1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LỊCH sử HÌNH THÀNH HINDU GIÁO ở ấn độ HUỲNH THỊ MỘNG TUYỀN

62 161 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 212,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống người dân Ấn Độ. Thế nhưng, Hindu giáo là sự phát triển và cải cách từ đạo Bàlamôn, một tôn giáo được xem là khởi nguồn của chế độ đẳng cấp Ấn Độ. Do những sự khắt khe của đạo này mà người dân bắt đầu cải đạo sang đạo Phật lúc bấy giờ rất được người dân tin tưởng, vì thế Bàlamôn giáo đã bắt đầu cải cách và phát triển thành Hindu giáo nhằm xoa dịu người dân. Tuy nhiên, đến nay những câu hỏi được đặt ra xung quanh hai đạo này là sự ra đời chính thức của Bàlamôn giáo và Hindu giáo là lúc nào, lí do thật sự đằng sau sự phát triển từ Bàlamôn giáo là như thế nào và nó đã được phát triển như thế nào từ Bàlamôn giáo thành Hindu giáo vẫn chưa có được đáp án chính xác và rõ ràng.

Trang 3

lớp Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài, tôi đã nhận được sự giúp

đỡ quý báu của nhà trường, khoa cũng như là cô hướng dẫn Tôi xin được bày

tỏ lòng biết ơn đến tất cả các tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôitrong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài

Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Th.S Lê ThịSinh Hiền - người cô hướng dẫn đã luôn nhiệt tình, ân cần hướng dẫn cho tôingay từ bước đầu cụ thể hóa hướng nghiên cứu đến nhận xét góp ý trong quátrình nghiên cứu và hoàn thành đề tài

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến Thư viện Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Thư viện Trung tâmĐại học Quốc gia TP.HCM đã giúp đỡ tôi tìm hiểu, khai thác nguồn tài liệu cầnthiết Đây là một phần quan trọng giúp cho bài báo cáo hoàn thiện một cách tốtnhất

Đồng thời, xin dành lời cảm ơn chân thành đến tập thể lớp Ấn Độ K18,bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiêncứu và hoàn thành đề tài

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng không thể tránh khỏi những hạn chế

và thiếu sót nhất định khi thực hiện đề tài Tôi rất mong nhận được sự đóng góp

ý kiến của cô để giúp đề tài được phát triển đầy đủ và trọn vẹn nhất

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!

Người thực hiện đề tài Huỳnh Thị Mộng Tuyền

Trang 4

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1

3 Mục tiêu nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8

1.1 Cơ sở lí luận 8

1.1.1 Khái niệm về tôn giáo 8

1.1.2 Khái niệm về Hindu giáo 9

1.1.3 Khái niệm Bà-la-môn giáo 10

1.2 Cơ sở thực tiễn 11

1.2.1 Bối cảnh xã hội Ấn Độ thời kì Gupta 11

1.2.2 Bối cảnh Văn hóa Ấn Độ thời kì Gupta 15

1.2.3 Tôn giáo Bà-la-môn giáo Ấn Độ cổ đại 17

CHƯƠNG 2: SỰ HÌNH THÀNH CỦA HINDU GIÁO 21

2.1 Tính cấp thiết sự ra đời của Hindu giáo 21

2.2 Sự phát triển của Hindu giáo từ Bà-la-môn giáo 23

CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM CỦA HINDU GIÁO 26

3.1 Hệ thống giáo lí của Hindu giáo 26

3.2 Các lễ nghi trong Hindu giáo 36

3.3 Tính nhân văn trong Hindu giáo 44

3.4 Tác động của Hindu giáo đối với xã hội Ấn Độ 45

3.4.1 Tác động tích cực 46

3.4.1.1 Niềm tin của người Hindu tác động đến việc chăm sóc sức khỏe 46

3.4.1.2 Tác động đến địa vị của người phụ nữ 48

3.4.1.3 Tác động đến hệ thống giáo dục 48

3.4.2 Tác động tiêu cực 50

Trang 5

3.4.2.3 Hạn chế tiếp cận với giáo dục đối với phụ nữ và đẳng cấpthấp 54

KẾT LUẬN 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 7

Subhamoy Das đã có một công trình “A History of Hindu Temples” xuất

bản năm 2019 đề cập đến những ngôi đền của Hindu giáo qua các thời kì, cácgiai đoạn lịch sử Ở mỗi giai đoạn lịch sử, các ngôi đền có phong cách kiến trúcnhư thế nào, thờ các vị thần nào, các nghi lễ cúng tế ra sao đã được trình bàymột cách rất chi tiết và cụ thể trong bài nghiên cứu này

Bài báo “Beliefs of Hinduism” đề cập đến những tín ngưỡng mà những

người theo Hindu giáo tin tưởng như niềm tin vào các vị thần, niềm tin vàoKarma và luân hồi, niềm tin vào giải thoát (Moksha), v.v… Và ở mỗi một niềmtin, tác giả đều giải thích rất chi tiết những quy tắc, cũng như là vì sao ngườitheo đạo Hindu lại tín ngưỡng như vậy

Mrittunjoy Guha Majumdar đã có một công trình “Being a Hindu: The

history and politics of how an ancient way of life survived centuries of repression, invasion and persecution” xuất bản năm 2021 đề cập đến vai trò

và vị trí của Hindu giáo trong lịch sử, trong việc chống lại các kẻ thù, làm cho

Ấn Độ trở nên mạnh mẽ và kiên cường hơn bao giờ hết để vượt qua những cơnbão lịch sử

Trên trang   ( ) ( Ấn Độ giáo) có bài viết “हहहहह हहहह हह

हहहह हहह हहहहह हह हहहह” (Sự phát triển mạnh mẽ của Ấn Độ giáo) giải thích

một cách cặn kẽ và chi tiết về lí do tại sao Hindu giáo lại có sự ảnh hưởngmạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống Ấn Độ như thế, và trong đó có đề cập đếnkhía cạnh lịch sử ra đời Do Ấn Độ giáo ra đời trong lúc mà người dân Ấn Độ

bế tắc và tuyệt vọng, họ cần một chỗ dựa về tình thần và Hindu giáo lúc bấygiờ lại đáp ứng được những nhu cầu đó người dân Ấn Độ

Bài viết “हहहहहह हहहह हह हहहहहहह , हहहहहह, हहहहहहहह” (Lịch sử hình

thành Hindu giáo) đăng ngày 9/10/2021 trình bày một cách đầy đủ chi tiết vềlịch sử hình thành của Hindu giáo qua các thời kì lịch sử bằng tiếng Hindi bắtđầu từ khi có kinh Vê - đa

Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về lịch sử hìnhthành Hindu giáo trong thời kì Gupta một giai đoạn đánh dấu bước chuyểnmình từ Bà-la-môn giáo sang Hindu giáo Đề tài sẽ cung cấp một góc nhìn toàn

Trang 8

diện và đầy đủ về lịch sử hình thành Hindu giáo trên phương diện so sánh, đốichiếu với Bà-la-môn giáo.

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài sẽ làm rõ thời gian xuất hiện Hindu giáo, Hindu giáo được hình thànhnhư thế nào và tại sao có sự xuất hiện của Hindu giáo

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Hindu giáo

- Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi không gian: Hindu giáo ở Ấn Độ

Phạm vi thời gian: Từ thế kỷ IV – VI CN (Thời kỳ Gupta)

5 Phương pháp nghiên cứu

Để chứng minh cho giả thuyết nghiên cứu, tôi đã sử dụng các phương phápnghiên cứu cơ bản là:

Phương pháp phân tích,tổng hợp:

Nhằm làm nổi bật những vấn đề xoay quanh lịch sử hình thành và pháttriển của Hindu giáo nhằm giải quyết các câu hỏi nghiên cứu, tác giả đã tiếnhành phân tích các tài liệu có sẵn từ sách, báo, tạp chí, bài báo khoa học, phimtài liệu, v.v… sau đó tổng hợp và đưa vào bài nghiên cứu theo quan điểm củatác giả

Phương pháp lịch sử, nghiên cứu lịch đại

Phương pháp lịch sử là phương pháp tái hiện trung thực bức tranh quá khứ

của sự vật, hiện tượng theo đúng trình tự thời gian và không gian như nó đãtừng diễn ra (quá trình ra đời, phát triển, tiêu vong) Thông qua các nguồn tưliệu để nghiên cứu và phục dựng đầy đủ các điều kiện hình thành, các quá trình

ra đời của Hindu giáo, từ đó có thể dựng lại bức tranh chân thực của Hindugiáo như đã xảy ra

Phương pháp lịch đại (còn gọi là phương pháp so sánh lịch sử theo thời

gian hoặc phương pháp so sánh lịch sử được tiến hành “theo đường thẳng”).Phương pháp này xuất phát từ nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về sự pháttriển (là nguyên tắc lý luận mà trong đó khi xem xét sự vật, hiện tượng kháchquan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát triển)

Trang 9

Trong đề tài này, khi nghiên cứu các sự kiện lịch sử tác giả phải xem xét, sosánh với các giai đoạn phát triển trước kia của Hindu giáo và khuynh hướngpháp phát triển của Hindu giáo trong thời kì Gúp-ta và sau đó.

Phương pháp nghiên cứu liên ngành:

Trong quá trình nghiên cứu về lịch sử phát triển của Hindu giáo người viết

đã sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành bao gồm các lĩnh vực: triết học, văn hóa học, dân tộc học, v.v để tập trung làm rõ đối tượng trọng tâm của

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Ý nghĩa khoa học

Đề tài là một đóng góp thiết thực cho ngành khoa học xã hội vànhân văn, cụ thể đề tài cung cấp một cái nhìn mới mẻ về Hindu giáo qua việc

so sánh và làm rõ sự khác biệt với Bà-la-môn giáo Đây cũng là một đóng gópquan trọng cho ngành Ấn Độ học khoa Đông phương học, cung cấp những kiếnthức hữu ích về Hindu giáo cũng như Bà-la-môn giáo từ đó giúp sinh viênngành Ấn Độ học tiếp cận được nguồn kiến thức sinh động, không còn đơnthuần là những lý thuyết suông mà chúng đã được kiểm nghiệm bằng thực tiễnnên sẽ có tính chính xác cao hơn Ngoài ra, đề tài cũng là những nguồn tư liệu,

là cơ sở cho những công trình tiếp theo khi nghiên cứu về tôn giáo Ấn Độ

Ý nghĩa thực tiễn

Trang 10

Bài nghiên cứu này cung cấp những thông tin về sự hình thành vàphát triển của Hindu giáo từ Bà-la-môn giáo Từ đó giúp mọi người có cái nhìntổng quan và rõ nét hơn về Hindu giáo và Bà-la-môn giáo, có thật sự hai tôngiáo là một hay không

7 Bố cục đề tài

Ngoài phần dẫn luận, kết luận và tài liệu tham khảo đề tài được chia ra làm

ba chương với nội dung như sau:

Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Giới thiệu khái quát về khái niệm tôn giáo, Hindu giáo và Bà-la-môn giáo.Bên cạnh đó, bối cảnh xã hội Ấn Độ, văn hóa xã hội Ấn Độ thời kì Gupta cũngnhư khái quát về Bà-la-môn giáo cũng được tác giả trình bày trong chương này

Chương II: Sự hình thành của Hindu giáo

Nghiên cứu tính cấp thiết phải ra đời của Hindu giáo, lí do có sự chuyểnmình từ Bà-la-môn giáo thành Hindu giáo và sự phát triển của Hindu giáo

Chương III: Đặc điểm của Hindu giáo

Tác giả sẽ tìm hiểu đặc điểm của Hindu giáo về hệ thống giáo lí, các lễ nghi,tính nhân văn và tầm ảnh hưởng của Hindu giáo đối với xã hội Ấn Độ trênphương diện so sánh và đối chiếu với Bà-la-môn giáo

Trang 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Khái niệm về tôn giáo

Tôn giáo có thể được định nghĩa là một hệ thống các văn hoá, tín ngưỡng,đức tin bao gồm các hành vi và hành động được chỉ định cụ thể, các quanniệm về thế giới, thể hiện thông qua các kinh sách, khải thị, các địa điểm linhthiêng, lời tiên tri, quan niệm đạo đức, hoặc tổ chức, liên quan đến nhân loạivới các yếu tố siêu nhiên, siêu việt hoặc tâm linh

Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạtđộng bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức (Khoản

1 và 5 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016)

Tôn giáo là sản phẩm của con người, gắn với những điều kiện lịch sử tựnhiên và lịch sử xã hội xác định Do đó xét về mặt bản chất, tôn giáo là mộthiện tượng xã hội phản ánh sự bất lực, bế tắc của con người trước tự nhiên và

xã hội Ở một mức độ nhất định tôn giáo có vai trò tích cực trong văn hoá,đạo đức xã hội như: đoàn kết, hướng thiện, quan tâm đến con người, v.v…Tôn giáo là niềm an ủi, chỗ dựa tinh thần của quần chúng lao động

Về phương diện thế giới quan, thế giới quan tôn giáo là duy tâm, hoàn toànđối lập với hệ tư tưởng và thế giới quan Mác - Lê-nin khoa học và cách mạng

Sự khác nhau giữa chủ nghĩa xã hội hiện thực và thiên đường mà các tôn giáo

Trang 12

thường hướng tới là ở chỗ trong quan niệm tôn giáo thiên đường không phải

là hiện thực mà là ở thế giới bên kia Còn những người cộng sản chủ trương

và hướng con người vào xã hội văn minh, hành phúc ngay ở thế giới hiệnthực, do mọi người xây dựng và vì mọi người

Tóm lại, có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm tôn giáo Trong đề tàinày, tôi sử dụng khái niệm tôn giáo theo cách hiểu phổ thông nhất Tôn giáo

là một hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở niềm tinvào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấpnhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giảinhững vấn đề trần thế cũng như ở thế giới bên kia Niềm tin đó được biểuhiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý – vănhóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằngnhững nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hộitôn giáo khác nhau Niềm tin đó tác động đến các cá nhân và các cộng đồngtheo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực phụ thuộc vào từng tôn giáo cụthể và hoàn cảnh lịch sử – địa lý cụ thể Tôn giáo thường đưa ra các giá trị cótính tuyệt đối làm mục đích cho con người vươn tới cuộc sống tốt đẹp và nộidung ấy được thể hiện bằng những nghi lễ, những sự kiêng kị

1.1.2 Khái niệm về Hindu giáo

Theo từ điển Cambridge định nghĩa Hindu giáo là một tôn giáo cổ đại có

nguồn gốc từ Ấn Độ có đặc điểm bao gồm việc thờ cúng nhiều vị thần và nữthần và niềm tin rằng khi một người hoặc sinh vật chết đi, linh hồn của họ sẽquay trở lại cuộc sống trong một cơ thể khác hay còn gọi là luân hồi

Còn theo từ điển Oxford thì Hindu giáo được định nghĩa là tôn giáo chính

của Ấn Độ và Nepal bao gồm việc thờ cúng một hoặc nhiều vị thần và niềmtin vào luân hồi

Theo Subhamoy Das (M.A, English Literature, University of North

Bengal) ông cho rằng Ấn Độ giáo là tôn giáo tồn tại lâu đời nhất trên thế giới

và với hơn một tỷ tín đồ, đây cũng là tôn giáo lớn thứ ba thế giới Ấn Độ giáo

là một tập hợp các lý tưởng và thực hành tôn giáo, triết học và văn hóa có

Trang 13

nguồn gốc từ Ấn Độ hàng ngàn năm trước khi Chúa giáng sinh Ấn Độ giáovẫn là đức tin chủ đạo ở Ấn Độ và Nepal ngày nay.

Như vậy, Ấn Độ giáo là một trong những tôn giáo có tổ chức lâu đời nhấtđược biết đến thông qua các tác phẩm thiêng liêng có niên đại từ năm 1400đến 1500 trước Công nguyên Ấn Độ giáo cũng là một trong những tôn giáo

đa dạng và phức tạp nhất, có hàng triệu vị thần Người theo đạo Hindu cónhiều loại tín ngưỡng cốt lõi và tồn tại trong nhiều giáo phái khác nhau Mặc

dù là tôn giáo lớn thứ ba trên thế giới, nhưng Ấn Độ giáo lại tồn tại chủ yếu ở

Ấn Độ và Nepal

Các văn bản chính của Ấn Độ giáo là kinh Veda (được coi là quan trọngnhất), Upanishadas, Mahabharata, và Ramayana Những tác phẩm này chứađựng những bài thánh ca, câu thần chú, triết lý, nghi lễ, bài thơ và những câuchuyện mà từ đó những người theo đạo Hindu làm cơ sở cho niềm tin của họ.Các văn bản khác được sử dụng trong Ấn Độ giáo bao gồm Brahmanas, Kinhđiển và Aranyakas

Mặc dù Ấn Độ giáo thường được hiểu là đa thần, được cho là công nhận

có tới 330 triệu vị thần, nhưng nó cũng có một “vị thần” tối cao - Brahma.Brahma là một thực thể được cho là sinh sống ở mọi phần của thực tại và tồntại trong toàn bộ vũ trụ Brahma vừa vô nhân tính vừa không thể biết được vàthường được cho là tồn tại ở ba dạng riêng biệt: Brahma — Đấng sáng tạo;Vishnu — Người bảo tồn; và Shiva — Kẻ hủy diệt Những “khía cạnh” nàycủa Brahma cũng được biết đến qua nhiều hóa thân khác của mỗi vị

1.1.3 Khái niệm Bà-la-môn giáo

Bà La Môn giáo (còn được gọi là Tôn giáo Vệ Đà) là hệ thống tín ngưỡngphát triển từ kinh Vệ Đà trong thời kỳ Hậu Vệ Đà (khoảng 1100-500 trướcCông nguyên) bắt nguồn từ Văn minh Thung lũng Indus sau cuộc Di cư Indo-Aryan 2000-1500 TCN Bà-la-môn giáo tuyên bố đấng tối cao là Brahman,

và các nguyên lý của đạo này cũng đã ảnh hưởng đến sự phát triển của Ấn

Độ giáo ( Joshua J Mark, 2021, Brahmanism).

Theo Nikul Joshi, Bà la môn giáo là một hệ tư tưởng và một lối sống, có

nguồn gốc từ lịch sử kinh Veda, thường được gọi là triết học, được thực hành

Trang 14

trên cơ sở những niềm tin được suy luận cụ thể Niềm tin cơ bản và nguyên tắccủa Bà La Môn giáo xác định Brahman và yếu tố vô định của đạo này lần đầutiên được phát hiện bởi Rishis, người đã biên soạn kinh Veda “Cái đã tồn tạitrước khi tạo vật, cái tạo thành tổng thể tồn tại, và cái mà mọi tạo vật tan biến

là Brahman toàn diện, và chu kỳ sáng tạo, nuôi dưỡng và hủy diệt của vũ trụ là

vô tận.” (Kena Upanishad)

Còn theo N.S Gill, Bà La Môn giáo, còn được gọi là Proto-Hinduism, là

một tôn giáo xuất hiện rất sớm ở Ấn Độ dựa trên kinh Vệ Đà Nó được coi làmột hình thức đầu tiên của Ấn Độ giáo Trong Bà la môn giáo, những người Bà

la môn, bao gồm các thầy tu, thực hiện các chức vụ thiêng liêng được yêu cầutrong kinh Veda

Như vậy, Bà La Môn giáo, là tôn giáo Ấn Độ cổ đại xuất hiện từ tôn giáo

Vệ Đà trước đó Vào đầu thiên niên kỷ 1 trước Công nguyên, Bà La Môn giáonhấn mạnh đến các nghi thức được thực hiện và địa vị của Brahman, hoặc giaicấp tăng lữ, cũng như suy đoán về Brahman (Thực tại tuyệt đối) như được lýthuyết trong Upanishad (các văn bản triết học suy đoán được coi là là một phầncủa kinh Veda, hoặc thánh thư) Ngược lại, hình thức Ấn Độ giáo xuất hiện saugiữa thiên niên kỷ 1 trước Công nguyên nhấn mạnh sự sùng kính (bhakti) đốivới các vị thần cụ thể như Shiva và Vishnu

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Bối cảnh xã hội Ấn Độ thời kì Gupta

Một đặc điểm nổi bật của xã hội Ấn Độ thể hiện ở chế độ đẳng cấp(caste system) Từ thời cổ đại, thậm chí trước triều đại Mauryas hay thời kỳcủa Vệ Đà (Vedas), xã hội Ấn Độ đã tồn tại chế độ đẳng cấp Khởi đầu, có bốn

giai cấp trong xã hội: Bà La Môn (Brahmins), Sát Đế Lợi (Ksatriyas), Phệ Xá (Vaisyas) và Thủ Đà La (Sudras); sự phân biệt giữa bốn giai cấp này trong xã hội rất gay gắt Trong những giai cấp này, Brahmins đại diện cho tầng lớp tu sĩ

và những người cao quý, họ thừa hưởng tất cả những đặc quyền của xã hội và

họ được cho là hiện thân của các vị thần trong hình dạng của người phàm.Trong Madhura Sutta, Brahmins xem họ là giai cấp cao quý nhất so với bađẳng cấp còn lại; họ tự cho mình là trong sạch và tinh khiết, trong khi những

Trang 15

giai cấp khác là không tinh khiết; những Bà La Môn (Brahmins) được sinh ra

từ miệng của Brahman( (1988), Mahathera Narada, The Buddha and HisTeachings, tr 171) Giai cấp Ksatriyaslà tầng lớp vua chúa, quan lại và binh sĩ,

họ nắm giữ quyền hành và đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn trật tự xãhội và bảo vệ đất nước khỏi giặc ngoại xâm Trong thời đại của Đức Phật, giaicấp Sát Đế Lợi (Ksatriyas) được đặt cao hơn giai cấp Bà La Môn (Brahmins).Giai cấp thứ ba là Phệ Xá (Vaisyas), họ đại diện cho tầng lớp thương nhân, địachủ, và các doanh nghiệp vừa và nhỏ Họ đóng vai trò quan trọng đối với xã( (1997), D.N.Jha, Ancient India-An Introductory Outline, tr 64) hội vì họ gópphần quan trọng vào nền kinh tế quốc gia Giai cấp sau cùng là Thủ Đà La(Sudras); những người thuộc giai cấp này bao gồm công nhân, người hầu, thợsăn, và tầng lớp nông nô Họ thuộc giai cấp thấp kém nhất trong xã hội và họthuộc quyền sở hữu của ba giai cấp trên, có nghĩa là họ phải phục tùng, chịu sựsai khiến của ba đẳng cấp trên, điều đáng nói là những người thuộc giai cấpThủ Đà La (Sudras) sống và chết như thú vật Để giải thích cho sự tồn tại củachế độ đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ cổ đại nhà sử học D.N Jha cho rằng bagiai cấp đầu tiên (Brahmins, Ksatriyas và Vaisyas) được sinh ra hai lần nên họđược hưởng nhiều đặc quyền hơn giai cấp Sudras và những người hạ tiện Bêncạnh đó, những lãnh chúa của Ấn Độ cổ đại dùng hệ tư tưởng Bà La Môn(Brahminism) để củng cố quyền lực của họ và để bảo đảm trật tự xã hội Vàothời đại của vua A Dục (Asoka), Mauryas, chế độ giai cấp đã tồn tại Tuynhiên, vua A Dục là một vị vua mộ đạo và am hiểu Phật giáo, sự phân biệt giaicấp dưới thời A Dục vương không quá gay gắt Vào triều đại này, lần đầu tiêntrong xã hội Ấn Độ cổ đại giai cấp Sudras được triều đình hỗ trợ, cấp đất, súcvật, hạt giống để canh tác và cho vay vốn để hoạt động sản xuất Ngoài ra họcòn được miễn thuế và lao dịch Trong xã hội lúc bấy giờ có 75 ngành nghề,trong đó hơn sáu mươi ngành nghề liên quan đến thủ công mỹ nghệ, thợ kimhoàn, số còn lại làm việc trong các hầm mỏ Nghệ nhân và thợ thủ công xuấtthân từ giai cấp Sudrasvà trở nên giàu có nhờ làm nghề và buôn bán( (1997),D.N.Jha , Sđd, tr 31) Trong khi đó vào triều đại Kushanas và Shatavahanas(thế kỷ I – II CN)( (1968), Sudhakar Chattopadhyaya , Early History of North

Trang 16

India, tr 87-122), nhiều giai cấp mới được hình thành dựa vào nghề nghiệp vàkhông có sự căng thẳng nào giữa các giai cấp, họ sống trong hòa bình Vàogiai đoạn này, xã hội Ấn Độ xuất hiện nhiều ngành nghề như nghề chăn cừu,cày ruộng, nghề đan, dệt, thợ kim hoàn, thợ làm vòng hoa, … các ngành nghềdẫn đến sự phân chia thành phần lao động và gia tăng sự chuyên môn hóa,người lao động có tay nghề cao Xã hội không có sự phân biệt giữa giai cấpVaisyas và Sudras vì xã hội ngày càng phát triển và những người thuộc giai cấpSudras có thể trở thành thợ thủ công, nghệ nhân, thợ kim hoàn hay doanhnghiệp vừa và nhỏ và trở nên giàu có Một điểm đặc biệt của xã hội trong thờiđại Kushanas và Shatavahanas là phụ nữ được tự do hơn và được hưởng tất cảcác quyền lợi như nam giới Họ được học hành, được sở hữu tài sản, đượctham gia các sự kiện quan trọng của xã hội

Tuy nhiên, đến triều đại Guptas, sự phân biệt giai cấp trở nên gay gắt

Xã hội xuất hiện một giai cấp mới đó là chandala hay untouchable, có thể tạmdịch là “tiện dân” Thuật ngữ “hạ tiện” chỉ cho giai cấp thấp (chandala hayuntouchable) thường được sử dụng trong xã hội Ấn Độ dưới thời Guptas.Những tiện dân (chandala) phải sống tách biệt với xã hội người Aryan, họ chủyếu sống ở gần bãi rác hay lò thiêu Họ làm những nghề nghiệp chân tay thấpkém hay nô lệ Vào triều đại Guptas, nhà sử học D.N Jha cho rằng xã hội tồntại mười lăm loại nô lệ Họ làm những công việc bẩn thỉu như giúp việc nhà,quét đường, lau dọn nhà vệ sinh, hầu bàn, xoa bóp, mát-xa, v.v Một số kháctham gia sản xuất nông nghiệp

Giai cấp Brahmins, nếu vào thời đại của Đức Phật đứng sau giai cấpKsatriyas, thì vào thời đại Guptas họ được cho là giai cấp tối cao trên cảgiaicấp Ksatriyas Không giống với thời đại A Dục Vương, giai cấp Sudras trongthời đại Guptas mặc dù cũng được cấp đất ở những khu vực thuộc địa mớinhưng họ là tá điền và phải nộp thuế cho chủ điền Ở đây chủ điền chính là cácquan lại hay là hoàng thân, họ ra sức bóc lột các tá điền và nông nô Hình thứccấp đất hay quan hệ giữa tá điền và chủ điền trong giai đoạn này thực chất lànền tảng của chế độ phong kiến đầu tiên ở Ấn Độ cổ đại Nhiều bia khắc chothấy sự xuất hiện của giai cấp nông nô lúc bấy giờ Bên cạnh đó, ở vùng nông

Trang 17

thôn Ấn Độ lúc bấy giờ xuất hiện tầng lớp Già Làng và Thôn trưởng, người cầnphải được thông qua khi có sự sang nhượng ruộng đất xảy ra Về sau, tầng lớpnày phát triển lên thành một giai cấp mới

Ở thời đại Kushanas, phụ nữ được tự do và được hưởng các quyền lợicủa xã hội, phụ nữ ở thời đại Guptas bị khinh miệt, không được tự do học hành.Patanjalicho rằng nô lệ nữ và phụ nữ thuộc giai cấp Thủ Đà La (Sudras)là đểphụ vụ sự khoái lạc cho những người thuộc giai cấp trên Ngoài ra, phụ nữcũng không có quyền sở hữu tài sản ngoại trừ quần áo và một số đồ trang sức

Họ được xem như một món hàng và có thể được dùng làm quà tặng, biếu haycho vay giữa những người của giai cấp trên ( (1997), D.N.Jha , Sđd, tr 104).Đặc biệt tập tục sati (người nữ bị thiêu sống trên dàn hỏa khi người chủ hoặcchồng của họ chết) xuất hiện đầu tiên vào triều đại Gupta theo Bộ luật Manu.Tuy nhiên tập tục này chỉ phổ biến đối với giai cấp cao trong xã hội Nhữngngười hạ tiện (chandala) hay thuộc giai cấp Thủ Đà La (Sudras) chịu nhiều bấtcông trong xã hội Họ phải chịu những hình phạt nặng nề khi phạm tội Theoluật Manu, nếu một người hạ tiện (chandala) làm tổn thương một người thuộcgiai cấp trên, thì người hạ tiện sẽ bị chặt tay Nếu người hạ tiện thóa mạ ngườicủa giai cấp trên, người hạ tiện sẽ bị cắt lưỡi Vì vậy, người hạ tiện rất cămphẫn Bộ luật Manu nhưng họ không thể nào chống lại và cam tâm sống cuộcđời nô lệ và thấp kém

Sự phân biệt giữa các giai cấp còn được thể hiện rõ nét trong các tài liệubằng chữ viết lúc bấy giờ Theo Varahamihira, một Bà La Môn (Brahmana) sởhữu ngôi nhà với năm phòng, một Sát Đế Lợi (Ksatriya) sở hữu ngôi nhà vớibốn phòng, một Phệ Xá (Vaisya) sở hữu ngôi nhà với ba phòng và một tiện dân(Sudra) sở hữu ngôi nhà với hai phòng Tuy nhiên, trên thực tế, người hạ tiệnhay Sudra thường là những người vô gia cư, họ phải sống ở những khu nhà ổchuột, tồi tàn, tạm bợ Nhiều người cùng sống trong một túp lều, chỉ đủ chenắng che mưa Bên cạnh đó, kinh văn Puranas biên soạn vào thời đại Guptas

đã liên tưởng bốn giai cấp tương ứng với bốn màu sắc: trắng (Brahmana), đỏ(Ksatriya), vàng (Vaisya) và đen (Sudras) Puranas cũng nhấn mạnh rằng một

Bà La Môn (Brahmana) không được nhận thực phẩm từ Thủ Đà La (Sudras) vì

Trang 18

cho rằng họ sẽ làm giảm quyền năng của Brahmana Bộ luật của triều đạiGupta cũng thể hiện rõ nét sự phân biệt giữa các giai cấp Theo luật Guptas,một Brahmana được thử thách bằng sự cân bằng, một Ksatriya thử thách bằnglửa, một Vaisya bằng nước và một Sudras thì bằng thuốc độc Mặt khác, theonhà làm luật Brihaspati, con của một Brahmana kết hôn với người đàn bàSudras sẽ không được hưởng quyền thừa kế ruộng đất; Thủ Đà La không đượcquyền làm nhân chứng trong các vụ kiện có liên quan đến người thuộc giai cấptrên; anh ta chỉ có thể làm nhân chứng cho những người thuộc giai cấp củamình mà thôi Ngoài ra, luật còn ghi rõ nếu mộ Bà La Môn có quan hệ vớingười hạ tiện (chandala), thì anh ta sẽ bị gián cấp thành tiện dân Khi chandalađến những chỗ đông người như chợ, anh ta phải báo hiệu bằng cách dùng haichiếc guốc gõ vào nhau để người của giai cấp trên biết mà né tránh( (1997),D.N.Jha , Sđd, tr 105)

Như vậy, tuy chế độ đẳng cấp xuất hiện trong xã hội Ấn Độ cổ đại từ rấtlâu nhưng đến triều đại Guptas, các luật lệ, quy định hà khắc đã thể hiện rõ sựphân biệt giữa các giai cấp Đặc biệt sự phân biệt giai cấp hay sự đối xử tồi tệ,bất công đối với giai cấp Thủ Đà La (Sudras) và tiện dân (chandala) được luậtpháp công nhận và bảo vệ Điều này được đề cập trong Bộ luật Manu, một bộluật cổ xưa nhất của Ấn Độ, trong các kinh văn Puranas và trong Bộ luật củaGuptas đã dẫn đến sự căng thẳng giữa các giai cấp, đặc biệt là giai cấp Thủ Đà

La (Sudras) và tiện dân (Chandala)

1.2.2 Bối cảnh Văn hóa Ấn Độ thời kì Gupta

Thời kỳ Gupta được gọi là Thời kỳ Hoàng kim của Ấn Độ cổ đại Điềunày có thể không đúng trong các lĩnh vực chính trị và kinh tế xã hội vì một sốdiễn biến không vui trong thời gian này Tuy nhiên, có thể thấy rõ ràng từ cácphát hiện khảo cổ rằng người Guptas sở hữu một lượng lớn vàng, bất kểnguồn gốc của nó là gì, và họ đã phát hành số lượng tiền vàng lớn nhất

Các hoàng tử và những người giàu có hơn có thể chuyển một phần thunhập của họ để hỗ trợ những người tham gia vào nghệ thuật và văn học CảSamudragupta và Chandragupta II đều là những người bảo trợ cho nghệ thuật

và văn học Samudragupta được thể hiện trên đồng tiền của mình khi chơi đàn

Trang 19

nguyệt (veena) và Chandragupta II được ghi nhận là người duy trì trong triềuđình của mình chín vị thần sáng hoặc các học giả vĩ đại Thời kỳ Gupta chứngkiến thời kỳ Hoàng kim chỉ trong các lĩnh vực nghệ thuật, văn học, v.v.

Hội họa

Nghệ thuật hội họa đạt đến đỉnh cao của vinh quang và huy hoàng trongthời đại này Các ví dụ quan trọng nhất của các bức tranh Gupta được tìm thấytrên các bức bích họa trên tường của các hang động Ajanta, hang động Bagh.Các họa sĩ Gupta cũng vẽ các sự kiện từ cuộc đời của Đức Phật trong thời kỳGupta Hang động số XVI ở Ajanta có cảnh được gọi là "Công chúa sắpchết" Hang động không XVII đã được gọi là một thư viện hình ảnh TạiAjanta, những bức tranh hang động nổi bật khác là hang không XIX, I và II

Văn học Gupta

Ngôn ngữ và văn học tiếng Phạn sau nhiều thế kỷ phát triển, thông qua

sự bảo trợ của hoàng gia, đã đạt đến trình độ xuất sắc ở thời cổ đại TiếngPhạn là ngôn ngữ cung đình của Guptas Puranas đã tồn tại nhiều trước thờiGuptas dưới dạng văn học bardic; trong thời đại Gupta, chúng cuối cùng đãđược biên soạn và đưa ra hình thức hiện tại

Thời kỳ này cũng chứng kiến việc biên soạn nhiều cuốn sách về luật lệhoặc sách luật được viết bằng câu thơ Smitis of Yajnavalkya, Narada,Katyayana và Brihaspati được viết trong thời kỳ này Hai sử thi vĩ đại làRamayana và Mahabharata gần như được hoàn thành vào thế kỷ thứ 4 sauCông nguyên

Thời kỳ Gupta là đáng chú ý đối với việc sáng tác văn học thế tục.Trong số các nhà thơ tiếng Phạn được biết đến trong thời kỳ này, tên tuổi lớnnhất là Kalidasa, người sống trong triều đình của Chandragupta II Các tácphẩm quan trọng nhất của Kalidasa là Abhijnanashakuntalam (được coi là mộttrong một trăm tác phẩm văn học hay nhất trên thế giới) Ritusamhara,Malavikagnimitra, Kumarasambhava, Meghaduta, Raghuvamsha và VikramaUrvashiyam Shudraka đã viết bộ phim truyền hình Mrichcbhakatika hayChiếc xe đẩy nhỏ bằng đất sét

Trang 20

Vishakadatta là tác giả của Mudrarakshasa, trong đó đề cập đến các âmmưu của Chanakya gian xảo Devichandraguptam một bộ phim truyền hìnhkhác do anh viết kịch bản đã chỉ tồn tại trong những mảnh vỡ.

Thời kỳ Gupta cũng chứng kiến sự phát triển của ngữ pháp tiếng Phạndựa trên Panini và Patanjali Giai đoạn này đặc biệt đáng nhớ đối với việcbiên soạn Amarakosha của Amarasimha, người từng là một danh nhân trongtriều đình của Chandragupta II Một học giả Phật giáo từ Bengal,Chandragomia đã soạn một cuốn sách về ngữ pháp tên làChandravyakaranam

Văn học Phật giáo và Jaina bằng tiếng Phạn cũng được viết trong thời

kỳ Gupta Các học giả Phật giáo Arya Deva, Arya Asanga, và Vasubandhu củathời kỳ Gupta là những nhà văn đáng chú ý nhất Siddhasena Divakara đã đặtnền tảng của logic giữa các Jaina Thời đại Gupta chứng kiến sự phát triển rực

rỡ của nhiều dạng Prakrit như Suraseni được sử dụng ở Mathura và vùng phụcận, Ardhamagadhi đã nói ở Oudh và Bundelkhand, Magadhi ở Bihar vàMaharashtra ở Berar

Khoa học và Công nghệ

Aryabhatta là nhà thiên văn học đầu tiên đặt ra những vấn đề cơ bảnhơn của thiên văn học vào năm 499 sau Công nguyên Phần lớn nhờ những nỗlực của ông, thiên văn học đã được công nhận là một ngành riêng biệt vớitoán học Ông đã tính số pi (π) đến 3,1416 và độ dài của năm mặt trời là365,3586805 ngày, cả hai đều gần đáng kể với các ước tính gần đây

Ông tin rằng trái đất là một hình cầu và quay trên trục của nó và bóngcủa trái đất rơi xuống mặt trăng gây ra hiện tượng nguyệt thực Ông cũng làtác giả của Aryabhattiyam, chuyên đề về đại số, số học và hình học.Varahamihira, sống vào cuối thế kỷ thứ năm đã viết một số luận thuyết vềthiên văn học và tử vi Panchasiddhantika của ông đề cập đến năm trườngphái thiên văn, hai trong số này phản ánh kiến thức gần gũi về thiên văn học

Hy Lạp Laghu-Jataka, BrihatJataka và Brihat Samhita là một số tác phẩmquan trọng khác của ông

Trang 21

Hastayurveda hoặc khoa học thú y, được biên soạn bởi Palakalpyachứng thực những tiến bộ đạt được trong khoa học y tế trong thời kỳ Gupta.Navanitakam, một tác phẩm y tế, là một cẩm nang về công thức nấu ăn, côngthức và đơn thuốc, được biên soạn trong thời kỳ này.

1.2.3 Tôn giáo Bà-la-môn giáo Ấn Độ cổ đại

Như chúng ta đã biết, chế độ đẳng cấp là một dấu ấn đối với bất cứ aiđặt chân lên đất Ấn Độ hoặc là chỉ đi du lịch thông qua sách báo Bà-la-môngiáo, chính là tôn giáo khởi nguồn cho chế độ đẳng cấp, là hệ thống tínngưỡng phát triển từ kinh Vệ Đà trong thời kỳ Hậu Vệ Đà (khoảng 1100-500trước Công nguyên) bắt nguồn từ Văn minh Thung lũng Indus sau cuộc Di cưIndo-Aryan 2000-1500 TCN Tuy nhiên, ngày và nơi xuất phát của tư tưởng

Vệ Đà vẫn chưa được biết, nhưng có hai giả thuyết đã được đưa ra: thuyết Di

cư Ấn Độ-Aryan và thuyết Ra khỏi Ấn Độ (OIT) Thuyết Di cư Indo-Aryancho rằng tầm nhìn Vệ Đà đã phát triển ở Trung Á (xung quanh khu vựcVương quốc Mitanni, miền bắc Iraq ngày nay, Syria và Thổ Nhĩ Kỳ) và đến

Ấn Độ trong thời kỳ suy tàn của Văn minh Thung lũng Indus (c 7000 - 600TCN) đôi khi giữa c 2000-1500 TCN OIT tuyên bố Nền văn minh Thunglũng Indus (còn được gọi là Nền văn minh Harappan) đã phát triển tầm nhìn

Vệ Đà, xuất khẩu nó sang Trung Á và theo dõi nó quay trở lại với cuộc Di cưIndo-Aryan OIT thường bị bác bỏ vì thiếu bằng chứng đáng kể và về cơ bảnđồng ý với lý thuyết Di cư Indo-Aryan cho rằng cấu trúc tín ngưỡng đã pháttriển ở Trung Á

Một số tên của các vị thần - đặc biệt là Indra - đã được biết đến ở Trung

Á, và một trong những khái niệm quan trọng nhất của Bà La Môn giáo, rita("trật tự vũ trụ") cũng đã được thành lập ở đó Người ta cho rằng, vào khoảngthiên niên kỷ thứ 3 trước Công nguyên, một nhóm các bộ lạc Aryan du mục

đã di cư vào Trung Á và hai trong số này, ngày nay được gọi là Indo-Iranians

và Indo-Aryans, và họ đã chia nhau ra ở đây; người Ấn-Iran định cư trên Caonguyên Iran và người Ấn-Aryan tiếp tục về phía nam đến tiểu lục địa Ấn Độ.Thuật ngữ Aryan được hiểu là một lớp người có nghĩa là "tự do" hoặc "quýtộc" và không liên quan gì đến chủng tộc Sự liên kết giữa Aryan với các

Trang 22

chủng tộc da sáng chỉ được đưa ra vào thế kỷ 18 và 19 sau CN bởi các nhà sửhọc có thế giới quan phân biệt chủng tộc.

Bà-la-môn giáo là tôn giáo được phát triển dựa trên nội dung của kinhVeeda Nội dung của kinh Veda được truyền miệng từ thầy này sang thầy kháccho đến thời kỳ Vệ Đà (khoảng 1500 - 500 trước Công nguyên) khi chúngđược viết ra Chúng bao gồm bốn văn bản:Rig Veda, Sama Veda, Yajur Veda

và Atharva Veda

Mỗi văn bản được chia riêng thành các tiêu đề con:

Aranyakas - nghi lễ và quan sát

Brahmanas - bình luận về nghi lễ

Samhitas - những lời chúc phúc và lời cầu nguyện

Upanishad - tường thuật và đối thoại triết học

Những văn bản này xác định kinh Vệ Đà là trung tâm của Bà La Môngiáo

Brahman chính là đấng tối cao mà bất cứ tín đồ nào theo đạo Bà-la-môngiáo cũng phải tôn sùng Brahman được hiểu là một thực thể riêng lẻ nhưng

có sức mạnh vô cùng lớn đến nỗi trí óc con người không thể hiểu được nó.Thực thể này tồn tại trong thực tế (có thể hiểu được), bên ngoài thực tại (tronglĩnh vực tiền tồn tại), và đồng thời là thực tại Brahman đã luôn tồn tại và sẽluôn tồn tại nhưng quá rộng lớn để một con người có thể kết nối Bà-la-môngiáo bao gồm các đặc điểm chính như sau

Thứ nhất, đó chính là chế độ đẳng cấp Trong đó, họ tôn sùng đấngBrahman như là một đẳng cấp tối cao và thiêng liêng nhất, chính vì thế mà đã

có sự xuất hiện của những lễ nghi cúng tế trang nghiêm và cũng không kémphần phức tạp Nghi lễ tế lễ phức tạp này xuất hiện vào năm 900 trước Côngnguyên Quyền lực Brahman mạnh mẽ cùng với những người tăng lữ đã chia

xã hội Ấn Độ thành 4 giai cấp chính, trong đó đẳng cấp Brahmin bao gồmnhững tăng lữ, tu sĩ Bà-la-môn giáo được xem là đẳng cấp cao nhất Họ cónhiệm vụ là giảng dạy và truyền đạt những kiến thức thiêng liêng về Bà-la-môn giáo cho những người khác trong xã hội Trong khi có các đẳng cấpkhác, chẳng hạn như Kshatriyas là những người binh sĩ, Vaishyas là những

Trang 23

thương nhân và đẳng cấp được xem là thấp hèn nhất trong xã hội đó làShudras, họ là những người nô lệ, những người nông dân, những người làmcác công việc chân tay thấp kém Họ phải chịu những thiệt thòi về quyền lợicũng như họ không phép làm những việc mà các đẳng cấp cao cho là khôngđược.

Một đặc điểm thứ hai của Bà-la-môn giáo đó chính là niềm tin vào mộtThượng đế thực sự, đó là đấng tôi cao Brahman Thần linh tối cao được họtôn thờ thông qua biểu tượng của Om Moksha ( sự giải thoát) chính là sứmệnh chính trong đạo Bà-la-môn giáo Họ cho rằng cuộc sống thực tại chỉ làmột cõi tạm, cái đích đến của con người chính là thoát khỏi sự luân hồi và cóthể đến được với thần linh mới chính là mục tiêu lớn nhất của mỗi người dân

Ấn Độ

Tiếp theo, đó chính là tâm linh siêu hình Siêu hình học là một kháiniệm trung tâm của hệ thống tín ngưỡng Bà la môn giáo Theo Sir MonierMonier-Williams trong đạo Bà La Môn:

"Cái tồn tại trước khi tạo ra vũ trụ, cấu thành tất cả sự tồn tại sau đó, và

vũ trụ sẽ tan biến thành, theo sau là các chu kỳ tạo-duy trì-huỷ diệt vô tậntương tự" Loại tâm linh này tìm cách hiểu điều đó ở trên hoặc vượt qua môitrường vật chất mà chúng ta đang sống Nó khám phá cuộc sống trên trái đất

và tinh thần và thu thập kiến thức về tính cách con người, cách chúng ta suynghĩ và tương tác với con người

Cuối cùng đó chính là sự Luân hồi Người Bà La Môn tin vào luân hồi

và Nghiệp báo, theo các văn bản ban đầu từ kinh Veda Trong Bà-la-môngiáo, một linh hồn tái sinh trên trái đất nhiều lần và cuối cùng biến thành mộtlinh hồn hoàn hảo, đoàn tụ với thần linh Tái sinh có thể xảy ra qua một số cơthể, hình thức, sinh ra và chết trước khi trở nên hoàn hảo

Tiểu kết chương 1

Tóm lại, tôn giáo là một nét văn hóa rất độc đáo trong đời sống củangười dân Ấn Độ Bởi lẽ, nó không chỉ tác động , chi phối đến đời sống tinhthần của con người mà còn tác động đến cả mọi mặt từ văn hóa, kinh tế, chínhtrị của Ấn Độ Từ những khái niệm chung về tôn giáo, về Hindu giáo và Bà-

Trang 24

la-môn giáo cùng với bối cảnh xã hội Ấn Độ lúc bây giờ trong thời kì Guptagiúp độc giả hình dung một bức tranh toàn cảnh về xã hội-văn hóa của Ấn Độlúc bấy giờ Bà-la-môn giáo đang có vai trò như thế nào trong đời sống ngườidân Ấn Độ, những khắt khe, những hạn chế của tôn giáo này ra sao sẽ giúpđộc giả dễ dàng nắm bắt những nội dung tiếp theo trong chương 2.

CHƯƠNG 2: SỰ HÌNH THÀNH CỦA HINDU GIÁO

2.1 Tính cấp thiết sự ra đời của Hindu giáo

Trong thời kì Gupta- một thời kì hoàng kim của Ấn Độ về sự phát triểnvăn hóa, các lĩnh vực như văn học, nghệ thuật hay hội họa đều có sự pháttriển rực rỡ Tuy nhiên, bối cảnh xã hội lúc bây giờ phản ánh một thực trạng

về sự phân chia giai cấp trong xã hội rất giai cấp Đặc biệt là chế độ đẳng cấp

đã tác động rất nhiều đến những đẳng cấp thấp, đến phụ nữ, đến những người

vô gia cư Họ phải chịu rất nhiều thiệt thòi, hạn chế về quyền lợi như địa vịcủa họ, không được tiếp cận với giáo dục, không có tiếng nói trong xã hội,v.v… Chính vì trong thời kì này, Bà-la-môn giáo lớn mạnh, hệ quả của chế độđẳng cấp mà tôn giáo này mang lại là quá lớn, đã làm cho người dân bức xúc,

bị chèn ép, gò bó trong lễ nghi và những thủ tục cúng tế rườm rà

Xét về sự bất bất công trong xã-hội trên 2500 năm trước đây, thì xã-hội

Ấn Độ có lẽ là một trong những xã hội có một chế độ xã hội và chính trị bấtcông nhất Dân chúng Ấn Độ thời bấy giờ bị phân chia rất nhiều giai cấp khácnhau, tựu trung có thể liệt vào những giai cấp chính sau đây:

a)Bà-la-môn (Brhmanes) gồm những Giáo-sĩ, những người giữ quyềnthống trị tinh thần, phụ trách về lễ nghi, cúng bái Họ tự nhận mình là hạngcao-thượng, sinh từ miệng Phạm Thiên (Brahma) hay Phạm Thiên cầm cương

Trang 25

lãnh đạo tinh thần dân tộc, nên có quyền ưu tiên được tôn kính, và an hưởngcuộc đời sung sướng nhất

b) Sát Đế Lợi (Kastryas) là hàng vua chúa quý phái, tự cho mình sinh

từ cánh tay Phạm Thiên, thay mặt cho Phạm Thiên nắm giữ quyền hành thốngtrị dân chúng

c) Phệ Xá (Vaisyas) là những hàng thương-gia chủ-điền, tin mình sinh

ra từ bắp về Phạm-Thiên, có nhiệm vụ đảm đương về kinh tế trong nước (muabán, trồng trọt, thu huê lợi cho quốc gia )

d) Thủ Đà La (Souđras) là hàng tiện dân, nô lệ tin mình sinh từ gótchân Phạm Thiên, nên thủ phận làm khổ sai suốt đời cho các giai cấp trên

Ngoài bốn giai cấp trên, còn có một đẳng cấp khác được cho là đẳngcấp tiện dân là giống Ba-ri-a (Pariahs) giống dân tộc mọi rợ, bị coi như sốngngoài lề xã hội loài người, bị các giai cấp trên đối xử như thú vật, vô cùngkhổ nhục, tối tăm

Năm giai cấp này mặc y phục màu sắc khác nhau Mỗi giai cấp sốngtheo luật lệ hệ thống cha truyền con nối, không được thay đổi nghề-nghiệphay cưới hỏi lẫn nhau, và không được di chuyển chỗ ở khác Theo luật Bà-la-môn, chỉ ba giai cấp trên có quyền đọc kinh, học đạo, còn hai giai cấp dưới thìđời đời chỉ làm nô lệ cho ba giai-cấp trên mà thôi

Giai cấp Bà-la-môn hưởng sung sướng nhàn hạ bao nhiêu, thì đámngười tiện dân ở dưới lại khổ sở, nhục nhã bấy nhiêu Sự bất công xã hội thậtkhông thể nào diễn-tả nổi Giữa người với người, thật không có một nhịp cầuthông cảm nào, nguồn yêu thương tắc nghẹn, giai cấp này đối với giai-cấpkhác là địch thủ mà càng bóc lột được bao nhiêu là càng tốt bấy nhiêu

Về phương diện tôn giáo, Triết-học, tư tưởng thì xã hội Ấn Độ thời bấygiờ cũng diễn ra một cảnh tượng vô cùng hỗn tạp Về tín ngưỡng người thờthần lửa kẻ thờ thần núi, thần sông, kẻ thờ thần gió, thần chớp, thần mặt trời

Về triết học, kẻ cho rằng Phạm-Thiên là căn bản của vũ trụ, vạn hữu, kẻ chorằng đất là căn bản, kẻ cho rằng nước là căn bản, kẻ cho rằng gió là cănbản có phải đi xa hơn, từ cụ thể đến trừu tượng, lập ra những thuyết: thời

Trang 26

gian luận, không gian luận, phương hướng luận, chủ trương nhất nguyên, nhịnguyên, đa nguyên Gồm một trăm phái khác nhau, luôn luôn đả kích mâuthuẫn với nhau.

Tóm lại, xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ là một xã hội về vật chất thì đangrên siết dưới ách bất công, áp bức, về tinh thần thì đang quay cuồng, điên đảotrong những luồng tư tưởng lý thuyết rối reng Xã hội ấy đang khao khát tìnhthương và bình đẳng, đang mong chờ được chói rạng dưới ánh sáng của trítuệ

Trong hoàn cảnh ấy, Đức Phật Thích Ca đã xuất hiện đúng lúc để cứuvớt cõi đời sầu khổ Kể từ khi Phật giáo xuất hiện, với quan niệm bình đẳng,tinh thần từ bi bác ái, đạo Phật đã được đông đảo quần chúng nhân dân đónnhận Dần dần, vị thế của Bà-la-môn giáo mất đi Tuy nhiên, Bà-la-môn giáo

đã bắt đầu một cuộc cải cách, một mặt họ tu chỉnh giáo lí, một mặt họ thanhlọc hàng ngũ dựa vào thế lực của chính quyền, dần dần họ chiếm lại địa vị cũ

và hết sức bài xích Phật Giáo Mặc dù vậy, nhưng Bà-la-môn giáo vẫn gắn vớichế độ đẳng cấp khắc nghiệt, sự phân chia giai cấp trong xã hội, nên họ buộcphải đổi sang một hình thức khác, một tên gọi khác đó chính là Hindu giáo Như vậy, đứng trước nguy cơ bị lu mờ trước Phật giáo cũng như là sựkhông đồng tình của người dân, Ấn Độ cần có một tôn giáo mới xuất hiện, kếthừa những tinh hoa tốt đẹp của Phật giáo để hợp lòng dân cùng với đó là duytrì vị trí độc tôn mà Bà-la-môn đã từng nắm giữ nhưng nay lại trở thành mộttên gọi khác, Hindu giáo

2.2 Sự phát triển của Hindu giáo từ Bà-la-môn giáo

Sau khi Bà-la-môn giáo chuyển sang một hình thức khác gọi là Hindugiáo, đạo Hindu bắt đầu hình thành Thuật ngữ Hindu có nguồn gốc từ tên củasông Indus, chảy qua miền bắc Ấn Độ Trong thời cổ đại, con sông này đượcgọi là Sindhu, nhưng những người Ba Tư tiền Hồi giáo di cư đến Ấn Độ đãgọi vùng đất này là Hindustan và gọi cư dân của nó là người Hindu Việc sửdụng thuật ngữ Hindu đầu tiên được biết đến là từ thế kỷ thứ 6 trước Côngnguyên, được sử dụng bởi người Ba Tư Ban đầu, khi đó, Ấn Độ giáo chủ yếu

là một cái mác gắn với văn hóa và địa lý, và chỉ sau đó, nó mới được áp dụng

Trang 27

để mô tả các lễ nghi tôn giáo của người Ấn Độ giáo Ấn Độ giáo như mộtthuật ngữ để xác định một tập hợp các niềm tin tôn giáo lần đầu tiên xuất hiệntrong một văn bản Trung Quốc vào thế kỷ thứ 7 sau CN.

Hệ thống tôn giáo được gọi là Ấn Độ giáo phát triển rất dần dần, xuấthiện từ các tôn giáo tiền sử ở vùng cận Ấn Độ và tôn giáo Vệ Đà của nền vănminh Ấn-Aryan, kéo dài khoảng từ 1500 đến 500 trước Công nguyên

Trong thời kỳ đế chế Maurya và Gupta, văn hóa và đời sống của người

Ấn Độ chịu ảnh hưởng sâu sắc của Ấn Độ giáo Ấn Độ giáo củng cố một hệthống phân cấp xã hội nghiêm ngặt được gọi là hệ thống đẳng cấp khiến mọingười gần như không thể di chuyển ra ngoài địa điểm xã hội của họ

Các hoàng đế trong thời kỳ đế chế Gupta đã sử dụng Ấn Độ giáo nhưmột tôn giáo thống nhất và tập trung vào Ấn Độ giáo như một phương tiện đểcứu rỗi cá nhân Những người theo Ấn Độ giáo có thể thờ nhiều vị thần khácnhau, mặc dù đó không phải là một tôn giáo đa thần bởi vì tất cả những vịthần này được cho là biểu hiện của một Brahman

Agni, Indra, Shiva, Vishnu và Ganesha chỉ là một vài ví dụ về các vịthần Hindu mà các giáo phái khác nhau đã coi là những vị thần quan trọngnhất vào nhiều thời điểm khác nhau Thần Shiva đôi khi được kết hợp với quátrình hủy diệt, và Vishnu được xem như một đấng sáng tạo sử dụng những gìcòn lại của sự hủy diệt của Shiva để tái tạo những gì đã bị phá hủy

Một điểm khác biệt đáng chú ý giữa Ấn Độ giáo và các tôn giáo lớnkhác là nó không có người sáng lập hoặc xuất phát điểm rõ ràng; thay vào đó,

nó phát triển và lan rộng — có thể sớm nhất là vào năm 5500 trước Côngnguyên — ở tiểu lục địa Ấn Độ và thay đổi theo thời gian dựa trên văn hóa vàkinh tế Ấn Độ

Ấn Độ giáo ban đầu bắt đầu như một truyền thống từ trong tầng lớp Bà

la môn, khiến những người ở tầng lớp thấp hơn khó tiếp cận, nhưng nó dầntrở nên phổ biến hơn Vào khoảng năm 1500 đến năm 500 trước Côngnguyên, hai sử thi được gọi là Mahabharata và Ramayana đã được tạo ra vàcuối cùng được viết ra vào những thế kỷ đầu của Thời đại chung Những bàithơ này cung cấp thông tin về các giá trị và vị thần của đạo Hindu - ví dụ như

Trang 28

Vishnu - thông qua những câu chuyện kịch tính về tình yêu và chiến tranh.Khi những câu chuyện này được viết ra, chúng lan truyền nhanh chóng và dễdàng hơn khắp Ấn Độ Một văn bản khác, Bhagavad Gita, là một bài thơ nêubật các giá trị của đạo Hindu và khả năng cứu rỗi cho những người sống theocác giá trị đó Bhagavad Gita đã giúp phổ biến Ấn Độ giáo trong các tầng lớpthấp hơn bởi vì nó khẳng định rằng mọi người có thể đạt được sự cứu rỗi bằngcách thực hiện các nhiệm vụ đẳng cấp của họ.

Trong thời kỳ đế chế Gupta — từ khoảng năm 320 đến năm 550 sauCông nguyên — các hoàng đế đã sử dụng Ấn Độ giáo như một tôn giáo thốngnhất và giúp phổ biến nó bằng cách thúc đẩy các hệ thống giáo dục bao gồmcác giáo lý Ấn Độ giáo Các hoàng đế Gupta đã giúp đưa Ấn Độ giáo trởthành tôn giáo phổ biến nhất trên tiểu lục địa Ấn Độ

Tôn giáo chính được thực hành bởi Đế chế Gupta là Ấn Độ giáo Tuynhiên, cả Phật giáo và Hindu giáo cùng tồn tại với nhau trong sự hài hòa rõràng Chúng ta cũng có Puranas nổi tiếng được cho là đã được sáng tác vàokhoảng thời gian này Văn học Puranic bao gồm mọi thứ từ những ý tưởng về

vũ trụ học và vũ trụ học, và gia phả của các vị thần, nữ thần, các vị vua, anhhùng, nhà hiền triết và á thần Puranas cũng là một bản ghi chép về các truyềnthuyết của Ấn Độ cổ đại, bao gồm các câu chuyện dân gian, và ghi chép vềcông việc của các học giả cổ đại này, bao gồm các chủ đề như y học, ngữpháp, thần học, thiên văn học và triết học

Hơn nữa, một số văn bản thiêng liêng nhất của Ấn Độ Cổ đại,Ramayana và Mahabharata (cùng với Bhagavad Gita là một phần củaMahabharata) được cho là đã được hệ thống hóa dưới thời trị vì của Đế chếGupta, đạt đến hình thức hiện đại Trong thời gian này, ăn chay và tránh rượu

là một thực hành mới nổi Tầm quan trọng của các vị thần trong bối cảnh thờcúng của người Hindu trở nên nổi bật Chúng được sử dụng làm tâm điểm của

sự sùng kính tôn giáo, biểu tượng của thần thánh, được hát cho, bày biện đồ

ăn thức uống, cũng như tắm rửa Điều này tương tự như các thực hành tôngiáo của các nền văn hóa Lưỡng Hà Cổ đại

Trang 29

CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM CỦA HINDU GIÁO

3.1 Hệ thống giáo lí của Hindu giáo

Hindu giáo là một trong những tôn giáo phổ biến nhất thời kì Gupta vàđược sự đón nhận của người dân một cách nồng nhiệt Chính nhờ hệ thốnggiáo lí đã có phần cải biến hơn so với Bà-la-môn giáo nên phần nào Hindugiáo đã chiếm được lòng dân Các nguyên tắc và quy tắc cụ thể của Hindugiáo được thể hiện và phản ánh trong các văn bản cổ của kinh Veda Dưới đây

là những nguyên tắc và kỷ luật chung này

Các nguyên tắc của Sanatana Dharma được thực hiện để tạo ra và duytrì hoạt động đúng đắn của một xã hội và các thành viên cũng như các thốngđốc của nó Bất kể trong hoàn cảnh nào, các nguyên tắc và triết lý của Ấn Độgiáo vẫn không đổi: mục đích cuối cùng của cuộc sống con người là nhận rahình dạng thực sự của nó

a) Tôn giáo hữu thần

Theo đạo Hindu, chỉ có một Thần thánh Tuyệt đối, một thế lực số ít kếthợp tất cả các khía cạnh của sự tồn tại với nhau được gọi là OM Tuyệt đối(đôi khi được đánh vần là AUM) Vị thần thánh này là Chúa tể của Tất cảSáng tạo và là âm thanh phổ quát được nghe thấy trong mỗi con người sống

Có một số biểu hiện thần thánh của OM, bao gồm Brahma, Vishnu vàMaheshwara (Shiva)

Trang 30

Người theo đạo Hindu tin rằng tất cả chúng sinh đều có linh hồn, có bảnngã, được gọi là atman Ngoài ra còn có một linh hồn tối cao, phổ quát, đượcgọi là Brahman, được coi là linh hồn riêng biệt và tách biệt với linh hồn cánhân Trong các trường phái khác nhau của Ấn Độ giáo, đấng tối cao đượctôn thờ có thể là Vishnu, Brahma, Shiva, hoặc Shakti, tùy thuộc vào giáophái Mục tiêu của cuộc sống là tin rằng linh hồn của một người là duy nhất,

và linh hồn tối cao hiện diện ở khắp mọi nơi và rằng tất cả sự sống là hợpnhất trong sự thống nhất

Trong thực hành của người Hindu, có vô số vị thần tượng trưng cho mộtĐấng tối cao trừu tượng, hay Brahman Cơ bản nhất của các vị thần Hindu là

ba vị thần Brahma, Vishnu và Shiva Nhưng nhiều vị thần khác như Ganesha,Krishna, Rama, Hanuman, và các nữ thần như Lakshmi, Durga, Kali vàSaraswati cũng là những vị thần linh phổ biến mà bất cứ ai tìm hiểu về Hindugiáo đều nghe quan

Đây là điểm phân biệt giữa Bà-la-môn giáo với Hindu giáo Vì Hindugiáo là tôn giáo hữu thần trong khi đó Bà-la-môn giáo là tôn giáo phiếm thần.Tuy nhiên, Brahma vẫn có sự tôn thờ tâm linh của những người có tư tưởng,mặc dù Brahma không có đền thờ hay hình tượng; trong khi Brahma vẫn cònhai ngôi đền ở Ấn Độ, và được thể hiện bằng hình tượng bốn mặt, và cũngđược thờ dưới biểu tượng Siva Brahma cũng có thiên đàng của riêng mìnhđược gọi là Brahma-loka

Hơn nữa, chắc chắn rằng việc thờ cúng các vị thần riêng là một phần củađạo Bà la môn phiếm thần từ rất lâu trước khi Siva và Vishnu trở thànhnhững yêu thích độc quyền của các giáo phái cụ thể Có lẽ người học giỏinhất của hệ thống Bà La Môn giáo là vị thầy vĩ đại Sankara (Saiikaradarya),người gốc Kerala (Malabar), sống vào khoảng đầu thế kỷ thứ tám của thời đạichúng ta Ông là một Sannyasi (trang 362) và một Smarta Brah-man chưa kếthôn theo lời thề độc thân, và thường được gọi là Parama-hansa-parivrajakaCarya Vì đó là một trong những điểm mâu thuẫn của đạo Hindu,rằng đạo này bắt buộc tất cả phải có nghĩa vụ kết hôn, nhưng vẫn tôn trọngđời sống độc thân như một điều kiện của sự thánh thiện cao cả và là một

Trang 31

phương tiện để có được công đức và ảnh hưởng tôn giáo phi thường Khôngnghi ngờ gì nữa, Sankara là hiện thân của đạo Bà La Môn nghiêm khắc; vànếu có thể kể tên bất kỳ một nhân cách cụ thể có thật trong lịch sử nào nhưmột đại diện tiêu biểu cho các học thuyết Bà La Môn giáo, thì không thể phủnhận rằng chúng ta phải chỉ đến Sankara hơn là Vyasa huyền thoại, mặc dùsau này là tác giả của Vedanta-Si -Ara.

Bà La Môn giáo được đặc trưng bởi đa thần giáo với việc bao gồm các vịthần bộ tộc địa phương khác nhau trong đền thờ, bằng cách lưu giữ các quanđiểm vật linh và vật tổ, và bởi sự thờ cúng tổ tiên Các vị thần tối cao của Bà

La Môn giáo là Brahma, đấng sáng tạo và hiện thân của vũ trụ, và Vishnunhân từ và thần Siva khủng khiếp, hiện thân của các lực lượng sản xuất của

tự nhiên Trên cơ sở tín điều của Bà La Môn giáo là những quan niệm về sựhoạt động của tự nhiên và sự luân hồi của tất cả chúng sinh

b) Hindu giáo quy định con người đều trải qua bốn giai đoạn của cuộc đời

Sự tái sinh của linh hồn trong một hoặc một hình thức vật chất mới khácđược coi là điều kiện tiên quyết (nghiệp) cho đức hạnh hoặc tội lỗi trong kiếptrước: trong trường hợp đầu tiên, một linh hồn được tái sinh trong cơ thể củamột con người có địa vị xã hội cao hơn hoặc thậm chí là một cư dân của thiênđàng; trong trường hợp thứ hai, linh hồn được tái sinh trong một người có địa

vị xã hội thấp hơn hoặc thậm chí trong động vật hoặc thực vật Tiêu chí đểđánh giá hành vi của một người là sự hoàn thành hoặc vi phạm pháp luật củangười đó — cách sống cụ thể được Brahma cho là đã thiết lập cho mỗi varna

Bà La Môn giáo thần thánh hóa sự bất bình đẳng xã hội, tuyên bố sự phân chia

xã hội thành các đạo thần do các vị thần thiết lập

Đây là một điểm mà Hindu giáo đã giữ lại từ Bà-la-môn giáo Vào thời Vệ

Đà, cuộc đời con người được xem là tám mươi bốn năm Cuộc đời của một cánhân thường được hiểu theo bốn phần, mỗi phần là hai mươi mốt năm Bốnphần này được gọi là bốn đạo tràng Chúng đã được phân loại như sau:

Brahmacharya - Đây được gọi là giai đoạn của tuổi trẻ hoặc học tập Tronggiai đoạn này, một cá nhân được yêu cầu tuân theo một kỷ luật nhất định, tự

Ngày đăng: 04/04/2022, 19:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Hoàng Văn Việt ( 2007), Các quan hệ chính trị ở phương Đông Lịch sử và Hiện tại, Nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Luận văn, luận án Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Văn Việt ( 2007), Các quan hệ chính trị ở phương Đông Lịch sửvà Hiện tại, Nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh "Luận văn
6. Đỗ Thu Hà (2015), “Dalit” và phong trào cải giáo tại Ấn Độ thế kỷ XIX - XX, Nghiên cứu Tôn giáo, Số 06(144), 2015 , 38-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dalit
Tác giả: Đỗ Thu Hà
Năm: 2015
1. Mai Ngọc Chừ ( 2008), Giới thiệu văn hóa phương Đông, Nhà xuất bản Hà Nội Khác
2. Lê Thị Liên ( 2006), Nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo ở đồng bằng sông Cửu Long, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội Khác
4. Lê Thị Sinh Hiền, kinh tế-văn hóa triều đại Gupta ở Ấn Độ và ảnh hưởng của nó đến kinh tế-văn hóa Phù Nam Khác
5. Bùi Đức Thuận ( 2011), Hindu giáo với văn hóa Đông Nam Á- những kí ức văn hóa Tạp chí, bài báo khoa học Khác
7. Hoàng Thị Thơ, Nguyễn Ngọc Quỳnh ( 2016), Các giai đoạn phát triển của Hindu giáo Khác
8. Nguyễn Thị Vân ( 2009), Sự biến đổi của Hinđu Giáo ở Ấn Độ dưới thời Vương triều Hồi Giáo Đêli và Đế quốc Môgôn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH HINDU GIÁO Ở ẤN ĐỘ GVHD: ThS. LÊ THỊ SINH HIỀN - LỊCH sử HÌNH THÀNH HINDU GIÁO ở ấn độ  HUỲNH THỊ MỘNG TUYỀN
h S. LÊ THỊ SINH HIỀN (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w