1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(luận văn thạc sĩ) các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

136 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 6,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (10)
  • 2. Mục tiêu nghiên cứu (10)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (11)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (11)
  • 5. Bố cục đề tài (12)
  • 6. Tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây về công bố thông tin tự nguyện (12)
    • 6.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài (12)
    • 6.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam (14)
  • CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN (16)
    • 1.1. KHÁI NIỆM VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN (16)
    • 1.2. VAI TRÒ CỦA VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN (17)
    • 1.3. ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY VÀ CÁC YẾU TỐ CẢN TRỞ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN (19)
      • 1.3.1. Động lực thúc đẩy (19)
      • 1.3.2. Yếu tố cản trở việc công bố thông tin tự nguyện (20)
    • 1.4. CÁC LÝ THUYẾT GIẢI THÍCH MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN (21)
      • 1.4.1. Lý thuyết đại diện (Agency Theory) (21)
      • 1.4.2. Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory) (22)
      • 1.4.3. Lý thuyết chi phí chính trị (Political Economy Theory) (23)
      • 1.4.4. Lý thuyết chi phí sở hữu ( Property Cost Theory ) (23)
      • 1.4.5. Lý thuyết tính hợp lý( Legitimacy Theory) (24)
      • 1.4.6. Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) (24)
    • 1.5. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG (25)
      • 1.5.1. Nhóm nhân tố thuộc về quản trị công ty (25)
      • 1.5.2. Nhóm nhân tố thuộc về cơ cấu sở hữu (27)
      • 1.5.3. Nhóm nhân tố về các chỉ tiêu tài chính (29)
      • 1.5.4. Nhóm nhân tố khác (30)
  • CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN (34)
    • 2.1. CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU (34)
      • 2.1.1. Giả thuyết nghiên cứu liên quan đếnnhóm nhân tố thuộc về quản trị công ty (34)
      • 2.1.2. Nhóm nhân tố thuộc về cơ cấu sở hữu (37)
      • 2.1.3. Nhóm nhân tố các chỉ tiêu tài chính (39)
      • 2.1.4. Nhóm nhân tố khác (40)
    • 2.2. ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM (43)
      • 2.2.1. Đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (43)
      • 2.2.2. Đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (46)
    • 2.3. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (48)
    • 2.4. CHỌN MẪU NGHIÊN CỨU (50)
  • CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (52)
    • 3.2. THỐNG KÊ MÔ TẢ CÁC BIẾN ĐỘC LẬP (56)
    • 3.3. PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM (60)
      • 3.3.1. Phân tích mối quan hệ của từng biến độc lập với mức độ công bố thông tin tự nguyện (60)
      • 3.3.2. Kiểm định các giả thiết và tính tin cậy của mô hình hồi qui (67)
      • 3.3.3. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện từ kết quả mô hình hồi quy (75)
    • 3.4. PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN ĐỐI VỚI TỪNG NHÓM THÔNG TIN (79)
      • 3.4.1. Nhóm thông tin chung về doanh nghiệp và chiến lược (VnCSI) (79)
      • 3.4.2. Nhóm thông tin về tài chính và thị trường vốn (VnFCMI) (81)
      • 3.4.3. Nhóm thông tin về hoạt động tương lai (VnFLI) (83)
      • 3.4.4. Nhóm thông tin về báo cáo trách nhiệm xã hội (VnCSRI) (85)
      • 3.4.5. Nhóm thông tin về quản lý cao cấp (VnDSMI) (87)
  • CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN (92)
    • 4.1. HÀM Ý CHÍNH SÁCH (92)
    • 4.2. KẾT LUẬN (96)
      • 4.2.1. Đóng góp luận văn (96)
      • 4.2.2. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu trong tương lai ................. 88 TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................... PHỤ LỤC (97)

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài

Minh bạch thông tin là nguyên tắc cơ bản của thị trường chứng khoán, giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định mua bán hiệu quả Tại Việt Nam, thị trường chứng khoán còn non trẻ và việc công bố thông tin chưa trở thành thói quen phổ biến, gây khó khăn cho nhà đầu tư trong việc phân tích Mặc dù đã có quy định bắt buộc về thông tin công bố, nhưng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dùng Nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu công bố thông tin tự nguyện để thu hút nhà đầu tư Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, chủ thể kiểm toán và đòn bẩy tài chính là những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện Tuy nhiên, số lượng nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam vẫn còn hạn chế Vì vậy, tôi chọn đề tài "Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam" để tìm hiểu sâu hơn.

Mục tiêu nghiên cứu

Bài viết này nhằm tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Tác giả tập trung vào việc đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty này và từ đó đánh giá tình trạng công bố thông tin tự nguyện trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam.

Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam là rất quan trọng Bài viết này sẽ phân tích các nhân tố chính và từ đó đưa ra những gợi ý chính sách nhằm nâng cao mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty này Việc cải thiện công bố thông tin không chỉ giúp tăng cường tính minh bạch mà còn góp phần nâng cao niềm tin của nhà đầu tư vào thị trường.

Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên các nghiên cứu trước đây và những điều chỉnh cần thiết, chúng tôi xây dựng danh mục thông tin tự nguyện nhằm đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết.

Dựa trên các lý thuyết về công bố thông tin tự nguyện và các yếu tố từ những nghiên cứu trước, bài viết này xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện.

Mô hình hồi quy bội được áp dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Nghiên cứu này nhằm làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế, tài chính và quy định pháp lý với hành vi công bố thông tin của các doanh nghiệp, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự minh bạch và trách nhiệm của các công ty trong môi trường đầu tư.

Bố cục đề tài

Với phương pháp nghiên cứu được đưa ra ở trên, tác giả xây dựng luận văn gồm 4 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về công bố thông tin tự nguyện và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện

Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu

Chương 4: Hàm ý chính sách và kết luận.

Tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây về công bố thông tin tự nguyện

Các nghiên cứu ở nước ngoài

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện, đặc biệt tại các nước phát triển Nghiên cứu của Meek và cộng sự (1995) về "Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trong báo cáo thường niên của các tập đoàn đa quốc gia Mỹ, Anh và Châu Âu" đã xác định ba nhân tố chính: quy mô doanh nghiệp, quốc gia/khu vực và loại ngành công nghiệp Những yếu tố này có tác động đáng kể đến việc công bố thông tin chiến lược, tài chính và phi tài chính của các tập đoàn.

Nghiên cứu của Barako và cộng sự (2006) mang tên “Factors Influencing Voluntary Corporate Disclosure by Kenyan Companies” đã phân tích việc công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết tại Kenya Nghiên cứu này tập trung vào ảnh hưởng của các yếu tố quản trị doanh nghiệp, cấu trúc sở hữu và đặc điểm công ty đối với mức độ công bố thông tin Kết quả chỉ ra rằng, mức độ công bố thông tin tự nguyện chịu tác động từ các thuộc tính quản lý, cấu trúc sở hữu và tỷ lệ giám đốc không điều hành trong hội đồng quản trị.

Nghiên cứu của Alves và cộng sự (2012) đã phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố như đặc điểm công ty, quản trị doanh nghiệp và việc công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết tại Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha Kết quả cho thấy quy mô công ty, mức độ tăng trưởng, hiệu quả tổ chức và số lượng cổ đông là những yếu tố quyết định chính ảnh hưởng đến việc công bố thông tin tự nguyện.

Trong nghiên cứu của Lan và cộng sự (2013) dựa trên các thông tin của

Theo các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải và Thâm Quyến, việc công bố thông tin tự nguyện tại Trung Quốc đang diễn ra ngày càng tích cực Sự gia tăng này liên quan đến các yếu tố như quy mô công ty, đòn bẩy tài chính và tỷ lệ sở hữu nhà nước.

Nghiên cứu của Ho và cộng sự (2009) về "Các yếu tố quyết định việc công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết tại Malaysia" đã chỉ ra rằng mức độ độc lập của hội đồng quản trị và cơ cấu sở hữu là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty này.

Các nghiên cứu ở Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu về thông tin tự nguyện trong báo cáo tài chính còn hạn chế Nghiên cứu của Ta Quang Binh (2012) với đề tài "Voluntary Disclosure Information in the Annual Report of Non Financial Listed Companies: The Case of Vietnam" đã xây dựng danh mục thông tin tự nguyện và khảo sát tầm quan trọng của chúng đối với người sử dụng và cung cấp thông tin Nghiên cứu chỉ ra các thông tin cần thiết mà doanh nghiệp nên công bố để thu hẹp khoảng cách thông tin với người dùng Tuy nhiên, bài viết chưa đi sâu vào mô hình và kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện tại các doanh nghiệp.

Nghiên cứu của Kelly Bao Anh Huynh Vu (2012) về đề tài

Nghiên cứu về "Các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết tại Việt Nam" đã chỉ ra rằng quy mô công ty, khả năng sinh lời và quyền sở hữu là những yếu tố chính tác động đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Nghiên cứu của Phạm Đức Hiếu và Đỗ Thị Hương Lan (2015) về "Các yếu tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết tại Việt Nam" đã khảo sát 205 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Hà Nội và Hồ Chí Minh vào năm 2012 Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô công ty và tỷ lệ sở hữu nước ngoài là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc công bố thông tin tự nguyện ở Việt Nam.

Mặc dù có một số nghiên cứu về đề tài này ở Việt Nam, nhưng những nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào các yếu tố như quy mô, lợi nhuận và cơ cấu sở hữu của công ty, mà chưa xem xét đến giới tính của các thành viên hội đồng quản trị hay ngành nghề kinh doanh Trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển nhanh chóng và ổn định, các quy định của Bộ Tài chính cũng đã thay đổi thường xuyên, khiến một số thông tin trong các nghiên cứu trước đây không còn được coi là tự nguyện Nghiên cứu này bổ sung các yếu tố như giới tính của thành viên hội đồng quản trị và ngành nghề kinh doanh, đồng thời điều chỉnh danh mục thông tin tự nguyện để phù hợp với giai đoạn hiện tại.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN

KHÁI NIỆM VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN

Công bố thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối các công ty với công chúng (Agca và Onder, 2007) Có nhiều cách định nghĩa về công bố thông tin tự nguyện, trong đó Meek và cộng sự (1995) cho rằng đây là việc công bố thông tin vượt qua các yêu cầu bắt buộc, được lựa chọn tự do bởi nhà quản lý công ty nhằm cung cấp thông tin kế toán và các thông tin liên quan đến nhu cầu của người sử dụng báo cáo tài chính.

Công bố thông tin tự nguyện, theo định nghĩa năm 1995, là hành động mà nhà quản lý chủ động công bố thông tin tài chính và phi tài chính cho các bên liên quan Adina P và Ion P (2008) chỉ ra rằng những thông tin này được cung cấp thêm nhằm đáp ứng nhu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp, bao gồm các nhà phân tích tài chính, công ty tư vấn và các nhà đầu tư tổ chức.

Luận văn này định nghĩa công bố thông tin tự nguyện là việc trình bày các thông tin vượt quá quy định bắt buộc trong báo cáo thường niên, bao gồm thông tin kế toán và các thông tin khác mà nhà quản lý cho là cần thiết cho các bên liên quan Điều này có nghĩa là công ty có thể tự nguyện công bố thông tin mà luật pháp không yêu cầu Hiện nay, thông tin công bố tự nguyện đang thu hút sự quan tâm lớn từ người sử dụng thông tin nhờ vào tính hữu ích của nó.

Thông tư 52/2012/TT-BTC quy định hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam, giúp các doanh nghiệp thu được nhiều lợi ích từ việc công khai thông tin này.

VAI TRÒ CỦA VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN

Thị trường chứng khoán đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế, với thông tin công bố là yếu tố then chốt giúp phân bổ hiệu quả nguồn lực xã hội Việc công khai thông tin giảm thiểu nhiễu loạn giữa doanh nghiệp và các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài, đồng thời giúp cá nhân và tổ chức hiểu rõ hơn về hoạt động, chính sách của doanh nghiệp cũng như mối quan hệ với cộng đồng nơi doanh nghiệp hoạt động.

Công bố thông tin trên thị trường chứng khoán đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp niêm yết và nhà đầu tư Việc công khai thông tin một cách đầy đủ và hiệu quả không chỉ thu hút vốn đầu tư mà còn tạo dựng niềm tin, gia tăng lợi ích cho doanh nghiệp Ngược lại, sự thiếu minh bạch và giấu giếm thông tin có thể dẫn đến các hành vi kinh doanh không đạo đức, gây tổn thất cho nhà đầu tư và doanh nghiệp, đồng thời ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế quốc gia.

Trong thị trường kinh tế, cá nhân và tổ chức như nhà đầu tư, nhà xuất nhập khẩu, và ngân hàng cần cập nhật thông tin hàng ngày để hoạt động hiệu quả Khi thông tin không chính xác hoặc thiếu hụt, họ có thể bị dẫn dắt đến các hành vi đầu cơ, tin đồn, và thậm chí phát tán thông tin bất lợi để hạ gục đối thủ Điều này lý giải cho việc thiếu dữ liệu kinh tế kịp thời và đáng tin cậy, cùng với sự yếu kém trong truyền thông chính sách, có thể là nguyên nhân gây ra bất ổn kinh tế tại Việt Nam hiện nay.

Việc công bố thông tin tự nguyện trên thị trường chứng khoán đóng vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý Doanh nghiệp có cơ hội xây dựng mối quan hệ với cổ đông và thu hút sự quan tâm từ các nhà đầu tư Nhà đầu tư được tiếp cận thông tin rõ ràng, giúp giảm thiểu xung đột thông tin và đưa ra quyết định đầu tư hợp lý hơn Cơ quan quản lý có được thông tin cần thiết để thực hiện công tác giám sát và phát triển chính sách phù hợp cho thị trường Tuy nhiên, sự lựa chọn thông tin công bố tự nguyện vẫn phụ thuộc nhiều vào ý kiến chủ quan của nhà quản lý.

Theo Verrecchia (1983), quyết định của nhà quản lý về việc công bố hoặc che giấu thông tin tự nguyện phụ thuộc vào sự cân nhắc giữa chi phí và lợi ích của việc cung cấp thông tin bổ sung.

Các công ty tham gia vào các hoạt động công bố thông tin tự nguyện sẽ hưởng nhiều lợi ích, bao gồm giảm chi phí vốn và chi phí nợ, cải thiện thanh khoản của thị trường, nâng cao giá trị công ty và góp phần vào sự phát triển kinh tế tổng thể.

Các nghiên cứu cho thấy việc công bố thông tin tự nguyện có thể nâng cao tính thanh khoản của thị trường vốn bằng cách giảm chi phí giao dịch, từ đó làm tăng nhu cầu đối với cổ phiếu của doanh nghiệp Nhu cầu cao hơn đối với cổ phiếu sẽ dẫn đến sự tăng giá cổ phiếu với chi phí vốn thấp hơn (Diamond và Verrecchia, 1991) Nghiên cứu của Haddad, Alshattarat và Nobanee (2009) cũng chỉ ra rằng việc tăng cường công bố thông tin tự nguyện giúp giảm chênh lệch giữa giá bán và giá mua cổ phiếu, qua đó giảm chi phí vốn và cải thiện tính thanh khoản của thị trường, đặc biệt trong các thị trường mới nổi.

Việc công bố thông tin tự nguyện giúp giảm chi phí nợ, như nghiên cứu của Sengupta (1998) chỉ ra rằng lãi suất thấp liên quan đến mức độ công bố thông tin cao Khi thông tin bất đối xứng tồn tại, chủ nợ có thể nghi ngờ rằng các công ty đang che giấu thông tin, dẫn đến chi phí vay tăng cao để bảo vệ tài sản Ngược lại, việc công bố thông tin tự nguyện giúp ngân hàng tiết kiệm chi phí tìm kiếm thông tin, từ đó giảm rủi ro khoản vay.

Việc công bố thông tin tự nguyện giúp các công ty huy động vốn bên ngoài, giảm chi phí vốn và nợ, từ đó tăng giá trị công ty và cải thiện tính thanh khoản của thị trường Điều này không chỉ góp phần vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế mà còn là yếu tố cần thiết trong một nền kinh tế mới nổi như Việt Nam Barako (2007) nhấn mạnh rằng việc tăng cường công bố thông tin là rất quan trọng để hỗ trợ sự phát triển kinh tế, đặc biệt là trong bối cảnh thị trường vốn đang phát triển.

ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY VÀ CÁC YẾU TỐ CẢN TRỞ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN

Quyền quản lý doanh nghiệp được nghiên cứu bởi DeAngelo (1988), cho thấy rằng cổ đông và những người bất đồng với nhà quản lý thường chỉ trích hoạt động kém hiệu quả của công ty để gây áp lực buộc họ từ chức Khi đối mặt với nguy cơ mất việc và tình hình tài chính xấu đi, nhà quản lý có thể công bố thông tin tự nguyện ra công chúng nhằm giảm áp lực từ các cổ đông, đồng thời giải thích về những khó khăn tài chính mà công ty đang gặp phải.

Để đánh giá năng lực của nhà quản lý, nhà đầu tư thường xem xét tài năng của họ qua khả năng quản lý tài chính và cách phản ứng trước biến động của môi trường kinh doanh Điều này thúc đẩy nhà quản lý công bố thông tin tự nguyện nhằm thể hiện năng lực và nâng cao giá trị công ty trên thị trường.

Việc công bố thông tin bắt buộc theo quy định pháp luật thường không đáp ứng đầy đủ nhu cầu thông tin của nhà đầu tư, vì chỉ cung cấp những thông tin tối thiểu cần thiết Điều này dẫn đến việc nhà đầu tư không đủ dữ liệu để đưa ra quyết định chính xác, từ đó phát sinh nhu cầu công bố thông tin tự nguyện Công bố thông tin tự nguyện được xem là giải pháp lấp đầy những khoảng trống mà công bố thông tin bắt buộc để lại (Graham và cộng sự, 2005).

1.3.2 Yếu tố cản trở việc công bố thông tin tự nguyện

Theo nghiên cứu của Edwars và Smith (1996), một số chi phí phổ biến cản trở việc công bố thông tin tự nguyện bao gồm chi phí thu thập, xử lý và chi phí cạnh tranh Việc công bố thông tin liên quan đến kế hoạch phát triển sản phẩm chính có thể tạo ra rủi ro cạnh tranh, khi đối thủ có thể sử dụng thông tin này để phát triển sản phẩm tương tự, gây bất lợi cho công ty Ngoài ra, theo Beyer, Cohen, Lys và Walther (2010), chi phí công bố thông tin còn bao gồm hậu quả từ việc tiết lộ thông tin độc quyền của công ty cho đối thủ, công đoàn lao động và quản lý.

CÁC LÝ THUYẾT GIẢI THÍCH MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN

Các công ty thường công bố thông tin tự nguyện ngoài các yêu cầu bắt buộc vì nhiều lý do khác nhau Một trong những cách giải thích hợp lý nhất là dựa vào các lý thuyết nền Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không có một lý thuyết duy nhất nào có thể giải thích một cách toàn diện hiện tượng này.

Các nghiên cứu trước đây đã áp dụng nhiều lý thuyết khác nhau để giải thích tình hình công bố thông tin tự nguyện, bao gồm lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết chi phí chính trị, lý thuyết chi phí sở hữu, lý thuyết tính hợp lý và lý thuyết các bên liên quan.

1.4.1 Lý thuyết đại diện (Agency Theory)

Lý thuyết đại diện phân tích mối quan hệ giữa nhà quản lý và chủ sở hữu, nhấn mạnh rằng mặc dù cả hai bên đều hướng đến mục tiêu chung là tối đa hóa lợi ích, nhưng lợi ích của họ không phải lúc nào cũng trùng khớp Theo lý thuyết này, có khả năng người quản lý sẽ không luôn hành động vì lợi ích tốt nhất của cổ đông, do đó, sự khác biệt trong mục tiêu có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa hai bên.

Lý thuyết đại diện giải thích rằng các báo cáo thường niên được cung cấp tự nguyện cho các chủ nợ và cổ đông nhằm tăng cường sự minh bạch và tạo niềm tin, đồng thời giúp giảm thiểu xung đột lợi ích giữa các bên liên quan.

1976) và nó cũng giải thích cho việc công bố thông tin tự nguyện trong bối cảnh có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và kiểm soát (Sukthomya, 2011) [26],

Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và kiểm soát trong một công ty có thể gây ra xung đột lợi ích giữa các bên Để giảm thiểu những xung đột này, các chủ sở hữu cần thiết lập các ưu đãi phù hợp cho các nhà quản lý, từ đó phát sinh chi phí giám sát nhằm ngăn chặn các hoạt động không đúng quy định của họ.

Trong môi trường doanh nghiệp, sự bất đối xứng thông tin giữa các nhà quản lý và cổ đông tạo ra một thách thức lớn, khi mà các nhà quản lý nắm giữ nhiều thông tin hơn Điều này khiến cho các chủ sở hữu gặp khó khăn trong việc đánh giá chính xác và xác định giá trị của các quyết định được đưa ra Hệ quả là, các nhà quản lý có thể lợi dụng sự thiếu khả năng quan sát của cổ đông để theo đuổi các hoạt động nhằm tối đa hóa lợi ích cá nhân của họ.

Để bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu, hành vi của các nhà quản lý được kiểm soát thông qua cơ chế giám sát trong quản trị doanh nghiệp và yêu cầu công bố thông tin Bên cạnh đó, các nhà quản lý cũng có thể tự nguyện công bố thêm thông tin nhằm làm hài lòng cổ đông và thể hiện năng lực quản lý của họ.

1.4.2 Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory)

Lý thuyết tín hiệu cho rằng các quyết định tài chính của công ty được xem như tín hiệu từ các nhà quản lý gửi đến nhà đầu tư, nhằm cung cấp thông tin phản hồi quan trọng cho chính sách truyền thông tài chính Theo lý thuyết này, các công ty có hiệu suất tốt thường sử dụng thông tin tài chính để truyền đạt tín hiệu tích cực đến thị trường (Ross, 1997) Khi cần huy động vốn, việc công bố thông tin một cách rõ ràng sẽ thu hút sự chú ý của nhà đầu tư, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động vốn.

Nhà quản lý có thể tự nguyện công bố thông tin tích cực về doanh nghiệp, giúp người dùng báo cáo thường niên đánh giá chính xác tình hình hoạt động của công ty và đưa ra quyết định có lợi.

1.4.3 Lý thuyết chi phí chính trị (Political Economy Theory)

Chi phí chính trị, theo lý thuyết kế toán thực chứng của Watts và Zimmerman (1986), liên quan đến việc các nhà quản lý, như nhà nước và nghiệp đoàn, đưa ra quyết định dựa trên lợi ích của công ty Họ dựa vào thông tin công bố từ các công ty để định hình các chính sách như thuế và cạnh tranh Các công ty có khả năng thu hút sự chú ý của cơ quan chức năng thường công bố thông tin tự nguyện nhiều hơn nhằm tránh sự thanh tra và giảm thiểu chi phí phát sinh Khi thông tin được công bố nhiều, các nhà quản lý hy vọng rằng các chính sách quản lý của cơ quan nhà nước sẽ trở nên linh hoạt hơn.

1.4.4 Lý thuyết chi phí sở hữu ( Property Cost Theory )

Nhiều nghiên cứu toàn cầu đã chỉ ra rằng chi phí sở hữu là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trong báo cáo thường niên (Verrecchina, 1983) Các chi phí này được coi là một rào cản đáng kể đối với việc công khai thông tin, vì những bất lợi từ cạnh tranh có thể tác động đến quyết định cung cấp thông tin riêng tư.

Khi công bố thông tin tự nguyện, công ty có thể phải chịu chi phí do dòng tiền tương lai giảm sút, nhưng điều này cũng có thể dẫn đến những lợi ích khác Ví dụ, việc công bố thông tin xấu có thể khiến công ty mất đi nhà đầu tư tiềm năng, nhưng đồng thời cũng làm nản lòng các công ty mới muốn gia nhập thị trường và hạn chế sự mở rộng của đối thủ cạnh tranh.

Các công ty lớn và có sức cạnh tranh mạnh thường có mức độ công bố thông tin tự nguyện cao, vì lợi ích và cái giá phải trả có thể làm tăng lợi nhuận và dòng tiền tương lai của họ.

1.4.5 Lý thuyết tính hợp lý (Legitimacy Theory)

Lý thuyết tính hợp lý khẳng định rằng sự tồn tại của các công ty phụ thuộc vào việc giá trị của chúng được xã hội công nhận Để duy trì sự tồn tại, các công ty cần thực hiện những hành động phù hợp với mong đợi của xã hội.

Theo Suchman (1995), tính hợp lý được hiểu là một nhận thức tổng quát, cho rằng các hành động của một thực thể được xem là mong muốn, phù hợp hoặc thích hợp trong bối cảnh của những hệ thống xã hội, nơi mà các giá trị và niềm tin được hình thành.

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG

Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết, bao gồm quy mô doanh nghiệp, mức độ tăng trưởng, tỷ lệ quyền sở hữu và loại ngành công nghiệp Trong phần này, tác giả sẽ dựa vào kết quả các nghiên cứu trước để phân tích sâu hơn từng yếu tố này và cách chúng tác động đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết.

1.5.1 Nhóm nhân tố thuộc về quản trị công ty a Nhân tố mức độ độc lập của hội đồng quản trị

Trong quản trị doanh nghiệp, số lượng thành viên hội đồng quản trị không tham gia điều hành là yếu tố quan trọng để bảo vệ lợi ích cổ đông Một cơ chế quản trị hiệu quả nên có nhiều thành viên hội đồng không tham gia điều hành hơn so với thành viên tham gia điều hành, theo nghiên cứu của Armstrong, Guay và Weber.

Các thành viên hội đồng quản trị không tham gia điều hành thường mang đến kinh nghiệm chuyên môn trong các lĩnh vực như chiến lược kinh doanh, tài chính, tiếp thị, hoạt động và cơ cấu tổ chức Sự hiện diện của họ giúp giám sát hành vi và hiệu suất của các nhà quản lý trong công ty Nghiên cứu cho thấy rằng một cơ chế quản trị doanh nghiệp hiệu quả có thể nâng cao mức độ tiết lộ thông tin, đặc biệt là thông tin tự nguyện, tại các nước phát triển phương Tây và thị trường vốn mới nổi Châu Á.

Mức độ độc lập của hội đồng quản trị là một yếu tố quan trọng trong các nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin Các nghiên cứu của Vu (2012), Lan và cộng sự (2013), Hiếu và Lan (2015) đã chỉ ra rằng có mối quan hệ tích cực giữa mức độ độc lập của hội đồng quản trị và mức độ công bố thông tin tự nguyện.

Tỷ lệ cổ phần nắm giữ của Ban giám đốc phản ánh quyền sở hữu của quản lý trong công ty Theo lý thuyết đại diện của Jensen và Meckling (1976), các công ty có tỷ lệ sở hữu quản lý cao thường ít công bố thông tin tự nguyện cho cổ đông Điều này xảy ra vì khi quản lý vừa là chủ sở hữu vừa là người điều hành, các quyết định kinh tế của họ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích cá nhân Trong bối cảnh này, mối quan hệ chuyển từ nhà quản lý và cổ đông sang giữa cổ đông lớn và cổ đông thiểu số, dẫn đến việc các nhà quản lý có thể ưu ái lợi ích của cổ đông lớn và bỏ qua quyền lợi của cổ đông thiểu số Do đó, họ có xu hướng thao túng thông tin để bảo vệ lợi ích riêng, hạn chế việc cung cấp thông tin tự nguyện cho cổ đông.

Nghiên cứu của Alves và cộng sự (2012), Vu (2012), Hiếu và Lan (2015) chỉ ra rằng quyền sở hữu quản lý có ảnh hưởng ngược chiều đến mức độ công bố thông tin tự nguyện Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của nhân tố công ty kiểm toán trong việc quản lý thông tin tài chính.

Mặc dù việc lập báo cáo tài chính hàng năm là trách nhiệm của người quản lý, công ty kiểm toán thuê ngoài có thể ảnh hưởng đáng kể đến thông tin tự nguyện công bố ra bên ngoài trong quá trình kiểm toán Nghiên cứu của Singhvi và Desai (1971) cho thấy mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết phụ thuộc vào sự lựa chọn công ty kiểm toán.

Theo DeAngelo (1988), các công ty kiểm toán lớn thường đặt nặng vấn đề danh tiếng, dẫn đến việc họ khuyến khích khách hàng công bố thêm thông tin để nâng cao uy tín về chất lượng dịch vụ Lý thuyết đại diện chỉ ra rằng các công ty lựa chọn đối tác kiểm toán nhằm giảm xung đột lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho cổ đông trong việc giám sát hoạt động của công ty (Watts và Zimmerman, 1990; Jensen và Meckling, 1976).

Theo Wallace và Naser (1995), chất lượng dịch vụ của các công ty kiểm toán Big Four thường thúc đẩy khách hàng công bố thông tin tự nguyện nhiều hơn.

1.5.2 Nhóm nhân tố thuộc về cơ cấu sở hữu a Nhân tố sở hữu nhà nước

Một số nghiên cứu của Vu (2012), Zhang (2013) nhận thấy mối quan hệ nghịch giữa sở hữu nhà nước và mức độ công bố thông tin tự nguyện [70],

[78] Các nghiên cứu này có chung lập luận rằng:

Sở hữu nhà nước là sở hữu toàn dân, dẫn đến việc không có chủ sở hữu thực, gây ra sự thiếu hụt quyền kiểm soát trực tiếp Điều này có thể dẫn đến tham nhũng và quản trị doanh nghiệp yếu kém, khi người quản lý ưu tiên lợi ích cá nhân hơn là lợi ích của cổ đông Hệ quả là mức độ công bố thông tin tự nguyện trở nên thấp, phù hợp với lý thuyết đại diện.

Các công ty nhà nước thường thiếu động lực tối đa hóa lợi nhuận do nguồn vốn tái đầu tư được đảm bảo bởi nhà nước Điều này dẫn đến việc họ không có nhu cầu công bố thông tin ra bên ngoài, làm giảm khả năng tăng giá trị công ty và thu hút đầu tư.

Tuy nhiên, nghiên cứu của Jiang và cộng sự (2009), Wang và cộng sự

Năm 2013, nghiên cứu chỉ ra rằng có mối quan hệ tích cực giữa các mức độ sở hữu nhà nước và mức độ công bố thông tin tự nguyện Đồng thời, yếu tố sở hữu nước ngoài cũng được xem xét trong bối cảnh này.

Sở hữu nước ngoài được xác định qua tỷ lệ cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng mức độ sở hữu nước ngoài có mối liên hệ chặt chẽ với việc công bố thông tin tự nguyện, trong đó các công ty có tỷ lệ sở hữu nước ngoài cao thường có xu hướng công bố thông tin tự nguyện nhiều hơn.

Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng cổ đông nước ngoài phải đối mặt với rủi ro cao hơn so với cổ đông trong nước La Porta và các cộng sự (2000) đã xác định rằng những rủi ro tiềm tàng liên quan đến kinh doanh mà cổ đông nước ngoài phải gánh chịu bao gồm rủi ro chính trị và sự bảo vệ pháp lý không chặt chẽ.

Cổ đông nước ngoài thường phải đối mặt với mức độ bất đối xứng thông tin cao hơn so với cổ đông trong nước, đặc biệt là trong các thị trường vốn mới nổi như Việt Nam Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và kiểm soát, cùng với những rào cản về ngôn ngữ và văn hóa, làm gia tăng vấn đề này Do đó, các công ty có sở hữu nước ngoài cần tăng cường công bố thông tin để giám sát hoạt động của các nhà quản lý và tạo sự yên tâm cho các nhà đầu tư nước ngoài Việc công bố thông tin tự nguyện trở thành một chiến lược quan trọng để thu hút cổ đông nước ngoài.

Kết quả nghiên cứu của Haniffa và Cooke (2002), Ho và cộng sự

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN

CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Dựa trên tổng quan các lý thuyết liên quan đến công bố thông tin tự nguyện và kết quả từ các nghiên cứu trước, tác giả đưa ra các giả thuyết nghiên cứu tiếp theo.

2.1.1 Giả thuyết nghiên cứu liên quan đến nhóm nhân tố thuộc về quản trị công ty a Mức độ độc lập của hội đồng quản trị:

Mức độ độc lập của hội đồng quản trị là yếu tố quan trọng trong quản trị doanh nghiệp, thường được đánh giá qua tỷ lệ thành viên không tham gia điều hành so với tổng số thành viên hội đồng.

Trong thị trường vốn mới nổi ở Châu Á, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ độc lập của hội đồng quản trị có mối quan hệ tích cực với mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết Điều này được giải thích qua lý thuyết tín hiệu, cho rằng sự hiện diện của các thành viên độc lập giúp cải thiện quyết định chiến lược và hiệu suất tài chính, từ đó khuyến khích công ty công bố thông tin nhiều hơn Đồng thời, theo lý thuyết đại diện, các thành viên độc lập cũng nâng cao khả năng giám sát hoạt động của nhà quản lý, giảm thiểu nguy cơ lạm dụng quyền lực Các nghiên cứu tại Singapore, Hồng Kông và Malaysia đều xác nhận rằng mức độ độc lập của hội đồng quản trị ảnh hưởng tích cực đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết Dựa trên lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu và các kết quả nghiên cứu trước đó, tác giả đưa ra giả thuyết cho nghiên cứu này.

Các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có hội đồng quản trị độc lập cao sẽ có xu hướng công bố thông tin tự nguyện nhiều hơn trong báo cáo thường niên Điều này cho thấy sự quan trọng của tính độc lập trong quản lý và minh bạch thông tin của các công ty.

Theo lý thuyết đại diện của Jensen và Meckling (1976), việc nhà quản lý sở hữu cổ phần trong công ty làm tăng mối quan tâm của họ đối với hiệu quả kinh tế từ các quyết định, vì lợi ích của họ gắn liền với giá trị công ty Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến động cơ thao túng thông tin để phục vụ lợi ích cá nhân, hạn chế việc cung cấp thông tin tự nguyện Tại Việt Nam, với cơ cấu sở hữu tập trung cao và hoạt động bảo vệ cổ đông thiểu số còn yếu kém, quyền sở hữu quản lý cao có thể làm giảm khả năng công bố thông tin tự nguyện.

Nghiên cứu của Leung và Horwitz (2004) tại Hồng Kông, Akhtaruddin và Haron (2010) tại Malaysia, cùng với Vu (2012) tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý có ảnh hưởng ngược chiều đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết Dựa trên những kết quả này và lý thuyết đại diện, tác giả đưa ra giả thuyết cho nghiên cứu tiếp theo.

Các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có tỷ lệ sở hữu quản lý cao thường có mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên thấp Điều này cũng liên quan đến tỷ lệ thành viên nữ trong hội đồng quản trị, cho thấy sự ảnh hưởng của cơ cấu quản lý đến tính minh bạch trong thông tin tài chính.

Sự hiện diện của thành viên nữ trong hội đồng quản trị ngày càng được nhấn mạnh trong các nghiên cứu, với việc cho rằng họ mang lại sự đa dạng cho hội đồng (Dutta và Bose, 2006) Theo Smith và các cộng sự (2006), vai trò của phụ nữ trong hội đồng quản trị được thể hiện qua ba lý do chính: (1) khả năng hiểu biết thị trường tốt hơn so với nam giới; (2) việc xây dựng hình ảnh tích cực cho doanh nghiệp trong mắt cộng đồng, từ đó cải thiện hiệu quả hoạt động; và (3) nâng cao sự hiểu biết về môi trường kinh doanh cho các thành viên khác trong hội đồng khi có sự tham gia của phụ nữ.

Trong những năm gần đây, nhiều quốc gia đã nhận thức được tầm quan trọng của nữ giới trong quản trị doanh nghiệp và đã ban hành các đạo luật nhằm khuyến khích sự tham gia của họ vào hội đồng quản trị Năm 2003, Na Uy đã thông qua đạo luật yêu cầu tối thiểu 40% thành viên hội đồng quản trị phải là nữ giới, áp dụng từ năm 2006 Tương tự, vào tháng 1 năm 2011, Pháp đã quy định tỷ lệ 40% nữ giới trong hội đồng quản trị của 40 công ty lớn nhất cho đến năm 2017 Tây Ban Nha yêu cầu mỗi giới chiếm ít nhất 40% vào năm 2015, trong khi Ý yêu cầu 33% nữ giới trong các công ty niêm yết và nhà nước Năm 2014, Đức đã thống nhất quy định tỷ lệ nữ giới tối thiểu 30% trong ban lãnh đạo các công ty lớn Australia cũng đã đồng ý thực hiện hạn ngạch 25% nữ giới trong ban giám sát của các công ty nhà nước, tăng lên 35% vào năm 2018 Tại Malaysia, từ năm 2016, các công ty đại chúng và có trên 250 công nhân phải có ít nhất 30% nữ giới trong hội đồng quản trị hoặc ban giám đốc.

Tỷ lệ thành viên nữ trong hội đồng quản trị đóng vai trò quan trọng trong hiệu quả hoạt động của công ty và quản trị doanh nghiệp Nghiên cứu của Girlie Ndoro (2012) cho thấy giới tính lãnh đạo có ảnh hưởng tích cực đến hiệu suất kinh doanh, đặc biệt khi lãnh đạo là nữ Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào khảo sát tác động của giới tính đến mức độ công bố thông tin tự nguyện Do đó, nghiên cứu này nhằm tìm hiểu xem tỷ lệ thành viên nữ trong hội đồng quản trị có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niêm yết hay không Giả thuyết được đưa ra là:

Các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có tỷ lệ thành viên nữ trong hội đồng quản trị cao hơn thường có mức độ công bố thông tin tự nguyện trong báo cáo thường niên lớn hơn.

2.1.2 Nhóm nhân tố thuộc về cơ cấu sở hữu a Tỷ lệ sở hữu nhà nước

Sở hữu nhà nước là đặc trưng nổi bật của nền kinh tế Việt Nam Kể từ chính sách đổi mới năm 1986, chính phủ đã thực hiện lộ trình giảm can thiệp vào nền kinh tế bằng cách giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam vào năm 2000 đã tạo điều kiện cho quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, tuy nhiên tỷ trọng sở hữu nhà nước trong các doanh nghiệp niêm yết vẫn còn cao, với nhiều công ty sau cổ phần hóa vẫn giữ trên 50% tỷ lệ sở hữu nhà nước Mặc dù sở hữu tư nhân ngày càng gia tăng, nhưng sở hữu nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế.

Nghiên cứu của Vu (2012), Zhang (2013) nhận thấy mối quan hệ ngược chiều giữa sở hữu nhà nước và mức độ công bố thông tin tự nguyện

[70], [78] Các nghiên cứu này có chung lập luận rằng:

Sở hữu nhà nước, đại diện cho sở hữu toàn dân, không có chủ sở hữu thực, dẫn đến việc thiếu quyền kiểm soát trực tiếp Điều này tạo điều kiện cho tham nhũng và quản trị doanh nghiệp kém hiệu quả, khi người quản lý thường hành động vì lợi ích cá nhân thay vì lợi ích của cổ đông Kết quả là, mức độ công bố thông tin tự nguyện trở nên thấp.

Các công ty sở hữu nhà nước thường thiếu động lực tối đa hóa lợi nhuận vì lợi nhuận và nguồn vốn tái đầu tư đã được đảm bảo bởi nhà nước Điều này dẫn đến việc các công ty không có sự khuyến khích để công bố thông tin ra bên ngoài, từ đó ảnh hưởng đến giá trị công ty và khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư Giả thuyết nghiên cứu được đưa ra là:

Các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có tỷ lệ sở hữu nhà nước cao thường có mức độ công bố thông tin tự nguyện trong báo cáo thường niên thấp hơn Điều này cũng liên quan đến tỷ lệ sở hữu nước ngoài của các doanh nghiệp.

ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

TIN TỰ NGUYỆN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

2.2.1 Đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam a Xây dựng danh mục thông tin tự nguyện

Có ba phương pháp chính để xây dựng danh mục thông tin công bố tự nguyện Phương pháp đầu tiên là tự xây dựng danh mục, như nghiên cứu của Yuen và cộng sự (2009) đã tạo ra danh sách 51 mục thông tin sau khi tham khảo từ các doanh nghiệp và tổ chức Phương pháp thứ hai là điều chỉnh danh sách có sẵn từ các nghiên cứu trước đó, được áp dụng bởi Hiếu và Lan (2015) cùng với Vu (2012) Cuối cùng, phương pháp thứ ba là sử dụng danh mục do tổ chức khác, như nghiên cứu của Lokman (2011) đã dựa vào danh mục của Watchdog Group (MSWG) tại Malaysia để đánh giá mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết.

Bài nghiên cứu này sử dụng danh mục thông tin tự nguyện được xây dựng bởi Vu (2012) có điều chỉnh [70] Danh mục thông tin tự nguyện của Vu

Năm 2012, tác giả đã xây dựng một danh mục thông tin công bố tự nguyện gồm 119 mục dựa trên các nghiên cứu nổi tiếng như của Meek và cộng sự (1995) và Ferguson, Lam và Lee (2002) Danh sách này được gửi cho các chuyên gia kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam để tham khảo ý kiến Sau khi so sánh với các quy định của Việt Nam, tác giả đã loại bỏ những thông tin bắt buộc, rút ra danh sách cuối cùng gồm 84 mục, trong đó có 14 mục về thông tin doanh nghiệp và chiến lược, 29 mục về thông tin tài chính và nguồn vốn, 3 mục về thông tin người quản lý cấp cao, 14 mục dự báo tương lai, và 24 mục về trách nhiệm xã hội Nghiên cứu này dựa trên danh mục của Vu (2012) và loại trừ một số thông tin theo Thông tư số 52/2012/TT-BTC, cuối cùng đưa ra 60 mục thông tin tự nguyện.

- Thông tin chung về doanh nghiệp và chiến lược

- Thông tin tài chính và nguồn vốn doanh nghiệp

- Thông tin dự báo trong tương lai

- Thông tin về trách nhiệm xã hội

- Thông tin về quản lý cấp cao b Đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện

Tiến hành thu thập dữ liệu về các mục công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên của các công ty đã được chọn mẫu

Công bố thông tin là một khái niệm trừu tượng, không có đặc tính cụ thể để xác định số lượng và chất lượng Trong nghiên cứu này, chỉ số công bố thông tin tự nguyện được coi là một chỉ số quan trọng, do đó cần thiết phải xây dựng một phương pháp đo lường hợp lý.

Trong các nghiên cứu trước đây, có hai quan điểm khác nhau về cách đo lường mức độ công bố thông tin Nhóm nghiên cứu thứ nhất cho rằng mức độ quan trọng của thông tin khác nhau, do đó cần áp dụng điểm trọng số cho từng mục thông tin Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là có thể dẫn đến thiên lệch trong việc đánh giá thông tin Ngược lại, nhóm nghiên cứu thứ hai nhấn mạnh tầm quan trọng của việc công bố thông tin một cách tự nguyện trên báo cáo thường niên, và cho rằng tất cả các thông tin nên được đánh giá ngang bằng, không sử dụng trọng số.

Trong bài nghiên cứu này, tác giả áp dụng phương pháp tính không trọng số để đánh giá chỉ số công bố thông tin tự nguyện của công ty Cụ thể, dựa trên bảng danh mục thông tin có thể công bố, thông tin được công bố sẽ nhận giá trị 1, trong khi thông tin không công bố sẽ nhận giá trị 0.

Chỉ số công bố thông tin của công ty j (Ij) dao động từ 0 đến 1, trong đó dij = 1 nếu thông tin i được công bố và dij = 0 nếu không Số lượng mục thông tin tự nguyện mà công ty j có thể công bố (nj) không vượt quá 60 Để xác định lý do một thông tin không được công bố, cần xem xét đặc điểm của công ty và đánh giá của người khảo sát Ví dụ, thông tin về sản lượng đầu ra và công suất sử dụng máy móc có thể được các công ty sản xuất công bố, nhưng lại không liên quan đối với các công ty thương mại và dịch vụ.

2.2.2 Đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Mức độ độc lập của hội đồng quản trị được xác định thông qua tỷ lệ thành viên không kiêm nhiệm các chức vụ trong Ban giám đốc so với tổng số thành viên của hội đồng Phương pháp đo lường này đã được áp dụng trong nghiên cứu của Haniffa và Cooke (2002).

Sở hữu của người quản lý được xác định thông qua tỷ lệ phần trăm cổ phần mà ban giám đốc nắm giữ so với tổng số cổ phần của doanh nghiệp.

Tỷ lệ thành viên nữ trong hội đồng quản trị được tính bằng số lượng thành viên nữ so với tổng số thành viên trong hội đồng Việc gia tăng tỷ lệ này không chỉ thúc đẩy sự đa dạng giới tính mà còn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và ra quyết định trong tổ chức.

Sở hữu nhà nước được xác định qua tỷ lệ cổ phần mà cổ đông nhà nước nắm giữ so với tổng số cổ phần của doanh nghiệp Các nghiên cứu của Lan và cộng sự (2013), Vu (2012), cùng Hiếu và Lan (2015) đều áp dụng phương pháp đo lường này để phân tích tình hình sở hữu nhà nước trong các doanh nghiệp.

Sở hữu nước ngoài được xác định qua tỷ lệ cổ phần mà cổ đông nước ngoài nắm giữ so với tổng số cổ phần của doanh nghiệp Phương pháp này đã được áp dụng trong các nghiên cứu của Haniffa và Cooke (2002).

Lợi nhuận của doanh nghiệp có thể được đo lường bằng nhiều cách khác nhau, trong đó ROA (tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản) và ROE (tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) là hai chỉ số phổ biến Nghiên cứu này sử dụng ROA để đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp, tương tự như nghiên cứu của Haniffa và Cooke (2002) Việc lựa chọn ROA giúp loại trừ ảnh hưởng của cấu trúc vốn, mang lại cái nhìn rõ ràng hơn về hiệu quả sử dụng tài sản.

Tỷ suất nợ được xác định bằng tỷ số giữa nợ phải trả và tổng tài sản Các nghiên cứu trước đây của Vu (2012) và Hiếu cùng Lan (2015) cũng đã áp dụng phương pháp đo lường này.

Quy mô là một yếu tố quan trọng được nhiều tác giả nghiên cứu và đo lường theo nhiều cách khác nhau Nghiên cứu của Meek và cộng sự (1995) đã sử dụng tổng doanh thu hàng năm của doanh nghiệp để xác định quy mô, trong khi các nghiên cứu khác lại áp dụng tổng tài sản (Vu, 2012; Zhang, 2013; Hossain & Hammami, 2009) hoặc vốn hóa thị trường (Sukthomya, 2011) làm tiêu chí thay thế.

MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thường áp dụng mô hình hồi quy bội Mô hình này giúp phân tích mối quan hệ giữa các biến độc lập như quy mô công ty, sở hữu nước ngoài, sở hữu nhà nước, và đòn bẩy tài chính với mức độ công bố thông tin tự nguyện Các nghiên cứu trước đây như của Barako và cộng sự (2006), Vu (2012), Hiếu và Lan (2015) cũng đã sử dụng mô hình hồi quy bội để thực hiện phân tích tương tự Do đó, nghiên cứu này sẽ tiếp tục áp dụng mô hình hồi quy bội nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện.

Trong nghiên cứu này, biến phụ thuộc được xác định là biến liên tục, trong khi biến độc lập có thể là biến liên tục hoặc nhị phân Do đó, mô hình hồi quy tổng thể sẽ được thiết lập theo dạng phù hợp với các loại biến này.

Y : Chỉ số công bố thông tin

X1, X2X3 Xn: Biến độc lập của mô hình lần lượt

X1 : Mức độ độc lập hội đồng quản trị

X2 : Tỷ lệ sở hữuquản lý

X3 : Tỷ lệ thành viên nữ trong HĐQT

X4 : Tỷ lệ sở hữu nhà nước

X5 : Tỷ lệ sở hữu nước ngoài

X9 : Ngành nghề kinh doanh ò0: Tham số chặn ò1, ò2,ò3,.òn: Cỏc tham số chưa biết của mô hình e: Sai số ngẫu nhiên

CHỌN MẪU NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này tập trung vào các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, loại trừ các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán và ngân hàng do những doanh nghiệp này phải tuân thủ các quy định báo cáo khác nhau Tính đến ngày 31/12/2015, có 650 công ty niêm yết đủ điều kiện trên hai sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội và Hồ Chí Minh Theo nghiên cứu của Hair và cộng sự (2010), nếu tổng thể xác định được và nhỏ hơn 100.000, cỡ mẫu sẽ được tính theo công thức cụ thể.

1 + 𝑁𝑒 2 Trong đó N : số lượng tổng thể n : số lượng mẫu e : sai số tiêu chuẩn

Nghiên cứu này xác định cỡ mẫu là 87 công ty dựa trên công thức với N = 650 và sai số tiêu chuẩn ±10% Tuy nhiên, để tăng độ tin cậy, mẫu nghiên cứu sẽ bao gồm 100 công ty, trong đó có 50 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội và 50 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán khác.

Hồ Chí Minh, chiếm tỷ lệ 15,38% tổng thể

Dựa trên lý thuyết về công bố thông tin tự nguyện và các nghiên cứu trước, tác giả đã phát triển 9 giả thuyết nghiên cứu với 9 nhân tố độc lập, bao gồm mức độ độc lập của hội đồng quản trị, tỷ lệ sở hữu của quản lý, tỷ lệ thành viên nữ trong hội đồng quản trị, tỷ lệ sở hữu nhà nước, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, khả năng sinh lời, tỷ suất nợ, quy mô doanh nghiệp và ngành nghề kinh doanh Để thu thập và phân tích dữ liệu, tác giả đã xây dựng danh mục thông tin tự nguyện và phương pháp đo lường chỉ số công bố thông tin tự nguyện cũng như các nhân tố độc lập, từ đó hoàn thiện mô hình nghiên cứu và tiến hành thu thập dữ liệu.

PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN

Ngày đăng: 04/04/2022, 22:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[38] Hair, J. F., W.C.Black, B.J.Babin and R.E.Anderson (2010), “Multivariate data analysis”, 7 th ed, New Jersey: Pearson Education Inc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Multivariate data analysis
Tác giả: Hair, J. F., W.C.Black, B.J.Babin and R.E.Anderson
Năm: 2010
[1] Nghị định số 58/2012/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán Khác
[2] Nghị định 60/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán Khác
[3] Quyết định 15/2007/QĐ-BTC Quyết định của Bộ Tài chính về việc ban hành Điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán/Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Khác
[4] Quyết định số 02/VBHN-NHNN qui định Chế độ báo cáo tài chính đối với các tổ chức tín dụng ban hành ngày 21/01/2015 Khác
[5] Thông tư 52/2012/TT-BTC Hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam.Tiếng Anh Khác
[6] Adina, P., & Ion, P. (2008), Aspects regarding corporate mandatory and voluntary disclosure, Annals of the University of Oradea: Economic Science, 3(1), pp. 1407-1411 Khác
[7] Ahmed, K., Nicholls, D. (1994), The impact of non-financial company characteristic on mandatory disclosure compliance in developing countries: The case of Bangladesh, The International Journal of Accouting, 29 (1), pp. 62-77 Khác
[8] Armstrong, C. S., W. R. Guay, and J. P. Weber (2010), The role of information and financial reporting in corporate governance and debt contracting, Journal of Accounting and Economics, 50 (2-3), pp. 179- 234 Khác
[9] Agca, A., and S. Onder (2007), Voluntary disclosure in Turkey: A study on firms listed in Istanbul Stock Exchange (ISE), Problems and Perspectives in Management, 5 (3), pp. 241-251, 286 Khác
[10] Alves H., Rodrigues, A. M., & Canadas, N. (2012), Factors influencing the different categories of voluntary disclosure in annual reports: An analysis for Iberian Peninsula listed companies, Tekhne Review of Applied Management Studies, 10(1), pp. 15-26 Khác
[11] Alsaeed, K. (2005), The association between firm-specific characteristics and disclosure: The case of Saudi Arabia, Journal of American Academy of Business Cambridge, 7 (1), pp. 310-321 Khác
[12] Al-shammari, B., and W. Al-sultan (2010), Corporate governance and voluntary disclosure in Kuwait, International Journal of Disclosure and Governance, 7 (3), pp. 262 Khác
[13] Akhtaruddin, M., M. Hossain, M. Hossain, and L. Yao (2009), Corporate governance and voluntary disclosure in corporate annual reports of Malaysian listed firms, Journal of Applied Management Accounting Research, 7(1), pp. 1-19 Khác
[14] Akhtaruddin, M., and H. Haron (2010), Board ownership, audit committees effectivenessand corporate voluntary disclosures, Asian Review of Accounting, 18 (1), pp. 66-82 Khác
[15] Barako, D. G., Phil Hancock and H. Y. Izan (2006), Factors Influencing Voluntary Corporate Disclosure by Kenyan Companies, Corporate Governance An International Review, 14 (2), pp. 107-125 Khác
[16] Barako, D. G. (2007), Determinants of voluntary disclosures in Kenyan companies annual reports, African Journal of Business Management, 1 (5), pp. 113-128 Khác
[17] Beyer, A., D. A. Cohen, T. Z. Lys, and B. R. Walther (2010), The financial reporting environment: Review of the recent literature, Journal of Accounting and Economics, 50 (2-3), pp. 296-343 Khác
[18] Chau, G., and S. J. Gray (2010), Family ownership, board independence and voluntary disclosure: Evidence from Hong Kong, Journal of International Accounting Auditing and Taxation, 19 (2), pp. 93-109 Khác
[19] Cheng, E. C., and S. M. Courtenay (2006), Board composition, regulatory regime and voluntary disclosure, The International Journal of Accounting, 41 (3), pp. 262-289 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

DANH MỤC HÌNH VẼ Số hiệu - (luận văn thạc sĩ) các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
hi ệu (Trang 9)
Bảng 2.1 Bảng tóm tắt đo lường các nhân tố tác động - (luận văn thạc sĩ) các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.1 Bảng tóm tắt đo lường các nhân tố tác động (Trang 48)
Bảng 3.1 Bảng thống kê mô tả chỉ số mức độ công bố thông tin tự nguyện - (luận văn thạc sĩ) các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 3.1 Bảng thống kê mô tả chỉ số mức độ công bố thông tin tự nguyện (Trang 52)
Bảng 3.2 Bảng mô tả các biến độc lập - (luận văn thạc sĩ) các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 3.2 Bảng mô tả các biến độc lập (Trang 57)
3.3.2. Kiểm định các giả thiết và tính tin cậy của mô hình hồi qui - (luận văn thạc sĩ) các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
3.3.2. Kiểm định các giả thiết và tính tin cậy của mô hình hồi qui (Trang 67)
Hình 3.1 – 3.3 cung cấp các biểu đồ nhóm nhân tố quản trị công ty - (luận văn thạc sĩ) các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 3.1 – 3.3 cung cấp các biểu đồ nhóm nhân tố quản trị công ty (Trang 67)
Hình 3.4 – 3.5 cung cấp các biểu đồ nhóm nhân tố cơ cấu sở hữu - (luận văn thạc sĩ) các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 3.4 – 3.5 cung cấp các biểu đồ nhóm nhân tố cơ cấu sở hữu (Trang 68)
Hình 3.3 Tỷ lệ thành viên nữ tham gia HĐQT - (luận văn thạc sĩ) các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 3.3 Tỷ lệ thành viên nữ tham gia HĐQT (Trang 68)
Hình 3.8 – 3.9 cung cấp các biểu đồ về nhân tố quy mô - (luận văn thạc sĩ) các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 3.8 – 3.9 cung cấp các biểu đồ về nhân tố quy mô (Trang 69)
Hình 3.6 – 3.7 cung cấp các biểu đồ nhóm nhân tố các chỉ tiêu tài chính - (luận văn thạc sĩ) các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 3.6 – 3.7 cung cấp các biểu đồ nhóm nhân tố các chỉ tiêu tài chính (Trang 69)
Hình 3.7 Tỷ suất nợHình 3.6 Tỷ suất sinh lời - (luận văn thạc sĩ) các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 3.7 Tỷ suất nợHình 3.6 Tỷ suất sinh lời (Trang 69)
Bảng 3.13 Bảng hệ số tương quan giữa các biến - (luận văn thạc sĩ) các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 3.13 Bảng hệ số tương quan giữa các biến (Trang 72)
Theo Tabachnick và Field (2009), mô hình tồn tại điểm dị biệt khi hệ số Mahalanobis Distance của nó vượt quá giá trị 25 [68] - (luận văn thạc sĩ) các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
heo Tabachnick và Field (2009), mô hình tồn tại điểm dị biệt khi hệ số Mahalanobis Distance của nó vượt quá giá trị 25 [68] (Trang 74)
Đối với mục đích của nghiên cứu này, một mô hình hồi quy đa biến được xác định để kiểm tra mối liên hệ giữa biến phụ thuộc: mức độ công bố  thông tin tự nguyện (VnDI) và một tập hợp các biến dự báo - (luận văn thạc sĩ) các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
i với mục đích của nghiên cứu này, một mô hình hồi quy đa biến được xác định để kiểm tra mối liên hệ giữa biến phụ thuộc: mức độ công bố thông tin tự nguyện (VnDI) và một tập hợp các biến dự báo (Trang 75)
X1, X2, X3...X9: Biến độc lập của mô hình lần lượt X1 : Mức độ độc lập hội đồng quản trị - (luận văn thạc sĩ) các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
1 X2, X3...X9: Biến độc lập của mô hình lần lượt X1 : Mức độ độc lập hội đồng quản trị (Trang 80)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w