Các dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế của ASEAN Năm 1992: Hiệp định Khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN và thỏa thuận về Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN AFTA.. Tron
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
- -THẢO LUẬN
ĐỀ TÀI: TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ CỦA ASEAN.
CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Thành viên : Nguyễn Thị Ngọc Huyền (trưởng nhóm)
Đỗ Thị Ngọc
Lê Tuấn Anh
Đỗ Nguyễn Minh Thư Nguyễn Bích Ngọc
Vũ Thị Hải Yến
Vũ Thị Xuân Quỳnh Lớp : Kinh tế quốc tế 62B
Giảng viên : Thầy TÔ XUÂN CƯỜNG
Hà Nội, tháng 10 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
A TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ CỦA ASEAN 3
I Giới thiệu chung về ASEAN 3
1 Tổ chức ASEAN 3
2 Sự ra đời 3
3 Mục tiêu 3
4 Quá trình phát triển 3
II Tiến trình hội nhập kinh tế của ASEAN 4
1 Các dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế của ASEAN 4
2 Về hình thức hội nhập kinh tế ASEAN 5
3 Các thành tựu của ASEAN trong quá trình hội nhập kinh tế 6
III Những hạn chế của hội nhập kinh tế ASEAN và bài học kinh nghiệm 7
1 Những hạn chế của hội nhập kinh tế ASEAN 7
2 Bài học kinh nghiệm 8
B CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI VỚI VIỆT NAM 10
I Quá trình gia nhập, vai trò và thành tựu của Việt Nam khi gia nhập ASEAN 10
1 Quá trình gia nhập vào ASEAN của Việt Nam 10
2 Vai trò và những thành tựu của Việt Nam từ khi tham gia ASEAN 13
II Cơ hội của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế của ASEAN 14
1 Cơ hội có được một thị trường rộng lớn hơn 14
2 Cơ hội mở rộng xuất khẩu 15
3 Cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng xuất khẩu của Việt Nam 15
4 Cơ hội thu hút các nguồn đầu tư 16
III Thách thức đối với Việt Nam 16
1 Đối với kinh tế 17
2 Đối với chính trị - xã hội 18
3 Đối với môi trường 18
IV Giải pháp của Việt Nam 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 3A TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ CỦA ASEAN
I Giới thiệu chung về ASEAN.
1 Tổ chức ASEAN
ASEAN, viết tắt của Association of South East Asian Nations, nghĩa là Hiệphội các quốc gia Đông Nam Á Đây là một tổ chức chính trị, kinh tế văn hóa và xã hộitrong khu vực Đông Nam Á, được thành lập nhằm xây dựng đất nước và mục tiêuphát triển kinh tế, chính trị và an ninh
2 Sự ra đời
Đông Nam Á là một khu vực có lịch sử lâu dài và trong quá trình của mình đãđóng góp đáng kể cho sự phát triển của nhân loại Các quốc gia trong khu vực lànhững đất nước có sự tương đồng cao trên nhiều lĩnh vực văn hóa xã hội cũng nhưtrình độ phát triển kinh tế
Sau khi giành được độc lập, các nước Đông Nam Á còn gặp nhiều khó khănnên có nhu cầu hợp tác với nhau cùng phát triển, đồng thời muốn hạn chế ảnh hưởngcủa các thể lực bên ngoài đối với khu vực
Ngày 8/8/1967, Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập tạiBangkok (Thái Lan) với sự tham gia của 5 nước: Indonesia, Malaysia, Singapore vàPhilippines Bản tuyên bố Bangkok tạo dựng nền tảng cho sự ra đời của Hiệp hội cácQuốc gia Đông Nam Á- ASEAN
3 Mục tiêu
Tuyên bố ASEAN (hay còn gọi là Tuyên bố Bangkok) năm 1967 nêu rõ mục
tiêu và mục đích của ASEAN như sau:
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trongkhu vực thông qua những sáng kiến chung trên tinh thần bình đẳng và hợptác nhằm củng cố nền tảng cho một cộng đồng thịnh vượng và hòa bình củacác quốc gia Đông Nam Á
Thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực thông qua tôn trọng công lý và phápquyền trong mối quan hệ giữa các quốc gia trong khu vực và tuân thủ cácnguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc
Thúc đẩy hợp tác tích cực và hỗ trợ lẫn nhau về các vấn đề cùng quan tâmtrong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, kỹ thuật, khoa học và hànhchính
Hỗ trợ lẫn nhau dưới các hình thức đào tạo và cơ sở vật chất phục vụnghiên cứu trong các lĩnh vực giáo dục, chuyên môn, kỹ thuật và hànhchính
Hợp tác hiệu quả hơn nhằm sử dụng tốt hơn ngành nông nghiệp và côngnghiệp mở rộng thương mại, bao gồm việc nghiên cứu các vấn đề liên quanđến thương mại hàng hóa quốc tế, cải thiện các phương tiện giao thông,liên lạc, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
Thúc đẩy nghiên cứu về Đông Nam Á
Duy trì hợp tác chặt chẽ cùng có lợi với các tổ chức quốc tế và khu vực cótôn chỉ và mục đích tương tự, và tìm kiếm các phương thức để có thể hợptác chặt chẽ hơn giữa các tổ chức này
4 Quá trình phát triển
Trang 4Trong giai đoạn đầu (1967 – 1975), ASEAN là một tổ chức non yếu, sự hợp táctrong khu vực còn trong trạng thái khởi đầu, chưa có vị trí trên trường quốc tế.
Từ năm 1976 đến năm 1999, ASEAN có những bước tiến mới Sự phát triểnnày, được đánh dấu bằng Hội nghị cấp cao lần thứ nhất họp tại Bali (Indonesia) tháng2/1976 với việc kí Hiệp ước hữu nghị và hợp tác ở Đông Nam Á (gọi tắt là Hiệp ướcBali)
● Vào thời điểm này, quan hệ giữa các nước Đông Nam Á và ASEAN bướcđầu được cải thiện Hai nhóm nước đã thiết lập quan hệ quan hệ ngoại giao
và bắt đầu có các chuyến đi thăm lẫn nhau của các nhà lãnh đạo cấp cao
● Năm 1984, sau khi giành được độc lập Brunei gia nhập và trở thành thànhviên thứ 6 của ASEAN
● Từ đầu những năm 90, chiến tranh lạnh chấm dứt và "vấn đề Campuchia"được giải quyết, tình hình chính trị khu vực được cải thiện căn bản,ASEAN có điều kiện mở rộng tổ chức kết nạp thành viên mới
● Ngày 22/7/1992 Việt Nam và Lào tham gia Hiệp ước Bali Tiếp đó tháng7/1995, Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN Tháng 7/1997Lào và Mianma gia nhập ASEAN và tháng 4/1999 Campuchia được kếtnạp tổ chức này
Như vậy, từ 5 nước sáng lập ASEAN đã phát triển thành 10 thành viên Từ đây,ASEAN đẩy mạnh hoạt động hợp tác kinh tế, xây dựng Đông Nam Á thành khu vựchòa bình, ổn định để cùng phát triển
II Tiến trình hội nhập kinh tế của ASEAN.
1 Các dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế của ASEAN Năm 1992: Hiệp định Khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN và thỏa
thuận về Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA)
Trong quá trình hội nhập và phát triển của Hiệp hội, hợp tác kinh tế luôn là mộttrụ cột quan trọng, mở đầu với việc ký kết “Hiệp định Khung về tăng cường hợp táckinh tế ASEAN” vào dịp Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ tư, tổ chức tại Singapore
từ ngày 27-28/1/1992
Hiệp định đã tạo khuôn khổ căn bản cho hợp tác ASEAN trên 6 lĩnh vực, baogồm: thương mại và công nghiệp; khoáng sản và năng lượng; tài chính và ngân hàng;lương thực, nông và lâm nghiệp; giao thông vận tải và bưu chính - viễn thông
Nhân dịp này, 5 nước thành viên ban đầu của ASEAN cũng ký thỏa thuận vềlập Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA), đặt nền tảng quan trọng cho mở rộnghợp tác kinh tế-thương mại và xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) sau này,hướng tới thúc đẩy tính cạnh tranh của ASEAN với tư cách là một cơ sở sản xuấtchung thống nhất thông qua xóa bỏ thuế quan và rào cản phi thuế quan, và thu hútnhiều hơn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tháng 12/1997: nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Hiệp hội, Hội nghị cấp
cao ASEAN không chính thức lần II (Kuala Lumpur, Malaysia, tháng 12/1997) đãthông qua văn kiện quan trọng Tầm nhìn ASEAN 2020, nêu định hướng phát triển lớncủa ASEAN trong những thập kỷ đầu thế kỷ 21, hướng tới mục tiêu xây dựng một tậphợp hài hòa các dân tộc ở Đông Nam Á
Năm 2005: Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) lần thứ nhất, được tổ chức tại
Kuala Lumpur, Malaysia tháng 12/2005, với sự tham gia của nguyên thủ các nước
Trang 5thành viên ASEAN, Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc và NewZealand Tại Hội nghị này, lãnh đạo các nước đã ký Tuyên bố chung về Cấp cao Đông
Á, đề ra mục tiêu, nguyên tắc, lĩnh vực và các phương thức chính cho hoạt động củaEAS- diễn đàn đối thoại về các vấn đề chiến lược nhằm hỗ trợ mục tiêu xây dựngcộng đồng ở khu vực Đông Á; là một tiến trình mở và thu nạp, trong đó ASEAN giữvai trò chủ đạo
Tháng 11/2007: Hướng tới mục tiêu xây dựng cộng đồng, ASEAN đã nỗ lực
xây dựng và Hiến chương ASEAN được ký ngày 20 tháng 11 năm 2007 tại Hội nghịCấp cao ASEAN lần thứ 13 Hiến chương ra đời, tạo tư cách pháp nhân cho ASEAN
là một tổ chức hợp tác khu vực; đồng thời cũng tạo cơ sở pháp lý và khuôn khổ thểchế để gia tăng liên kết và hợp tác ASEAN, giúp xây dựng ASEAN trở thành một tổchức gắn kết hơn và hoạt động hiệu quả hơn, trước mắt là hỗ trợ mục tiêu hình thànhCộng đồng ASEAN
Năm 2015: Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) ra đời như một trụ cột của
ASEAN, một cột mốc quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của khu vực Nóđánh dấu sự khởi đầu của hành trình chung của mười quốc gia thành viên ASEAN với
tư cách là một cộng đồng kinh tế, được hướng dẫn bởi Kế hoạch chi tiết AEC 2025
2 Về hình thức hội nhập kinh tế ASEAN
a Liên kết kinh tế nội khối
Nội dung hợp tác chủ yếu và đặc biệt quan trọng của ASEAN là thúc đẩy tự dohóa kinh tế - thương mại và liên kết kinh tế nội khối Kim ngạch nội khối ASEANtăng gấp 2 lần trong 5 năm qua, đạt 1.710 tỷ USD (năm 2008)
Tuy nhiên, ASEAN nhận thức rằng không thể liên kết kinh tế có hiệu quả nếukhông thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên trong khu vực Thuhẹp khoảng cách phát triển vừa là yêu cầu cấp bách, vừa là mục tiêu lâu dài, phục vụcho sự phát triển đồng đều của khu vực, biến ASEAN trở thành khu vực kinh tế năngđộng Vì vậy, ASEAN đã thực sự bắt tay vào việc tiến hành các chương trình hợp tácnhằm thu hẹp khoảng cách phát triển, điều này thể hiện rõ trong sáng kiến hội nhậpASEAN
Năm 2008, ASEAN đã thu hút được 60 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI), trong khi đó, đầu tư nội khối cũng đạt con số tương đương Các nhà đầu tưchâu Á coi Indonesia và Việt Nam là những địa chỉ thay thế khi chi phí kinh doanh tạiTrung Quốc ngày một tăng cao Trên thực tế, xét về quy mô kinh tế, GDP của TrungQuốc lớn gấp 3 lần ASEAN, nhưng Trung Quốc chỉ thu hút được 108 tỷ USD vốnFDI (gấp 1,8 lần ASEAN)
Năm 2009, hướng tới mục tiêu xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC),các nước thành viên ASEAN đã tập trung thực hiện 3 biện pháp chính sau:
Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế pháp lý cho AEC
Biện pháp này đã được hoàn thiện bằng việc ký kết 3 thỏa thuận quan trọng,bao gồm: Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA); Hiệp định đầu tư toàndiện ASEAN (ACIA) và Gói cam kết thứ 7 về dịch vụ trong khuôn khổ Hiệp địnhkhung về dịch vụ ASEAN (AFAS)
Thứ hai, tăng cường cơ chế giám sát, thực thi các thỏa thuận kinh tế đã đạt
được thông qua Biểu đánh giá AEC (AEC Scorecard)
Trang 6 Thứ ba, nâng cao nhận thức của cộng đồng về AEC thông qua chương
trình truyền thông ASEAN
Cụ thể như phổ biến thông tin, kiến thức cập nhật về AEC, thiết lập thêm kênhtrao đổi thường xuyên giữa các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp của ASEAN.Việt Nam đã nhất trí chủ trương xây dựng Chương trình truyền thông AEC có thamkhảo cách làm của một số nước ASEAN
b Mở rộng thêm nhiều hình thức liên kết
Bên cạnh việc đẩy mạnh hội nhập kinh tế nội khối, ASEAN có khuynhhướng “mở” với các đối tác ngoài khối thông qua các hình thức liên kếtkinh tế, thương mại Hợp tác kinh tế của ASEAN với các đối tác bên ngoàiđược triển khai từ giữa những năm 90 của thế kỷ XX, chủ yếu là với cácđối tác lớn như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Liên minh châu Âu(EU)…
Hiệp định thương mại tự do song phương (FTA) được coi là một trongnhững con đường ngắn nhất để tăng cường hiệu quả hợp tác kinh tế giữaASEAN với các đối tác bên ngoài ASEAN đã ký kết FTA với một số đốitác lớn như Hàn Quốc (có hiệu lực từ 1/6/2007), Nhật Bản (có hiệu lực từ1/12/2008), Trung Quốc (có hiệu lực từ ngày 1/1/2010), Ấn Độ (có hiệulực từ tháng 1/2010), Australia và New Zealand (có hiệu lực từ 1/1/2010).Đóng góp vào mục tiêu trở thành một ASEAN toàn cầu, một số điểm nổi bậtchính trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bao gồm:
● Việc ký kết Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN-Hồng Kông vàASEAN- Hiệp định đầu tư Hồng Kông
● Tiến hành nâng cấp hoặc rà soát các hiệp định, chẳng hạn như việc thựchiện liên tục việc nâng cấp Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN-TrungQuốc Nghị định thư, hoàn thành việc rà soát chung Hiệp định Thương mại
Tự do ASEAN-Australia-New Zealand
● Ngày 15/11/2020, trong khuôn khổ Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 37diễn ra tại Hà Nội, Sau 8 năm đàm phán, Hiệp định Đối tác kinh tế toàndiện khu vực (RCEP) chính thức được ký kết
Ngoài ra, hợp tác kinh tế giữa ASEAN với nhiều đối tác lớn và quan trọng khácnhư Mỹ, Nga, Canada… đang ngày càng được tăng cường, góp phần tích cực vào sựphát triển thương mại giữa ASEAN với các đối tác Nhiều hình thức liên kết kinh tếvới các đối tác bên ngoài, trong tương lai, sẽ tạo nên mạng lưới đan kết có tâm làASEAN
c Thành lập quỹ hợp tác khu vực và quốc tế.
Thành lập các quỹ hợp tác thể hiện rõ mong muốn nỗ lực hội nhập kinh tế khuvực của ASEAN để đối phó với cơn bão tài chính toàn cầu Quỹ Dự phòng khẩn cấpvới sự hỗ trợ 10 tỷ USD của Ngân hàng thế giới (WB) được sử dụng mua các tài sảnxấu và hỗ trợ về vốn đối với các tổ chức tài chính cũng như các công ty tư nhân
Ngoài ra, ASEAN cùng với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc (ASEAN+3)thành lập Quỹ tài chính khu vực cứu trợ khẩn cấp với tổng trị giá 120 tỷ USD do cácthành viên đóng góp nhằm hỗ trợ tài chính cho những quốc gia gặp khó khăn
Bên cạnh đó, ASEAN còn thành lập Quỹ hợp tác đầu tư với Trung Quốc trị giá
10 tỷ USD để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, và nhận sự hỗ trợ của
Trang 7Nhật Bản - nền kinh tế lớn nhất khu vực - với hơn 62 triệu USD để khắc phục suythoái kinh tế.
3 Các thành tựu của ASEAN trong quá trình hội nhập kinh tế
Nền kinh tế ASEAN luôn vượt trội so với nền kinh tế toàn cầu Tăngtrưởng GDP của khu vực có duy trì ở mức gần 5,0% kể từ năm 2011, trongkhi GDP toàn cầu giữ ở mức dưới 4,0% so với cùng kỳ
Đến năm 2018, tỷ trọng của ASEAN trong nền kinh tế toàn cầu đã mởrộng, về danh nghĩa, lên 3,5% (tăng từ 2,9% ở 2010) ASEAN đã vươn lên
vị trí thứ năm trong số các nền kinh tế lớn nhất thế giới, với GDP danhnghĩa ước tính đạt 3,0 nghìn tỷ USD, tăng hơn 50% so với mức năm 2010.ASEAN theo sau Mỹ (24,2%), EU (22,1%), Trung Quốc (15,8%) và NhậtBản (5,9%)
Được gắn kết tốt trong chuỗi giá trị toàn cầu, khu vực này cũng là mộttrong những khu vực lớn nhất toàn cầu về thương mại Các mặt hàng.ASEAN có thị phần 7,2% trong thương mại hàng hóa toàn cầu (xếp thứ tưsau EU, Trung Quốc và Mỹ) và 6,8% thị phần trong thương mại dịch vụtoàn cầu, và đứng thứ tư sau EU, Mỹ và Trung Quốc Với mạnh mẽ nềntảng kinh tế và một thị trường đang phát triển nhanh, ASEAN cũng là mộtđiểm đến đầu tư hấp dẫn Trong năm 2018, ASEAN nhận được 154,7 tỷUSD, chiếm 11,9% tổng dòng vốn FDI toàn cầu, cao nhất trong lịch sử củakhối, xếp hạng thứ ba sau EU và Mỹ Khu vực này cũng nằm trong số cácnhà đầu tư toàn cầu lớn nhất, với các khoản đầu tư ra nước ngoài lên tới69,6 tỷ USD - 6,9% tổng kim ngạch thế giới
III Những hạn chế của hội nhập kinh tế ASEAN và bài học kinh nghiệm.
1 Những hạn chế của hội nhập kinh tế ASEAN
Kết quả hợp tác kinh tế trong ASEAN tuy đã đạt được nhiều thành tựu to lớnnhưng chưa thực sự tạo ra bước phát triển đột biến trong quan hệ kinh tế thương mại.Thị phần thương mại nội khối mới chỉ chiếm khoảng 23% tổng giá trị thương mại của
cả khối (theo báo cáo hội nhập ASEAN năm 2019) Cường độ thương mại nội khốikhông tăng lên, thậm chí còn giảm đáng kể trong vài năm gần đây
Hợp tác nội khối ASEAN đang đứng trước không ít khó khăn Mặc dù thươngmại nội khối ASEAN đã duy trì ở mức ổn định 23% tổng khối lượng thương mại toànkhu vực, song nếu so với trao đổi thương mại nội khối của EU (hơn 70%) thì rõ ràngmức hội nhập và liên kết nội khối của ASEAN chưa cao
Tỷ lệ hàng hóa ASEAN tham gia thị trường toàn cầu chỉ ở mức 7,2%, là mứcthấp so với quy mô GDP của khối Từng nền kinh tế ASEAN chưa thực sự là nhữngnền kinh tế mạnh và đang ở trong giai đoạn phát triển kinh tế rất xa nhau Vì vậy, cầnđẩy mạnh hơn nữa tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu trong vòng 3-5 năm tới để cạnhtranh với các đối thủ đang trỗi dậy
Điều quan trọng nữa là mức chênh lệch phát triển giữa các quốc gia phát triểnASEAN 6 (Bruney, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Singapore) vớiASEAN 4 (Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar) khá cao – được coi là yếu tố cảntrở chính của sự liên kết kinh tế
Trang 8Chênh lệch phát triển trong ASEAN chủ yếu tập trung ở 4 lĩnh vực chủ yếu(4I), gồm kết cấu hạ tầng, thu nhập, liên kết và thể chế Mức chênh lệch đó được thểhiện trên các phương diện sau:
Thứ nhất, sự chênh lệch về mức độ mở của thị trường Thuế nhập khẩu
trung bình của ASEAN ở mức 9,53%, dao động từ 0% (Singapore) đến13,4% (Việt Nam) Để nhập khẩu bất kỳ loại hàng hoá nào trong ASEANcần mất thời gian trung bình là 32 ngày Mức dao động khác nhau từ 3ngày (Singapore) tới 45 ngày (Campuchia) và 78 ngày (Lào) Thời giantrung bình để bắt đầu hoạt động kinh doanh ở ASEAN là 64 ngày, trongkhi đó ở Singapore chỉ cần 6 ngày, còn ở Indonesia là 97 ngày, Lào là 163ngày
Thứ hai, chênh lệch về mức thu nhập bình quân đầu người Mức thu nhập
bình quân đầu người theo giá hiện hành của Singapore (52488,43 USD) –nước có mức thu nhập bình quân đầu người cao nhất trong khu vực – caogấp gần 40 lần so với Myanmar (1358,62 USD) – nước nghèo nhất khuvực Thu nhập bình quân đầu người của Brunei, Malaysia cũng chỉ bằng1/2 hoặc 1/5 của Singapore
Thứ ba, chênh lệch về cơ cấu kinh tế Không chỉ GDP đầu người giữa các
nước thành viên chênh lệch mà trình độ phát triển của các nước thành viêncũng khác nhau nhiều Trong khi Singapore được đánh giá là nền kinh tế cónăng lực cạnh tranh cao thứ 1/141 trên thế giới thì Việt Nam chỉ được xếpthứ 67/141, Lào xếp thứ 113/141 (Theo Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Toàncầu 2019 – WEF) Tăng trưởng xuất nhập khẩu chế tạo và mức đóng gópcủa ngành dịch vụ trong GDP của ASEAN 6 cũng chiếm khá cao (hơn40%) so với mức 26% - 27% của các nước ASEAN 4 kể từ năm 2003 đếnnay
Thứ tư, chênh lệch trong xu hướng xuất khẩu ASEAN 6 chiếm ưu thế
trong đóng góp xuất khẩu vào GDP (85%) so với 31% của ASEAN 4 trongkhi nhập khẩu đóng góp 21%GDP của ASEAN 4 so với 66% GDP củaASEAN 6 Sự khác nhau trong xu hướng thương mại dẫn đến sự chênhlệch thuế quan
Thứ năm, chênh lệch về chỉ số phát triển con người (HDI) Dựa trên các
thông số về y tế, giáo dục và kinh tế, ASEAN được chia thành 3 nhóm vềHDI: nhóm 1 “mức độ phát triển con người rất cao” gồm Singapore, Brunei
và Malaysia, nhóm 2 “mức độ phát triển con người cao” gồm Thái Lan,Indonesia, Philippines và Việt Nam, cuối cùng là nhóm 3 “mức độ pháttriển con người trung bình” gồm Lào, Campuchia và Myanmar
Thứ sáu, chênh lệch mức giàu nghèo Theo tiêu chí đánh giá mức nghèo
của quốc tế (dưới 1USD/ngày), Lào và Campuchia có số dân sống dướingưỡng nghèo cao nhất, trong khi đó Singapore là 0%, Malaysia là 0,2% vàPhilippines là 15,5%
Thứ bảy, chênh lệch kết cấu hạ tầng giao thông vận tải và năng lượng.
Mức chênh lệch giữa ASEAN 6 và ASEAN 4 thể hiện rõ ở mạng lưới
Trang 9đường cao tốc, đường sắt, hệ thống dây dẫn và đường ống dẫn ga… NhómASEAN 4 cũng thiếu kết cấu hạ tầng “mềm” (công nghệ thông tin, viễnthông và hệ thống ITC) – điều kiện tối cần thiết cho các giai đoạn phát triểntiếp theo Rõ ràng, những chênh lệch về kinh tế - xã hội, sự khác nhau vềnăng lực tổ chức giữa các nhóm nước ASEAN đã kìm hãm tiến độ liên kết
và hội nhập khu vực
Chênh lệch phát triển giữa các nước thành viên ASEAN còn được thể hiện ởchênh lệch về sự phát triển của thị trường tài chính, năng lực tài chính…, trong đó,việc thiếu tài trợ tài chính trong khu vực được xem là khó khăn nhất Chênh lệch vềtrình độ phát triển làm cho ASEAN khó khăn hơn trong các nỗ lực tập thể, tính khả thicủa các chính sách chung bị hạn chế
2 Bài học kinh nghiệm
Để thúc đẩy nhanh tiến trình hội nhập, ASEAN cần tiếp tục đẩy nhanh liên kếtkinh tế nội khối, tích cực đàm phán với các đối tác bên ngoài để hình thành các khuvực mậu dịch tự do rộng lớn hơn Nhưng để liên kết kinh tế nội khối và việc đàm phánxây dựng các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) với các nước ngoài khu vực đượctiến triển nhanh, ASEAN cần giải quyết 6 vấn đề rất trọng yếu sau:
Một là, hợp tác kinh tế từng phần là giải pháp chiến lược dài hạn thúc đẩy
tiến trình hội nhập của các quốc gia ASEAN Đây là giải pháp được coi làthích hợp nhất với các nước ASEAN trong giai đoạn hiện nay cũng nhưtrong tương lai lâu dài Thông qua hợp tác về tiểu vùng kinh tế khu vực,các nước ASEAN sẽ khai thác được lợi thế tuyệt đối về tài nguyên thiênnhiên, sức lao động với trình độ kỹ thuật cao của các đô thị nằm trong tiêukhu vực, nhằm hoà nhập các lợi thế tuyệt đối riêng biệt thành một lợi thếtổng hợp chung để đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia
Hai là, ASEAN cần nỗ lực thực hiện đầy đủ các cam kết đã có và tiếp tục
đề ra các sáng kiến mới nhằm đẩy nhanh tiến trình liên kết kinh tế nội khối,nhanh chóng thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên
Ba là, xây dựng các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) với các đối tác
cần phải được tiến hành theo một lộ trình phù hợp, cùng có lợi, cùng pháttriển
Bốn là, sự tham gia của các doanh nghiệp cần được thúc đẩy ở cả hai phía.
Một mặt, các chính phủ cần xuất phát từ lợi ích của doanh nghiệp để xâydựng các khu vực mậu dịch tự do; mặt khác, chính các doanh nghiệp cũngcần chủ động khai thác triệt để những cơ hội mà các FTA mang lại
Năm là, để đẩy nhanh quá trình thiết lập một khuôn khổ và nền tảng pháp
lý, ASEAN cần tham khảo tiến trình liên kết của các tổ chức khu vực, nhất
là mô hình liên kết EU để nâng cao năng lực thực hiện chính sách củamình, đồng thời tăng cường hỗ trợ các thành viên kém phát triển và cungcấp những bảo hộ cần thiết cho những doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quátrình hội nhập kinh tế Tuy hai mô hình liên kết này có những sự khác biệt,nhưng từ kinh nghiệm EU và thực tiễn, ASEAN cần sáng tạo đưa ra hướng
đi hợp lý cho AEC Mặt khác, cơ chế hợp tác vận hành không nên áp dụngmáy móc mô hình của EU Bài học 40 năm qua của ASEAN cho thấy chính
Trang 10sự tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau vàđồng thuận là nguyên tắc bảo đảm sự gắn kết giữa các quốc gia Nếu rời bỏnguyên tắc đó sẽ nảy sinh rất nhiều vấn đề, thậm chí có thể đưa đến chia rẽ.Nhưng nếu duy trì một cách cứng nhắc các nguyên tắc đó cũng có nhữngtrường hợp sự hợp tác của ASEAN sẽ gặp phải những trở ngại Vì vậy,phải tìm cách dung hòa để đáp ứng cả 2 nhu cầu: ASEAN vận hành trôichảy, đồng thời duy trì được sự thống nhất trong đa dạng.
Sáu là, nỗ lực khống chế đại dịch COVID-19, vượt qua những khó khăn để
phục hồi kinh tế, đồng thời củng cố đoàn kết trong khối ASEAN; thực hiệnchiến lược đối ngoại độc lập, tự chủ, cân bằng, duy trì vai trò trung tâmnhằm đạt được những mục tiêu đề ra trong xây dựng Cộng đồng và thể hiệnhình ảnh một ASEAN trách nhiệm, sẵn sàng phối hợp ứng phó với các vấn
đề nảy sinh Trong bối cảnh tình hình dịch Covid-19 vẫn diễn biến phứctạp, ảnh hưởng nặng nề đến kinh tế cũng như gây gián đoạn chuỗi cungứng khu vực, các nước ASEAN và đối tác đều mong muốn Hiệp định Đốitác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) giữa ASEAN và 6 đối tác đã cóHiệp định Thương mại Tự do (FTA) với ASEAN là Trung Quốc, HànQuốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia và New Zealand sớm có hiệu lực, cụ thể
là vào đầu năm 2022 nhằm thúc đẩy thương mại và đầu tư trong khu vực,góp phần vào quá trình phục hồi kinh tế khu vực sau đại dịch Đồng thời,các nước ASEAN đưa ra các sáng kiến giúp xử lý những vấn đề tồn đọng
để có thể kết thúc đàm phán và ký kết Hiệp định bên lề Hội nghị Cấp caoASEAN lần thứ 37 diễn ra vào tháng 11
B CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI VỚI VIỆT NAM
I Quá trình gia nhập, vai trò và thành tựu của Việt Nam khi gia nhập ASEAN
1.Quá trình gia nhập vào ASEAN của Việt Nam
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, có thể nói việc gia nhập Hiệp hội cácquốc gia Đông Nam Á - ASEAN là bước đi quan trọng của Việt Nam, là một quyếtđịnh mang tính lịch sử, một quyết sách đúng đắn và kịp thời, là bước đệm đầu tiên đểViệt Nam hội nhập khu vực và thế giới đem lại nhiều lợi ích cho đất nước và nhân dânViệt Nam Tuy nhiên, quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN cũng là một chặng đườngđầy gian nan và là cả một quá trình phấn đấu trong gần ba thập kỷ
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á thành lập vào ngày 8/8/1967 Lúc này,nhân dân Việt Nam phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Và ĐôngNam Á lúc này là một khu vực bị chia rẽ sâu sắc do những ảnh hưởng của cuộc chiếntranh Lạnh
Tháng 1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở ViệtNam được ký kết Việt Nam trong giai đoạn này dù không có quan hệ với ASEANnhưng vẫn hợp tác song phương với các thành viên của tổ chức này
Với đại thắng mùa xuân năm 1975, chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam đã đemlại nền độc lập, thống nhất hoàn toàn cho dân tộc ta Quan hệ Việt Nam - ASEAN bắtđầu xuất hiện những bước khởi đầu tốt đẹp từ chuyến thăm lần lượt các nước ASEAN
Trang 11của Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh vàocuối năm 1977 và đầu năm 1978
Cuối năm 1978 – đầu năm 1979, vấn đề Campuchia đã khiến cho mối quan hệgiữa Việt Nam và các nước ASEAN từ lập trường đối thoại chuyển sang đối đầu Cácnước ASEAN thậm chí còn thực thi chính sách cô lập Việt Nam Tuy nhiên, tại hộinghị được tổ chức vào tháng 2/1985, Ngoại trưởng các nước ASEAN đã thống nhấtviệc đối thoại trực tiếp với Đông Dương nhằm giải quyết vấn đề Campuchia và lập lạihòa bình ổn định khu vực
Năm 1986, Việt Nam bắt đầu đổi mới, cách nhìn nhận với ASEAN đã cóchuyển biến Lúc này, Đảng ta cũng xác định “phải tăng cường quan hệ với các nướcĐông Nam Á” Chưa đầy một năm, vào tháng 8/1987, trong cuộc gặp tại thành phố
Hồ Chí Minh giữa Việt Nam với Indonesia - đại điện ASEAN, Bộ trưởng Bộ Ngoạigiao Nguyễn Cơ Thạch bày tỏ nguyện vọng muốn gia nhập ASEAN
Ngày 20/5/1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 13/NQ-TW về “nhiệm vụ vàchính sách đối ngoại trong tình hình mới”, nhấn mạnh chủ trương “thêm bạn, bớt thù”,chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ trạng thái đối đầu sang đấu tranh và hợp tác cùngtồn tại hòa bình
Chiến tranh Lạnh kết thúc vào năm 1991 cũng đã đặt ra cho ASEAN yêu cầu
mở rộng vì hòa bình, hợp tác, phát triển của khu vực và từng thành viên Cũng tronglúc này, từ ngày 24/10 - 1/11/1991, Thủ tướng Võ Văn Kiệt lần lượt thăm hữu nghịchính thức Indonesia, Thái Lan và Singapore Những nỗ lực ngoại giao trên đã làmthay đổi diện mạo quan hệ đối đầu ASEAN - Đông Dương sang hướng hòa dịu, tạođiều kiện cho quá trình đàm phán gia nhập ASEAN của Việt Nam được đẩy nhanh
Năm 1992, Việt Nam tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông - Nam
Á (TAC) và trở thành quan sát viên, tham dự các Hội nghị Bộ trưởng ASEAN(AMM) hằng năm Việt Nam cũng bắt đầu tham gia các hoạt động của một số Ủy banhợp tác chuyên ngành ASEAN
Đến tháng 10/1993, Việt Nam đưa ra chính sách 4 điểm mới, xác định rõ ràngquan hệ láng giềng hữu nghị đối với các nước Đông Nam Á, chủ yếu là các nướcASEAN Sau đó, vào tháng 7/1994, Việt Nam được mời tham dự cuộc họp của Diễnđàn Khu vực ASEAN (ARF) và trở thành một trong những thành viên sáng lập củaDiễn đàn này Ngày 17/10/1994, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm nộp đơnchính thức xin gia nhập ASEAN Và tại hội nghị AMM lần thứ 27, các nước tuyên bốnhất trí đón nhận Việt Nam là thành viên của ASEAN
Ngày 28/7/1995, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 28 28) diễn ra ở thủ đô Bandar Seri Begawan của Brunei Darussalam, Việt Nam chínhthức gia nhập ASEAN Việc kết nạp Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 giúp đẩynhanh quá trình mở rộng Hiệp hội ra cả 10 nước trong khu vực, qua đó củng cố hòabình, ổn định ở một khu vực có tầm quan trọng đặc biệt về địa - chính trị và địa - kinh
(AMM-tế, là trung tâm kết nối Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương
Tháng 12/1998, Việt Nam tổ chức thành công hội nghị ASEAN lần thứ VItrong vai trò chủ tịch luân phiên và chỉ sau 3 năm gia nhập, kế hoạch hành động HàNội tại hội nghị đã góp phần duy trì sự hợp tác và tăng cường vị thế của hiệp hội trongsuốt cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 – 1998