trang 31

điều kiện giúp đỡ cá nhân, hộ gia đình có thêm nguồn thu nhập cải thiện cuộc sống hoặc khắc phục khó khăn trước mắt để vươn lên

Bên cạnh đó, theo dự báo trong thời gian tới, do tác động của vấn đề già hóa dân số, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, tai nạn lao động và nhiều vấn đề khác, số lượng người khuyết tật nước ta sẽ gia tăng Do đó, mở rộng đối tượng được thụ hưởng BTXH là cần thiết

Mở rộng đối tượng được thụ hưởng thể hiện sự gia tăng theo thời gian của số lượng người được thụ hưởng Tiêu chí đánh giá việc mở rộng đối tượng được thu hưởng BTXH là tổng số đối tượng được thụ hưởng BTXH, tỷ

lệ đối tượng được thụ hưởng trên tổng dân số

1.2.2 Tăng mức BTXH

Tăng mức BTXH là gia tăng khối lượng bảo trợ cho các đối tượng được thụ hưởng, tăng phụ cấp, mức tài trợ,…

Hiện nay, mức BTXH được thực hiện dưới hai phương thức:

- Trợ cấp xã hội hàng tháng: là hình thức trợ cấp đối với những đối tượng bảo trợ trong một thời gian dài và liên tục

- Trợ giúp xã hội đột xuất: là sự hỗ trợ, giúp đỡ về vất chất, tinh thần cho những người gặp rủi ro do thiên tai hay những lý do bất khả kháng khác giúp

họ vượt qua hoàn cảnh hiểm nghèo

Cụ thể như sau:

- Về phương thức trợ cấp xã hội hàng tháng:

+ Tại Điều 7, Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ [28] về chính sách trợ giúp các đối tượng BTXH quy định mức chuẩn trợ cấp, TGXH bắt đầu từ năm 2007 là 120.000 đồng

+ Đến Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ [28] về chính sách TGXH đối với đối tượng BTXH thì tại điều 4 đã quy định mức chuẩn trợ cấp, TGXH bắt đầu từ năm 2014 là 270.000 đồng

Trang 32

+ Tùy theo từng đối tượng mà có hệ số trợ cấp tương ứng là 1.0, 1.5, 2.0, 2.5, 3.0, 4.0; đối với nghị định 136 thì có tăng thêm hệ số 5.0 Như vậy, mức tối thiểu ở nghị định 67 là 120.000 đồng, tối đa là 480.000 đồng, ở nghị định

136 thì mức tối thiểu là 270.000 đồng và mức tối đa là 1.350.000 đồng

+ Ngoài mức hỗ trợ kinh phí từng tháng như trên thì các đối tượng thụ hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng còn được hỗ trợ cấp thẻ BHYT, trợ giúp giáo dục, đào tạo và dạy nghề,

hỗ trợ chi phí mai táng

+ Bên cạnh đó, ở nghị định 136 còn quy định cá nhân, hộ gia đình nhận chăm sóc nuôi dưỡng đối tượng BTXH hàng tháng cũng được hỗ trợ mức kinh phí từ tối thiểu 270.000 đồng đến tối đa là 810.000 đồng, tùy thuộc vào đối tượng và số lượng đối tượng được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng

+ Đối với đối tượng được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở BTXH, nhà xã hội thì ngoài khoản hỗ trợ kinh phí hàng tháng theo quy định còn được hỗ trợ cấp thẻ y tế miễn phí; hỗ trợ chi phí mai táng khi chết với mức bằng 20 lần mức chuẩn TGXH; cấp vật dụng phục vụ cho sinh hoạt thường ngày, chăn, màn, chiếu, quần áo mùa hè, quần áo mùa đông, quần áo lót, khăn mặt, giày, dép, bàn chải đánh răng, thuốc chữa bệnh thông thường, vệ sinh cá nhân hàng tháng đối với đối tượng nữ trong độ tuổi sinh đẻ, sách, vở, đồ dùng học tập đối với đối tượng đang đi học và các chi phí khác theo quy định; hỗ trợ giáo dục, đào tạo và tạo việc làm

- Về phương thức TGXH đột xuất, mức hỗ trợ như sau:

+ Theo nghị định 67:

* Đối với hộ gia đình: Có người chết, mất tích: 3.000.000 đồng/người;

có người bị thương nặng: 1.000.000 đồng/người; có nhà bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng: 5.000.000 đồng/hộ; hộ gia đình phải di dời khẩn cấp do nguy cơ sạt lở đất, lũ quét: 5.000.000 đồng/1hộ

Trang 33

* Đối với cá nhân: Trợ giúp cứu đói: 15 kg gạo/người/tháng, trong thời gian từ 1 đến 3 tháng; người gặp rủi ro ngoài vùng cư trứ bị thương nặng, gia đình không biết để chăm sóc: 1.000.000 đồng/người; người lang thang xin ăn trong thời gian tập trung chờ đưa về nơi cư trú: 10.000 đồng/người/ngày nhưng không quá 30 ngày Trường hợp đặc biệt cần phải kéo dài thì thời gian được hưởng trợ cấp tối đa không quá 3 tháng và mức trợ cấp bằng mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng tại cơ sở BTXH; đối với người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú bị chết, gia đình không biết để mai táng được Ủy ban nhân dân cấp xã, bệnh viện, cơ quan, đơn vị tổ chức mai táng thì các cơ quan, đơn vị đứng ra mai táng được hỗ trợ kinh phí mai táng thấp nhất là 2.000.000 đồng

* Hộ gia đình có người là lao động chính bị chết, mất tích; hộ gia đình bị mất phương tiện sản xuất; hộ gia đình có nhà bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng, lâm vào cảnh bị đói do thiếu lương thực, ngoài khoản trợ cấp nêu trên thì được xem xét trợ giúp thêm các khoản sau cho đến khi hộ thoát khỏi diện nghèo: miễn, giảm học phí cho người đang học văn hoá, học nghề; được cấp thẻ BHYT hoặc khám chữa bệnh miễn phí tại các cơ sở chữa bệnh của Nhà nước; được vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất

* Hỗ trợ đối tượng thuộc diện người bị thương nặng với mức bằng 10 lần mức chuẩn TGXH

* Hỗ trợ chi phí mai táng cho đối tượng thuộc diện hộ gia đình có người chết, mất tích do thiên tai với mức bằng 20 lần mức chuẩn TGXH

Trang 34

* Hỗ trợ làm nhà ở không quá 20.000.000 đồng/ hộ, hỗ trợ sửa chữa nhà

ở không quá 15.000.000 đồng/ hộ

Phải tăng mức BTXH vì nhu cầu thiết yếu cho mức sống tối thiểu ngày càng tăng lên, các chính sách cho hoạt động bảo trợ không thể cố định và được điều chỉnh tăng dần khi nguồn tăng, từ đó đối tượng được hưởng cần được tăng mức bảo trợ

Mặc dù mức trợ cấp xã hội thường xuyên trong thời gian qua đã phần nào giảm bớt khó khăn và cải thiện cuộc sống cho các nhóm đối tượng thụ hưởng, tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều bất cập như mức trợ cấp còn thấp, mang tính bình quân Chính sách trợ cấp hàng tháng đối với người từ đủ 80 tuổi trở lên không có lương hưu, trợ cấp BHXH còn cào bằng, chưa phân biệt giữa người nghèo và người có mức sống cáo, khá giá Một bất cập lớn nữa là việc điều chỉnh mức trợ cấp chưa kịp thời so với các yếu tố khác như: tiền lương, biến động của giá cả thị trường,… Từ năm 2011 đến năm 2016 mức trợ cấp xã hội ở cộng đồng được điều chỉnh tăng 2 lần từ 180.000 đồng/tháng lên 270.000 đồng/tháng, trong khi đó tiền lương tối thiểu thời gian này đã thay đổi 4 lần từ 830.000 đồng/ tháng – 1.050.000 đồng/tháng – 1.150.000 đồng/tháng và đến 2016 là 1.210.000 đồng/ tháng Những bất cập này đã ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của nhóm thụ hưởng Điều này, đòi hỏi phải

có sự điều chỉnh tăng mức bảo trợ một cách phù hợp

Tăng mức BTXH bằng cách tăng số lần cung cấp dịch vụ BTXH, tăng lượng cung cấp bình quân trên một lần cho các nhóm đối tượng được thụ hưởng

Tiêu chí đánh giá cho việc tăng mức BTXH là mức trợ cấp bình quân cho các nhóm đối tượng thụ hưởng

1.2.3 Phát triển các phương thức BTXH

Phương thức BTXH là cách thức tiến hành phân bổ nguồn lực tài chính

Trang 35

đến các đối tượng được BTXH theo các nguyên tắc nhất định

Các phương thức BTXH truyền thống bao gồm trợ giúp thường xuyên (TGTX) và trợ giúp đột xuất (TGĐX) bằng các hình thức như: bảo trợ bằng tiền, hiện vật, … đã đem lại những hiệu quả nhất định

Xây dựng các chính sách trợ giúp cho các đối tượng đặc thù như người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Bên cạnh đó cần tiếp tục đẩy mạnh phát triển phương thức tài trợ giá thông các chính sách như:

- Tài trợ giá thông qua chính sách BHYT Hỗ trợ miễn giảm một phần hoặc toàn bộ chi phí khám chữa bệnh, điều trị phục hồi chức năng, chăm sóc sức khỏe nhằm chia sẻ nguy cơ bệnh tật và giảm bớt gánh nặng tài chính cho các đối tượng BTXH Chính sách này trợ giúp cho các đối tượng BTXH được tiếp cận với các dịch vụ y tế, từ đó góp phần tích cực vào việc nâng cao sức khỏe cho đối tượng bảo trợ, thực hiện mục tiêu nhân đạo trong lĩnh vực y tế

và công bằng xã hội

- Tài trợ giá thông qua việc miễn giảm học phí khi tham gia học văn hóa hay học nghề Khi các đối tượng BTXH có nhu cầu tiếp cận với giáo dục, học văn hóa sẽ được hưởng chính sách miễn hoặc giảm từ 50% đến 70% học phí Đối với những đối tượng muốn trao dồi năng lực bản thân, tìm kiếm việc làm

để tạo thu nhập ổn định đảm bảo cuộc sống thì Nhà nước có chính sách hỗ trợ đào tạo nghề Với chính sách này đã giúp cho các đối tượng BTXH có điều kiện nâng cao nhận thức của bản thân, giảm thiểu những khó khăn, hội nhập

và phát triển từ đó tăng cường sự đóng góp cho xã hội và cộng đồng

- Tài trợ giá thông qua tín dụng ưu đãi Các đối tượng BTXH muốn tiến hành các hoạt động để tạo thu nhập, giảm bớt một phần gánh nặng tài chính cho xã hội, họ sẽ được hỗ trợ vay vốn với lãi suất ưu đãi hoặc hỗ trợ một phần

về vốn sản xuất

Trang 36

Cần phải liên tục phát triển các phương thức BTXH để phù hợp với nhu cầu cứu trợ khác nhau của các đối tượng

Tiêu chí đánh giá phát triển các phương thức BTXH là:

- Chi ngân sách cho từng hình thức bảo trợ

- Chi ngân sách cho mỗi đối tượng trong từng hình thức bảo trợ

1.2.4 Nâng cao chất lƣợng công tác BTXH

Mức độ hài lòng và thỏa mãn của đối tượng được thụ hưởng cũng như hành vi thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ làm công tác BTXH chính là thước đo chất lượng của công tác BTXH

Hiện nay, các thủ tục hành chính, quy trình giải quyết chính sách còn phức tạp, khó tiếp cận Sự tham gia chồng chéo của các bộ, ngành đem lại hiệu quả không cao; cán bộ chức năng có thiếu năng lực, thực thi sai chính sách trợ giúp

Bên cạnh đó, phần lớn các cơ sở BTXH công lập được đầu tư từ nhiều năm trước, hiện nay đã xuống cấp, trang thiết bị lạc hậu hoặc thiếu thốn, chưa đáp ứng được nhu cầu của các đối tượng BTXH

Cùng với xu thế phát triển của xã hội và quá trình chuyển đổi sang kinh

tế thị trường diễn ra ngày càng nhanh và hội nhập quốc tế sâu rộng thì các nguy cơ, rủi ro kinh tế và xã hội ngày càng có xu hướng tăng, như khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu, thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu Là nước đang phát triển với điều kiện địa lý, tự nhiên đặc thù, sản xuất phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết nên nước ta luôn gặp phải rủi ro thiên tai, ảnh hưởng đến sinh kế và thu nhập của người dân, đặc biệt là làm cho đời sống của những đối tượng yếu thế ngày càng khó khăn hơn Do đó, đòi hỏi chất lượng công tác BTXH phải cần được nâng cao nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các đối tượng được bảo trợ

Để nâng cao chất lượng công tác BTXH thì cần phải:

Trang 37

- Cải tiến trình tự cung cấp từ khi xác định được đối tượng bảo trợ đến các đối tượng thụ hưởng phải nhanh gọn, kịp thời, đúng đối tượng, đảm bảo tính công bằng và minh bạch Đồng thời tạo cho người thụ hưởng có cơ hội trong việc lựa chọn phương thức phù hợp với nhu cầu sử dụng của mình

- Áp dụng các tiêu chuẩn nghiệp vụ dành cho cán bộ chức năng để nâng cao năng lực, trình độ trong công tác thực thi chính sách phục vụ đối tượng BTXH

- Tăng cường quan tâm, đầu tư, nâng cấp các cơ sở bảo trợ, nhà ở xã hội đáp ứng nhu cầu cần thiết của các đối tượng BTXH

Tiêu chí để đánh giá chất lượng công tác BTXH là:

- Trình độ của cán bộ chuyên trách

- Mức độ hài lòng của đối tượng BTXH

- Chất lượng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ cho đối tượng BTXH

1.2.5 Mở rộng mạng lưới công tác BTXH

Mạng lưới công tác BTXH là các điểm, cơ sở cung cấp các dịch vụ, các nguồn trợ ,… cho các đối tượng được bảo trợ

Mở rộng mạng lưới công tác BTXH liên quan đến đội ngũ cán bộ quản

lý, thực hiện công tác BTXH; các cơ quan chức năng liên quan đến công tác BTXH; số lượng các trung tâm ;…

Việc mở rộng mạng lưới công tác BTXH giúp cho các đối tượng thụ hưởng được tiếp cận nhanh, chính xác và đúng đối tượng nguồn ngân sách được hỗ trợ theo quy định của pháp luật

Để mở rộng mạng lưới công tác BTXH cần thực hiện những nội dung sau:

- Tăng cường thêm đội ngũ cán bộ quản lý, thực hiện công tác BTXH

- Mở rộng thêm hệ thống các cơ quan chức năng liên quan đến công tác BTXH

- Xây thêm các trung tâm BTXH và nhà nuôi dưỡng cho các đối tượng

Trang 38

Nếu không mở rộng mạng lưới BTXH thì không thể đẩy mạnh được hoạt động bảo trợ, các đối tượng được thụ hưởng dịch vụ sẽ bị hạn chế Dó đó, phải nghiên cứu đối tượng, nghiên cứu quy mô đối tượng và nghiên cứu khả năng mở các điểm cung cấp để đối tượng thụ hưởng được tiếp cận nhanh nhất

và hiệu quả nhất

Mở rộng mạng lưới bảo trợ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức đoàn thể, cá nhân tham gia tài trợ, chi trực tiếp cho các đối tượng thụ hưởng hoặc huy động đóng góp cho ngân sách chi cho hoạt động BTXH

1.2.6 Tăng nguồn thu để phục vụ cho công tác BTXH

Nguồn thu để phục vụ cho công tác BTXH là nguồn tài chính có được từ các chương trình được thiết kế để trợ giúp cho những người yếu thế đạt được mức sống tối thiểu cần thiết và cải thiện cuộc sống của họ

Nguồn thu cho công tác BTXH bao gồm từ tài trợ của Nhà nước, nguồn tài trợ từ các tổ chức đoàn thể, cá nhân, các doanh nghiệp trong cộng đồng, nguồn tài trợ từ các tổ chức phi chính phủ, nguồn tài trợ từ quốc tế

Trong đó nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước đóng vai trò chủ đạo, đảm bảo chi cho các đối tượng BTXH được hưởng trợ cấp xã hội Hằng năm,

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ quyết định khoản kinh phí cho BTXH phù hợp với tình hình thực tế của từng địa phương Phân cấp rõ ràng nguồn kinh phí TGXH, kinh phí nuôi dưỡng, kinh phí hoạt động bộ máy, kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản của các cơ sở BTXH, nhà xã hội tại cộng đồng thuộc cấp nào thì

Trang 39

sự thay đổi, từ chỗ hoạt động với quy mô nhỏ lẻ, số lượng ít, nay phát triển với quy mô lớn hơn, diện bao phủ rộng hơn vì vậy cũng đòi hỏi một lượng tiền tài trợ nhiều hơn Do vậy cần phải tăng nguồn thu để đảm bảo cho công tác BTXH được hoàn thiện

Để tăng được nguồn thu cho công tác BTXH thì ngoài việc tiếp tục duy trì nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước cần tăng mức độ tham gia đóng góp của cá nhân, gia đình và các tổ chức đoàn thể, kinh doanh Thu hút nguồn viện trợ từ nước ngoài

Chỉ tiêu để đánh giá nguồn thu này là :

- Tổng kinh phí phục vụ cho đối tượng được hưởng BTXH

- Tỷ lệ kinh phí chi cho công tác BTXH trên tổng chi ngân sách thường xuyên của địa phương

1.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC BTXH

1.3.1 Nhân tố phi kinh tế tác động đến công tác BTXH

- Nhân tố chính trị có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của hệ thống an sinh xã hội, trong đó có hoạt động BTXH Bởi khi tiến hành các hoạt động BTXH nó đóng vai trò như một tấm chắn, giúp cho nhiều tầng lớp nhân dân nhất là những tầng lớp dưới cùng của xã hội khỏi phải rơi vào vòng xoáy của đói nghèo Hệ thống chính trị sẽ quyết định quan điểm và định hướng phát triển của công tác BTXH Công cụ để hệ thống chính trị quyết định đến quan điểm và định hướng công tác BTXH chính là hệ thống các văn bản pháp luật,

tổ chức hoạch định và thực thi chính sách Những công cụ này có phù hợp, tương đồng với nhu cầu thực tiễn hay không là yếu tố quan trọng tạo nên hiệu quả của công tác BTXH

- Nhân tố nhận thức, văn hóa – xã hội quyết định đến các giải pháp, biện pháp và các công cụ phù hợp để đưa chính sách vào cuộc sống Những quan điểm, nhận thức sai lầm về công tác bảo trợ như coi công tác BTXH chỉ là hoạt

Trang 40

động nhân đạo làm cho những sự trợ giúp đó không đem lại hiệu quả lâu dài, đồng thời tạo tính ỉ lại, phụ thuộc, trông chờ cho một số đối tượng bảo trợ

- Bên cạnh đó, sự phát triển của mạng lưới BTXH; sự năng nổ, nhiệt tình

và năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác BTXH cũng có tác động và ảnh hưởng nhất định đến hoạt động BTXH

1.3.2 Nhân tố kinh tế tác động đến công tác BTXH

- Một quốc gia có nền kinh tế phát triển thì sẽ phát triển sâu rộng, đầy đủ các chính sách BTXH, các đối tượng bảo trợ có được điều kiện thuận lợi để tiếp cận và hưởng thụ nhiều hơn từ những dịch vụ của xã hội, với một chất lượng tốt hơn và kịp thời hơn Tạo cơ hội và năng lực cho các đối tượng bảo trợ tự vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập cộng đồng

- Khi đối tượng BTXH hòa nhập cuộc sống cộng đồng, bản thân đối tượng cũng tạo ra được thu nhập, đóng góp một phần vào sự tăng trưởng kinh

tế và quan trọng hơn là nó làm giảm chi ngân sách Nhà nước cho các đối tượng BTXH khi họ đã tự đảm bảo được cuộc sống

- Kinh tế tăng trưởng, thu nhập của người dân tăng lên sẽ ảnh hưởng tích cực đến hoạt động BTXH Bằng các chính sách thuế phù hợp sẽ góp phần tăng nguồn thu ngân sách Nhà nước, là cơ sở để đẩy mạnh các hoạt động BTXH, đây cũng là thực hiện việc phân phối lại thu nhập từ người giàu sang người nghèo và người yếu thế, thực hiện mục tiêu công bằng xã hội

- Tình trạng ngân sách quốc gia cũng có ảnh hưởng nhất định đến việc thiết kế, hoạch định các chính sách BTXH của quốc gia trong từng thời kỳ Nguồn ngân sách của quốc gia ổn định sẽ là yếu tố đảm bảo cho việc thực hiện các chính sách BTXH

Ngày đăng: 04/04/2022, 22:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Mai Ngọc Anh (2010), An sinh xã hội đối với nông dân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: An sinh xã hội đối với nông dân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Anh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
[2] Đặng Nguyên Anh (2013), “BTXH ở Việt Nam: khái niệm, thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Xã hội học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: BTXH ở Việt Nam: khái niệm, thực trạng và giải pháp”, "Tạp chí Xã hội học
Tác giả: Đặng Nguyên Anh
Năm: 2013
[3] Bùi Quang Bình (2010), Giáo trình kinh tế phát triển, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế phát triển
Tác giả: Bùi Quang Bình
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
[6] Bộ Lao động – Thương binh và xã hội (1999), Thuật ngữ Lao động Thương binh Xã hội, NXB LĐXH HÀ Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ Lao động Thương binh Xã hội
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và xã hội
Nhà XB: NXB LĐXH HÀ Nội
Năm: 1999
[10] Lê Quốc Lý (2014), Chính sách an sinh xã hội – thực trạng và giải pháp, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách an sinh xã hội – thực trạng và giải pháp
Tác giả: Lê Quốc Lý
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2014
[11] Mai Ngọc Cường [2009], Xây dựng và hoàn thiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam, Tạp chí Kinh tế phát triển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và hoàn thiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam
[12] Nguyễn Văn Chiểu (2014), Chính sách an sinh xã hội và vai trò của nhà nước trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách an sinh xã hội và vai trò của nhà nước trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Chiểu
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2014
[13] Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
[14] Nguyễn Hữu Dũng (2010), “Hệ thống chính sách An sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng phát triển”. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh, (26) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chính sách An sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng phát triển”
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Năm: 2010
[15] Nguyễn Ngọc Dũng (2012), Đẩy mạnh hoạt động BTXH ở tỉnh Quảng Nam, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh hoạt động BTXH ở tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Dũng
Năm: 2012
[16] Lê Bạch Dương, Đặng Nguyên Anh, Khuất Thu Hồng, Lê Hoài Trung, Bach, Robert Leroy (2005), BTXH cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: BTXH cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam
Tác giả: Lê Bạch Dương, Đặng Nguyên Anh, Khuất Thu Hồng, Lê Hoài Trung, Bach, Robert Leroy
Năm: 2005
[17] Nguyễn Thu Hà (2016), Hoàn thiện công tác an sinh xã hội trên địa bàn thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện công tác an sinh xã hội trên địa bàn thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông
Tác giả: Nguyễn Thu Hà
Năm: 2016
[18] TS Trần Hồng Hải, TS Lê Thị Thúy Hương, (2011), Pháp luật an sinh xã hội kinh nghiệm của một số nước đối với Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật an sinh xã hội kinh nghiệm của một số nước đối với Việt Nam
Tác giả: TS Trần Hồng Hải, TS Lê Thị Thúy Hương
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2011
[19] Nguyễn Thị Lan Hương (2013), “Phát triển hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2020”, Viện Khoa học Lao động và xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2020”
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Hương
Năm: 2013
[21] Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III (2012), Phát triển kinh tế và an sinh xã hội – từ lý luận đến thực tiễn các tỉnh Miền Trung, Hội thảo khoa học, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế và an sinh xã hội – từ lý luận đến thực tiễn các tỉnh Miền Trung
Tác giả: Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III
Năm: 2012
[22] Nguyễn Hải Hữu (2007), Giáo trình nhập môn an sinh xã hội, NXB Lao động – xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nhập môn an sinh xã hội
Tác giả: Nguyễn Hải Hữu
Nhà XB: NXB Lao động – xã hội
Năm: 2007
[23] Nguyễn Hải Hữu (2007), Báo cáo chuyên đề thực trạng trợ giúp xã hội và ưu đãi xã hội từ năm 2001-2007 và khuyến nghị tới năm 2015, NXB Lao động – xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chuyên đề thực trạng trợ giúp xã hội và ưu đãi xã hội từ năm 2001-2007 và khuyến nghị tới năm 2015
Tác giả: Nguyễn Hải Hữu
Nhà XB: NXB Lao động – xã hội Hà Nội
Năm: 2007
[24] Nguyễn Hải Hữu (2007), Hỗ trợ thực hiện chính sách giảm nghèo và BTXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỗ trợ thực hiện chính sách giảm nghèo và BTXH
Tác giả: Nguyễn Hải Hữu
Năm: 2007
[30] Vũ Văn Phúc (2012), An sinh xã hội ở nước ta: một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Tham luận Hội thảo của Hội đồng Lý luận Trung ương về An sinh xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: An sinh xã hội ở nước ta: một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Vũ Văn Phúc
Năm: 2012
[31] Phạm Văn Sáng, Ngô Quang Minh, Bùi Văn Huyền, Nguyễn Anh Dũng (2009), Lý thuyết và mô hình an sinh xã hội, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết và mô hình an sinh xã hội
Tác giả: Phạm Văn Sáng, Ngô Quang Minh, Bùi Văn Huyền, Nguyễn Anh Dũng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

bảng Tên bảng Trang - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam
b ảng Tên bảng Trang (Trang 8)
TÌNH HÌNH TAÍNG TRÖÔÛNG TIEĂN TEÔ Naím  Toâc ñoô taíng tröôûng toơng phöông - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam
a ím Toâc ñoô taíng tröôûng toơng phöông (Trang 20)
Hình 4-5 Mô tả đường đi của dòng tiền thuê trụ sở VNCB - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam
Hình 4 5 Mô tả đường đi của dòng tiền thuê trụ sở VNCB (Trang 38)
Bảng 2.1. Cơ cấu sử dụng đất tại thị xã Điện Bàn giai đoạn năm 2012 – 2016 - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam
Bảng 2.1. Cơ cấu sử dụng đất tại thị xã Điện Bàn giai đoạn năm 2012 – 2016 (Trang 41)
Hình 2.1. Tháp dân số thị xã Điện Bàn ƣớc tính đến năm 2016 - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam
Hình 2.1. Tháp dân số thị xã Điện Bàn ƣớc tính đến năm 2016 (Trang 43)
Bảng 2.3. Tình hình lực lƣợng lao động tại thị xã Điện Bàn trong giai đoạn năm 2012 – 2016 - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam
Bảng 2.3. Tình hình lực lƣợng lao động tại thị xã Điện Bàn trong giai đoạn năm 2012 – 2016 (Trang 44)
Bảng 2.4. Cơ cấu kinh tế tại thị xã Điện Bàn trong giai đoạn năm 2012 – 2016 - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam
Bảng 2.4. Cơ cấu kinh tế tại thị xã Điện Bàn trong giai đoạn năm 2012 – 2016 (Trang 45)
Bảng 2.5. Thực trạng nguồn chi ngân sác hở thị xã Điện Bàn thời gian qua - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam
Bảng 2.5. Thực trạng nguồn chi ngân sác hở thị xã Điện Bàn thời gian qua (Trang 46)
Qua bảng số liệu trên cho thấy trong giai đoạn áp dụng nghị định 67 thì số lượng đối tượng BTXH hàng năm đều có xu hướng tăng - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam
ua bảng số liệu trên cho thấy trong giai đoạn áp dụng nghị định 67 thì số lượng đối tượng BTXH hàng năm đều có xu hướng tăng (Trang 49)
Bảng 2.7. Tỷ lệ từng nhóm đối tƣợng BTXH tại thị xã Điện Bàn trong giai đoạn năm 2012 – 2014 - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam
Bảng 2.7. Tỷ lệ từng nhóm đối tƣợng BTXH tại thị xã Điện Bàn trong giai đoạn năm 2012 – 2014 (Trang 50)
Từ bảng số liệu trên có thể thấy rằng các nhóm đối tượng có tỷ lệ cao lần lượt là nhóm  người từ 80 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp  BHXH; người tàn tật không có khả năng lao động hoặc không có khả năng tự  phục vụ; người mắc bệnh tâm thần đã - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam
b ảng số liệu trên có thể thấy rằng các nhóm đối tượng có tỷ lệ cao lần lượt là nhóm người từ 80 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp BHXH; người tàn tật không có khả năng lao động hoặc không có khả năng tự phục vụ; người mắc bệnh tâm thần đã (Trang 51)
Bảng 2.8. Thực trạng đối tƣợng BTXH đƣợc hƣởng trợ cấp thƣờng xuyên ở thị xã Điện Bàn giai đoạn năm 2015-2016 - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam
Bảng 2.8. Thực trạng đối tƣợng BTXH đƣợc hƣởng trợ cấp thƣờng xuyên ở thị xã Điện Bàn giai đoạn năm 2015-2016 (Trang 52)
Từ bảng số liệu trên có thể thấy, các nhóm có tỷ lệ cao nhất là người cao tuổi  bao  gồm  người  cao  tuổi  cô  đơn  thuộc  hộ  nghèo;  người  từ  80  trở  lên  không được hưởng các trợ cấp lương hưu, bảo hiểm; người cao tuổi đủ điều  kiện được nhận vào c - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam
b ảng số liệu trên có thể thấy, các nhóm có tỷ lệ cao nhất là người cao tuổi bao gồm người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo; người từ 80 trở lên không được hưởng các trợ cấp lương hưu, bảo hiểm; người cao tuổi đủ điều kiện được nhận vào c (Trang 56)
Bảng 2.11. Đối tƣợng BTX Hở từng xã, phƣờng trên địa bàn thị xã Điện Bàn thời gian qua - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam
Bảng 2.11. Đối tƣợng BTX Hở từng xã, phƣờng trên địa bàn thị xã Điện Bàn thời gian qua (Trang 58)
Bảng 2.12. Thực trạng đối tƣợng BTXH đƣợc hƣởng cứu trợ đột xuất ở thị xã Điện Bàn thời gian qua - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam
Bảng 2.12. Thực trạng đối tƣợng BTXH đƣợc hƣởng cứu trợ đột xuất ở thị xã Điện Bàn thời gian qua (Trang 60)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w