Ngày 31/1/2005 Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo đã ra Chỉ thị số02/2005/CT-BGD-ĐT về: “Tăng cường công tác giáo dục và bảo vệ môitrường” xác định nhiệm vụ trọng tâm cho giáo dục phổ thông
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐÀO THỊ VÂN HƯƠNG
QUẢN LÝ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐHẢIPHÒNGTHEO ĐỊNHHƯỚNGPHÁTTRIỂN BỀNVỮNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - NĂM 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐÀO THỊ VÂN HƯƠNG
QUẢN LÝ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐHẢIPHÒNGTHEO ĐỊNHHƯỚNGPHÁTTRIỂN BỀNVỮNG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 8.14.01.14
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2022
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Chúng ta đang sống ở thế kỉ 21, thế kỉ của sự phát triển vượt bậc về khoahọc kĩ thuật Chất lượng cuộc sống ngày càng cao, nhu cầu xã hội ngày càngtăng, cũng là lúc mà vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường được thế giới nóichung và Việt Nam chúng ta nói riêng đặc biệt quan tâm
Qua những khảo sát thực tế gần đây, môi trường đã thực sự lên tiếngcảnh báo đối với toàn nhân loại Chất lượng môi trường ngày càng có ý nghĩa
to lớn trong sự phát triển bền vững đối với cuộc sống con người Vì thế màtrong những năm qua, bảo vệ môi trường và quản lí giáo dục về bảo vệ môitrường là một trong những nhiệm vụ giáo dục được Đảng và Nhà nước ta rấtchú trọng Ngày 31/1/2005 Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo đã ra Chỉ thị số02/2005/CT-BGD-ĐT về: “Tăng cường công tác giáo dục và bảo vệ môitrường” xác định nhiệm vụ trọng tâm cho giáo dục phổ thông từ nay đến năm
2010 là trang bị cho học sinh kiến thức, kĩ năng về môi trường và bảo vệ môitrường bằng các hình thức phù hợp qua các môn học và hoạt động giáo dụcngoài giờ lên lớp, xây dựng nhà trường xanh - sạch - đẹp
Trong những gần đây, ở bậc trung học phổ thông, nội dung giáo dục môitrường đã được đưa vào dạy lồng ghép trong các môn học như: Sinh Học, NgữVăn…và được giảng dạy từ lớp 10 Song, việc giáo dục môi trường qua cácmôn học kể trên hiện nay ít nhiều vẫn còn hạn chế Các kiến thức về môitrường hoặc có liên quan đến môi trường đôi lúc còn tản mạn, chưa có hệthống Tri thức về sự tác động qua lại giữa con người và tự nhiên còn có phầnhời hợt, mối quan hệ giữa các yếu tố của môi trường tự nhiên chưa được đề cậpmột cách sâu sắc, triệt để nên chưa nêu bật được sự cần thiết phải bảo vệ môitrường
Cuộc sống của con người ngày càng hiện đại và văn minh Tuy nhiên,cùng với sự phát triển ấy con người đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề,trong đó vấn đề môi trường là mối quan tâm hàng đầu của toàn cầu Trong mấychục năm trở lại đây, sự phát trển kinh tế ồ ạt dưới tác động của cuộc cách
Trang 4mạng khoa học kĩ thuật và sự gia tăng dân số quá nhanh đã làm cho môi trường
bị biến đổi chưa từng thấy Nhiều nguồn tự nhiên bị vắt kiệt, nhiều hệ sinh thái
bị tàn phá mạnh, nhiều cân bằng trong tự nhiên bị rối loạn Môi trường lâm vàotình trạng khủng hoảng với quy mô toàn cầu, trở thành nguy cơ thực sự đối vớicuộc sống hiện đại và sự tồn vong của xã hội trong tương lai
Vì vậy giáo dục môi trường cho thế hệ trẻ là rất cần thiết và nhà trườngphổ thông là môi trường thích hợp Nhà trường là nơi đào tạo ra những chủnhân tương lai của đất nước, do đó những kiến thức về môi trường và bảo vệmôi trường là rất quan trọng Trong các môn học ở nhà trường phổ thông thìmôn hoá học có rất nhiều cơ hội để giáo dục môi trường Thông qua các bàigiảng hoá học giáo viên có thể lồng ghép vào các nội dung giáo dục môitrường, từ đó giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh Bài giảng sẽ trởnên phong phú và sinh động hơn, đáp ứng được yêu cầu đặt ra của giáo dục làgắn liền lí thuyết và thực tiễn
Đối với học sinh ở các trường trung học phổ thông quận Hải An, thànhphố Hải Phòng còn nhiều điểm hạn chế Nhằm góp phần giáo dục ý thức bảo vệ
mộ trường cho học sinh, giúp các em không chỉ có nhận thức đúng mà còn cóhành động đúng, đem lại lợi ích về sức khỏe, về giáo dục, về văn hóa xã hội vàkinh tế chính trị thì việc tổ chức các hoạt động giáo dục trong nhà trường là yếu
tố vô cùng quan trọng Để đảm bảo nhiệm vụ giáo dục ý thức bảo vệ môitrường cho học sinh đạt hiệu quả cao, yếu tố then chốt là công tác chỉ đạo tổchức của nhà quản lý và sự phối kết hợp với các lực lượng giáo dục
Xuất phát từ những lý do nêu trên chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài:
“Quản lý giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh các trường trung học phổ thông quận Hải An, thành phố Hải Phòng theo định hướng phát triển bền vững”
Trang 5ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trườngTHPT trên địa bàn quận Hải An, thành phố Hải Phòng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn quận Hải An, thành phố Hải Phòng
4 Giả thuyết nghiên cứu
Công tác quản lý giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh ở cáctrường THPT trên địa bàn quận Hải An, thành phố Hải Phòng Nêu được xâydựng phù hợp với thực tế của nhà trường, đặc điểm của địa phương, tận dụng
và phát huy được sức mạnh của các tổ chức trong nhà trường và ngoài xã hộithì hiệu quả giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trườngTHPT trên địa bàn quận Hải An, thành phố Hải Phòng sẽ góp phần nâng caochất lượng giáo dục ở địa phương
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xác lập cơ sở lý luận về quản lý giáo dục ý thức bảo vệ môi trườngcho học sinh THPT
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý giáo dục ý thức bảo vệ môitrường cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn quận Hải An, thành phốHải Phòng
5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục ý thức bảo vệ môi trườngcho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn quận Hải An, thành phố HảiPhòng
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu trên học sinh ở các trường THPT trên địa bànquận Hải An, thành phố Hải Phòng Chỉ sử dụng các số liệu của các trường từnăm 2018 đến 2020
Nghiên cứu và khảo sát thực trạng công tác quản lý giáo dục ý thức bảo vệ
Trang 6môi trường cho học sinh THPT trên địa bàn quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Cán bộ quản lý, tổ trưởng, tổ phó chuyên môn: 30 người
- Giáo viên: 100 người
- Học sinh: 200 người
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu liên quan đếnnội dung đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
a) Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi;
Xây dựng phiếu điều tra đối với cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh trongcác nhà trường về tác quản lý giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinhTHPT trên địa bàn quận Hải An, thành phố Hải Phòng
b) Phương pháp quan sát và tổng kết kinh nghiệm
Quan sát các hoạt động giáo dục của học sinh có liên quan đến giáo dục
ý thức bảo vệ môi trường; Tổng kết kinh nghiệm trong việc tổ chức giáo dục ýthức bảo vệ môi trường cho học sinh THPT trên địa bàn quận Hải An, thànhphố Hải Phòng
c) Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến chuyên gia khảo nghiệm mức độ cấp thiết và tính khả thi củacác biện pháp đề xuất đối với: Cán bộ quản lý, giáo viên, nhà trường về vấn đềgiáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh
7.3 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng thống kê toán học để xử lý số liệu thu được
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục,nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục ý thức bảo vệ môi trườngcho học sinh ở các trường Trung học phổ thông
Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học
Trang 7sinh ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn quận Hải An, thành phốHải Phòng
Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho họcsinh ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn quận Hải An, thành phốHải Phòng
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Ở nước ngoài
Các công ước của Liên Hợp quốc, những thỏa thuận, hiệp ước quốc tế từcuối thế kỷ XX đã thể hiện rõ sự quan tâm của các nhà khoa học, lãnh đạo cácquốc gia trên thế giới về khủng hoảng môi trường giai đoạn hậu công nghiệp.Nhiều công trình nghiên cứu đầu thế kỷ XXI đã chỉ ra rõ nét bức tranh hiện tại
và tương lai của nhân loại gắn với các kịch bản về nước biển dâng, BĐKH:Công trình nghiên cứu cơ bản của Cơ quan phát triển Pháp (AFDAgence France
Development) “AFD và BĐKH, dung hòa giữa phát triển và khí hậu” (2009) đã
phân tích khí hậu là tài sản chung của thế giới, cuộc chiến chống BĐKH và cáccông cụ tài chính chống BĐKH
Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu của các tác giả Mỹ, Châu Âu, Châu Á bàn
về vấn đề này: Solutions for climate change challenges in the built environment/
Ed: Colin A.Booth, Felix N.Hammond, Jessica E.Lamond, David G.Proverbs –
Chichester: Wiley-Blackwell, 2012; Museum & cultural heritage facing climate
change:International conference, 2013, H: Social science publish; The handbook of global climate and environment policy/ Ed.: Robert Falkner-
Hoboken: John Wiley & Sons, 2013; “Ancounting for health impacts of climate
change” – Mandaluyong City: Asia Development Bank.
Những nghiên cứu đầu tiên ở nước ngoài về đạo đức môi trường, từnhững năm 60 của thế kỷ XX giúp chúng ta hiểu được nội dung nhất định về
Trang 8YTBVMT như: “The land ethics” in A sand County Almanac, tác giả Aldo
Leopold, New York Cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, nghiên cứu về đạo đứcmôi trường trên thế giới đã phổ biến và khá phát triển Những vấn đề lý luận cơbản của đạo đức môi trường đã được chỉ ra như: khái niệm, biểu hiện, hệ thốnggiá trị chuẩn mực của đạo đức môi trường, cơ sở và thực chất của đạo đức môi
trường,…Nghiên cứu tiêu biểu: The animal rights, environmental ethics
debate : The environmental perspective / Eugene C Hargrove - New York :
State university of New York, 1992 Những công trình nghiên cứu gần đây, khinêu vấn đề về đạo đức môi trường đều gắn với thực tiễn BĐKH Tác giả PeterS.Wenz, nhà nghiên cứu của trường Đại học Illinois (Mỹ) xuất bản cuốn:
“Environmental Ethics Today”, 2001 Joshua W.Busby, University of Texas –
Austin (2009)
1.1.2 Ở trong nước
Bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu là trách nhiệmcủa tất cả các quốc gia và của mọi công dân trên toàn thế giới Việt Nam đã nhậnthức rõ nhiệm vụ phải bảo vệ môi trường, trước hết là phải nâng cao ý thức bảo
vệ môi trường cho nhân dân Nhiều công trình, dự án nghiên cứu đã được triểnkhai, tiêu biểu như: dự án điều tra cơ bản của tác giả Vũ Dũng phối hợp với Bộ
Tài nguyên và môi trường, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam thực hiện“Đánh giá
đạo đức môi trường ở nước ta hiện nay” (2010); cuốn “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên môi trường Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn” của Hội đồng khoa học các cơ quan đảng Trung ương
(2013); “Đạo đức môi trường” của tác giả Nguyễn Đức Khiển, Nguyễn Kim Hoàng (2011); “Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường” Nguyễn
Thị Thơm, An Như Hải (2011)
Một số dự án, đề tài lớn nghiên cứu đạo đức môi trường không những nêubật thực trạng, nguyên nhân của các vấn đề môi trường hiện nay, mà còn nhấnmạnh đến nhận thức, thái độ, hành vi của con người đối với môi trường: Đề tài
nghiên cứu cấp Bộ đầu tiên về đạo đức môi trường ở nước ta là “Đạo đức môi
trường – Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới”, chủ nhiệm đề tài
Trang 9Nguyễn Văn Phúc thực hiện trong 2 năm 2009 – 2010; Dự án điều tra cơ bản
“Đánh giá đạo đức môi trường ở nước ta hiện nay” do chủ nhiệm đề tài Vũ
Dũng, Bộ Tài nguyên và môi trường giao cho Viện Khoa học xã hội Việt Nam
thực hiện trong 2 năm 2009-2010; “Đạo đức sinh thái và giáo dục ý thức bảo vệ
môi trường sinh thái” của tác giả Vũ Trọng Dung năm 2009; “Đạo đức môi trường” của tác giả Nguyễn Đức Khiển xuất bản năm 2011 Các công trình
nghiên cứu về đạo đức môi trường giúp chúng ta thấy: đạo đức môi trường (hayđạo đức sinh thái) là một lĩnh vực của đạo đức xã hội, ngày càng góp phần bổsung thêm những tiêu chí đánh giá về đạo đức con người trong xã hội hiện đại;
có mối quan hệ thống nhất với ý thức bảo vệ môi trường
Truyền thống văn hóa của con người Việt Nam là truyền thống “hòa hợpvới thiên nhiên” Nội dung này được phản ánh trong nghiên cứu của tác giả
Phạm Thành Nghị (chủ biên) (2005), “Nâng cao ý thức sinh thái cộng đồng vì
mục tiêu phát triển bền vững”; Trần Lê Bảo (chủ biên) (2001), “Văn hóa sinh thái – nhân văn”; Ngày nay, trong điều kiện mới ở Việt Nam, văn hóa sinh
thái có sự chuyển đổi Chúng ta cần xây dựng giá trị “văn hóa thiên nhiên” trongthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Theo tác giả Chu
Khắc Thuật – Nguyễn Văn Thủ (chủ biên), “Văn hóa, lối sống với môi trường”,
tuy khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão nhưng bản chất và điều kiệncho sự sống, đời sống văn hóa con người vẫn cần đến tự nhiên, cần môi trườngsinh thái trong sạch, ổn định, bền vững
Trước yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái, một số công trình nghiên cứu
ở Việt Nam đã đề cập và phân tích vấn đề ý thức sinh thái khá sâu sắc, từ đó tìm
ra căn nguyên cơ bản và giải pháp cho môi trường sinh thái hiện nay Cuốn
“Văn hóa sinh thái – nhân văn” của tác giả Trần Lê Bảo chủ biên (2001); Cuốn
“Ý thức sinh thái và sự phát triển lâu bền” của tác giả Phạm Văn Boong xuất
bản năm 2002; những luận giải của các nhà khoa học đã trở thành chỉ dẫn quýbáu cho tác giả tiếp tục thực hiện nghiên cứu đề tài của luận án
Như vậy có thể thấy vấn đề về môi trường, ý thức bảo vệ môi trường, giáodục ý thức bảo vệ môi trường của một số đề tài đã có nhiều tác giả nghiên cứu
Trang 10Tuy nhiên trong các công trình của các tác giả mà chúng tôi tìm kiếm được thìchưa có công trình hay bài viết khoa học nào nghiên cứu toàn diện về vấn đềquản lý giáo dục ý thức bảo vệ môi trường Đã có một số công trình nghiên cứucủa một số tác giả đưa ra thực trạng và giải pháp về giáo dục ý thức bảo vệ môitrường trong hoạt động học tập nhưng không nghiên cứu về vấn đề quản lý giáodục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh các trường Trung học phổ thông.
Mặt khác, ở các trường Trung học Phổ thông trên địa bàn quận Hải An,thành phố Hải Phòng cho đến nay, cũng chưa có tác giả nào nghiên cứu về côngtác học sinh nói chung và vấn đề quản lý giáo dục ý bảo vệ môi trường cho họcsinh Trung học Phổ thông nói riêng Chính vì vậy việc nghiên cứu các biện phápquản lý giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh các trường trung họcphổ thông quận hải an thành phố hải phòng theo định hướng phát triển bền vững
là vấn đề mới mẻ phù hợp với yêu cầu giáo dục toàn diện cho học sinh và đổimới giáo dục hiện nay
1.2 Các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Học sinh và ý thức bảo vệ môi trường
- Học sinh hay Học trò là những thiếu niên hoặc thiếu nhi trong độ tuổi đihọc (từ 6–18 tuổi) đang được học tại các trường tiểu học, trung học phổ thônghoặc trung học phổ thông Học sinh là đối tượng cần sự giáo dục của cả gia đình
và nhà trường Học sinh rất dễ bị tác động bởi các hiện tượng xã hội, vì vậy rấtcần thiết sự theo dõi, định hướng, giáo dục từ gia đình và nhà trường
Thứ nhất, tiếp cận theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật Mácxit, ý thức
con người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người một cách năng
Trang 11động, sáng tạo Ý thức là hình ảnh tinh thần chủ quan về thế giới khách quan.
“Ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý, và tồn tạicủa con người là quá trình đời sống hiện thực của con người” “Không phải ýthức quyết định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức” Ý thức conngười mang bản chất xã hội, hình thành, phát triển gắn liền với sự phát triểncác quan hệ xã hội, đồng thời phản ánh và điều chỉnh các quan hệ xã hội
Ý thức có kết cấu phức tạp gồm nhiều thành tố có quan hệ biện chứng vớinhau, có thể phân chia kết cấu đó theo nhiều cách tiếp cận khác nhau Theochiều ngang, ý thức bao gồm: tri thức, niềm tin, tình cảm và ý chí; trong đó trithức là nhân tố cốt lõi Theo chiều dọc, ý thức được chia theo những “lát cắt”của chiều sâu nội tâm con người bao gồm: tự ý thức, tiềm thức, vô thức
Nhìn ở phương diện ý thức xã hội, theo trình độ phản ánh, đó là sự phảnánh tồn tại xã hội với những cấp độ khác nhau như: ý thức thông thường và ýthức lý luận (hay tâm lý xã hội và hệ tư tưởng) Theo nội dung và lĩnh vực phảnánh đời sống, ý thức xã hội gồm nhiều hiện tượng tinh thần, những hình thái ýthức xã hội phản ánh tồn tại xã hội với phương thức khác nhau như: ý thứcchính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức khoa học, ý thức thẩm mỹ,
ý thức tôn giáo Theo chủ thể phản ánh, ý thức xã hội gồm ý thức giai cấp, ýthức dân tộc, ý thức xã hội Theo phương thức tồn tại thì ý thức xã hội gồm trithức, niềm tin, tình cảm, giá trị, ý chí Theo phương thức hoạt động thì ý thức
xã hội gồm nhận thức, đánh giá, động cơ
Thứ hai, tiếp cận theo góc độ nghiên cứu của tâm lý học, “Ý thức là hình
thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ có ở con người Đó là phản ánh bằng ngônngữ những gì con người đã tiếp thu được trong quá trình quan hệ qua lại với thếgiới khách quan” Ý thức là một cấu trúc tâm lý phức tạp bao gồm nhiều mặt, làchỉnh thể mang lại cho thế giới tâm hồn con người một chất lượng mới Nó bao
gồm ba mặt liên kết và thống nhất hữu cơ với nhau: Mặt nhận thức (nhận thức cảm tính, nhận thức lý tính là hạt nhân của ý thức); Mặt thái độ (cảm xúc, thái
độ lựa chọn, thái độ đánh giá); Mặt năng động của ý thức (khả năng lập kế
hoạch, dự kiến, mục tiêu, động cơ, ý chí, )
Trang 12Thứ ba, theo góc độ tiếp cận của đạo đức học, ý thức thể hiện ở ý thức đạo
đức đặt trong mối quan hệ với thực tiễn đạo đức “Ý thức đạo đức là sự thể hiệnthái độ nhận thức của con người trước hành vi của mình trong sự đối chiếu với
hệ thống chuẩn mực hành vi và những quy tắc đạo đức xã hội đặt ra; nó giúpcon người tự giác điều chỉnh hành vi và hoàn thành một cách tự giác, tự nguyệnnhững nghĩa vụ đạo đức Trong ý thức đạo đức còn bao hàm cảm xúc, tình cảmđạo đức con người Tóm lại, ý thức đạo đức (về mặt cấu trúc) gồm tri thức đạođức, tình cảm và ý chí đạo đức” Ý thức đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ vớithực tiễn (hành vi) đạo đức để đem lại những lợi ích cho xã hội và ngăn ngừacái ác
Thứ tư, ý thức theo góc độ tiếp cận của chính trị học thì chủ yếu thể hiện
qua ý thức chính trị, văn hóa chính trị “Ý thức chính trị là sự phản ánh quan hệchính trị, kinh tế - xã hội giữa các giai cấp, các dân tộc và các quốc gia, cũngnhư thái độ của các giai cấp đối với quyền lực nhà nước Ý thức chính trị baogồm hai cấp độ: ý thức chính trị thực tiễn và hệ tư tưởng chính trị” Ý thứcchính trị có mối quan hệ chặt chẽ với văn hóa chính trị “Văn hóa chính trị đượcxem là chất lượng tổng hợp của tri thức và kinh nghiệm hoạt động chính trị, làtình cảm và niềm tin chính trị của mỗi cá nhân tạo thành ý thức chính trị, thànhđộng cơ thúc đẩy họ vươn tới những hành động chính trị một cách tự giác phùhợp với lý tưởng chính trị của xã hội” Văn hóa chính trị được hình thành trongthực tiễn chính trị, chi phối hoạt động của các cá nhân, các nhà chính trị và địnhhướng hoạt động của họ trong việc tham gia vào đời sống chính trị Cấu trúcgồm: Tri thức, hiểu biết về chính trị; Niềm tin lý tưởng của mỗi cá nhân trongđời sống chính trị; Ý thức về sự đổi mới trong chính trị; Các giá trị văn hóa vàchuẩn mực được thiết lập trong lịch sử dân tộc; Hệ tư tưởng chính trị, đường lốichính trị, nhiệm vụ, chiến lược và sách lược trong hoạt động chính trị là bộ phậnquan trọng nhất
Tóm lại, qua nhiều cách tiếp cận khác nhau, quan niệm về ý thức có những
điểm chung khẳng định: ý thức con người tồn tại ở dạng tinh thần, có mối quan
hệ chặt chẽ với những điều kiện tồn tại xã hội nhất định, có khả năng tạo động
Trang 13lực thúc đẩy hoạt động thực tiễn của con người theo hướng tích cực, tự giác, nhằm cải tạo hiện thực Trong số những quan niệm trên, quan niệm về ý thức
theo triết học duy vật biện chứng là khái quát nhất, bao hàm các khía cạnh của ýthức chính trị, ý thức đạo đức, ý thức tâm lý, Cấu trúc của ý thức theo mỗi góc
độ tiếp cận sẽ bao hàm những thành tố nhất định Dựa trên điểm chung của các
cách tiếp cận và dựa trên đặc trưng cách tiếp cận của chính trị học, cấu trúc của
ý thức về cơ bản bao gồm: Tri thức, niềm tin, tình cảm, giá trị, ý chí.
Ý thức phát triển biểu hiện ở khả năng tổng hợp tri thức và tạo nên tri thứcmới; ngoài ra còn biểu hiện ở những khả năng khác (tưởng tượng phong phú,tiên đoán, dự báo tương lai, có khả năng thôi miên, ngoại cảm, thấu thị, ) Tínhsáng tạo của ý thức là không phải trực tiếp sinh ra các dạng vật chất mới làmthay đổi thế giới, mà là khả năng điều khiển hoạt động thực tiễn con người cóphù hợp các quy luật khách quan hay không Ý thức, tư tưởng định hướng hànhđộng con người có thể đúng hoặc sai, thành công hay thất bại trên cơ sở những
điều kiện khách quan nhất định Do vậy, vai trò của ý thức biểu hiện khi con
người có nhu cầu, động cơ, mục tiêu, niềm tin, lý tưởng tích cực hình thành trên nền tảng nhận thức đúng đắn về thế giới, tạo động lực tinh thần từ bên trong thôi thúc ý chí sẵn sàng hành động tích cực.
- Khái niệm môi trường
Thể hiện sự quan tâm nhất định về môi trường tự nhiên và mối quan hệgiữa con người với tự nhiên, các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác ngay từ thế
kỷ XIX đã đề cập đến vấn đề này khi bàn tới quá trình vận động và phát triểncủa xã hội loài người như một quá trình lịch sử - tự nhiên Tuy nhiên, cho đếntrước thập niên 60-70 của thế kỷ XX, do thực tiễn môi trường chưa nghiêmtrọng phổ biến trên thế giới nên sự quan tâm của toàn nhân loại còn hạn chế
Đến nay, những vấn đề môi trường toàn cầu đang đặt ra yêu cầu ngàycàng bức thiết đối với nghiên cứu, quan niệm về môi trường đã hết sức đa dạng,tùy các góc độ tiếp cận nghiên cứu khác nhau mà sử dụng các khái niệm khácnhau: môi trường, môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái, môi trường địa lý,môi trường sống
Trang 14Trong triết học, quan niệm về môi trường được thể hiện ở khái niệm “tựnhiên” Theo nghĩa rộng, “tự nhiên” là tất cả những gì đang tồn tại khách quan,
là toàn bộ thế giới với tất cả các hình thức biểu hiện muôn màu muôn vẻ của nó.Theo đó, những khái niệm như: “môi trường tự nhiên”, “môi trường địa lý” chỉ
là một bộ phận nhỏ của khái niệm “tự nhiên”
Trong sinh học, khái niệm môi trường được hiểu là môi trường tự nhiêngồm tất cả những gì bao quanh sinh vật, tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh,tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự sống, sự phát triển và sinh sản của sinhvật Do đó, môi trường tự nhiên bao gồm: môi trường đất, môi trường nước,môi trường không khí, môi trường sinh vật
Theo định nghĩa của UNESCO (1987), “môi trường sống” của con ngườitheo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinhsống, sản xuất của con người Với nghĩa hẹp, khái niệm “môi trường sống” củacon người chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và nhân tố xã hội trực tiếp liênquan tới chất lượng cuộc sống của con người như số diện tích nhà ở, chất lượngbữa ăn hàng ngày, nước sạch, bầu không khí cho sinh hoạt, điều kiện vui chơi,giải trí, môi trường cho hoạt động học tập, môi trường làm việc,
Theo Điều 3, Luật “Bảo vệ môi trường” năm 2015: “môi trường là hệthống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại vàphát triển của con người và sinh vật”
Qua phân tích hàng loạt cách tiếp cận khái niệm, luận án tập trung làm rõkhía cạnh môi trường tự nhiên bao quanh cuộc sống con người (nhưng mangnghĩa rộng hơn tự nhiên thuần túy trong sinh học, đồng thời không phải là toàn
bộ “giới tự nhiên” như trong triết học)
môi trường là hệ thống tổng thể các yếu tố tự nhiên và nhân tạo có vai trò quyết định trực tiếp hoặc ảnh hưởng đến đời sống, hoạt động, sự phát triển của con người trong những thời kỳ lịch sử nhất định.
Giữa môi trường và sự phát triển xã hội loài người có mối quan hệ biệnchứng với nhau môi trường là địa bàn tạo điều kiện cho hoạt động con ngườidiễn ra, đồng thời là đối tượng chịu sự tác động của con người môi trường biến
Trang 15đổi cũng thể hiện phần nào trình độ phát triển xã hội mỗi thời đại đạt được Tuynhiên, không phải mọi sự biến đổi của môi trường đều cho thấy đó là dấu hiệuphát triển Có những biến đổi chỉ đáp ứng lợi ích trước mắt, theo một khía cạnh
ý nghĩa nhất định chúng ta đã từng coi đó là bước phát triển của trình độ conngười trong quá trình chinh phục giới tự nhiên, song lại gây nên biến đổi tiêucực đối với môi trường Quan điểm về sự phát triển xã hội còn nhiều khía cạnhphải nghiên cứu thêm, nhưng trong phạm vi xét ở mối liên hệ với môi trường thìphát triển cần được hiểu là quá trình biến đổi cả đời sống xã hội con người lẫnmôi trường theo hướng tích cực và bền vững
-Khái niệm bảo vệ môi trường
Theo khoản 3 điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2015: Hoạt động bảo vệmôi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môitrường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phụchồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môitrường trong lành [76, 8] Các nguyên tắc bảo vệ môi trường theo Luật bảo vệmôi trường:
1- Bảo vệ môi trường phải gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và bảođảm tiến bộ xã hội để phát triển bền vững đất nước; bảo vệ môi trường quốc giaphải gắn với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu
2 - Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội, quyền và trách nhiệmcủa cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
3- Hoạt động ô nhiễm môi trường phải thường xuyên, lấy phòng ngừa làchính kết hợp với khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện chất lượng
4 - Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, vănhóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giaiđoạn
5 - Mỗi tổ chức, cá nhân, gia đình gây ô nhiễm môi trường phải có tráchnhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại, chịu trách nhiệm theo quy định của phápluật
Như vậy, bảo vệ môi trường là quá trình bảo vệ và khai thác hợp lý các
Trang 16nguồn tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa và khắc phục những tác động bất lợi của sự suy thoái môi trường; gìn giữ môi trường sống nhằm đảm bảo sự phát triển của con người.
-Khái niệm ý thức bảo vệ môi trường
Con người trong xã hội tồn tại và phát triển không thể tách khỏi mối quan
hệ với môi trường sống Để phát triển bền vững, con người cần giải quyết hàihòa tất cả các mối quan hệ kinh tế - xã hội - sinh thái Do vậy, ý thức con ngườicần phải phản ánh đúng đắn và định hướng cho mọi hoạt động thực tiễn, giúpcon người giải quyết tốt các mặt đó
YTBVMT là một nội dung của ý thức, chịu sự qui định của những điềukiện môi trường nhất định Nội hàm khái niệm YTBVMT chưa có nghiên cứunào phân tích cụ thể, nhưng rất gần với khái niệm “ý thức sinh thái”, “ý thứcđạo đức môi trường” đã được làm rõ ở một số công trình nghiên cứu:
Theo tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, ý thức sinh thái là những quan điểm, quanniệm của con người về môi trường tự nhiên; về mối quan hệ và sự tác động lẫnnhau giữa con người (xã hội) với môi trường đó; về tình cảm, thái độ và tráchnhiệm của con người trong việc giải quyết các vấn đề sinh thái nhằm đạt đến mụctiêu phát triển bền vững Tác giả Phạm Văn Bông đưa ra cách hiểu về
ý thức sinh thái: là hệ thống quan điểm, quan niệm của con người về hệ sinh thái
và ý thức về trách nhiệm của con người trong hệ sinh thái đó Tác giả PhạmThành Nghị kế thừa quan niệm này khi bàn về “ý thức sinh thái cộng đồng”: Ýthức sinh thái cộng đồng có thể hiểu là những quan điểm, quan niệm của cộngđồng về môi trường; về mối quan hệ và sự tác động lẫn nhau giữa con người,cộng đồng và môi trường; thái độ và trách nhiệm của con người, cộng đồngtrong giải quyết các vấn đề sinh thái
Như vậy, một số tác giả đã phân tích khái niệm ý thức sinh thái là khả năngphản ánh của con người trước thực trạng sinh thái môi trường, thể hiện qua hệthống quan điểm, thái độ, tình cảm, trách nhiệm với môi trường sinh thái Tuynhiên, các tác giả chưa làm rõ: ý thức sinh thái (cũng tương tự như ý thức nóichung) phản ánh lĩnh vực môi trường sinh thái và có khả năng tác động trở lại
Trang 17môi trường sinh thái theo hai khuynh hướng (tích cực hoặc tiêu cực) Hơn nữa,các nghiên cứu chưa chỉ ra điểm khác biệt giữa khái niệm ý thức sinh thái vớikhái niệm YTBVMT, mặc dù hai khái niệm rất gần nhau, trong nhiều trườnghợp được sử dụng ngang nhau.
Theo tác giả của luận án, khái niệm YTBVMT khác với “ý thức sinh thái”là: “Ý thức sinh thái” phản ánh cả hai khuynh hướng tác động trở lại của ý thứccon người tới môi trường sinh thái (tích cực hoặc tiêu cực) Khái niệmYTBVMT sẽ tập trung nhấn mạnh một khuynh hướng của ý thức tích cực vàkhả năng tác động trở lại môi trường một cách phù hợp, giúp giải quyết đúngđắn những vấn đề liên quan
Do vậy, để làm rõ hơn khuynh hướng tác động tích cực của ý thức con
người đến môi trường, tác giả luận án đưa ra quan niệm về YTBVMT:
YTBVMT là sự phản ánh đúng đắn các vấn đề môi trường và mối quan hệ giữa con người với môi trường trên cơ sở nhận thức khoa học, thể hiện bằng tình cảm tích cực, niềm tin, ý chí mạnh mẽ trong định hướng hành vi con người theo một hệ chuẩn mực nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững của con người.
Khái niệm YTBVMT có thể được tiếp cận theo góc độ YTBVMT của cánhân (đặc biệt là các cá nhân lãnh đạo có vai trò quan trọng trong cộng đồng) vàYTBVMT của cộng đồng xã hội Mặt khác, YTBVMT cũng thể hiện khả năngphản ánh những vấn đề môi trường với các cấp độ nhận thức khác nhau, từ đó,mức độ định hướng cho hành vi con người khác nhau Nếu YTBVMT hạn chếthì không phải đời sống ý thức con người về môi trường sẽ trống rỗng Khi đó,trong đời sống ý thức con người sẽ có những dạng thức khác của ý thức phảnánh về môi trường nhưng không đúng đắn khoa học, dẫn đến tình cảm, thái độ,động cơ hành động của con người không tích cực, gây nên nhiều hậu quả khônlường
1.2.2 Giáo dục và giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh
- Khái niệm giáo dục
Theo tác giả Phạm Viết Vượng, “giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc
Trang 18biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội củacác thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển,tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà
xã hội loài người không ngừng tiến lên” Giáo dục là quá trình tác động để hìnhthành nhân cách cho thế hệ trẻ theo mục đích xã hội, quá trình này được thựchiện bằng các con đường quan trọng: Giáo dục thông qua dạy học; Giáo dụcthông qua tổ chức các hoạt động phong phú và đa dạng; Giáo dục thông quasinh hoạt tập thể; Giáo dục thông qua quá trình tự tu dưỡng Trong đó, giáo dụcthông qua con đường tự tu dưỡng hay là quá trình tự giáo dục biểu hiện tính tíchcực cao nhất của con người Giáo dục có vị trí đặc biệt quan trọng trong đờisống con người, không chỉ là sản phẩm của đời sống con người mà trở thànhnhân tố tích cực, động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội “Xem xét dưới góc
độ triết học, chúng ta thấy rằng: giáo dục là một quá trình gồm hai giai đoạn
Giai đoạn thứ nhất, là sự tác động từ bên ngoài vào đối tượng giáo dục Giai đoạn thứ hai, là thông qua sự tác động này làm cho đối tượng giáo dục tự biến
đổi, tự hoàn thiện bản thân”
Ở mỗi thời kỳ nhất định, trong những lĩnh vực khác nhau, gắn với mỗi đốitượng, mục tiêu khác nhau thì nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện giáodục có tính đặc thù Trong lĩnh vực công tác tư tưởng, giáo dục tư tưởng mà đặcbiệt là giáo dục tư tưởng xã hội chủ nghĩa, theo tác giả Lương Khắc Hiếu, “đó làquá trình lĩnh hội, tiếp thu ý thức và hệ tưởng xã hội chủ nghĩa biến chúng thànhnhận thức, niềm tin, giá trị, lý tưởng của đối tượng phấn đấu cho sự thắng lợi của
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa”
Như vậy, điểm chung của các quan niệm về giáo dục là quá trình tác độngcủa chủ thể giáo dục đến đối tượng giáo dục theo nội dung và phương thức nhấtđịnh nhằm thúc đẩy nhận thức, tình cảm, niềm tin, lý tưởng, tính tích cực, sángtạo trong hành động, góp phần hoàn thiện nhân cách con người đáp ứng yêu cầucủa thực tiễn Quá trình giáo dục có nhiều giai đoạn, cấp độ, trong đó tự giáodục là giai đoạn có vai trò rất quan trọng, thể hiện sự tự giác, chủ động lĩnh hộitri thức và rèn luyện kỹ năng, làm cho đối tượng giáo dục đồng thời cũng trở
Trang 19sự trừng phạt của thiết chế xã hội Sau đó, con người ý thức được điều cần làm
để tránh phải xấu hổ trước người khác, tránh dư luận xấu của xã hội Cao hơn
cả, con người ý thức điều cần làm để tránh xấu hổ với bản thân Như vậy, giáodục phải thúc đẩy mặt năng động của ý thức, tinh thần trách nhiệm, lòng nhân
ái, nhân văn cao thượng, hướng con người đến sự hoàn thiện nhân cách Hành vicủa con người từ đó được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu và sự tiến bộ xã hội,thúc đẩy tiến bộ xã hội, đem lại lợi ích cho mọi người, như Hồ Chí Minh đãtừng nói: “Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũngtránh”
- Khái niệm giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh
GDYTBVMT là quá trình tác động nhằm thay đổi nhận thức, thái độ, tìnhcảm, niềm tin, động cơ, ý chí, từ đó thay đổi hành vi trong ứng xử với môitrường theo hướng phù hợp, góp phần cải tạo thực tiễn Với mỗi bộ phận xã hộikhác nhau, GDYTBVMT có mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức,phương tiện khác nhau để sao cho quá trình thúc đẩy sự phát triển YTBVMTcủa nhân dân đạt hiệu quả cao
Với học sinh, việc GDYTBVMT là hoạt động tập trung vào khía cạnh tácđộng đến mặt ý thức tư tưởng của học sinh về bảo vệ môi trường, góp phần thôithúc sự phấn đấu không ngừng của học sinh trong điều kiện môi trường sốngđang có nhiều diễn biến bất lợi
GDYTBVMT cho học sinh là quá trình tác động có mục đích của chủ thể giáo dục với nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện phù hợp, nhằm trang bị tri thức khoa học, định hướng tình cảm, niềm tin, giá trị và ý chí sẵn
Trang 20sàng hành động bảo vệ môi trường, hướng đến xây dựng văn hóa môi trường trong học sinh.
GDYTBVMT phải là quá trình thường xuyên, qua đó, học sinh lĩnh hộiđược tri thức đúng đắn, xây dựng những giá trị chuẩn mực trong ứng xử với môitrường, được trải nghiệm để có kỹ năng, kinh nghiệm trong giải quyết các vấn
đề môi trường hiện tại và tương lai
Cũng như bất kỳ quá trình giáo dục nào khác, GDYTBVMT cho học sinh
là quá trình không ngừng phát huy năng lực tự giáo dục, tự rèn luyện của bản
thân người học sinh Năng lực tự giáo dục bản thân làm học sinh tăng cường
khả năng tự nghiên cứu, tự kiểm tra, tự giác hoạt động, giúp họ phát triển hoạt
động sáng tạo độc lập, phát triển các thói quen lành mạnh và phương pháp làmviệc độc lập Đây cũng là yếu tố làm gia tăng tri thức của mỗi học sinh, làm tăngkhả năng vận dụng những tri thức và biến nó thành cái của mình Yếu tố này cầnđược kích thích từ nhu cầu, lợi ích thiết thực và đúng đắn khi tham gia hoạtđộng bảo vệ môi trường
1.3 Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh trung phổ thông
1.3.1 Đặc điểm học sinh trung học phổ thông
Học sinh THPT có độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi ở giai đoạn đầu tuổi thanhniên (thanh niên mới lớn, thanh niên học sinh) Đây là thời kỳ đạt được sựtrưởng thành về mặt cơ thể, nhưng sự phát triển thể lực của các em còn kém sovới người lớn, các em đến trường học tập dưới sự lãnh đạo của người lớn, phụthuộc vào người lớn
1.3.1.1 Đặc điểm hoạt động học tập
Hoạt động học tập của học sinh THPT đòi hỏi tính năng động và tính độclập hơn học sinh THCS, đòi hỏi trình độ tư duy lý luận phát triển Hứng thú họctập của các em có những thay đổi rõ rệt, có tính bền vững và gắn liền vớikhuynh hướng nghề nghiệp Đối với các lĩnh vực khoa học, các em đã có thái độlựa chọn khá rõ ràng: có em thích học các môn khoa học xã hội, có em lại thíchhọc các môn khoa học tự nhiên, thái độ học tập của thanh niên học sinh gắn liềnvới động cơ thực tiễn, động cơ nhận thức, sau đó là ý nghĩa của môn học Ở
Trang 21nhiều em xuất hiện thái độ học lệch, tích cực học những môn được coi là quan trọng đối với nghề mình chọn, còn sao nhãng hầu hết các môn học còn lại.
1.3.1.2 Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ
Ở thanh niên mới lớn, tính chủ định phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức Tri giác có mục đích đã đạt tới mức rất cao Quá trình quan sát đã chịu sự điều khiển của hệ thống tín hiệu thứ hai nhiều hơn và không tách khỏi tưduy ngôn ngữ Ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logic, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ Đặc biệt các em đã tạo được tâm thế phân hóa trong ghi nhớ
Hoạt động tư duy của học sinh THPT có sự thay đổi quan trọng, các em
có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo Tư duycủa các em chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn, đồng thời tính phê pháncủa tư duy cũng phát triển
Tuy vậy, hiện nay số học sinh THPT đạt tới mức tư duy đặc trưng cho lứatuổi như trên còn chưa nhiều Khiếm khuyết cơ bản trong hoạt động tư duy củanhiều em là thiếu tính độc lập Nhiều khi các em chưa chú ý phát huy hết năng lựcđộc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính hoặc thiên về táihiện tư tưởng của người khác Vì thế nhà trường cần đổi mới phương pháp dạy họctheo hướng phát huy tính tích cực, độc lập sáng tạo của người học
+ Sự tự ý thức của họ xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt động: Địa vị mới trong tập thể, những quan hệ mới với thế giới xung quanh Các
em hay ghi nhật ký, so sánh mình với nhân vật mà họ coi là tấm gương, là thần
Trang 22+ Nội dung của tự ý thức cũng khá phức tạp, các em không chỉ nhận thức
về cái tôi của mình trong hiện tại mà còn nhận thức vị trí của mình trong xã hội,hiện tại và tương lai
+ Thanh niên còn có thể hiểu rõ những phẩm chất phức tạp, biểu hiệnnhững quan hệ nhiều mặt của nhân cách và biết cách đánh giá nhân cách củamình trong toàn bộ những thuộc tính nhân cách
+ Các em có khả năng đánh giá sâu sắc những phẩm chất, mặt mạnh, mặtyếu của những người cùng sống và chính mình Đồng thời các em cũng cókhuynh hướng độc lập trong việc phân tích, đánh giá bản thân Song việc tựđánh giá bản thân nhiều khi chưa khách quan, có thể sai lầm, cần giúp đỡ khéoléo để các em hình thành một biểu tượng khách quan về nhân cách của mình
+ Trên cơ sở tự ý thức phát triển mạnh mẽ, nhu cầu tự giáo dục ở HSTHPT cũng được phát triển Tuy các em chưa thật có lòng tin và tự giáo dụchoặc chưa thành công trong tự giáo dục, nhưng vấn đề tự giáo dục của HSTHPT thật sự là cần cho sự phát triển của chính các em: Vừa là đối tượng, vừa
là chủ thể của giáo dục, các em là những nhân cách đang vươn lên để trở thànhngười công dân Các em vừa là đối tượng mang tính đặc thù của lứa tuổi, vừa
là chủ thể của giáo dục ý thức bảo vệ môi trường Trong quá trình hình thành vàphát triển nhân cách, học sinh trung học phổ thông đã có đầy đủ các điều kiện cơbản về nhận thức, ý chí hoạt động để biến quá trình đào tạo thành quá trình tựđào tạo, quyết định kết quả phát triển tài đức của cá nhân Tuy nhiên, với kinhnghiệm, vốn sống của cá nhân chưa nhiều, học sinh trung học phổ thông dễ chaođảo trong hành vi hoạt động của mình
1.3.1.4 Sự hình thành thế giới quan
Học sinh THPT - tuổi thanh niên mới lớn là lứa tuổi quyết định sự hìnhthành của thế giới quan Đây là nét chủ yếu trong sự phát triển tâm lý của tuổithanh niên HS Chỉ số đầu tiên của sự hình thành thế giới quan là sự phát triểncủa hứng thú nhận thức với các vấn đề tự nhiên, XH thông qua các môn học ởbậc THPT, ở lứa tuổi mới lớn quan tâm nhiều nhất đến các vấn đề liên quan đến
Trang 23con người Vai trò của con người trong lịch sử, quan hệ giữa con người và XH,giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa tình cảm và trách nhiệm Nói chung các em cókhuynh hướng sống một cuộc sống tích cực vì XH.
Trong điều kiện hiện nay, cần đặc biệt giúp các em phân tích, đánh giá cáchiện tượng XH, các thang giá trị đang có những diễn biến không đơn giản, biếtủng hộ, bảo vệ cái đúng, phản đối ngăn chặn cái sai, biết chống lại sự xâm nhậpcủa thế giới quan của giai cấp bóc lột, biết chống mê tín dị đoan và các tư tưởngduy tâm khác
1.3.1.5 Đời sống tình cảm
Ở tuổi HS THPT, quan hệ bạn bè chiếm vị trí hơn hẳn so với những lứatuổi khác, do khao khát muốn có một vị trí bình đẳng trong cuộc sống, các emmuốn sinh hoạt với các bạn cùng tuổi, cảm thấy mình cần cho nhóm, có uy tín,
có vị trí nhất định trong nhóm Các em thích giao lưu với bạn bè cùng lứa tuổi,cùng lớp, cùng trường, hoặc ngoài trường Trong công tác giáo dục ý thức bảo
vệ môi trường cho HS THPT cần chú ý tới ảnh hưởng của nhóm - hội tự phátngoài nhà trường và có thể tránh được hậu quả xấu của nhóm tự phát bằng cách
tổ chức các hoạt động tập thể có tổ chức, đoàn thể để phát huy được tính tíchcực của thanh niên
Đời sống tình cảm của thanh niên mới lớn rất phong phú và đa dạng,đặcbiệt là tình bạn: các em có nhu cầu lớn về tình bạn, các em có nhu cầu cao hơn
về tình bạn (tính chân thật, tin tưởng và giúp đỡ lẫn nhau ) Các em có khảnăng đồng cảm tình bạn Tình bạn của các em mang tính xúc cảm cao
Các em thường lý tưởng hóa tình bạn Ở thanh niên mới lớn, quan hệgiữa nam và nữ được tích cực hóa rõ rệt Nhóm bạn ở THPT thường có nam và
nữ Do vậy, nhu cầu về tình bạn khác giới được tăng lên Ở một số em, xuất hiệnnhững sự lôi cuốn đầu tiên mạnh mẽ: tình yêu Tình yêu ở HS THPT thường làtrong trắng, tươi sáng, hồn nhiên, giàu cảm xúc và khá chân thành Nhà trườngphải giáo dục cho HS một tình yêu chân chính dựa trên cơ sở thông cảm hiểubiết, tôn trọng và cùng có một mục đích, lý tưởng chung
Để giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho HS THPT có hiệu quả, chúng
Trang 24ta cần chú ý xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với các em, đó là mối quan hệ bìnhđẳng, tôn trọng lẫn nhau Chúng ta cần tin tưởng các em, tạo điều kiện để các
em phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo độc lập, giúp các em nâng caotinh thần trách nhiệm của bản thân và tạo điều kiện thuân lợi cho sự phát triểnnhân cách HS
1.3.2 Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường trung học phổ thông
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh các trường trung học phổthông là một nội dung rất quan trọng Giáo dục thực chất là quá trình truyền lạikinh nghiệm từ thế hệ trước cho thế hệ sau, thế hệ sau lĩnh hội những kinhnghiệm để tham gia vào cuộc sống lao động và các hoạt động xã hội nhằm duytrì và phát triển xã hội loài người Tuy nhiên, thế hệ sau không chỉ lĩnh hội toàn
bộ những kinh nghiệm của thế hệ trước để lại mà còn bổ sung, làm phong phúthêm những kinh nghiệm của loài người - đó là quy luật của sự tiến bộ xã hội -
là hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh trung học phổ thông dựavào cộng đồng đóng một vai trò quan trọng nên phải được tổ chức, thực hiệnmột cách bài bản từ xác định rõ mục tiêu, nội dung và các hình thức, con đườnggiáo dục hợp lý từ đó giáo dục là một quá trình tác động có kế hoạch, có nộidung và phương pháp phù hợp với đối tượng giáo dục nhằm thúc đẩy sự thayđổi của đối tượng về kiến thức, kỹ năng và thái độ
1.3.2.1 Mục tiêu giáo dục
Mục tiêu giáo dục ý thức bảo vệ môi trường học sinh là hệ thống nhữngtác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến kháchthể quản lý nhằm đưa hoạt động quản lý đạt mục tiêu đã đề ra
Mục tiêu của hoạt động giáo ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh ở cácnhà trường nói chung và ở trường THCS nói riêng về cơ bản đều có điểm chung
là để nhà quản lý thực hiện các chức năng của nhà quản lý Qua đó để nắm bắt,đánh giá tình hình giáo dục nếp sống cho học sinh và các vấn đề liên quan đếnhọat động này Từ đó xem xét điều chỉnh và tìm ra các biện pháp, giải pháp tác
Trang 25động trở lại với hiệu quả giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, ý thức cho họcsinh; khắc phục những hạn chế, thiếu sót nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục ýthức bảo vệ môi trường nhằm đạt tới mục tiêu, hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dụccủa nhà trường.
Quản lý giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh trong nhà trườngluôn đạt hiệu quả sẽ thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhàtrường Về cơ bản học sinh chịu sự tác động giáo dục hoàn toàn của nhà trường
do đó vai trò của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh có ýnghĩa rất lớn đối với việc tu dưỡng học tập của học sinh
Nhìn ở một góc độ cụ thể khác thì quản ý thức bảo vệ môi trường cho họcsinh trung học phổ thông còn giúp cho nhà trường triển khai tốt hơn các mặtcông tác khác như: tổ chức các hoạt động quản lý, tổ chức các hoạt động giáodục, chăm sóc, bảo vệ học sinh
Đối với trường trung học phổ thông, công tác quản lý của người lãnh đạo
có vai trò quan trọng trong việc đổi mới, nội dung, chương trình giáo dục Ngoàiviệc truyền tải kiến thức, học sinh trung học phổ thông còn phải thực hiện nhiềucông tác khác
1.3.2.2 Nội dung và hình thức giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh trung học phổ thông
Giáo dục được thực hiện chủ yếu qua hoạt động dạy học trên lớp và cáchoạt động ngoài giờ lên lớp hai hoạt động này có mối quan hệ biện chứng vớinhau
Giáo dục thực hiện qua các giờ dạy chính khoá trên lớp: Nội dung cácmôn học văn hoá (tự nhiên và xã hội) giúp học sinh phát triển cả về đức, trí, thể,
mỹ, đặc biệt môn Văn, Sử, Địa, Sinh học có vai trò quan trọng trong việc giáodục ý thức bảo vệ môi trường, hình thành ý thức cộng đồng
Mặt khác qua nhân cách của thầy cô, (kiến thức chuyên môn, năng lực sưphạm, tác phong lên lớp ) sẽ để lại trong lòng học sinh những hình ảnh đẹp củangười thầy, và điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn trong việc hình thành những ý thứcbảo vệ môi trường cho học sinh
Trang 26Giáo dục qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp: Giáo dục qua lao động: Cóhai hình thức lao động là lao động tự phục vụ và lao động công ích Qua laođộng học sinh có điều kiện vận dụng những điều đã học trên lớp (học đi đôi vớihành) phát huy tinh thần làm chủ tập thể, tính tự quản, giáo dục học sinh ý thức
tổ chức kỷ luật
Giáo dục qua các hoạt động ngoại khoá: Như tham quan, du khảo, dự cácbuổi nói chuyện chuyên đề, cắm trại, văn nghệ, TDTT giúp học sinh mở mangkiến thức, củng cố cho những điều đã học trong sách vở, tăng cường tình đoànkết tạo mối quan hệ bạn bè, giao tiếp xã hội Qua tham quan di tích lịch sử,thắng cảnh, học sinh cảm thấy gần gũi với thiên nhiên, càng thêm yêu quêhương đất nước
Vậy hai hình thức trên có quan hệ hỗ trợ với nhau, bổ sung cho nhau Đặcbiệt trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh trong những giờ họcchính khoá học sinh tiếp thu được những tri thức, những chuẩn mực xã hội, và
từ đó hình thành trong các em ý thức bảo vệ môi trường, thì qua những hoạtđộng ngoại khoá sẽ tạo điều kiện cho ý thức bảo vệ môi trường được bộc lộ thểhiện qua hành vi đạo đức và hành vi này được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ thànhnhững thói quen tốt
Phương pháp giáo dục: Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinhdựa vào cộng đồng cần có những hình thức và phương pháp phù hợp với đặc thùcủa nội dung giáo dục Cần dựa vào tình hình thực tế để lựa chọn những hìnhthức giáo dục phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và đặc điểm sinh hoạt
Có thể dựa vào các sinh hoạt cộng đồng để tổ chức các cuộc thi về bảo vệmôi trường Thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thaoliên quan đến bảo vệ môi trường
Nhà trường có thể cam kết với cộng đồng để đưa các nội dung giáo dụcbản sắc văn hóa vào các chương trình hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chứcchính trị, tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương để tạo nên một môi trườnggiáo dục thống nhất
Nhà trường tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động văn hóa, văn
Trang 27nghệ thể thao mà địa phương tổ chức, giúp học sinh có được những hoạt độngtrải nghiệm hiệu quả về bảo vệ môi trường
Huy động tối đa nguồn lực cộng đồng để tổ chức các hoạt động giáo dục
ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh ở trong cũng như ngoài trường để mọingười có điều kiện và cơ hội tham gia giáo dục ý thức bảo vệ môi trường chohọc sinh
1.3.2.4 Các lực lượng tham gia giáo dục
Mặc dù lực lượng tham gia giáo dục được xác định rõ ràng: nhà trường làchủ đạo, còn cộng đồng là chỗ dựa cho nhà trường Nhưng thực tế cho thấy nếunhà trường không có biện pháp huy động hợp lý thì sẽ cộng chỉ có một số bộphận thực sự tham gia với lực lượng sẽ rất mỏng, trong đó đa số những ngườilàm công tác giáo dục phải kiêm nhiệm nhiều việc, trình độ còn hạn chế, đặcbiệt là ở những thôn còn nhiều khó khăn thì hiệu quả giáo dục sẽ rất hạn chế
1.3.2.5 Cơ sở vật chất phục vụ giáo dục
Ngày nay với sự phát triển khoa học công nghệ hiện đại, nền giáo dụccũng có những công cụ hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển của mình Tin học hiệnđại cần được sử dụng vào công tác nghiệp vụ điều hành quản lý hoạt động giáodục học sinh trong các trường học Cụ thể việc sử dụng điện thoại, hay quainternet (trang Web và hệ thống mail nội bộ ) để trao đổi thông báo, triển khaicông việc hoặc nắm bắt thông tin về quản lý hoạt động giáo dục học sinh Ngoàicác điều kiện về công nghệ thông tin, mạng phục vụ việc điều hành, phối hợpcác lực lượng giáo dục thì cơ sở vật chất, chỗ ăn ở và môi trường của nhà trườngcũng cần được quan tâm xây dựng Đó chính là cơ sở vật chất tạo nên môitrường giáo dục và cũng là những điều kiện để HS thực hiện nếp sống văn hóa
Vì thế, nhà trường phải quan tâm quản lý tốt cơ sở vật chất, đầu tư phát triển cơ
sở vật chất để tạo điều kiện giáo dục ý thức bảo vệ môi trường Cụ thể là tạođiều kiện ăn, ở tốt, đảm bảo sức khỏe và thể chất của học sinh Quan tâm đếnđiều kiện sinh hoạt của học sinh phù hợp với những nhu cầu tinh thần của lứatuổi thanh niên, tránh sự căng thẳng khi chỉ chú trọng vào tổ chức nề nếp họctập
Trang 28Quan tâm đến các điều kiện cơ sở vật chất và các hoạt động hỗ trợ họctập sẽ tạo nên sự thích thú, yên tâm và sẽ có sự cố gắng nỗ lực trong học tập Tổchức những chuyên đề, ngoại khóa để giúp học sinh củng cố kiến thức và ổnđịnh nề nếp học tập.
1.4 Quản lý giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh ở trường trung học phổ thông
1.4.1 Quản lý và quản lý nhà trường
Trong lịch sử phát triển của xã hội, ngay từ khi con người bắt đầu hìnhthành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt đến với tưcách cá nhân riêng lẻ, thì cách tổ chức những hoạt động phối hợp, những nỗ lực
cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu, đã hình thành hoạt động quản lý Con ngườitồn tại và phát triển thông qua quá trình lao động riêng lẻ và hợp tác lao động,
từ những nhóm nhỏ cho đến những phạm vi rộng lớn đều cần đến sự hoạchđịnh, tổ chức, chỉ đạo điều hành và kiểm tra đánh giá, tức là được tác động của
sự quản lý Tùy theo cách tiếp cận, quản lý được hiểu với nhiều cách khác nhaunhư sau:
Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đónhư thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất (William - Tay Lor)
Quản lý là sự tác động của cơ quan quản lý vào đối tượng quản lý, tạo ra
sự chuyển biến của toàn bộ hệ thống, hướng vào mục tiêu nhất định (Giáotrình - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)
Quản lý là dạng lao động đặc biệt của người lãnh đạo, mang tính tổnghợp các loại lao động trí óc, liên kết các bộ máy thành chỉnh thể thống nhất,điều hoà, phối hợp các khâu, các cấp quản lý, hoạt động nhịp nhàng để tạo hiệuquả quản lý (Mai Hữu Khuê - Học viện Hành chính quốc gia)
Quản lý là một hệ thống xã hội mang tính khoa học và nghệ thuật tácđộng vào từng thành tố của hệ bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt mục tiêu
đã đề ra (Nguyễn Văn Lê - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)
Theo Trần Quốc Thành, quản lý được hiểu một cách rất ngắn gọn: “ Quản
lý là quá trình đạt tới mục tiêu của tổ chức, trên cơ sở sử dụng tối ưu các
Trang 29nguồn lực”.
Còn tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: "Quản lý là sự
tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý), trong tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức" Cũng theo đó các tác giả còn phân
định rõ hơn về hoạt động quản lý: là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chứcbằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo(lãnh đạo) và kiểm tra
Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau, cách diễn đạt khác nhau về quản
lý, song một cách tổng quát nhất có thể khái quát: Quản lý là cách thức tácđộng (sự tác động có tổ chức, có mục đích ) của chủ thể quản lý lên khách thểquản lý bằng các chế định xã hội, bằng tổ chức nguồn nhân lực, tài lực và vậtlực, phẩm chất, uy tín của cơ quan quản lý hoặc người quản lý nhằm sử dụng
có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục đíchtrong điều kiện môi trường luôn biến động
Quản lý là một quá trình mà chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản
lý bằng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo kiểm tra đánh giá, dựa trên những nguồn lực
và những điều kiện có thể nhằm đạt được mục đích của tổ chức
- Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là một phạm vi cụ thể của quản lý hệ thống giáodục Trường học là tổ chức giáo dục, là một đơn vị cấu trúc cơ sở của hệ thốnggiáo dục quốc dân Do đó, xét về bản chất, trường học là tổ chức mang tính nhànước - xã hội - sư phạm thể hiện bản chất giai cấp, bản chất xã hội và bản chất
sư phạm
Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáodục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà trường vận hànhtheo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục thế hệ trẻ với từng họcsinh”
Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có hướng đích của hiệutrưởng đến con người (giáo viên, cán bộ nhân viên và học sinh), đến các nguồn
Trang 30lực (cơ sở vật chất, tài chính, thông tin, ) hợp quy luật (quy luật quản lý, quyluật giáo dục, quy luật tâm lý.) nhằm đạt mục tiêu giáo dục.
Quản lý nhà trường là quản lý mọi hoạt động dạy học và hoạt động giáodục làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dầntiến tới mục tiêu giáo dục Nhà trường có tổ chức dạy, học và giáo dục tốt mới
cụ thể hoá được đường lối thành hiện thực, đáp ứng được yêu cầu của nhân dân
Quản lý nhà trường trước hết phải thực hiện đầy đủ chức năng của quản
lý nói chung Đồng thời ở nhà trường có chức năng cụ thể là quản lý quá trìnhdạy học và quá trình giáo dục Chức năng đó cần được cụ thể hoá một cách chặtchẽ thông qua kế hoạch đào tạo Việc xây dựng nề nếp dạy học nhằm mục đíchđảm bảo các kế hoạch quy chế đào tạo, xây dựng môi trường sư phạm lànhmạnh, hấp dẫn với kỷ luật tự giác và tình cảm trách nhiệm, xây dựng mối quan
hệ cộng tác giúp đỡ, học hỏi lẫn nhau giữa giáo viên và học sinh Mục tiêucuối cùng của hoạt động này là nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trìnhgiáo dục và đào tạo trong nhà trường
Quản lý nhà trường bao gồm:
Quản lý hoạt động dạy học: Hoạt động dạy học là hoạt động trung tâmcủa nhà trường, nó chi phối mọi hoạt động giáo dục khác trong nhà trường Nó
là con đường trực tiếp và thuận lợi nhất để giáo dục thế hệ trẻ và thực hiện mụcđích cao nhất của nhà trường Vì vậy, có thể nói trọng tâm của quản lý nhàtrường là quản lý quá trình dạy học, quản lý việc chấp hành các quy định về
Trang 31hoạt động giảng dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh, đảm bảocho các hoạt động đó được tiến hành tự giác, có nền nếp ổn định, có chất lượng
và hiệu quả cao
Quản lý hoạt động của thầy: Quản lý việc thực hiện chương trình, quản
lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp của giáo viên, quản lý việc dự giờ thaogiảng và tự bồi dưỡng của giáo viên, quản lý việc thực hiện công tác nghiêncứu khoa học của giáo viên
Quản lý hoạt động học tập của trò: Quản lý việc thực hiện giờ giấc họctập, tinh thần và ý thức học tập, phương pháp học tập
Quản lý hoạt động giáo dục: Quản lý mọi hoạt động giáo dục của nhàtrường đảm bảo đúng mục tiêu giáo dục của Đảng, Nhà nước đó là đào tạonhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và năng lực thựchành tương xứng với trình độ đào tạo thích ứng với việc làm trong xã hội
Quản lý hoạt động phối hợp: Trong trường THCS có nhiều bộ phận, mọihoạt động trong nhà trường nói chung đều là các hoạt động mang tính phối hợp
Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận trong nhà trường góp phần làm chocác hoạt động đạt hiệu quả cao hơn
Quản lý tài chính và cơ sở vật chất: Quản lý cơ sở vật chất, tài sản củanhà trường bao gồm đất đai, nhà cửa, công trình xây dựng, các hoạt động khoahọc và công nghệ các trang thiết bị được Nhà nước giao cho trường quản lý và
sử dụng hoặc do đầu tư mua sắm xây dựng và các hoạt động khác Quản lý tàisản nói chung và quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho quá trình đào tạonói riêng phải đảm bảo được các yêu cầu liên quan mật thiết với nhau là: Đảmbảo đủ cơ sở vật chất - kỹ thuật trong quá trình đào tạo, quản lý tốt cơ sở vậtchất - kỹ thuật của nhà trường
Quản lý tài chính: Trong bất kỳ tổ chức đơn vị nào thì nguồn kinh phíđóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc duy trì các hoạt động Nếu nhàtrường tạo được nguồn kinh phí tốt và sử dụng đúng mục đích tức là đã quản lýtốt nguồn tài chính của đơn vị mình
Quản lý nhà trường chính là sự tác động có ý thức, có kế hoạch và có
Trang 32mục đích của chủ thể quản lý đến tất cả các hoạt động trong nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu, hoạt động của nhà trường.
1.4.2 Khái niệm quản lý giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh ở trường trung học phổ thông quận Hải An, thành phố Hải Phòng
Quản lý giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh ở trường trunghọc phổ thông quận Hải An, thành phố Hải Phòng là một nội dung rất quantrọng Quản lý giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh ở trường trunghọc phổ thực chất là quá trình truyền lại kinh nghiệm từ thế hệ trước cho thế hệsau, thế hệ sau lĩnh hội những kinh nghiệm để tham gia vào cuộc sống lao động
và các hoạt động xã hội nhằm duy trì và phát triển xã hội loài người Tuy nhiên,thế hệ sau không chỉ lĩnh hội toàn bộ những kinh nghiệm của thế hệ trước để lại
mà còn bổ sung, làm phong phú thêm những kinh nghiệm của loài người - đó làquy luật của sự tiến bộ xã hội - là hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người
Khái niệm quản lý giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh ởtrường trung học phổ thông quận Hải An, thành phố Hải Phòng đóng một vai tròquan trọng nên phải được tổ chức, thực hiện một cách bài bản từ xác định rõmục tiêu, nội dung và các hình thức, con đường giáo dục hợp lý
1.4.3 Nội dung quản lý giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh người ở trường trung học phổ thông
1.4.3.1 Quản lý mục tiêu và chương trình giáo dục
Quản lý việc thực hiện mục tiêu, chương trình đổi mới nội dung, phươngpháp, hình thức giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh theo kế hoạch(Ngắn hạn, dài hạn)
Quản lý vịêc chỉ đạo thực hiện nề nếp của học sinh
Quản lý về hình thức tổ chức và huy động các nguồn lực tham gia giáodục giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh
Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả và mối quan hệ giữa các thành tốnêu trên trong quá trình giáo dục giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho họcsinh
1.4.3.2 Quản lý hình thức và nội dung giáo dục
Trang 33Chỉ đạo là hướng dẫn cụ thể theo một đường lối chủ trương nhất định Chỉđạo thực hiện kế hoạch giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh trongnhà trường phổ thông là chỉ huy, ra lệnh cho các bộ phận trong nhà trường thựchiện những nhiệm vụ để bảo đảm việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường diễn rađúng hướng, đúng kế hoạch, tập hợp và phối hợp các lực lượng giáo dục sao chođạt hiệu quả.
Trong quá trình chỉ đạo, Hiệu trưởng cần kiểm tra giám sát việc thực hiện
kế hoạch bằng cách thu thập thông tin chính xác, phân tích tổng hợp, xử lýthông tin để đưa ra những quyết định đúng đắn Có thể đó là những quyết địnhđiều chỉnh, sửa sai (nếu thấy kế hoạch có vấn đề chưa phù hợp với thực tiễn) đểhoạt động giáo dục ý thức bảo vệ môi trường diễn ra theo đúng kế hoạch
Việc chỉ đạo giáo dục sẽ đạt hiệu quả cao nếu trong quá trình chỉ đạo Hiệutrưởng biết kết hợp giữa sử dụng uy quyền và thuyết phục, động viên kích thích,tôn trọng, tạo điều kiện cho người dưới quyền được phát huy năng lực và tínhsáng tạo của họ
Các hình thức thực hiện:
+ Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường qua các môn học chính khóa
+ Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp.+ Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường qua hoạt động xã hội
+ Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường qua xây dựng môi trường sư phạm
và hoạt động tự quản của học sinh trong nhà trường
1.4.3.3 Quản lý phương pháp giáo dục
Chỉ đạo giáo viên lựa chọn và sử dụng các phương pháp tác động phù hợpvào nhận thức tình cảm của học sinh như: đàm thoại, tranh luận, kể chuyện,
1.5 Các yếu tố có ảnh hưởng đến quản lý giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh ở trường trung học phổ thông
1.5.1 Các yếu tố chủ quan
1.5.1.1 Giáo dục nhà trường
Nhà trường có vai trò chủ đạo trong việc hình thành và phát triển nhâncách HS Nhà trường không chỉ thực hiện nhiệm vụ cung cấp kiến thức mà còn
Trang 34tổ chức các hoạt động giáo dục ý thức môi trường, dạy chữ và dạy làm người.Đối với học sinh mỗi thầy cô giáo phải là một tấm gương đạo đức cho học sinhhọc tập, noi theo đặc biệt là học sinh THPT Các thầy cô giúp học sinh chiếmlĩnh tri thức khoa học, hình thành và phát triển nhân cách toàn vẹn theo mụctiêu giáo dục đã đề ra, điều này thể hiện rõ ngay từ giáo dục mầm non đến giáodục THPT.
Đội ngũ CBGV là một trong những chủ thể ảnh hưởng lớn đến ý thức môitrường Chất lượng đội ngũ CBGV quyết định chất lượng đạo đức HS Đối vớicông tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, chất lượng đội ngũ cán bộ thể hiện
ở phẩm chất, đạo đức, năng lực công tác và hiệu quả công tác của mỗi CBGV
Để hoàn thành nhiệm vụ giáo dục học sinh, mỗi CBGV phải là những tấmgương sáng về phẩm chất đạo đức, về lối sống, về kiến thức và năng lực côngtác, đồng thời phải tận tụy, tâm huyết với nghề nghiệp, nắm vững mục tiêu, nộidung, phương pháp giáo dục, có uy tín đối với HS, được HS mến phục Thườngxuyên kiểm tra đánh giá chất lượng đội ngũ là một trong những biện pháp đểnâng cao hiệu quả quản lý công tác giáo dục nói chung và công tác giáo dục ýthức bảo vệ môi trường nói riêng
Song hiện nay, còn có thầy cô nặng nề về định kiến, thiếu thiện cảm đốivới học sinh chưa ngoan Kinh nghiệm, nghệ thuật và phương pháp giáo dụchọc sinh của một số GVBM, GVCN còn hạn chế, sử dụng các biện pháp kỷ luậtthái quá, sự thiếu gương mẫu trong giáo dục; việc đánh giá kết quả, khenthưởng, kỷ luật thiếu khách quan và chưa công bằng, sự phối hợp không đồng
bộ giữa các lực lượng giáo dục đều là những nguyên nhân có ảnh hưởng rấtlớn đến quá trình giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh
1.5.1.2 Yếu tố tự giáo dục của học sinh
Trong quá trình hình thành nhân cách học sinh phải tự tu dưỡng giáo dụcbản thân Do vậy, để biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục cầnphải chú trọng phát triển đặc điểm tự ý thức, tự giáo dục ở lứa tuổi học sinhTHPT Mặc dù đặc điểm tự ý thức được phát triển mạnh mẽ ở học sinh THPT,tạo cho học sinh khả năng độc lập sáng tạo nhiều hơn nhưng các em cũng dễ
Trang 35mắc sai lầm trong nhận thức và hành vi, dễ có những suy nghĩ, hành động bồngbột, nông nổi nhất thời Vì vậy cần cần phải thực hiện các biện pháp quản lýcông tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường chặt chẽ và khoa học hơn Các nhàquản lý và các nhà giáo dục phải xây dựng được chương trình giáo dục ý thứcbảo vệ môi trường phù hợp với trình độ nhận thức, tâm lý lứa tuổi, có sự chỉ đạothống nhất đồng bộ, vận dụng linh hoạt các phương pháp giáo dục, phát huy khảnăng tự ý thức, tự giáo dục của học sinh một cách đúng đắn nhằm đạt mục tiêugiáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong nhà trường.
1.5.1.3 Mức độ xã hội hóa giáo dục trong lĩnh vực giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh là quá trình, lâu dài,phức tạp đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ của 3 bộ phận: gia đình, nhàtrường, xã hội Trong mối quan hệ đó nhà trường phải giữ vai trò chủ đạo
Thông qua ban đại diện cha mẹ học sinh, nhà trường chủ động tuyêntruyền, giúp gia đình nhận thức sâu sắc trách nhiệm của cha mẹ học sinh trongviệc phối hợp với nhà trường, với thầy cô giáo để giáo dục ý thức bảo vệ môitrường cho học sinh Đồng thời nhà trường cùng gia đình bàn bạc để thống nhấtcác biện pháp, hình thức tổ chức sao cho phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi, phùhợp với hoàn cảnh từng gia đình trong việc giáo dục học sinh nói chung, giáodục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh nói riêng
Nhà trường phải tích cực liên hệ với chính quyền địa phương, các cơquan, đoàn thể trên địa bàn để bàn bạc, phối hợp giáo dục ý thức bảo vệ môitrường cho học sinh theo nội dung yêu cầu của nhà trường Đồng thời nhàtrường liên hệ với các đoàn thể, tổ chức cho HS các hoạt động tập thể, hoạtđộng xã hội, văn hóa, văn nghệ, lao động
Qua đó, hoạt động giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh sẽphong phú, sinh động hơn Ý thức, tình cảm, hành vi của học sinh sẽ được bộc
lộ Đây là điều kiện tốt giúp nhà trường điều chỉnh phương pháp, hình thức tổchức để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường chohọc sinh
Trang 36Từ những vấn đề nêu trên, chúng ta thấy, môi trường có ảnh hưởng khôngnhỏ tới sự hình thành và phát triển ý thức bảo vệ môi trường Vì vậy, việc tạo ramột môi trường đảm bảo cho ý thức bảo vệ môi trường có sự phát triển hài hòatrong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay làđiều cần thiết.
Sự phát triển của KH - CN, giúp các em có điều kiện tiếp xúc với nhiềunguồn thông tin, khoa học kỹ thuật, văn hoá xã hội nên có những hiểu biết rấtphong phú về mọi mặt của đời sống xã hội Bên cạnh những hiểu biết có lợi thì
có vô vàn thông tin tác động xấu đến ý thức bảo vệ môi trường của các em
Mặt khác những biểu hiện tiêu cực trong xã hội, trong cộng đồng dân cư(tệ nạn xã hội) mà các em tiếp xúc là những tác động tiêu cực làm méo mónhững điều tốt đẹp mà các em được cha mẹ và nhà trường giáo dục, tạo nênnhững khó khăn không nhỏ cho quá trình giáo dục ý thức bảo vệ môi trườnghọc sinh Cơ sở vật chất, phương tiện, địa điểm phục vụ các hoạt động vui chơi,giải trí lành mạnh cho thanh thiếu niên còn nhiều hạn chế, có lúc, có nơi cònthiếu hụt trầm trọng cũng là một nguyên nhân ảnh hưởng không nhỏ đến giáo
Trang 37dục ý thức bảo vệ môi trường cho các em.
1.5.2.2 Giáo dục gia đình
Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi đặt nền móng đầu tiên cho sự hìnhthành nhân cách của mỗi cá nhân GD gia đình có ảnh hưởng sâu sắc, trực tiếpđến việc hình thành và phát triển nhân cách của HS Trách nhiệm của cha mẹkhông chỉ là sinh con, nuôi con mà còn phải giáo dục con trưởng thành, có nhâncách, trí tuệ, có ích cho xã hội Hơn thế nữa việc chăm sóc, nuôi dạy con cáinên người còn là một nhu cầu, một niềm hạnh phúc của các bậc cha mẹ Tronggia đình tình thương yêu sâu sắc của cha mẹ có một sức mạnh cảm hoá lớn mànhà trường, xã hội không làm được
Tóm lại, giáo dục gia đình có ý nghĩa to lớn đối với việc hình thành vàphát triển nhân cách HS Vì thế, cần có sự quan tâm đúng mức đến vai trò củagia đình trong việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường học sinh không ỷ lại vàonhà trường và xã hội
Kết luận chương 1
Quản lý giáo dục ý thức bảo vệ môi trường là quản lý việc thực hiện mụctiêu, nội dung, chương trình giáo dục, góp phần nâng cao giáo dục ý thức chohọc sinh, để học sinh nhận thức đúng về chủ trương, đường lối, chính sách,pháp luật của Đảng và Nhà nước, các chuẩn mực xã hội, từ đó hình thành ýthức tự giác thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, phápluật của Nhà nước, nội quy, quy chế và quy định của nhà trường, thực hiện cácchuẩn mực đạo đức mà xã hội yêu cầu Tuy nhiên trong quá trình quản lý hoạtđộng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh không tránh khỏi nhữngyếu tố ảnh hưởng bao gồm: Nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức tổchức giáo dục, năng lực sư phạm của giáo viên, cảnh quan môi trường của nhàtrường, tính tích cực chủ động của học sinh, các yếu tố về chính trị, xã hội, kinhtế Nếu khai thác và tận dụng được những yếu tố ảnh hưởng tích cực, ngănchặn và làm vô hiệu hoá những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực sẽ góp phần nângcao hiệu quả của công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh.Phân tích các yếu tố của chủ thể quản lý đối với hoạt động giáo dục ý thức bảo
Trang 38vệ môi trường và các mối quan hệ giữa đối tượng quản lý để tiến hành các hoạtđộng Bởi đây là cơ sở định hướng lý luận cần thiết khi xác định các biện phápquản lý giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh có hiệu quả Việcnghiên cứu đầy đủ và có tính hệ thống, có tính lý luận là tiền đề khoa học đểnghiên cứu quản lý giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh ở cácTrường trung học phổ thông.
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO
VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1 Khái quát chung về giáo dục THPT Quận Hải An, thành phố Hải Phòng
2.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội
Năm 2002, Quận Hải An được thành lập theo Nghị định 106/NĐ-CP ngày20/12/2002 của Chính phủ trên cơ sở chia tách 5 xã thuộc huyện An Hải (cũ) vàphường Cát Bi thuộc quận Ngô Quyền, với diện tích hiện có là 10.492ha, dân sốkhoảng 77.600 người
Là quận nằm ở phía Đông Nam thành phố Hải Phòng; phía Bắc giáp quậnNgô Quyền và huyện Thuỷ Nguyên, phía Nam giáp sông Lạch Tray và huyệnKiến Thuỵ, phía Đông giáp Sông Cấm có cửa Nam Triều đổ ra biển Bắc Bộ vàhuyện Cát Hải, phía Tây giáp quận Ngô Quyền, và sông Lạch Tray Với vị trí
đó, Hải An có thuận lợi cơ bản cả về giao lưu đường bộ và đường thuỷ Ngoài
ra, Hải An có các đầu mối giao thông quan trọng của thành phố Hải Phòng, baogồm các tuyến đường bộ, đường thuỷ (cả đường sông và đường biển), đường sắt
và cả đường Hàng không) Địa bàn quận được bao quanh bởi hệ thống sôngLạch Tray, sông Cấm có cửa Nam Triều đổ ra Vịnh Bắc Bộ Trục đường giaothông liên tỉnh quan trọng nhất chạy qua địa bàn quận là Quốc lộ 5 nối liền HàNội – Hải Phòng, các tuyến đường Trung tâm thành phố chạy đến quận như:đường Trần Hưng Đạo, Lê Hồng Phong, đường ra đảo Đình Vũ, Cát Bà; CóCảng Chùa Vẽ, Cảng Cấm, Cảng Quân Sự và một số Cảng chuyên dùng khác;
Trang 39Có tuyến đường sắt từ Ga Lạc Viên đến Cảng Chùa Vẽ; Có sân bay Cát Bi vớinăng lực vận chuyển 200.000 lượt hành khách và gần 2.000 tấn hàng mỗi năm.
Toàn bộ lãnh thổ quận được phân thành 6 phường: Đông Hải, Đằng Hải,Đằng Lâm, Nam Hải, Tràng Cát và Cát Bi, với những đặc thù về điều kiện tựnhiên, tiềm năng phát triển khác nhau Phường Đông Hải có rất ít đất nôngnghiệp (khoảng 80ha) nằm rải rác đan xen trong khu dân cư và các doanhnghiệp, còn chủ yếu là đất dành cho các khu công nghiệp Đình Vũ và Vũ Yên.Đằng Hải là phường trung tâm của quận nhưng chủ yếu là đất nông nghiệp(158/307ha) với truyền thống trồng hoa Phường Đằng Lâm có tổng diện tích tựnhiên khá lớn với 516ha, trong đó đất chuyên dùng là 320ha, đất nông nghiệpcòn 106ha Phường Nam Hải với diện tích 574ha, nhưng chủ yếu là diện tích đấtnông nghiệp, đất chuyên dùng 93ha, diện tích chưa sử dụng trên 76ha PhườngCát Bi với diện tích 120ha, trong đó, đất ao hồ chiếm tới 32,5ha Tràng Cát làphường rộng nhất với gần 3000ha đất tự nhiên, trong đó, đất nông nghiệp là1.045ha, đất chưa sử dụng với 705ha
Hải An mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, là khu vực ven biểncủa vùng Đồng bằng châu thổ Sông Hồng Nhiệt độ trung bình hàng năm là32,60C; nóng nhất từ tháng 6 đến tháng 8 (nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất
là 290C), lạnh nhất từ tháng 11 đến tháng 2 (nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất
là 16,80C)
Với ưu thế của quận mới có quỹ đất nông nghiệp dồi dào; giao thôngthuận lợi cả đường biển, đường không và đường bộ nên hiện nay đã có rất nhiềucác dự án lớn có ý nghĩa chiến lược và trọng điểm của thành phố Hải Phòng nốiriêng và của cả miễn duyên hải Bắc bộ nói chung Trong tương lai gần Hải Ansớm sẽ trở thành quận phát triển mạnh về kinh tế, đô thị theo hướng công nghiệphoá – hiện đại hoá
Nhiệm kỳ 2015 - 2020, quận Hải An đã phát huy tốt các tiềm năng lợi thế,duy trì và phát triển tốc độ kinh tế cao Cụ thể, giá trị sản xuất ngành côngnghiệp tiểu thủ công nghiệp năm 2018 ước đạt 486 tỷ đồng đạt 100,6% kếhoạch, tăng 16% so với chỉ tiêu thành phố giao Đồng thời cũng trở thành điểm
Trang 40sáng trong nghành về phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp toàn tỉnh.
Các dự án bất động sản được triển khai đầu tư nhanh chóng, đẩy mạnh tốc
độ đô thị hóa Những dự án đã đi vào hoạt động như: Dự án cầu đường Tân Vũ Cát Hải, Dự án cầu Bạch Đằng, Dự án cải tạo Cảng Hàng không quốc tế Cát Bi,
-Dự án cầu vượt khác mức đường Nguyễn Bỉnh Khiêm Lê Hồng Phong… làmthay đổi diện mạo thành phố Năm 2018 giá trị kinh tế nghành ước đạt 3.950 tỷđồng, đạt 100,7% kế hoạch chỉ tiêu của thành phố Giá trị sản xuất ngànhthương mại, dịch vụ cả năm ước đạt 3.341 tỷ đồng, tăng 21,5% so với cùng kỳ,đạt 101,6% kế hoạch Giá trị sản xuất nông nghiệp, thủy sản cả năm ước đạt66,6 tỷ đồng/64,6 tỷ đồng, bằng 103,1% kế hoạch Chuyển dịch cơ cấu nghànhtheo đúng hướng mục tiêu
Việc đầu tư cải tạo đường, ngõ, nghách được quan tâm sát sao 72% sốngõ cần cải tạo được hỗ trợ xi măng cho công tác cải tạo, nâng cấp Bên cạnh
đó, quận đã đầu tư cải tạo nâng cấp 48 hạng mục công trình công cộng, toàn bộ
hệ thống cấp thoát nước, lắp đặt điện chiếu sáng, trồng cây xanh với tổng mứchơn 260,7 tỷ đồng
2.1.2 Giáo dục trung học phổ thông ở quận Hải An
Năm học 2021 – 2022 quận Hải An có 4 trường THPT: THPT Hải Anphường Cát Bi, quận Hải An; THPT Lê Quý Đôn- phường Cát Bi, quận Hải An;THPT Chuyên Trần Phú- lô 10A, đường Lê Hồng Phong, phường Đằng Hải,quận Hải An; THPT Phan Chu Trinh- phường Đằng Lâm, quận Hải An Cáctrường phân bổ đều ở các phường nên thuận tiện cho học sinh đi lại
Trường THPT Hải An đã đạt được những kết quả rất đáng tự hào Đếnnay trường có 84 cán bộ, giáo viên với 100% có trình độ đạt chuẩn, trên chuẩn;
36 thầy cô có trình độ thạc sĩ Trong 15 năm qua đã có 221 lượt GV đạt danhhiệu chiến sĩ thi đua cấp cơ sở
THPT Lê Quý Đôn số lượng giáo viên là 94 đồng chí, đa số là giáo viêntrẻ, 100% đạt chuẩn, 30% trên chuẩn, nhiều thầy cô giáo đạt danh hiệu chiến sĩthi đua cấp thành phố, cấp cơ sở, nhiều thầy cô được nhận Bằng khen của Thủtướng chính phủ, của Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo, Bằng khen của Công