Tính cấp thiết của đề tài Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mọi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như V
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀO ĐÀO TẠO
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN HIỆP
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Trần Thái Lập
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 3
6 Bố cục đề tài 3
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN 8
1.1 VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 8
1.1.1 Khái niệm và phân loại việc làm 8
1.1.2 Đặc điểm và ý nghĩa của giải quyết việc làm cho thanh niên 20
1.2 NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN 28
1.2.1 Tạo việc làm mới cho thanh niên 29
1.2.2 Kết nối thanh niên với các cơ sở sử dụng lao động 32
1.2.3 Đào tạo nghề cho thanh niên 33
1.2.4 Giải quyết việc làm thông qua xuất khẩu lao động 34
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN 35
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 35
1.3.2 Điều kiện kinh tế 36
1.3.3 Điều kiện xã hội 38
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH
Trang 42.1 TỔNG QUAN CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIẢI QUYẾT
VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN HUYỆN ĐĂK MIL 40
2.1.1 Điều kiệntự nhiên 40
2.1.2 Điều kiện kinh tế 44
2.1.3 Điều kiện xã hội 46
2.2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN HUYỆN ĐĂK MIL 49
2.2.1 Thực trạng giải quyết việc làm từ tạo việc làm mới cho thanh niên 49
2.2.2 Thực trạng kết nối thanh niên với các cơ sở sử dụng lao động 50
2.2.3 Thực trạng tạo việc làm thông qua đào tạo, dạy nghề cho thanh niên 53
2.2.4 Thực trạng tạo việc làm thông qua đẩy mạnh xuất khẩu lao động cho thanh niên 55
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN HUYỆN ĐĂK MIL 56
2.3.1 Một số kết quả đạt được về giải quyết việc làm cho thanh niên huyện Đăk Mil 56
2.3.2 Những tồn tại, hạn chế 57
2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 60
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐĂK MIL 62
3.1 QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN HUYỆN ĐĂK MIL 62
3.1.1 Một số quan điểm chung 62
3.1.2 Định hướng và mục tiêu giải quyết việc làm của huyện Đăk Mil đến năm 2020 63 3.2 CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH
Trang 5NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐĂK MIL 68
3.2.1 Giải pháp tạo việc làm mới cho thanh niên 68
3.2.2 Tăng cường kết nối thanh niên với các cơ sở sử dụng lao động 71
3.2.3 Hoàn thiện và đẩy mạnh việc đào tạo, dạy nghề cho thanh niên huyện Đăk Mil 72
3.2.4 Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu 75
3.2.5 Các giải pháp khác 77
KẾT LUẬN 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO).
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mọi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như Việt Nam Giải quyết việc làm cho người lao động trong sự phát triển của thị trường lao động là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, góp phần tích cực vào việc hình thành thể chế kinh tế thị trường, đồng thời tận dụng lợi thế để phát triển, tiến kịp khu vực và thế giới
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề giải quyết việc làm, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối, chính sách thiết thực, hiệu quả nhằm phát huy tối đa nội lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi cơ cấu lao động, đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo nhiều việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị, tăng tỷ lệ sử dụng, thời gian lao động ở nông thôn, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân
Gần 30 năm đổi mới, cùng với những thành tựu to lớn về tăng trưởng kinh tế, Việt Nam cũng đạt được những kết quả quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người lao động, đời sống người lao động trong đó có tầng lớp thanh niên được cải thiện rõ rệt Thanh niên là lực lượng tiên phong trong phát triển chính trị, kinh tế và xã hội, đồng thời cũng là lực lượng mang lại sự thay đổi và đổi mới Thế giới việc làm tạo môi trường cho thanh niên để họ tham gia một cách chủ động vào xã hội, cống hiến tài năng và tầm nhìn cho tương lai, phát triển cam kết và các mối quan hệ xã hội Tuy nhiên, tính trung bình, tỷ lệ thất nghiệp ở thanh niên cao hơn từ hai đến ba lần so với nhóm dân
số lớn tuổi hơn, nhất là thanh niên ở nông thôn, những vùng khó khăn
Cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, ở khu vực huyện Đăk Mil, quá trình đô thị hoá đang diễn ra khá nhộn nhịp Đây là quy luật phát
Trang 9triển tất yếu, đem lại một cuộc sống văn minh, hiện đại, một nền kinh tế phát triển Song, bên cạnh những biến đổi tích cực đó còn những vấn đề xã hội khác đang cần quan tâm giải quyết Điển hình hơn cả là vấn đề việc làm của thanh niên vùng nông thôn Điều này được phát huy hiệu quả hay không phụ thuộc một phần vào chính sách và sự quan tâm của chính quyền địa phương
và các cơ quan chức năng
Điều đó đặt ra yêu cầu cần có sự nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên ở huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông, đảm bảo kinh tế có thể tăng trưởng cao, ổn định trong điều kiện Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và khu vực Để góp phần vào
những nghiên cứu chung đó, tôi chọn vấn đề “Giải quyết việc làm cho thanh
niên huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên
ngành Kinh tế Phát triển
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận
và thực tiễn của vấn đề lao động, việc làm, giải quyết việc làm cho thanh niên trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta nói chung và huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông nói riêng Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông
Đạt được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
- Hệ thống hoá và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về lao động, việc làm, giải quyết việc làm cho thanh niên trong điều kiện kinh tế thị trường
- Phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông
- Xác định quan điểm và đề xuất các giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông đến năm 2020
Trang 103 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: những vấn đề lý luận, thực tiễn liên quan đến việc làm và tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Đăk Mil
- Phạm vi nghiên cứu: luận văn đi sâu nghiên cứu vấn đề tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Đăk Mil giai đoạn 2010 - 2014, đề xuất các giải pháp tạo việc làm đến năm 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp so sánh Ngoài ra, cách thức thu thập tài liệu, thông tin được sử dụng trong nghiên cứu là:
- Kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó
- Tổng hợp các nguồn số liệu thông qua các báo cáo, tổng kết của các phòng, ban, ngành của tỉnh Đăk Nông và huyện Đăk Mil
- Tìm thông tin thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: Báo chí, internet
- Kết hợp các phương pháp thu thập thông tin, tài liệu, số liệu để có dữ liệu nghiên cứu, phân tích đầy đủ
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Luận văn góp phần làm rõ những vấn đề cơ bản về việc làm, giải quyết việc làm cho thanh niên, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Đăk Mil, giai đoạn 2010-2014;đề xuất giải pháp tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Đăk Mil đến năm 2020
6 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giải quyết việc làm cho thanh niên Chương 2: Thực trạng giải quyết việc làm cho thanh niên huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông
Trang 11Chương 3: Giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Vấn đề giải quyết việc làm được nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau, từ nhiều tác giả và cơ quan nghiên cứu Giá trị lớn nhất của những công trình nghiên cứu có liên quan là nêu thực trạng và đề xuất những giải pháp mang tính thực tiễn, nhằm giải quyết các vấn đề có liên quan đến đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động Có thể nêu một số công trình nghiên cứu có liên quan như:
Giáo trình Kinh tế lao động của TSKH Phạm Đức Chính, Trường ĐH Kinh tế Luật, Đai học Quốc gia TP.HCM (2008) Tác giả đã làm rõ những khái niệm về lao động và nguồn lao động, việc làm, thất nghiệp, tiền lương
Nghiên cứu của PGS.TS Đỗ Minh Cương có tựa đề: “Phát triển lao
động kỹ thuật ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn” Nghiên cứu này đã đi sâu
vào phân tích lực lượng lao động kỹ thuật nói chung trong đó có đề cập sâu đến hệ thống đào tạo nghề hiện nay và kết quả của quá trình đào tạo Nghiên cứu này tập trung vào khía cạnh cung lao động kỹ thuật trong nền kinh tế và các giải pháp chủ yếu để phát triển đào tạo nghề thúc đẩy cung lao động kỹ thuật cho nền kinh tế, trong đó đã đề cập đến việc làm cho người lao động nhưng không tập trung vào tất cả các đối tượng lao động qua đào tạo nghề mà
chủ yếu ở nhóm lao động kỹ thuật
Một công trình trực tiếp giải quyết vấn đề việc làm đó là: "Về chính
sách giải quyết việc làm ở Việt Nam" của tác giả TS.Nguyễn Hữu Dũng Nghiên cứu này đi sâu và phân tích toàn diện các chính sách giải quyết việc làm trong nền kinh tế trong những năm cuối thế kỷ 20 Tác giả đã trình bày phủ rộng hầu hết các vấn đề liên quan đến các chính sách giải quyết việc làm
và đề xuất các giải pháp giải quyết việc làm ở nước ta Tuy nhiên công trình
Trang 12này không đề cập riêng cho việc làm của lực lượng lao động thanh niên và các vấn đề liên quan đến đối tượng này
Hầu hết, công trình nghiên cứu đã được công bố, chủ yếu tập trung nghiên cứu vấn đề đào tạo nghề, việc làm, giải quyết việc làm cho người lao động do tác động, ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hội nhập ở nhiều góc độ và ở những địa phương khác nhau
Trong nghiên cứu của PGS.TS Bùi Quang Bình (2007), đánh giá tình hình thất nghiệp và thiếu việc làm ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào đối tượng lao động trẻ từ 15-35 tuổi và tập trung ở khu vực nông thôn Lý do cơ bản nhất của thiếu việc làm do không có nghề nghiệp chuyên môn hay không được đào tạo nghề Trong nghiên cứu này cũng đề cập tới cơ chế phân bổ chi phí đào tạo giữa doanh nghiệp và người lao động cho đào tạo nghề Tiếp đó trong nghiên cứu năm 2011 và 2012, tác giả cũng khẳng định quá trình công nghiệp hoá đòi hỏi phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đặc biệt là phải chú trọng đào tạo nghề cho lao động khu vực nông thôn Trong nghiên cứu
2010 tác giả Bùi Quang Bình đã chỉ ra những vấn đề tồn tại của hệ thống đào tạo nghề khu vực nông thôn và kiến nghị các giải pháp cụ thể: Các địa phương nên lập dự án đào tạo nghề cho lao động nông thôn với những ngành nghề phù hợp; Xây dựng kế hoạch đào tạo nghề gắn với chương trình giải quyết việc làm và xoá đói giảm nghèo; Có chính sách ưu đãi đối với đào tạo nghề cho lao động nông thôn; Tuyên truyền vận động và phân luồng hướng nghiệp cho học sinh phổ thông nông thôn Đây có thể coi là những gợi ý cho nghiên cứu về đề tài này
Tác giả Tạ Đức Khánh (2009) thông qua giải thích cơ chế vận hành của thị trường lao động đã chỉ ra rằng việc làm của lao động chỉ có được nếu kết hợp được các nhân tố sản xuất như máy móc, công nghệ và lao động Nhưng lao động phải có trình độ chuyên môn và tay nghề và do đó phải đào tạo Đào
Trang 13tạo coi như một thị trường có cung và cầu, mối quan hệ mâu thuẫn lợi ích giữa cung và cầu này chỉ được giải quyết thông qua thị trường
Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Quỳnh An “Tăng cường khả năng tự
tạo việc làm cho thanh niên Việt Nam” Luận án đã hệ thống hoá và bổ sung
cơ sở lý luận nghiên cứu về tự tạo việc làm nói chung, tự tạo việc làm của thanh niên nói riêng và các yếu tố ảnh hưởng thông qua xây dựng lần đầu tiên khái niệm sâu và đầy đủ về “tự tạo việc làm”, “khả năng tự tạo việc làm” và
“tăng cường khả năng tự tạo việc làm” Luận án đề ra các giải pháp để tăng khả năng tự tạo việc làm cho thanh niên nói chung Tuy vậy, nghiên cứu này chưa chỉ rõ các biện pháp để thanh niên ở từng khu vực như thành thị, nông thôn tự tạo việc làm phù hợp với đặc điểm vùng, miền
Nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Nguyệt Nga (2012): “Giải quyết
việc làm cho lao động thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai’’ Nghiên cứu này đi
sâu phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp việc làm cho lao động nói chung, chưa đi sâu vào giải quyết việc làm đối tượng có những nét đặc thù riêng là thanh niên
Nghiên cứu của tác giả Lưu Bích Ngọc (2011): “Giải quyết việc làm
cho lao động nữ ở tỉnh Quảng Nam” Nghiên cứu này đi sâu phân tích và đề
xuất các chính sách giải quyết việc làm cho lao động nữ ở tỉnh Quảng Nam Tuy nhiên, công trình này phần lớn tập trung chủ yếu giải quyết việc làm cho lao động nữ ở khu vực nông thôn và thành thị chưa đề cập riêng vấn đề tạo việc làm cho đối tượng có những nét đặc thù riêng là thanh niên
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Bửu (2013): “Giải quyết việc làm
cho thanh niên huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng’’ Nghiên cứu này đi
sâu phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên ở huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng Tuy nhiên, công trình này nghiên cứu đặc thù thanh niên ở vùng trung du, đồng bằng, chưa đề cập đến
Trang 14thanh niên vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, nhiều thành phần dân tộc khu vực vùng Tây Nguyên
Ở Đăk Nông, đã có những bài viết về đào tạo nghề, việc làm và tạo việc
làm cho người lao động như: “Chương trình hành động thực hiện chiến lược
phát triển dạy nghề trên địa bàn tỉnh Đăk Nông thời kỳ 2011-2020“(Ban hành
kèm theo Quyết định số 600/QĐ-UBND, ngày 11/12/2012 của UBND tỉnh
Đăk Nông; Phan Tuấn: “Quan tâm hướng nghiệp, giải quyết việc làm cho
kinh tế xã hội huyện Đăk Mil đến năm 2020
Hầu hết các công trình nghiên cứu đã được công bố chủ yếu tập trung nghiên cứu vấn đề đào tạo nghề, việc làm, tạo việc làm cho người lao động nói chung Giá trị lớn nhất của những công trình nghiên cứu này là phân tích thực trạng và đề xuất những giải pháp mang tính thực tiễn nhằm giải quyết các vấn đề có liên quan đến đào tạo nghề, tạo việc làm cho người lao động, chưa có nghiên cứu nào đi sâu phân tích thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông Nghiên cứu các công trình đã công bố, tôi cũng tham khảo được nhiều vấn đề lý luận
và thực tiễn rất có giá trị đối với đề tài của mình Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những vấn đề được nghiên cứu trong các công trình khoa học đó, kết hợp với việc tìm hiểu tình hình thực tế trên địa bàn huyện Đăk Mil, tôi có thể rút
ra và kiến nghị những giải pháp tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Đăk Mil
Trang 15CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO THANH NIÊN
1.1 VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
1.1.1 Khái niệm và phân loại việc làm
a Khái niệm việc làm
Ngày nay, việc làm, thiếu việc làm, thất nghiệp là một trong những vấn đề có tính chất toàn cầu, là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia, bởi
nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của một đất nước Tăng việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp là một trong những biện pháp quan trọng để từng bước
ổn định và nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo phát triển bền vững Đặc biệt đối với Việt Nam, tốc độ tăng dân số, nguồn lao động cao, trong khi tốc
độ tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm bị hạn chế do khả năng cung về vốn, tư liệu sản xuất còn thấp
Về mặt bản chất, việc làm là quan hệ tích cực, sáng tạo của chủ thể việc làm với hoạt động sống của mình, với ý nghĩa, nội dung và mục đích đặt
ra Tuỳ thuộc vào từng thời điểm, không gian và từng chủ thể có cách tiếp cận vấn đề, đưa ra các khái niệm khác nhau về việc làm
Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế, xã hội
và nhân khẩu; nó thuộc loại vấn đề chủ yếu nhất của toàn bộ đời sống xã hội
Hiện nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng, khái niệm “việc làm” và
“thị trường lao động” không hiếm khi bị đồng nhất với nhau Hệ thống việc
làm được đưa thêm hàng loạt chức năng không đúng là tính chất của nó, còn thị trường lao động được tăng thêm tính chất tổng hợp Khái niệm việc làm và khái niệm lao động có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, nhưng không hoàn toàn giống nhau Việc làm không phải là hoạt động mà là những quan hệ xã hội giữa
Trang 16lao động vào hợp tác lao động cụ thể trong một chỗ làm việc xác định Hoạt động lao động, trước hết, đó là một quá trình, còn việc làm là tài sản của chủ thể mà bằng cách nào đấy được đưa vào (hay là loại trừ ra) từ quá trình đó Về giác độ kinh tế, việc làm thể hiện mối tương quan giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, giữa yếu tố con người và yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất Việc làm gắn với quá trình tăng thu nhập, giảm sự nghèo khổ của người lao động, đồng thời không đi ngược lại với lợi ích cộng đồng mà pháp luật quy định Nói cách khác, việc làm là công việc, những hoạt động có ích, không bị pháp luật cấm và mang lại thu nhập cho bản thân hoặc tạo điều kiện để tăng thu nhập cho các thành viên trong gia đình, đồng thời góp một phần cho xã hội
Nhà khoa học nổi tiếng trong kinh tế lao động người Nga Kotlia A, đã đưa ra khái niệm việc làm như phạm trù kinh tế nói chung tồn tại ở mọi hình thái xã hội Đồng thời, việc làm là phạm trù tái sản xuất xã hội, mà không thể đồng nhất với lao động và sử dụng sức lao động Nó định rõ đặc tính dân số hoạt động kinh tế so với những yếu tố sản xuất vật chất thể hiện quan hệ giữa con người về việc tham gia của họ vào trong sản xuất xã hội
Các nhà khoa học kinh tế Anh thì lại cho rằng “việc làm theo nghĩa rộng
là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩa là tất cả những gì quan
hệ đến cách kiếm sống của một con người, kể cả các quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình kinh tế” Theo quan điểm này thì tất cả những việc làm tạo ra thu nhập mà không cần phân biệt có được pháp luật thừa nhận hay ngăn cấm đều được gọi là việc làm
Các nhà kinh tế Sônhin và Grincốp của Liên xô lại cho rằng, “việc làm
là sự tham gia của người có khả năng lao động vào một hoạt động xã hội có ích trong khu vực xã hội hoá của sản xuất, trong học tập, trong công việc nội trợ, trong kinh tế phụ của các nông trang viên” Theo khái niệm này thì những người đang đi học, đang tham gia hoạt động trong các lực lượng vũ trang,
Trang 17những người nội trợ đều coi là người có việc làm Ngày nay, ở Liên Bang Nga khái niệm này được quy định rõ trong Bộ Luật Việc làm của dân cư Liên bang Nga như sau: “việc làm là hoạt động của công dân nhằm thoả mãn những nhu cầu xã hội và của cá nhân, đem đến cho họ thu nhập và không bị pháp luật Liên bang ngăn cấm”
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), khái niệm việc làm chỉ đề cập đến trong mối quan hệ với lực lượng lao động Khi đó, việc làm được phân thành hai loại: Có trả công (những người làm thuê, học việc ) và không được trả công nhưng vẫn có thu nhập (những người như giới chủ làm kinh tế gia đình ) Vì vậy, “việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng trong đó
có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có một sự tham gia tích cực, có tính chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất” Theo khái niệm này, người có việc làm là người làm việc gì đó để được trả công, lợi nhuận được thanh toán bằng tiền hoặc hiện vật, hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập của gia đình (không được nhận tiền công hay hiện vật) Khái niệm này đã được chính thức nêu tại Hội nghị quốc
tế lần thứ 13 của nhà thống kê lao động (ILO.1993) và đã được áp dụng ở nhiều nước Tuy nhiên, quan niệm này mang nghĩa rất rộng, bao trùm mọi hoạt động lao động của con người Trong thời đại ngày nay, với quan niệm trên, có rất nhiều người sẽ thuộc diện có việc làm, bao gồm: những hoạt động mang tính hợp pháp và những hoạt động mang tính phi pháp hay là những hoạt động lao động của con người vi phạm pháp luật hoặc bị cho là vi phạm đạo đức xã hội và bị ngăn cấm ở một số nước Ví dụ, việc buôn bán heroin, mại dâm, ở các nước như Hà Lan, Colômbia thì không cấm, nhưng những hoạt động này bị cấm ở các nước khác, đặc biệt là các nước Châu Á như: Việt Nam, Trung Quốc Do vậy, khái niệm trên chỉ mang tính khái quát, là cơ sở nghiên cứu vấn đề chung cho các nước trên thế giới
Trang 18Ở nước ta, trong thời kỳ tập trung bao cấp, nhà nước đã đứng ra giải quyết việc làm, trực tiếp quản lý nguồn lao động kể từ khâu đào tạo, phân bổ đến việc sử dụng đãi ngộ đối với người lao động thực hiện theo chỉ tiêu pháp lệnh Trong giai đoạn này, những khái niệm về thiếu việc làm, lao động dư thừa, việc làm không đầy đủ hầu như không được biết đến Còn khái niệm
“thất nghiệp” dường như là điều cấm kị nói tới dưới bất kỳ hình thức nào, trong nền kinh tế quốc dân, xu hướng quốc doanh hoá được coi là một điều tất yếu Hướng phấn đấu của mọi cơ sở sản xuất kinh doanh là chuyển nhanh vào khu vực quốc doanh, đối với mỗi công dân là vào đội ngũ viên chức nhà nước Do đó việc làm và người có việc làm được xã hội thừa nhận và trân trọng là những người làm việc trong thành phần kinh tế quốc doanh, khu vực Nhà nước và kinh tế tập thể
Khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, quan điểm về việc làm được hiểu là hoạt động lao động không bị pháp luật ngăn cấm tạo thu nhập hoặc tạo
ra điều kiện cho các thành viên trong hộ gia đình có thêm thu nhập Điều này cũng phù hợp với các nhìn nhận và phân tích của Nhà nước ta, được quy định trong Điều 13 của Bộ luật Lao động: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm”
Khái niệm việc làm của Bộ luật Lao động Việt Nam được cụ thể hoá,
có thể hiểu dưới ba dạng hoạt động sau:
- Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằng tiền mặt hoặc hiện vật
- Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân
- Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó
Theo quan niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn hai tiêu thức:
Trang 19Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động
và cho các thành viên trong gia đình Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm
Thứ hai, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm Điều này cho rõ
tính pháp lý của việc làm, quan niệm đã rõ ràng hơn so với quan niệm của tổ chức ILO Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, ngành nghề và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động ở Việt Nam trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Người lao động hợp pháp ngày nay được đặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do hành nghề, tự do liên kết kinh doanh, tự do tìm kiếm việc làm, tự do thuê mướn lao động trong khuôn khổ của pháp luật, không bị phân biệt đối xử dù làm việc trong hay ngoài khu vực Nhà nước Điều này khẳng định tính chất pháp lý trong hoạt động của người lao động thuộc khu vực ngoài Nhà nước và các khu vực phi chính thức
Hai điều kiện đó có quan hệ chặt chẽ với nhau và là điều kiện cần và đủ
để một hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm Nếu một hoạt động tạo ra thu nhập, nhưng vi phạm pháp luật như trộm cắp, buôn bán ma tuý, mại dâm thì không được thừa nhận là việc làm Mặt khác một hoạt động là hợp pháp và có ích, nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là việc làm
Nhận thức về việc làm và tạo việc làm đã có sự chuyển biến căn bản Nếu như trước đây, quan niệm phổ biến là Nhà nước chịu trách nhiệm tạo việc làm và bố trí việc làm cho người lao động thì nay đã chuyển sang quan niệm tạo việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, doanh nghiệp, xã hội và của chính bản thân người lao động Sự thay đổi quan niệm về việc làm của Nhà nước phù hợp với nền kinh tế thị trường, coi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm, có vai trò quan trọng trong giải phóng sức lao động, thúc đẩy tạo mở việc làm và phát
Trang 20Quan niệm về việc làm nêu trên đã mang tính khái quát cao, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế, cụ thể là:
Thứ nhất, xét trên phạm vi rộng thì tính hợp pháp của một hoạt động
lao động được thừa nhận là việc làm tuỳ thuộc vào luật pháp của mỗi quốc gia
và mỗi thời kỳ Có hoạt động là việc làm ở nước này nhưng lại không được thừa nhận là việc làm ở nước khác
Thứ hai, không phải mọi hoạt động có ích và cần thiết cho gia đình và
xã hội đều tạo ra thu nhập mặc dù nó góp phần làm giảm chi tiêu cho gia đình thay vì thuê người làm công
Theo giáo trình Kinh tế Lao động của Khoa Kinh tế Lao động và Dân số- Trường đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, khái niệm việc làm được hiểu
“là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ ) để sử dụng sức lao động đó”
Trạng thái phù hợp được thể hiện thông qua quan hệ tỉ lệ giữa chi phí ban đầu (C) như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và chi phí về sức lao động (V) Quan hệ tỉ lệ biểu diễn sự kết hợp giữa sức lao động với trình độ công nghệ sản xuất Khi công nghệ thay đổi thì sự kết hợp đó cũng thay đổi theo, có thể công nghệ sử dụng nhiều vốn hoặc công nghệ sử dụng nhiều sức lao động Chẳng hạn, trong điều kiện kỹ thuật thủ công một đơn vị chi phí ban đầu về tư liệu sản xuất, vốn có thể kết hợp với nhiều đơn vị sức lao động Còn trong điều kiện tự động hoá, sản xuất theo dây chuyền hiện đại thì chi phí về vốn, thiết bị, công nghệ rất cao, nhưng chỉ đòi hỏi sức lao động với tỉ lệ thấp Do đó, tuỳ từng điều kiện cụ thể mà lựa chọn phương án phù hợp để có thể tạo việc làm cho người lao động
Trong điều kiện của tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự áp dụng các thành tựu của khoa học công nghệ vào sản xuất mạnh mẽ như hiện nay, quan hệ tỉ
lệ giữa C và V thường xuyên biến đổi theo các dạng khác nhau
Trang 21- Sự phù hợp giữa chi phí ban đầu và sức lao động có nghĩa là mọi người có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc đều có việc làm Nếu chỉ xem xét trên phương diện sử dụng hết thời gian lao động có nghĩa là việc làm đầy đủ Trong trường hợp sự phù hợp của mối quan hệ này cho phép sử dụng triệt để tiềm năng về vốn, tư liệu sản xuất và sức lao động ta có khái niệm việc làm hợp lý
- Sự không phù hợp giữa chi phí ban đầu và sức lao động sẽ dẫn đến thiếu nguồn nhân lực tức thiếu việc làm và thất nghiệp
Trong luận văn này, từ những phân tích trên, tác giả đồng tình với khái
niệm việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và
những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ ) để sử dụng sức lao động đó Trên cơ sở này sẽ hình thành các dạng việc làm cũng như phân
tích các nhân tố ảnh hưởng đến hỗ trợ giải quyết việc làm
b Phân loại việc làm
Trong lý thuyết và cả trong thực tế việc làm được chia làm nhiều hình thức khác nhau Những hình thức việc làm là các phương pháp tổ chức pháp
lý và những điều kiện sử dụng lao động Trong khuôn khổ của thị trường lao động quốc gia hoạt động lao động của con người được tổ chức với sự trợ giúp của những hình thức tổ chức pháp lý khác nhau, được phân biệt bởi định mức điều tiết pháp lý thời gian và chế độ ngày làm việc, sự đều đặn của hoạt động lao động, vị trí thực hiện công việc
- Việc làm đầy đủ khái niệm việc làm đầy đủ không thể chỉ giải thích
theo một nghĩa, nó phụ thuộc vào tiêu chí và tính chất của vấn đề Đầy đủ ở đây không có nghĩa là việc làm chung cho tất cả mọi người, đảm bảo chỗ làm việc cho tất cả dân số có khả năng lao động Xã hội luôn có khuynh hướng đạt được cân đối nguồn lao động trong mức tối đa, dự đoán dòng chuyển động nguồn lao động được dựa trên cơ sở dự báo và lên kế hoạch tạo chỗ làm
Trang 22việc Trong tư duy và thực tế ở phương Tây, việc làm đầy đủ là tình hình nền kinh tế, mà ở đó tất cả những người mong muốn làm việc có việc làm với mức lương thực tế khống chế Trong ngữ cảnh này nó được sử dụng đồng nhất như khái niệm “toàn dụng nhân lực”
Trong lý thuyết kinh tế và thực tế người ta còn chia việc làm đầy đủ ra thành nhiều dạng như việc làm năng suất, hiệu quả và hợp lý
- Việc làm năng suất có nghĩa là việc làm tạo ra những phúc lợi và
dịch vụ hữu ích cả cho xã hội và cả cho từng người lao động
- Việc làm hợp lý dự đoán sự phân chia một cách tối ưu người đang
làm việc theo các ngành sản xuất và các khu vực lãnh thổ của đất nước với mục đích sản xuất ra những sản phẩm và sử dụng những dịch vụ phục vụ cho nhu cầu
- Việc làm hiệu quả là việc làm trong sản xuất sinh lợi nhuận được
trang bị kỹ thuật với tổ chức lao động tiên tiến, năng suất lao động cao và đảm bảo chất lượng sản phẩm Nó dự đoán sự hiện có những cán bộ và đội ngũ những nhà quản lý có trình độ chuyên nghiệp cao và hướng tới công việc
có hiệu quả Khái niệm việc làm hiệu quả này thường hướng vào sự phát triển toàn diện con người và hoàn toàn chấp nhận được, nhưng nó khá rộng
và không có khả năng đo được bằng một chỉ tiêu
Về hiệu quả việc làm có thể theo chỉ tiêu định mức thất nghiệp Hiện nay, ở phương Tây, việc làm đầy đủ và có hiệu quả đạt được khi có sẵn định mức thất nghiệp tự nhiên Định mức thất nghiệp tự nhiên là mức độ của nó mà kiềm chế mức lương thực tế và giá cả không thay đổi với mức tăng trưởng năng suất lao động bằng không Trong thực tế định mức thất nghiệp được tính bằng cách tính tổng thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cấu trúc Phương pháp đơn giản nhất để tính định mức thất nghiệp tự nhiên
là tính theo mức độ của nó trong điều kiện lạm phát ở mức vừa phải Vì
Trang 23vậy, không nên đánh giá việc làm đầy đủ và có hiệu quả chỉ theo một phương pháp, mà để nhận được thông tin chính xác thì nên sử dụng hệ thống các chỉ tiêu đã nêu trên
- Việc làm hợp lý: là sự thoả mãn nhu cầu làm việc cho bất cứ ai có
khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân và phù hợp với trình độ, nguyện vọng của họ
Việc làm hợp lý không những hàm chứa nội dung việc làm đầy đủ mà còn nói rõ việc làm đó phải phù hợp với khả năng và nguyện vọng của người lao động Việc làm hợp lý, do vậy có năng suất lao động và hiệu quả kinh tế-
xã hội cao hơn so với việc làm đầy đủ Trong quá trình thực hiện việc làm đầy đủ, cần từng bước, từng bộ phận thực hiện việc làm hợp lý Việc làm hợp
lý phản ánh sự phù hợp về mặt số lượng và chất lượng của các yếu tố con người với điều kiện vật chất của sản xuất và xã hội, hợp lý giữa lợi ích cá nhân người lao động với lợi ích của xã hội
Khái niệm việc làm đầy đủ và việc làm hợp lý cũng chỉ mang ý nghĩa tương đối Vì trong nền kinh tế thị trường có điều tiết thì việc làm đầy đủ và việc làm hợp lý không có nghĩa là không có người thất nghiệp Mục tiêu phấn đấu của chúng ta là việc làm, tiến tới việc làm đầy đủ, việc làm hợp lý
và tự do lựa chọn việc làm
- Việc làm chính: là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian
nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với các công việc khác Như vậy, những hoạt động lao động của con người mang lại nguồn thu nhập chính cho bản thân và gia đình họ thì đó là việc làm chính Hiện nay, các hoạt động lao động được coi là việc làm chính, ví dụ những người lao động làm việc trong các doanh nghiệp, các cơ quan đơn vị bởi vì thời gian và nguồn thu nhập của
họ lại chiếm cao hơn so với các công việc làm thêm ngoài giờ của họ Mặc
dù hiện nay, vấn đề làm thêm giờ hoặc làm ở nhà do có cửa hàng của gia
Trang 24đình nhưng số thời gian mà họ việc trong một ngày vẫn chiếm tỉ lệ cao tại các doanh nghiệp, cơ quan
Mặt khác, những hộ gia đình có cơ sở sản xuất kinh doanh dựa vào nguồn sẵn có của mình để mở một cửa hàng mà nguồn thu nhập lại phụ thuộc rất lớn vào cửa hàng thì khi đó, công việc mà họ làm tại cửa hàng đó cũng được coi là việc làm chính
- Việc làm phụ:là việc làm thêm theo nhu cầu hoặc mong muốn của
người lao động để kiếm thêm thu nhập ở một công sở khác hoặc là ngay tại chính nơi mình đang làm việc Việc làm phụ được xếp vào nhóm những công việc kiêm nhiệm cả ở những công sở khác và cả ở nơi đang làm việc; những công việc dịch vụ vào những lúc nhàn rỗi; buôn bán lặt vặt Trong số nhiều hình thức việc làm khác nhau thì việc làm phụ chiếm một vị trí đặc biệt Nó gắn với đặc thù bản chất việc làm và cả với tác động mà nó ảnh hưởng tới hoạt động của thị trường lao động Việc làm phụ là hình thức sử dụng lực lượng lao động bổ sung vào hoạt động lao động, hay nói cụ thể là việc làm có thu nhập thêm ở doanh nghiệp (công sở) khác hoặc là ngay tại nơi đang làm việc, mà đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới, trong đó có Việt Nam
Việc làm thêm là nhu cầu chính đáng của người lao động để tăng thu nhập trong điều kiện mức sống còn thấp như ở Việt Nam, đồng thời còn là mong muốn thể hiện khả năng cạnh tranh của chính bản thân người lao động trên thị trường lao động và cũng là một “cầu nối đặc biệt” đảm bảo thay thế chỗ làm việc mới trong tương lai mà không phải trải qua thời kỳ thất nghiệp Hiện nay, việc làm thêm tuỳ tiện ở một số ngành (như giáo dục, y tế), sự khác biệt quá lớn giữa tiền lương và thu nhập của một bộ phận công chức dưới danh nghĩa việc làm thêm của khu vực nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay lại ảnh hưởng rất tiêu cực đến tình hình kinh tế - xã hội nói chung và sự phát triển đồng bộ thị trường lao động nói riêng
Trang 25Cùng với chính sách mới cho người lao động được tự do lựa chọn công việc và nghề nghiệp thì việc làm phụ là một biểu hiện hợp lý Tuy nhiên, ở Việt Nam, biểu hiện này về cơ bản nó gắn với những xuất hiện tiêu cực như: việc làm không đầy đủ, thu nhập của người lao động thấp, tăng trưởng kinh tế chưa bền vững Xét từ góc độ này thì phát triển việc làm phụ rộng rãi chỉ là biểu hiện tạm thời và nó sẽ giảm khi nền kinh tế - xã hội của đất nước phát triển ổn định
- Việc làm không trọn ngày:hay việc làm dở dang có đặc điểm công
việc trong chế độ thời gian làm việc không trọn ngày làm việc hoặc tuần làm việc không đầy đủ, nghỉ phép bắt buộc không hưởng lương theo chủ động của lãnh đạo công sở (doanh nghiệp), có thể được ấn định từ phía công ty, người thuê lao động và thậm chí có thể từ sự thoả thuận đồng ý của người lao động, đó là việc làm không trọn ngày tự nguyện Thời gian gần đây, cả chế
độ này hay chế độ kia đều được sử dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển
Đối với người lao động, việc làm không trọn ngày hoàn toàn có thể chấp nhận được trong hàng loạt các trường hợp: phụ nữ có con nhỏ, những lao động lớn tuổi, những người tàn tật, thanh niên vừa đi học, vừa đi làm đều
có lợi thế với loại hình việc làm này
- Việc làm độc lập:là công việc độc lập theo chủ động cá nhân không
thu nhận lao động làm thuê khi sản xuất những hàng hoá tiêu dùng và các dịch vụ khác nhau Đồng thời người lao động làm chủ những phương tiện sản xuất nhất định và tự tổ chức công việc cho mình Trong giới hạn nhất định việc làm độc lập là tình thế phải chọn của người lao động thất nghiệp (có thể
do doanh nghiệp không đủ năng lực đảm bảo khả năng với mức lương đầy đủ), nhưng điều đó không thể phủ nhận vai trò tích cực chủ động của nó
- Việc làm tổng thể:là việc làm trong tất cả các lĩnh vực hoạt động lao
Trang 26động, cả trong nền kinh tế của đất nước, cả trong các hệ thống giáo dục và đào tạo chuyên nghiệp, trong dịch vụ quốc phòng, kinh tế gia đình, trong các công sở, tôn giáo và trong cả trong các dạng khác hoạt động công ích xã hội
- Việc làm linh hoạt (thời gian linh hoạt):là việc làm tồn tại dưới nhiều
dạng, hình thức phổ biến là khi người lao động thoả thuận với người sử dụng lao động có thể tự lựa chọn thời gian bắt đầu và kết thúc công việc, đồng thời bắt buộc người lao động phải tuân theo chế độ ngày làm việc hoặc quỹ thời gian theo tuần (tháng) đã quy định
- Việc làm tạm thời:là những công việc theo hợp đồng hoặc là công
việc khoán Các công ty quan tâm tới loại hình công việc này vì họ có thể tự
do thay đổi số lượng lao động làm thuê, giảm chi phí cho nhân viên bằng cách trả lương tạm thời thấp hơn cho người đang làm việc, thay thế linh hoạt những người thường xuyên vắng mặt vì lý do nào đó, tăng nhanh chóng số người làm việc Việc làm tạm thời được sử dụng rộng rãi trong các ngành thương mại, dịch vụ và xây dựng
- Việc làm theo thời vụ:là loại hình việc làm gắn với những công việc
theo thời vụ trong nông nghiệp, xây dựng, khai thác rừng, ở các khu nghỉ mát, trong các ngành mía đường, đánh bắt hải sản và nhiều ngành khác với công việc không đều trong năm Với loại hình này phần thời gian còn lại đáng kể trong năm người lao động không có việc làm Về bản chất nó là biến thể của việc làm tạm thời, nhưng có điểm khác ở chỗ là việc làm thời vụ có thể lặp lại hàng năm ở chỗ này hay chỗ khác
- Việc làm không tiêu chuẩn hoá:là loại việc làm bao gồm rất nhiều
hình thức, một trong số đó là làm việc tại nhà, khi người lao động nhận nguyên vật liệu, máy móc, công cụ từ công ty rồi thường kỳ trao trả thành phẩm hoặc bán thành phẩm Không ít người quan tâm tới loại hình công việc này, bởi vì chính họ tự xác định được thời gian, khối lượng công việc và có
Trang 27thể kết hợp với việc khác như: chăm sóc con cái, vừa làm, vừa học thêm, làm các việc lặt vặt trong gia đình Mặt khác, công ty lại giảm được diện tích sản xuất, tiết kiệm chi phí lương mà những người làm ở nhà thường được nhận ít hơn những người làm chính
Hình thức quan trọng của việc làm không theo tiêu chuẩn hoá là những công việc xã hội, được tổ chức bởi các dịch vụ việc làm và chính quyền địa phương dành riêng cho những người thất nghiệp Đó là những công việc tạm thời ít cần đến chuyên môn như: thu dọn địa hạt, tham gia vào xây dựng đường giao thông
1.1.2 Đặc điểm và ý nghĩa của giải quyết việc làm cho thanh niên
a Khái niệm giải quyết việc làm
Theo khái niệm việc làm nêu ở phần trên, việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ ) để sử dụng sức lao động đó Rõ ràng tạo được việc làm cho người lao động hoặc tạo nhiều việc làm luôn gắn với quá trình phát triển kinh tế xã hội, phát huy sức mạnh tiềm năng của con người, phát huy trí tuệ người lao động để tạo ra nhiều của cải cho xã hội Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội X của Đảng đã nêu rõ “Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân” Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động là cần thiết, không những mang tầm quốc gia mà vượt ra bên ngoài khu vực và thế giới Tuỳ thuộc vào các cách thức tiếp cận và mục đích nghiên cứu khác nhau mà
người ta đưa ra khái niệm về giải quyết việc làm:Giải quyết việc làm là một
quá trình tạo ra môi trường hình thành các chỗ làm việc và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để có các việc làm chất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử dụng lao động, đồng thời đáp ứng được mục tiêu phát triển đất nước
Trang 28Với khái niệm trên, việc giải quyết việc làm không chỉ có nhiệm vụ chức năng của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của xã hội, của các cơ quan doanh nghiệp và ngay bản thân người lao động Hiện nay, các chính sách của Nhà nước luôn quan tâm chú trọng đến tạo công ăn việc làm cho người lao động thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, chính sách hỗ trợ tới tận hộ gia đình, các cá nhân sẵn sàng làm việc Chính vì vậy, chính sách nhà nước là một trong những tác động quan trọng rất mạnh đến việc làm của người lao động như khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất như giảm thuế tiền sử dụng đất, thuê nhà xưởng, văn phòng, hỗ trợ
về cơ sở hạ tầng điện đường, trường trạm nhằm phục vụ cho các công trình sản xuất Chính sách chính sách nhà nước tác động toàn diện đến vấn đề giải quyết việc làm Bên cạnh đó, các chương trình, chiến lược phát triển, các hoạt động cụ thể của các doanh nghiệp tác động trực tiếp đến giải quyết việc làm cho người lao động như đào tạo nguồn lao động, tuyển dụng, bố trí sắp xếp lao động phù hợp năng lực và yêu cầu
Trong khái niệm trên, giải quyết việc làm còn có một ý nghĩa là tạo thêm được công ăn việc làm mới cho người lao động Ở đây là tạo thêm công ăn việc làm mới cho người lao động mang tính chất là người lao động đang không có việc làm nay có việc làm chứ không phải là người lao động đang đi làm có thêm được việc làm khác nữa Với khái niệm như vậy, theo cách hiểu trên thì giải quyết việc làm là tạo thêm việc làm mới từ các cơ chế chính sách của Nhà nước cũng như việc tuyển dụng thêm lao động của các doanh nghiệp
Ngoài ra, hình thành môi trường cho sự kết hợp các yếu tố sức lao động và tư liệu sản xuất Ở đó thông qua cơ chế chính sách khuyến khích thu hút của Nhà nước, thông qua sự hoạt động đầu tư của nhà sản xuất nhằm tạo thêm nơi làm việc mà người lao động có thể vận dụng sức lao động của mình
mà sản xuất của cải cho xã hội
Trang 29b Nội dung cơ bản của giải quyết việc làm
Từ khái niệm giải quyết việc làm như đã nêu trên, có thể thấy được nội dung cơ bản của giải quyết việc làm đó là: Dự báo nguồn lao động, phân tích thực trạng giải quyết việc làm và ban hành chính sách việc làm
Một là, dự báo nguồn lao động Đó là việc tính toán lượng lao động
tương lai dựa vào những giả thiết nhất định về xu hướng vận động của dân số nói chung và lượng lao động nói riêng trong cả một quá trình dài hạn
Bản thân dự báo nguồn lao động không chỉ đơn thuần là dự báo về số lượng lao động trong khu vực hay trong một vùng là bao nhiêu trong những năm tiếp theo, mà thực chất dự báo nguồn lao động là một khái niệm tổng hợp gồm nhiều vấn đề liên quan phản ánh mối quan hệ và tác động qua lại đến nguồn lao động Chẳng hạn, để có thể đưa ra được một chính sách, cơ chế đúng đắn về giải quyết việc làm thì bản thân các quan hoạch định chính sách rất cần biết về các thông tin dự báo về nguồn lao động như chất lượng lao động, số lượng lao động có sự khác nhau hay nói cách khác có một khoảng cách quá xa hay không tại cùng một thời điểm của các khu vực, đơn
vị khác nhau , ở các địa phương có những điều kiện văn hoá, xã hội, tự nhiên khác nhau thì sẽ tác động tới chất lượng, số lượng lao động và ý thức của người lao động như thế nào Chính vì tính chất tổng hợp này đã xác định việc lựa chọn được phương pháp dự báo và cũng như đưa ra được chính sách chính xác
Tuỳ thuộc vào mục đích của việc xây dựng, hoạch định chính sách người ta đưa ra cách tính dự báo Nếu theo tính chất dự báo nguồn lao động thì có thể dự báo theo thời gian (ngắn hạn 5 năm, trung hạn 10 năm hay dài dạn trên 10 năm ) hay dự báo theo phạm vi lãnh thổ (quốc gia, vùng, miền, địa phương ) Có thể dự báo nguồn lao động theo tính chất nghề nghiệp, theo chất lượng lao động hay theo từng lĩnh vực
Trang 30Các kết quả dự báo được ứng dụng nhiều cho xây dựng, hoạch định chính sách phát triển kinh tế xã hội, là một bộ phận của kế hoạch dài hạn và trung hạn cho mỗi đơn vị, địa phương Mức độ chính xác của kết quả dự báo phụ thuộc vào nguồn lực liên quan tới nguồn lao động Hay nói cách khác, các giả thiết đưa ra phụ thuộc vào khả năng làm thay đổi các xu hướng tăng, giảm của tỉ lệ sinh, chết, di dân, xu hướng chất lượng sao cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội
Hai là, phân tích thực trạng nguồn lao động Thực chất phân tích
nguồn lao động thường được gắn liền với quá trình dự báo nguồn lao động Bản thân của quá trình dự báo nguồn lao động thì các số liệu cũng phản ánh theo một xu hướng nhất định nào đó Tuy nhiên, hiện nay để có được số liệu chính xác cũng như cần thiết cho quá trình nghiên cứu và thực thi ban hành chính sách giải quyết việc làm thì cần một con số chính xác, phù hợp với tiêu chí, tính chất của sự việc
Việc phân tích thực trạng nguồn lao động thường được xem xét trên hai khía cạnh cơ bản đó là: phân tích tổng quát chung và phân tích theo từng lĩnh vực, khía cạnh khác nhau
Thông thường phân tích tổng quát chung là đưa ra các số liệu mang tính tổng quát như sẽ có bao nhiêu người trong độ tuổi lao động, có bao nhiêu người hiện nay và dự báo trong thời gian tới không có việc làm hay còn gọi là thất nghiệp, bao nhiêu người bước ra khỏi độ tuổi lao động hoặc không còn khả năng lao động Những điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế xã hội của khu vực, có bị thiếu hụt lao động hoặc bị thất nghiệp với mức tỉ lệ cao quá không Với số liệu như vậy, người đọc có thể hình dung ra được mức độ quan trọng của việc cần thiết phải giải quyết việc làm cho người lao động
Sự phân tích thực trạng nguồn lao động theo từng khía cạnh cụ thể
Trang 31hoặc lĩnh vực nào đó Ví dụ, cần đánh giá chất lượng nguồn lao động trong thời gian tới cũng như cần tạo việc làm ở hiện tại thì cần dựa vào dự báo của chất lượng lao động như lao động được đào tạo, không qua đào tạo, lao động
có bằng nghề chuyên môn, lao động không có nghề chuyên môn Ngoài ra cũng có thể phân tích một cách kết hợp giữa chất lượng lao động với từng lĩnh vực cụ thể Với việc dự báo như vậy, sẽ giúp cho người ban hành chính sách có thêm cơ sở để hoạch định chính sách một cách chính xác, đúng đắn Người ta sử dụng các chỉ tiêu thất nghiệp và tỉ lệ thất nghiệp để phân tích đánh giá giải quyết việc làm tại một khu vực nào đó, trong đó tỉ lệ thất nghiệp thường được sử dụng hơn Tỉ lệ thất nghiệp sẽ cho ta biết được mức
độ với con số so sánh mang tính tương đối của người lao động đã có việc làm Với con số tỉ lệ thất nghiệp mà cho phép người hoạch định chính sách
có thể xem xét và đánh giá một cách tổng quát nhất tình hình giải quyết việc làm Có thể giúp cho nhà hoạch định chính sách so sánh mức độ tương đối giải quyết việc làm qua các thời kỳ khác nhau tại một khu vực, địa phương nhất định nào đó
Với sự đánh giá phân tích về giải quyết việc làm tại mỗi quốc gia, địa phương khác nhau trên cơ sở đó mà người ta đặt ra mục tiêu mức độ cần giảm tỉ lệ thất nghiệp Thông thường, nhà hoạch định chính sách có xu hướng ban hành chính sách việc làm mà muốn tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động, có nghĩa là giảm tỉ lệ thất nghiệp càng thấp càng tốt Đó là một trong những điều đáng lưu ý quan tâm của nhà hoạch định chính sách
Tuy nhiên, theo các nhà kinh tế học, không thể giảm hết tỉ lệ thất nghiệp, tuy rằng đó là lý tưởng nhưng cần tính đến khả năng thúc đẩy cũng như tạo động lực cho mọi người lao động có ý thức vươn lên, tự giác trao đổi học tập và phấn đấu bồi dưỡng bản thân Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, hiện tượng thất nghiệp vẫn xảy ra, theo nghiên cứu cho thấy, để kích
Trang 32thích sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội thì cần duy trì mức tỉ lệ thất nghiệp từ 3-5% Đây cũng là điều khó khăn cho việc xây dựng và hoạch định chính sách, tính toán sao cho vẫn đạt mục tiêu gia tăng năng suất lao động cao nhưng vẫn phải đảm bảo tình hình xã hội trong nước có công ăn, việc làm cho người lao động Điều đó đòi hỏi có sự phối hợp giữa các chính sách của chính phủ, chính quyền địa phương có sự linh hoạt áp dụng cho từng thời điểm sao cho phù hợp
Ba là, ban hành chính sách việc làm Chính sách việc làm là tổng thể
các quan điểm, tư tưởng, các mục tiêu, giải pháp và công cụ nhằm sử dụng lực lượng lao động và tạo việc làm cho lực lượng lao động đó Hay nói cách khác, chính sách việc làm là sự thể chế hoá pháp luật của Nhà nước trên lĩnh vực lao động và việc làm, là hệ thống các quan điểm, phương hướng mục tiêu và các giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động
Chính sách việc làm thực chất là một hệ thống các chính sách chung có quan hệ và tác động đến việc mở rộng và phát triển việc làm cho lực lượng lao động của toàn xã hội, như các chính sách: Khuyến khích phát triển các lĩnh vực, những ngành nghề có khả năng thu hút nhiều lao động, chính sách tạo việc làm cho những đối tượng đặc biệt (lao động nữ, người tàn tật, đối tượng
tệ nạn xã hội ); chính sách hợp tác và xuất khẩu lao động đi nước ngoài
c Đặc điểm của lao động thanh niên
Theo N O’Higgins, thanh niên là lứa tuổi đang trong thời gian chuyển tiếp giữa thời thiếu niên và trưởng thành Tuy nhiên, theo cơ cấu lứa tuổi của dân số các nước trên thế giới có những quy định khác nhau về độ tuổi thanh niên, thông thường từ 15 đến 24, 25, 29 hoặc 34 tuổi Theo Liên Hợp Quốc lứa tuổi 15-34 là thuộc cơ cấu lao động trẻ, thanh niên thường tính trong độ tuổi 15-24 hàm ý ở độ tuổi này thanh niên gồm những người rời ghế nhà trường sớm nhất từ 15 tuổi (kết thúc THCS khi 15 tuổi) và kết thúc việc đào
Trang 33tạo nghề nghiệp ở cấp ĐH lúc 24 tuổi Nhưng các nước trên thế giới cũng có những quy định khác nhau về độ tuổi thanh niên, thường thì từ 15 đến 24, 25,
29 tuổi, 18 đến 24 tuổi, có nước như Trung Quốc quy định tuổi trần của thanh niên là 29 tuổi hoặc 35 tuổi (Bangladesh), thậm chí đến 40 tuổi (Malaysia) Theo Điều 1, Luật Thanh niên Việt Nam (2005) thì: “Thanh niên quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi”
Tuy nhiên, để đảm bảo cho việc phân tích được thống nhất, chính xác, phù hợp với các nhóm lứa tuổi theo quy định trong thống kê, điều tra hằng năm tại Đăk Nông, trong phạm vi đề tài này, thanh niên được hiểu là công dân Việt Nam trong độ tuổi từ đủ 15 tuổi đến 29 tuổi, có thể chia thành các nhóm:
- Nhóm sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông không có điều kiện học lên, tham gia ngay vào thị trường lao động Đó là lao động phổ thông, chưa có nghề
- Nhóm sau khi tốt nghiệp các trường CĐ, ĐH, dạy nghề sẵn sàng tham gia vào thị trường lao động Đó là lao động có chuyên môn kỹ thuật (có nghề)
- Nhóm bị mất việc làm hoặc thất nghiệp đang có nhu cầu việc làm, sẵn sàng tham gia hoặc trở lại thị trường lao động
- Điểm mạnh của lao động thanh niên là: lực lượng lao động trẻ, có thể
lực, có trình độ, tiếp cận nhanh với công việc, nhiệt huyết và đáp ứng được nhu cầu sử dụng của các doanh nghiệp đối với những công việc cần nhân lực trẻ khoẻ hoặc công việc dùng sức là chính Việc làm cho thanh niên thường đòi hỏi sự năng động, sáng tạo vì thanh niên thường có xu hướng thích khám phá cái mới
- Hạn chế của lao động thanh niên là: ý thức kỷ luật lao động, tác
phong lao động công nghiệp còn yếu, kén việc Đối với lao động thanh niên không qua đào tạo thì việc gia nhập vào thị trường lao động không dễ dàng
Trang 34Đối với lao động thanh niên qua đào tạo thì chưa đáp ứng được thực tiễn công việc đòi hỏi vì kiến thức, kỹ năng có được qua quá trình được đào tạo còn có khoảng cách lớn với thực tiễn Đối với lao động thanh niên chưa có việc làm thường thì tính năng động trong tìm việc làm còn hạn chế, lệ thuộc nhiều vào các trợ giúp từ bên ngoài
d Ý nghĩa của giải quyết việc làm cho thanh niên
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bản của mọi quốc gia nhằm góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển kinh tế
xã hội Chính sách việc làm vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế, vừa có ý nghĩa về mặt chính trị xã hội cũng như giáo dục con người Việc hoạch định và thực thi không tốt chính sách việc làm sẽ dẫn đến những hậu quả, những thiệt hại trực tiếp cả về kinh tế, chính trị và xã hội cho đất nước
Trước hết, giải quyết việc làm đảm bảo việc làm cho thanh niên tham gia hoạt động kinh tế, kết nối họ vào các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, tạo khả năng cho họ nhận được những khoản thu nhập thiết yếu để tái sản xuất sức lao động của chính bản thân mình, cũng như nuôi sống gia đình mình Tạo nhiều việc làm tạo điều kiện cho thanh niên dễ dàng lựa chọn công việc phù hợp, tạo năng suất cao hơn và có cơ hội nhận được thu nhập cao hơn
Thông qua giải quyết việc làm cho thanh niên, các doanh nghiệp, công
ty, người sử dụng lao động được lựa chọn sức lao động trẻ cần thiết theo khối lượng và chất lượng đòi hỏi của doanh nghiệp Nhưng không phải lúc nào cũng sẵn có lực lượng thanh niên cần thiết trong một khu vực, chính vì vậy nhờ việc giải quyết việc làm sẽ cung cấp đầy đủ các thông tin về ngành nghề, nơi nào đang dư thừa lao động thanh niên và nơi nào thì khan hiếm lao động trẻ, cũng như việc thanh niên cần phải trang bị những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp gì để có thể kiếm được việc làm
Giải quyết việc làm cho thanh niên có quy hoạch, kế hoạch sẽ giúp cho
Trang 35cả cho người sử dụng lao động trẻ cũng như bản thân thanh niên có những kế hoạch hoạt động trong tương lai của họ Trong thực tế, những năm vừa qua
đã cho chúng ta thấy rằng, lao động trẻ có tay nghề cao, có óc sáng tạo, năng động, biết thích ứng nhanh với môi trường mới thì sẽ không bao giờ thiếu việc làm Mặc khác, giải quyết việc làm cho thanh niên sẽ tạo ra môi trường làm việc thuận lợi, thể hiện sự quan tâm nhất định về thoả mãn cần thiết và đảm bảo quan hệ qua lại trong tập thể lao động, cũng như giữa chủ doanh nghiệp với lao động trẻ
Giải quyết việc làm cho thanh niên còn đảm bảo việc phân chia, sắp xếp lại lao động trẻ hoạt động kinh tế thường xuyên trong trường hợp cải cách, sắp xếp lại các doanh nghiệp Ở Việt Nam, vẫn đang cổ phần hoá, sắp xếp lại các doanh nghiệp đã làm cho lao động trẻ mất việc Nhưng bên cạnh
đó, cũng cho phép thành lập nhiều doanh nghiệp mới đã giải quyết nhiều chỗ việc làm mới cho lao động trẻ Tỷ trọng lao động trẻ trong các thành phần kinh tế, các ngành nghề, các khu vực dần thay đổi theo hướng hợp lý, thích ứng và phù hợp
Tóm lại, giải quyết việc làm cho thanh niên có quy hoạch, kế hoạch
hợp lý thì sẽ có tác động tích cực đến kinh tế - xã hội nói chung và bản thân thanh niên nói riêng Nhưng, nếu không có sự sắp xếp, giải quyết hợp lý, thì giải quyết việc làm cho thanh niên sẽ tạo cho bản thân thanh niên tính ỷ lại, trông chờ vào sự sắp xếp công việc của Nhà nước, là thói quen ăn sâu vào tiềm thức của nhiều thế hệ người Việt Nam
1.2 NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN
Khái niệm về giải quyết việc làm cho người lao động theo nghĩa chung nhất được hiểu là các cơ chế chính sách việc làm được đưa ra để tạo môi trường kết hợp người lao động với vốn sản xuất và công nghệ nhằm tạo ra
Trang 36hàng hoá và dịch vụ theo yêu cầu của thị trường đồng thời bảo đảm lợi ích của người sử dụng lao động Từ đó nó có các nội dung sau:
1.2.1 Tạo việc làm mới cho thanh niên
- Phát triển sản xuất, kinh doanh, phát triển nghề truyền thống, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở khu vực tạo việc làm cho thanh niên được tạo điều kiện vay từ Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm Chính sách thị trường giúp cho việc sản xuất kinh doanh của thanh niên phát triển thuận lợi như giúp quảng
bá, trưng bày sản phẩm, giới thiệu ấn phẩm, tham gia hội chợ
- Tạo điều kiện về thủ tục đầu tư và xây dựng, đền bù giải phóng mặt bằng, ưu đãi về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất đối với các tổ chức, cá nhân có các dự án xây nhà cho thuê, bán cho thanh niên theo phương thức trả góp với thời hạn và giá cả hợp lý ở những khu vực tập trung nhiều lao động trẻ
- Tư vấn, hỗ trợ thanh niên lập nghiệp, khởi sự doanh nghiệp, đào tạo, bồi dưỡng về khởi sự doanh nghiệp, chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật, biểu dương, tôn vinh các doanh nghiệp trẻ tiêu biểu, làm kinh tế giỏi
- Khuyến khích thanh niên đi lao động có thời hạn ở nước ngoài
- Chính sách thuế, tín dụng ưu đãi để đào tạo bồi dưỡng doanh nhân trẻ
và khởi sự doanh nghiệp, mở rộng làng nghề, phát triển sản xuất kinh doanh;
tự tạo việc làm, xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh thu hút thanh niên vào làm việc
- Hướng dẫn hỗ trợ thanh niên lập dự án, Ngân hàng Chính sách Xã hội có trách nhiệm thẩm định dự án; Đoàn Thanh niên phối hợp với ngành lao động, thương binh và xã hội và các doanh nghiệp có chức năng xuất khẩu lao động để vận động, tư vấn, hướng dẫn thanh niên vay vốn xuất khẩu, tham gia hỗ trợ ngân hàng trong quá trình thu hồi vốn vay
Tạo việc làm mới phải gắn với tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh
Trang 37tế Chuyển dịch cơ cấu KT theo hướng CNH, HĐH ở nước ta có tác động đến giải quyết việc làm cho thành niên trên các mặt sau:
Thứ nhất, đối với ngành NN
Đại hội đại biểu lần thứ XI của Đảng đã nhấn mạnh: “NN có bước phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao Chuyển dịch cơ cấu KT gắn với chuyển dịch cơ cấu LĐ; tỉ lệ LĐNT khoảng 30 - 35% LĐ xã hội”, trong đó “giá trị gia tăng NN bình quân 5 năm 2,6 - 3%/năm Cơ cấu GDP : NN là 17 - 18%”, “…Phát triển mạnh CN, dịch
vụ và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường Triển khai chương trình xây dựng
NT mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của NT Việt Nam…”, “…Tạo môi trường thuận lợi để khai thác mọi khả năng đầu tư vào NN và NT, nhất là đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều LĐ Triển khai có hiệu quả chương trình ĐTN cho 1 triệu LĐNT mỗi năm…”
Như vậy chủ trương này tác động rất lớn đến giải quyết việc làm, phải
có một đội ngũ LĐTN rất lớn do có sự chuyển đổi ngành, nghề ở NT, do quá trình đô thị hoá Chiến lược đào tạo cùng lúc phải đáp ứng hai yêu cầu là vừa đào tạo hoàn toàn mới, chuyển đổi ngành nghề đối với LĐ trước đây họ là nông dân, để cung ứng cho các nhà máy, dịch vụ CN, tiểu thủ CN NT, đồng thời phải đào tạo đội ngũ TN có trình độ cao để đáp ứng, tiếp cận các ngành nghề mới xuất hiện áp dụng công nghệ sinh học, các loại giống mới và ĐTN
để xuất khẩu LĐ
Thứ hai, đối với ngành CN:
Trong chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011 – 2020 đã nêu:
“Chú trọng phát triển CN phục vụ NN, NT, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và vật liệu mới đi đôi với áp dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng,
Trang 38nguyên liệu Từng bước phát triển CN sinh học và CN môi trường Tiếp tục phát triển phù hợp các ngành CN sử dụng nhiều LĐ.”, đã làm thay đổi rất căn bản xu hướng phát triển cơ cấu LĐNT hiện nay trong bối cảnh toàn cầu hoá
và hội nhập Rõ ràng, sản phẩm CN do gia công, sử dụng nhiều LĐ hoặc sản phẩm CN xuất khẩu thô trong tương lai không phải là ưu thế vì tính hiệu quả
KT và tính cạnh tranh rất thấp trên thị trường thế giới Do vậy, một mặt phải nâng cao chất lượng các ngành CN có lợi thế cạnh tranh, sử dụng nhiều LĐ, như: chế biến nông, lâm, thuỷ sản, may mặc, giày da, đồ nhựa…, mặt khác đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực có công nghệ hiện đại, công nghệ cao, sử dụng nhiều vốn Tất cả những ảnh hưởng như về CN như vậy sẽ tác động trực tiếp đến công tác ĐTN
Thứ ba, đối với ngành dịch vụ
“Ưu tiên phát triển và hiện đại hoá các dịch vụ tài chính, ngân hàng, viễn thông, thương mại, du lịch, vận tải, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ…” trong đó “Phấn đấu khu vực dịch vụ có tốc
độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng GDP và gấp ít nhất 1,3 lần tốc độ tăng trưởng của các ngành sản xuất sản phẩm vật chất; tốc độ tăng trưởng dịch vụ
bình quân 5 năm đạt 8 - 8,5%/năm
Như vậy, trong thời gian đến trong bối cảnh hội nhập KT, các loại hình dịch vụ mới sẽ hình thành từ nhu cầu trong nước và có sự du nhập nhanh các loại hình dịch vụ từ nước ngoài Cho nên sự phát triển của các ngành dịch vụ cao cấp cần người LĐ ở kỹ năng tinh tế trong giao tiếp (phục vụ du lịch, nhà hàng, khách sạn, vận tải hàng không…), khả năng tư vấn, maketing, quan hệ khách hàng…, đặc biệt trong các ngành dịch vụ có ưu thế của Việt Nam như dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông cần đội ngũ LĐ qua đào tạo có trình độ nhất định để thực hiện các công việc theo tiêu chuẩn quốc tế
Trang 39Tiêu chí:
- Số lượng việc làm mới tạo ra trong một thời kỳ
- Tỷ lệ tăng việc làm mới so với tổng việc làm
- Cơ cấu việc làm mới được tạo ra
1.2.2 Kết nối thanh niên với các cơ sở sử dụng lao động
- Phát triển các Trung tâm giới thiệu, xúc tiến việc làm cho thanh niên Hướng dẫn, định hướng các Trung tâm này trong việc:
+ Thu thập, phân tích và cung ứng thông tin về thị trường lao động, bao gồm: nhu cầu tuyển lao động, tiêu chuẩn lao động, nhu cầu cần việc làm, tiền lương, tiền công trên địa bàn huyện và tỉnh cho thanh niên
+ Tư vấn về việc làm, học nghề, chính sách có liên quan đến quan hệ lao động cho thanh niên
+ Tổ chức các chương trình kết nối giữa nhà trường với doanh nghiệp
để giới thiệu việc làm cho thanh niên; cung ứng và tuyển dụng lao động trẻ theo yêu cầu của doanh nghiệp
+ Cung ứng các dịch vụ lao động là thanh niên cho các văn phòng đại diện, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật và định hướng của huyện Cung cấp các thông tin cần thiết cho thanh niên Việt Nam đang lao động ở nước ngoài
+ Thực hiện tư vấn quan hệ lao động, tuyên truyền phổ biến pháp luật lao động, tư vấn pháp luật thanh niên và người sử dụng lao động
+ Tổ chức dạy nghề và liên kết dạy nghề cho thanh niên khu vực nông thôn
- Hỗ trợ kinh phí tổ chức các hội chợ việc làm tạo điều kiện cho thanh niên có nhiều cơ hội gặp gỡ với người sử dụng lao động Đảm bảo việc tiếp cận hàng ngày của thanh niên với thông tin về việc làm Liên kết giữa công tác giới thiệu việc làm - bảo hiểm thất nghiệp và hội chợ việc làm đảm bảo
Trang 40cập nhật thông tin hàng ngày về thị trường lao động cho thanh niên nông thôn Nhà nước, chính quyền huyện nên tạo điều kiện để xã hội hoá hội chợ việc làm cho khu vực nông thôn, hợp đồng với các tổ chức, cá nhân có đủ năng lực để tổ chức Chợ việc làm
- Định hướng các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài, internet về việc giới thiệu việc làm, kết nối giữa thanh niên với những nhà tuyển dụng Hỗ trợ tư vấn trực tuyến qua các phương tiện này vào thời gian nhất định (hàng tháng), để doanh nghiệp có thể tuyển dụng ở nhiều vị trí vì công việc, thanh niên có thêm nhiều cơ hội việc làm nếu không có điều kiện đến trực tiếp
Các tiêu chí
- Số lượng việc làm tạo ra trong một thời kỳ từ kết nối
- Tỷ lệ tăng việc làm do hoạt động kết nối
- Cơ cấu việc làm và ngành nghề được kết nối
- Số lượng cơ sở được kết nối
Tỷ lệ cơ sở kết nối thu nhận lao động/tổng cơ sở kết nối
1.2.3 Đào tạo nghề cho thanh niên
- Đào tạo nghề hiện nay thuật ngữ “dạy nghề” hoặc “đào tạo nghề”
được dùng rất phổ biến, đã có truyền thống, điều này cũng phù hợp với tình hình thực tế đất nước, xã hội đòi hỏi cần phải nhấn mạnh vai trò to lớn của ĐTN, trước yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trực tiếp LĐ sản xuất có tay nghề, đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH Hơn nữa, cụm từ “đào tạo nghề” thực chất là viết gọn của cụm từ “giáo dục kỹ thuật và dạy nghề" đã được sử dụng ở nền giáo dục nước nhà từ lâu đời và rất quen thuộc với nhà giáo trong
hệ thống giáo dục
- ĐTN cho người LĐ là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người LĐ để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn bao gồm ĐTN mới, ĐTN bổ sung, đào tạo lại nghề, cụ thể như sau: ĐTN mới và đào tạo lại nghề