Nhờ có tác động của yếu tố đạo đức đã hạn chế được những quan hệ kinh doanh mang tính lừa gạt, gây tác động xấu đến môi trường, xã hội… Trong nền kinh tế tri thức của thế giới ngày nay,
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, con người ngoài việc sử dụng kiến thức chuyên môn, kỹ năng còn cần có yếu tố tự nhiên, xã hội và đặc biệt là chuẩn mực đạo đức Nhờ có tác động của yếu tố đạo đức đã hạn chế được những quan
hệ kinh doanh mang tính lừa gạt, gây tác động xấu đến môi trường, xã hội…
Trong nền kinh tế tri thức của thế giới ngày nay, yếu tố đạo đức luôn được chú trọng đề cập trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, cải thiện chất lượng sản phẩm…, đồng thời giúp người quản lý đưa ra quyết định đúng đắn, tạo sự trung thành của khách hàng, mối quan hệ hợp tác bền vững với đối tác kinh doanh, nhà đầu tư và niềm tin của người lao động Chuẩn mực đạo đức kinh doanh là cơ sở tình cảm và trí tuệ định hướng cho doanh nhân nghĩ đúng, làm đúng trong hoạch định và tổ chức kinh doanh, góp phần phát triển kinh tế xã hội
Nhằm tạo dựng những kỹ năng cần thiết về đạo đức để vận dụng vào hoạt động của doanh nghiệp đồng thời đáp ứng kịp thời việc bổ sung kiến thức này trong kinh doanh, góp phần thực hiện tốt công tác quản lý của doanh nghiệp cũng
như tổ chức quản lý nhà nước, tài liệu Đạo đức trong kinh doanh được biên soạn
phục vụ cho người học và những ai quan tâm đến lĩnh vực này tham khảo
Nội dung gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về đạo đức kinh doanh
Chương 2: Nghiên cứu, tiếp cận hành vi và xây dựng đạo đức kinh doanh Chương 3: Văn hoá doanh nghiệp
Chương 4: Tạo lập và xây dựng văn hoá doanh nghiệp
Trang 2CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
- Mục đích: cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản về
đạo đức và đạo đức kinh doanh như: khái niệm đạo đức và đạo đức kinhdoanh, sự cần thiết của đạo đức kinh doanh, các nghĩa vụ gắn với trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp
- Yêu cầu: giúp người học nắm vững khái niệm và nội dung kiến
thức cơ bản về đạo đức kinh doanh để nghiên cứu, vận dụng trong các nộidung của chương sau
đường đi, đức là đạo lý làm người, điều thiện Từ góc độ khoa học, “đạo đức là môn khoa học nghiên cứu về bản chất tự nhiên của cái đúng-sai và sự phân biệt khi lựa chọn giữa cái đúng-sai, triết lý về cái đúng-sai, quy tắc hay chuẩn mực chi phối hành vi các thành viên của một nghề nghiệp” (Từ điển điện tử American Heritage
Dictionary)
Trang 3Đạo đức là tập hợp các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm tự giácđiều chỉnh, đánh giá hành vi của con người đối với bản thân, xã hội và tự nhiên
Đặc điểm của đạo đức
-Hình thái ý thức xã hội: phản ánh hiện tại và hiện thực đời sống đạođức của xã hội, quá trình phát triển của phương thức sản xuất và chế độ kinh
tế xã hội đồng thời là nguồn gốc quan điểm đạo đức của con người trong lịch
sử
-Phương thức điều chỉnh hành vi: sự tự điều chỉnh theo chuẩn mực đạođức là yêu cầu cho hành vi của mỗi cá nhân, nếu không tuân theo sẽ bị xã hộilên án, lương tâm cắn rứt
-Hệ thống giá trị, đánh giá: hệ thống giá trị xã hội được lấy làm chuẩnmực để đánh giá các hành vi, sinh hoạt, phân biệt đúng-sai trong mối quan hệcủa con người, là toà án lương tâm có khả năng tự phê phán, đánh giá bảnthân
-Tự nguyện, tự giác ứng xử: đạo đức chỉ mang tính khuyên giải hay canngăn, thể hiện tính tự nguyện rất cao, không chỉ biểu hiện trong các mối quan
hệ xã hội mà còn thể hiện qua sự tự ứng xử, giúp con người rèn luyện nhâncách
Bản chất của đạo đức
-Có tính giai cấp: các tầng lớp khác nhau có quan điểm khác nhau vềnguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực điều chỉnh, đánh giá hành vi của con ngườiđối với bản thân và trong quan hệ với người khác, với xã hội
-Tính dân tộc và địa phương: các dân tộc, vùng, miền có sự khác nhau
về nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức
-Tính lịch sử: các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức thay đổi theo thờigian, điều kiện lịch sử cụ thể
Trang 4-Đạo đức có tính nhân loại: đây là thành tố quan trọng và cơ bản hìnhthành nên nền văn minh nhân loại
Chức năng cơ bản của đạo đức là điều chỉnh hành vi con người theo các chuẩnmực và quy tắc đạo đức đã được xã hội thừa nhận bằng sức mạnh của sự thôi thúclương tâm cá nhân, của dư luận xã hội, tập quán truyền thống và giáo dục
Đạo đức quy định thái độ, nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi người đối với bảnthân cũng như với người khác và xã hội, vì thế đây là khuôn mẫu, tiêu chuẩn để xâydựng lối sống, lý tưởng của mỗi người
Những chuẩn mực và quy tắc đạo đức gồm: độ lượng, khoan dung, chính trực,khiêm tốn, dũng cảm, trung thực, lương thiện…
Đạo đức khác pháp luật ở chỗ:
+ Sự điều chỉnh hành vi của đạo đức không có tính cưỡng bức, cưỡng chế màmang tính tự nguyện và các chuẩn mực đạo đức không được ghi thành văn bản phápquy
+ Phạm vi điều chỉnh và ảnh hưởng của đạo đức rộng hơn pháp luật: phápluật chỉ điều chỉnh những hành vi liên quan đến chế độ xã hội, chế độ nhà nước; cònđạo đức bao quát mọi lĩnh vực của thế giới tinh thần Pháp luật chỉ làm rõ nhữngmẫu số chung nhỏ nhất của các hành vi hợp lẽ phải, hành vi đạo lý đúng đắn tồn tạitrên luật
1.1.2 Khái niệm đạo đức kinh doanh
Đạo đức kinh doanh gồm các nguyên tắc và chuẩn mực có tác dụng điều chỉnh,đánh giá, hướng dẫn, kiểm soát hành vi của các chủ thể trong mối quan hệ kinhdoanh (như nhà đầu tư, quản trị, người lao động, khách hàng, các tổ chức, cộngđồng dân cư…) để phán xét một hành động cụ thể là đúng hay sai, hợp hay phi đạođức
Nguyên tắc và chuẩn mực của đạo đức kinh doanh:
Trang 5- Tính trung thực: đảm bảo chữ tín trong kinh doanh, thực hiệnđúng cam kết thỏa thuận, nhất quán trong nói và làm, nghiêm túc chấp hànhquy định pháp luật, không kinh doanh phi pháp như trốn hoặc gian lận thuế,kinh doanh hàng hoá và dịch vụ quốc cấm, vi phạm thuần phong mỹ tục(hàng giả, khuyến mại giả, quảng cáo sai sự thật, vi phạm bản quyền thươnghiệu )
- Tôn trọng con người về nhu cầu, sở thích, quyền lợi, quyền tự dotheo khuôn khổ pháp luật
- Gắn kết, đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp, khách hàng và xãhội
Đối tượng điều chỉnh của đạo đức kinh doanh là chủ thể hoạt động kinh doanh, gồm: chủ thể của các mối quan hệ và hành vi kinh doanh
- Doanh nghiệp: đạo đức kinh doanh điều chỉnh hành vi đạo đứcthông qua công tác lãnh đạo, quản lý các thành viên trong tổ chức Đạo đứckinh doanh được gọi là đạo đức nghề nghiệp
- Khách hàng: hành động của họ đều xuất phát từ nhu cầu, lợi íchbản thân với tâm lý muốn mua rẻ và được phục vụ tận tình, vì vậy cần có sựđịnh hướng của đạo đức kinh doanh để đảm bảo các nguyên tắc và chuẩnmực đạo đức
1.2 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
1.2.1 Vấn đề đạo đức trong kinh doanh
Tiếp cận từ góc độ đạo đức, vấn đề là trong một hoàn cảnh, trường hợp, tìnhhuống khó khăn mà cá nhân, tổ chức gặp phải hay tình thế khó xử khi phải lựa chọnmột trong nhiều cách hành động khác nhau dựa trên tiêu chí về sự đúng - sai theoquan niệm phổ biến, chính thức của xã hội đối với hành vi trong trường hợp tương
Trang 6tự - các chuẩn mực đạo lý xã hội Sự khác biệt lớn giữa một vấn đề mang tính đạođức và vấn đề mang tính chất khác chính là tiêu chí lựa chọn để đưa ra quyết định
Vấn đề đạo đức thường bắt nguồn từ mâu thuẫn Mâu thuẫn có thể xuất hiện
trong mỗi cá nhân hoặc giữa các đối tượng hữu quan do sự bất đồng trong quanniệm về giá trị đạo đức, mối quan hệ hợp tác và phối hợp, về quyền lực - công nghệ,trong các hoạt động phối hợp chức năng, phổ biến nhất là những vấn đề liên quanđến lợi ích
Khi xác định được vấn đề có chứa yếu tố đạo đức, người ta luôn tìm cách giảiquyết chúng Giải pháp ban đầu là thông qua đối thoại trực tiếp giữa các bên liênquan, nhưng nếu vấn đề nghiêm trọng, phức tạp thì thường diễn ra ở tòa án Vì vậyphát hiện, giải quyết các vấn đề đạo đức trong quá trình ra quyết định và thông quabiện pháp quản lý có thể mang lại hệ quả tích cực cho tất cả các bên
1.2.2 Nguồn gốc của vấn đề đạo đức kinh doanh
Nguồn gốc của vấn đề đạo đức kinh doanh chính là sự mâu thuẫn Về cơ bản,mâu thuẫn có thể xuất hiện từ nhiều khía cạnh khác nhau như triết lý hành động,mối quan hệ quyền lực trong một tổ chức, sự phối hợp hay phân chia lợi ích và cóthể xuất hiện trong mỗi con người (tự mâu thuẫn), giữa những đối tượng hữu quanbên trong như chủ sở hữu, người quản lý, đối tượng lao động hoặc với những đốitượng hữu quan bên ngoài như khách hàng, đối tác - đối thủ hay cộng đồng, xã hội.Trong nhiều trường hợp, chính phủ trở thành đối tượng hữu quan bên ngoài đầyquyền lực
Trang 7Sơ đồ 1.1: Nguồn gốc mâu thuẫn
1.2.2.1 Các khía cạnh của mâu thuẫn
Mâu thuẫn về triết lý
Khi ra quyết định hành động, mỗi người đều dựa trên những triết lý đạo đứcđược thể hiện thành quan điểm, nguyên tắc hành động, chuẩn mực đạo đức và động
cơ nhất định Triết lý đạo đức của mỗi người được hình thành từ kinh nghiệm sống,nhận thức và quan niệm về giá trị, niềm tin của riêng họ, thể hiện giá trị tinh thần,
sự tôn trọng và cầu tiến, vì vậy chúng có tác động chi phối hành vi cá nhân Mặc dùrất khó đánh giá triết lý đạo đức của một người nhưng thông qua nhận thức và tínhcách của người đó, ta có thể hiểu được phần nào
Trung thực và công bằng là những vấn đề liên quan đến quan điểm đạo đứcchung của người ra quyết định Trong thực tiễn kinh doanh, doanh nghiệp luôn hành
Trang 8động vì lợi ích của riêng mình nên cần xây dựng các mối quan hệ liên quan đến đạođức sao cho phải bảo đảm tính trung thực, công bằng, tin cậy lẫn nhau Nếu hạn chếđiều này thì mối quan hệ kinh doanh sẽ rất khó thiết lập và duy trì, công việc kinhdoanh bất ổn, không thuận lợi, hiệu quả thấp, khả năng cạnh tranh kém Như vậy,trước hết doanh nghiệp cần thực hiện đúng quy định pháp luật hiện hành, tránhnhững hành vi gây thiệt hại cho người tiêu dùng, khách hàng và người lao độngcũng như đối thủ cạnh tranh
Mâu thuẫn về quyền lực
Trong hoạt động của doanh nghiệp, quyền lực được phân bổ cho các vị tríkhác nhau thành hệ thống quyền hạn, là điều kiện cần thiết để thực thi trách nhiệmtương ứng Mặc dù ở khía cạnh xã hội, các thành viên của tổ chức đều bình đẳngnhư nhau nhưng trong hoạt động của doanh nghiệp thì họ chấp nhận và tự giác tuânthủ mối quan hệ quyền lực, được thể hiện thông qua việc truyền đạt thông tin nhưbáo cáo, hướng dẫn, ý kiến chỉ đạo, ban hành văn bản quy chế, quan hệ hợp tác giữacác thành viên trong nội bộ cũng như với đơn vị hữu quan bên ngoài
Trong nội bộ doanh nghiệp, quyền lực được thiết lập theo cơ cấu tổ chức.Quyền hạn của các vị trí công tác được quy định phù hợp với nghĩa vụ, trách nhiệmnhất định của mỗi thành viên Mâu thuẫn thường nảy sinh khi xảy ra tình trạngkhông tương xứng giữa quyền hạn và trách nhiệm, dẫn đến lạm dụng quyền hạn,đùn đẩy trách nhiệm Vấn đề đạo đức cũng có thể do người quản lý - người đượcchủ sở hữu ủy thác quyền đại diện - cung cấp thông tin sai hay che giấu vì mục đíchriêng
Với đối tượng hữu quan bên ngoài, các vấn đề đạo đức thường liên quan đếnthông tin quảng cáo, an toàn sản phẩm, ô nhiễm và điều kiện lao động Người quản
lý, doanh nghiệp có thể sử dụng quyền lực đưa ra quyết định với nội dung thông tinkhông chính xác để phục vụ lợi ích của họ, chẳng hạn như quảng cáo không trungthực, nhãn mác và bao bì sản phẩm không rõ ràng,… Điều này không dễ nhận ra vì
Trang 9thường được che giấu dưới nhiều hình thức như hình ảnh và ngôn từ hấp dẫn nhưngkhông rõ ràng về mục tiêu dẫn đến việc hiểu sai nhằm lừa gạt người tiêu dùng
Mâu thuẫn trong sự phối hợp
Mối quan hệ gián tiếp ngoài yếu tố con người là sự phối hợp thông qua quan
hệ bởi các phương tiện kỹ thuật và vật chất có vai trò tạo nên sức mạnh, hiệu quảtrong hoạt động tác nghiệp của doanh nghiệp, được thể hiện thông qua công nghệ vàphương tiện sử dụng trong quản lý, sản xuất Việc sử dụng công nghệ tiên tiến làyêu cầu bức thiết, hữu hiệu hơn so với các biện pháp sản xuất kinh doanh truyềnthống, góp phần cải thiện công tác quản lý, tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Tuy nhiên, nó cũng có thể tạo ra những vấn đề liên quan đến đạo đức như sau:
Thứ nhất: vi phạm liên quan đến việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Thứ hai: sự hạn chế bởi thông tin không trung thực của loại hình kinh doanh
thương mại điện tử
Thứ ba: hành vi phi đạo đức khi sử dụng, truy cập và khai thác các hộp thư
điện tử hay thông tin cá nhân
Thứ tư: sử dụng công nghệ hiện đại để kiểm soát người lao động có thể gây ra
những vấn đề liên quan đến đạo đức khiến họ bị áp lực tâm lý do cảm thấy quyềnriêng tư tại nơi làm việc bị xâm phạm
Mâu thuẫn về lợi ích
Có thể xuất hiện trong các quyết định của cá nhân khi phải cân nhắc giữa cáclợi ích khác nhau, hoặc quyết định của doanh nghiệp khi phải cân đối giữa lợi íchcủa các cá nhân, nhóm đối tượng hữu quan khác nhau trong doanh nghiệp hoặc giữalợi ích doanh nghiệp và lợi ích của các cá nhân, tổ chức ngoài doanh nghiệp
Lợi ích thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, có thể định lượng được nhưnăng suất, tiền lương, tiền thưởng, việc làm, vị trí quyền lực, thị phần, doanh thu,lợi nhuận, kết quả hoàn thành công việc, sự tăng trưởng…; nhưng cũng có thể lànhững biểu hiện về trạng thái mang giá trị vô hình như uy tín, danh tiếng, vị thế thị
Trang 10trường, chất lượng, sự tin cậy, năng lực thực hiện công việc… Tuy nhiên, có hai đặcđiểm rất đáng lưu ý:
Thứ nhất: không phải tất cả đối tượng hữu quan đều tìm kiếm những lợi ích
giống nhau, mỗi đối tượng có mối quan tâm đặc biệt đến một số lợi ích nhất định
Thứ hai: giữa các lợi ích thường có mối liên hệ nhất định Mâu thuẫn về lợi
ích phản ánh tình trạng xung đột giữa những lợi ích mong muốn đạt được giữa cácđối tượng khác nhau hoặc trong chính đối tượng đó (tự mâu thuẫn), giữa lợi íchtrước mắt và lâu dài
Hành vi hối lộ, tham nhũng, “lại quả” biểu hiện tình trạng mâu thuẫn về lợiích, gây khó khăn cho người ra quyết định và người quản lý trong việc thực hiệnđạo đức kinh doanh đồng thời cản trở việc cạnh tranh trung thực
1.2.2.2 Các lĩnh vực thường xảy ra mâu thuẫn
Marketing
Quan hệ giữa người tiêu dùng và người sản xuất bắt đầu từ hoạt độngmarketing Lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng dựa vào những thông tinnghiên cứu thị trường, quảng cáo, tuy nhiên vấn đề đạo đức cũng có thể nảy sinh từnhững hoạt động này
Quảng cáo nhằm thu hút, lôi kéo khách hàng mua sản phẩm có sẵn nhằm tạotrào lưu tiêu dùng, nhưng một số trường hợp có thể bị coi là phi đạo đức Doanhnghiệp thực hiện quảng cáo thường hướng tới đối tượng khách hàng hay thị trườngmục tiêu, tuy nhiên trong thực tế nó có thể gây phản cảm, tác động tới đối tượngngoài mục tiêu khiến họ lệ thuộc vào hàng hóa của doanh nghiệp
Hoạt động marketing có thể giúp doanh nghiệp nắm thêm thông tin về ngườitiêu dùng và khách hàng mục tiêu nhằm thiết kế sản phẩm phù hợp với nhu cầu của
họ Nhưng marketing cũng có thể dẫn đến những vấn đề đạo đức như lợi dụng việcnày để thu thập thông tin bí mật thương mại với mục đích định giá, sử dụng kênhtiêu thụ liên quan đến tiêu dùng và cạnh tranh thiếu lành mạnh
Trang 11 Phương tiện kỹ thuật
Phương tiện kỹ thuật được doanh nghiệp sử dụng làm công cụ giám sát, quản
lý, thực hiện quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Đối với người lao động thìđây là công cụ, phương tiện giúp nâng cao năng suất, đảm bảo chất lượng và nângcao hiệu quả hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ Với người quản lý, chúng được
sử dụng để nâng cao hiệu lực, đảm bảo chất lượng và nâng cao hiệu suất của hoạtđộng này
Vấn đề đạo đức có thể xuất hiện khi doanh nghiệp áp dụng kỹ thuật để thiết
kế, chế tạo sản phẩm nhằm giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh nhưng lại khôngquan tâm đúng mức đến các yếu tố gây ảnh hưởng tới môi trường và an sinh xã hội.Đối với người lao động thì phương tiện kỹ thuật hiện đại được sử dụng sẽ giúp cảithiện điều kiện làm việc và sự phối hợp giữa các vị trí công tác, đảm bảo sự an toàncủa quá trình vận hành và sức khỏe cho người lao động Tuy nhiên, chúng cũng cóthể dẫn đến những áp lực tâm sinh lý bất lợi cho người lao động như cảm thấy bịgiám sát thường xuyên, áp lực công việc, lo sợ và thiếu tự tin… có thể tác động tiêucực làm giảm năng suất, tăng tỷ lệ tai nạn đồng thời khiến bầu không khí trở nêncăng thẳng
Nhân lực
Với chức năng quản lý của tổ chức là tuyển dụng, bổ nhiệm, kiểm tra, đánhgiá người lao động thì vấn đề đạo đức có thể nảy sinh là tình trạng phân biệt đối xử,thiếu công bằng, khách quan Việc tuyển chọn nhân lực có năng lực phù hợp vớitính chất công việc là yêu cầu cần thiết, tuy nhiên do có sự phân biệt đối xử về tôngiáo, dân tộc, giới tính, độ tuổi vì mục đích cá nhân dẫn đến mâu thuẫn được xem làhành vi phi đạo đức
Đánh giá người lao động cũng là công việc của quản lý, có thể xuất hiện cácvấn đề về đạo đức; nếu không thận trọng xem xét, sử dụng không hợp lý phươngtiện kỹ thuật trong việc đánh giá và giám sát có thể gây ra áp lực tâm lý bất lợikhiến người lao động căng thẳng, thiếu tự tin vào bản thân và mất lòng tin nơi lãnh
Trang 12đạo Chính vì vậy doanh nghiệp cần chú trọng tạo bầu không khí thuận lợi để phốihợp, nâng cao hiệu suất công việc giữa lực lượng lao động nói riêng và toàn bộdoanh nghiệp nói chung
Đối với tổ chức bên trong, công tác kế toán phải bảo đảm nguồn tài chính cầnthiết, kịp thời cho mọi hoạt động của doanh nghiệp Khi nhiệm vụ này không đượcnhận thức, quán triệt đúng đắn, bộ phận tài chính có thể lạm quyền và đóng vai trò
ra quyết định tác nghiệp, trở thành rào cản cho các cơ quan chức năng, trong khinhiệm vụ của bộ phận kế toán - tài chính là kiểm duyệt nhằm xác định tính hợp lýcủa các hoạt động liên quan đến nghiệp vụ tài chính, không phải phê duyệt quyếtđịnh chuyên môn của một người hay đơn vị chức năng khác Khi có sự vi phạmnguyên tắc “cân đối giữa quyền hạn và chức năng” sẽ làm cho hệ thống tổ chức vàquản lý của doanh nghiệp trở nên kém hiệu lực
Quản lý
Người quản lý được chủ sở hữu ủy thác làm đại diện cho chủ sở hữu trongviệc thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm đối với xã hội có quyền ra quyết định và hànhđộng vì lợi ích của chủ sở hữu Quyền lợi của người quản lý được đảm bảo qua việc
Trang 13làm, mức lương và quyền ra quyết định đối với các hoạt động của doanh nghiệp.Tuy nhiên, vấn đề đạo đức có thể xuất hiện từ những mâu thuẫn về lợi ích do liênquan đến quyền lực, lợi ích của người quản lý và chủ sở hữu
Để phát triển và hoàn thiện tổ chức cần có sự điều chỉnh cơ cấu bộ máy, cóthể sát nhập hay chia tách bộ phận để nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động củadoanh nghiệp Sự sắp xếp, điều chỉnh đôi khi lại bị những người quản lý cản trở dolợi ích cá nhân về việc làm, thu nhập, quyền lực Khi quyền lực và nguồn lực được
ủy thác càng nhiều thì sự cản trở làm ảnh hưởng đến lợi ích của chủ sở hữu, ngườilao động, xã hội càng lớn
Mâu thuẫn có thể nảy sinh do bất đồng lợi ích giữa người quản lý và đốitượng lao động Người quản lý được chủ sở hữu ủy thác đủ quyền lực và nguồn lựccần thiết cho việc thực hiện các trách nhiệm thông qua người lao động để giúp họhoàn thành tốt công việc, vì thế vấn đề đạo đức có thể nảy sinh khi người quản lýkhông thực hiện tốt nghĩa vụ này của mình
Đối với khách hàng, người quản lý đại diện cho doanh nghiệp tổ chức cungcấp hàng hóa, dịch vụ cho họ Khi khách hàng cung cấp thông tin cá nhân và ngườiquản lý hoặc người tiếp xúc với các nguồn tin này sử dụng vào những mục đíchkhác nhau sẽ tiềm ẩn vấn đề đạo đức, đó là trách nhiệm của người quản lý
Mâu thuẫn về lợi ích giữa đối tượng hữu quan hữu quan là vấn đề mà ngườiquản lý phải biết giải quyết để cân đối lợi ích của các bên Đó là những người có sựquan tâm, bị ảnh hưởng gián tiếp hoặc trực tiếp vì một số quyết định hay kết quảcủa quyết định Họ là những người có quyền lợi cần được bảo vệ và có thể xảy raphản ứng hay khả năng can thiệp làm thay đổi quyết định theo chiều hướng nhấtđịnh
Chủ sở hữu
Chủ sở hữu đối với các doanh nghiệp là cá nhân, một nhóm hay tổ chức đónggóp một phần hoặc toàn bộ nguồn lực cần thiết cho các hoạt động của một tổ chức
Trang 14chức thông qua giá trị đóng góp Nguồn lực họ đóng góp là tài chính hay vật chấtnhư tiền vốn, tín dụng, hạ tầng cơ sở hoặc phương tiện, thiết bị sản xuất cần thiếtcho việc triển khai hoạt động sản xuất, kinh doanh Tài sản đóng góp của họ cũng
có thể là kỹ năng hay sức lao động Họ có thể là người trực tiếp tham gia điều hànhsản xuất, thực thi quyền kiểm soát của mình và đảm bảo quyền lợi gắn với giá trị tàisản đóng góp; nhưng họ cũng có thể giao quyền điều hành trực tiếp cho nhữngngười quản lý chuyên nghiệp được họ tin cậy, tuyển và trao quyền đại diện
Bảo toàn và tăng giá trị tài sản là lợi ích cơ bản được chủ sở hữu quan tâm,nhưng bên cạnh đó còn có những lợi ích mang giá trị tinh thần, tính xã hội, đó chính
là hoài bão và mục tiêu được đề cập trong sứ mệnh của doanh nghiệp Vì vậy, chủdoanh nghiệp, chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm về mặt kinh tế, pháp lý, đạo đức vànhân văn đối với xã hội
Lãnh đạo thường không muốn cấp dưới của mình tiết lộ thông tin nội bộdoanh nghiệp vì đó có thể là minh chứng về hành vi hay quyết định phi đạo đức màngười lao động cáo giác làm tổn hại đến uy tín, quyền quản lý của họ và doanhnghiệp Việc tiết lộ thông tin hay bí mật thương mại có thể làm mất lợi thế cạnh
Trang 15Giảm chi phí là một trong những mục tiêu giúp doanh nghiệp nâng cao khảnăng cạnh tranh, mang lại lợi ích cho người tiêu dùng nhờ giá thành thấp Tuynhiên, nếu chỉ nhằm giảm chi phí mà doanh nghiệp cắt giảm phương tiện bảo hộhay bảo hiểm đối với người lao động hoặc xử phạt, sa thải do họ từ chối những côngviệc nguy hiểm vì lý do bệnh lý thì bị coi là phi đạo đức Và ngược lại, nếu ngườilao động lợi dụng lý do này để từ chối thực hiện những công việc mà họ khôngmuốn làm cũng bị oil à vi phạm đạo đức
Khách hàng
Đó có thể là cá nhân, tổ chức đóng vai trò quan trọng bảo đảm sự tồn tại củadoanh nghiệp và thông qua họ sẽ phản ánh được nhu cầu, đánh giá chất lượng hànghóa, dịch vụ Trách nhiệm của các doanh nghiệp là nghiên cứu nhu cầu, tạo ra sảnphẩm, dịch vụ thỏa mãn điều này Vấn đề đạo đức cũng có thể phát sinh từ việckhông cân đối giữa nhu cầu trước mắt và lâu dài, lợi ích trước mắt và có thể gâythiệt hại cho tương lai xã hội
Ngành
Một doanh nghiệp hoạt động liên quan đến nhiều doanh nghiệp khác trong vàngoài ngành ở cùng lĩnh vực, thị trường, vì vậy hoạt động của họ có thể ảnh hưởngđến kết quả thực hiện, trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp của nhau Mâu thuẫnphát sinh giữa họ là lợi ích của việc liên kết và cạnh tranh, giữa lợi nhuận, thị phần
và sự phát triển lâu dài
Cộng đồng
Cộng đồng không phải người mua hàng, nhân viên, cổ đông, cũng chẳng phải
tổ chức liên quan và cạnh tranh với doanh nghiệp Những hoạt động của doanhnghiệp có thể ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên, văn hóa xã hội và môi trườngsống của họ, vì thế mối quan hệ của cộng đồng thường rất cụ thể như khai thác và
sử dụng tài nguyên, thay đổi về môi trường địa lý, ô nhiễm (khí thải, chất thải rắn,nước thải, tiếng ồn), sự thay đổi cảnh quan tại địa phương ảnh hưởng tới thói quen,
Trang 16tập quán địa phương… Do đó, bảo vệ giá trị truyền thống, lợi ích cộng đồng cũng làbảo vệ lợi ích lâu dài của chính doanh nghiệp
Chính phủ
Là đối tượng trung gian và không có lợi ích cụ thể, trực tiếp trong các quyếtđịnh, hoạt động của doanh nghiệp Các cơ quan chức năng của chính phủ khi cần cóthể can thiệp để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho một số hoặc tất cả đối tượng hữuquan, bảo đảm lợi ích, sự bình đẳng, trung thực, công bằng và phát triển bền vữngcủa môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội Sự can thiệp của chính phủ xảy ra khi mâuthuẫn phát sinh không tự giải quyết được giữa các chủ thể kinh tế như người tiêudùng với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với nhau Khi điều này xảy ra thì quyềnlực sẽ được thực thi, lợi ích doanh nghiệp vì thế cũng ảnh hưởng
1.2.3 Nhận diện các vấn đề đạo đức kinh doanh
Vấn đề đạo đức tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh là nguồn gốc dẫn đếnnhững hậu quả nghiêm trọng đối với uy tín, sự tồn tại, phát triển của một doanhnghiệp Nhận biết được nó sẽ giúp chúng ta ra quyết định đúng đắn, hợp đạo lý hơn.Việc nhận định vấn đề đạo đức phụ thuộc vào mức độ hiểu biết về mối quan hệ giữacác tác nhân (phương diện, lĩnh vực, nhân tố, đối tượng hữu quan) liên quan tronghoạt động kinh doanh Trình độ, khả năng nhận thức và kinh nghiệm sẽ giúp ngườiphân tích dễ dàng nhận ra bản chất những mối quan hệ cơ bản và mâu thuẫn tiềm ẩnbên trong các mối quan hệ phức tạp
Việc nhận diện các vấn đề đạo đức có thể tiến hành theo các bước sau:
Thứ nhất, xác minh các đối tượng hữu quan: có thể là bên trong hoặc bên
ngoài, tham gia trực tiếp hay gián tiếp, lộ diện hay tiềm ẩn Chỉ khảo sát về quanđiểm, triết lý của đối tượng, thể hiện qua đánh giá về một hành động tiềm ẩn mâuthuẫn hay chứa đựng những nhân tố phi đạo đức
Thứ hai, xác minh mối quan tâm, mong muốn của các đối tượng hữu quan
thông qua một sự việc, tình huống cụ thể Người quản lý có những mong muốn nhất
Trang 17định về hành vi, kết quả đạt được ở người lao động và ngược lại, người lao độngcũng có những kỳ vọng nhất định nơi người quản lý Những mong muốn, kỳ vọngđịnh hình quy tắc hành động, chuẩn mực hành vi cho việc ra quyết định, lợi íchriêng được thỏa mãn của các đối tượng Khi mối quan tâm và mong muốn nàykhông mâu thuẫn hoặc xung đột thì vấn đề đạo đức hầu như không tồn tại và ngượclại sẽ nảy sinh vấn đề đạo đức
Thứ ba, xác định bản chất vấn đề đạo đức: có thể thực hiện thông qua việc chỉ
ra bản chất mâu thuẫn thể hiện trên nhiều phương diện khác nhau như quan điểm,triết lý, mục tiêu, lợi ích…
1.3 VAI TRÒ CỦA ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
1.3.1 Góp phần điều chỉnh hành vi của chủ thể kinh doanh
Những chuẩn mực đạo đức doanh nghiệp giúp điều chỉnh hành vi kinhdoanh theo khuôn khổ pháp luật Dù hoàn thiện, luật pháp cũng không thể đượcxem là chuẩn mực cho mọi hành vi của đạo đức kinh doanh và không thể thay thếvai trò của đạo đức để khuyến khích mọi người làm việc thiện Phạm vi ảnh hưởngcủa đạo đức rộng hơn pháp luật, nó bao quát mọi lĩnh vực của thế giới tinh thần;trong khi pháp luật chỉ điều chỉnh hành vi liên quan đến chế độ quản lý nhà nước,
xã hội Kỷ cương pháp luật nghiêm minh thì đạo đức càng được đề cao, góp phầnhạn chế hành vi phạm pháp, tiêu cực như: buôn lậu, trốn thuế, gian lận thương mại,tham nhũng…
1.3.2 Góp phần khẳng định chất lượng doanh nghiệp
Doanh nghiệp quan tâm đến đạo đức, tạo dựng môi trường tổ chức trungthực và công bằng, được nhân viên, khách hàng, công luận công nhận sẽ là yếu tốquan trọng bảo đảm sự thành công trong hoạt động Doanh nghiệp nêu cao tráchnhiệm đạo đức xã hội trong các quyết định kinh doanh, đưa ra được quyết định đúng
Trang 18đắn, hiệu quả hơn trong hoạt động hàng ngày sẽ nhận được phần thưởng xứng đáng
là sự tận tâm của các thành viên, chất lượng sản phẩm được cải thiện, sự trung thànhcủa khách hàng và lợi ích kinh tế đạt được lớn hơn
Do mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau nên khi doanh nghiệp được xem là cóđạo đức sẽ tạo được niềm tin, sự trung thành từ khách hàng cũng như đội ngũ nhânviên Nhân viên hài lòng thì khách hàng cũng thấy thoải mái và nhà đầu tư cũngtương tự Khi tổ chức doanh nghiệp có môi trường đạo đức tốt, nhân viên sẽ tận tâmvới công việc của mình hơn Nhà đầu tư, đối tác kinh doanh cũng rất quan tâm đếnvấn đề đạo đức, trách nhiệm xã hội và uy tín của doanh nghiệp mà họ đầu tư, hợptác vì cho rằng môi trường đạo đức là nền tảng đem lại hiệu quả, năng suất, lợinhuận
Các cấp lãnh đạo trong doanh nghiệp đóng vai trò mang lại giá trị tổ chức vàđược mạng lưới xã hội ủng hộ hành vi đạo đức, họ nhận thức được bản chất của mốiquan hệ trong kinh doanh, các vấn đề mâu thuẫn tiềm ẩn, đưa ra biện pháp quản lý,khắc phục những trở ngại có thể dẫn đến bất đồng, tạo dựng bầu không khí làm việcthuận lợi cho mọi thành viên, tạo ra sức mạnh tổng hợp của sự đồng thuận sẽ thúcđẩy sự phát triển của doanh nghiệp Cấp lãnh đạo ở vị thế cao trong tổ chức có vaitrò truyền bá tiêu chuẩn và quy định đạo đức nghề nghiệp, ngăn cản các hành vi phiđạo đức, thiết lập chương trình rèn luyện đạo đức cũng như hướng dẫn, giúp nhânviên lưu tâm đến khía cạnh đạo đức trong quá trình đưa ra quyết định
1.3.3 Góp phần vào sự cam kết và tận tâm của nhân viên
Sự tận tâm của nhân viên xuất phát từ việc họ tin tương lai của mình gắn liềnvới tương lai doanh nghiệp nên sẵn sàng cống hiến toàn lực cho tổ chức Doanhnghiệp càng quan tâm đến nhân viên bao nhiêu thì họ càng tận tâm bấy nhiêu Những vấn đề có ảnh hưởng đến sự phát triển của môi trường đạo đức đối với nhânviên gồm: môi trường lao động an toàn, thù lao xứng đáng và thực hiện đầy đủ tráchnhiệm được ghi trong hợp đồng với tất cả nhân viên Các chương trình cải thiện môi
Trang 19trường đạo đức có thể là “Gia đình và công việc” hoặc chia/bán cổ phần cho nhânviên Các hoạt động từ thiện hoặc trợ giúp cộng đồng không chỉ làm nảy sinh suynghĩ tích cực cho nhân viên về bản thân họ và doanh nghiệp mà còn tạo ra sự trungthành của họ đối với doanh nghiệp
Doanh nghiệp thực hiện đúng cam kết làm những điều thiện, tôn trọng nhânviên sẽ có tác dụng gia tăng sự ủng hộ, trung thành của nhân viên đối với mục tiêucủa tổ chức Từ đó nhân viên sẽ tập trung thời gian, làm việc nhiệt tình, trách nhiệmhơn, không chây ỳ với tư tưởng “chỉ làm cho xong”, không tận tâm với mục tiêu của
tổ chức khi họ cảm thấy không được đối xử công bằng
Đối với các thành viên của tổ chức, họ rất coi trọng môi trường đạo đức củadoanh nghiệp, phần lớn cho rằng hình ảnh của một doanh nghiệp đối với cộng đồng
vô cùng quan trọng Khi doanh nghiệp tham gia tích cực vào công tác cộng đồng,nhân viên cảm nhận môi trường đạo đức doanh nghiệp như thế là tốt nên họ sẽ tậntâm hơn để đạt tiêu chuẩn đạo đức cao trong các hoạt động hàng ngày đồng thời tíchcực thảo luận các vấn đề đạo đức và ủng hộ ý kiến nâng cao chất lượng trong doanhnghiệp, cùng cam kết thực hiện quy định đạo đức Cam kết này có tác động tích cựcđến vị thế cạnh tranh, chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng, tạo hình ảnh đẹp chodoanh nghiệp, góp phần thu hút khách hàng mới
Trang 20đức có thể nhận được phần thưởng là sự trung thành của khách hàng ngày càngtăng
Những doanh nghiệp thành công, lợi nhuận ổn định thì việc phát triển quan
hệ, tôn trọng, hợp tác cùng với khách hàng được xem là chìa khóa thành công Việcdoanh nghiệp chú trọng làm hài lòng khách hàng một mặt sẽ làm tăng sự phụ thuộccủa khách hàng vào doanh nghiệp; mặt khác khi niềm tin của khách tăng lên thìdoanh nghiệp sẽ có trách nhiệm phục vụ tốt hơn để duy trì, phát triển mối quan hệ
đó
Như vậy, một môi trường đạo đức vững mạnh là khi tổ chức chú trọng những giá trị cốt lõi như: coi trọng lợi ích khách hàng cũng như của nhân viên và các nhà đầu tư Đối tác kinh doanh và nhân viên làm việc trong môi trường đạo đức sẽ ủng hộhành động đạo đức hướng tới khách hàng, giúp xây dựng vị thế cạnh tranh vững mạnh, có tác dụng tích cực đến việc đổi mới, cải tiến sản phẩm dịch vụ, đó là nhân tố đem lại sự thành công cho doanh nghiệp
1.3.5 Góp phần tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp
Những doanh nghiệp cam kết thực hiện các hành vi đạo đức và chú trọng việctuân thủ các quy định đạo đức nghề nghiệp thường đạt được thành công lớn về mặttài chính Sự quan tâm đến đạo đức đang trở thành một bộ phận trong kế hoạchchiến lược của các doanh nghiệp, đây không còn là chương trình do chính phủ yêucầu mà đạo đức đang dần trở thành vấn đề quản lý trong nỗ lực giành lợi thế cạnhtranh
Trách nhiệm của doanh nghiệp với xã hội không chỉ là thực hiện tốt nghĩa vụnộp thuế, đóng góp nguồn thu ngân sách nhà nước, đầu tư phát triển xã hội mà còncần tham gia các chương trình hoạt động mang tính nhân văn Doanh nghiệp khôngthể trở thành nhân tố có sức ảnh hưởng trong xã hội nếu không phát triển môitrường tổ chức có đạo đức Khi doanh nghiệp sở hữu nguồn lực lớn sẽ có điều kiện,phương tiện tốt hơn để thực thi trách nhiệm xã hội cùng với việc phục vụ khách
Trang 21hàng, tăng giá trị nhân viên, thiết lập lòng tin với cộng đồng Doanh nghiệp nào cóhành vi sai trái thường chịu nhiều thiệt hại từ phía đối tác, khách hàng và sẽ dẫn đếngiảm giá trị tài sản
Như vậy, khi doanh nghiệp đầu tư phát triển đạo đức trong tổ chức sẽ manglại thành công trong kinh doanh Chương trình đạo đức có hiệu quả không chỉ giúpngăn chặn hành vi sai trái mà còn mang lại lợi ích kinh tế Mặc dù chỉ mình đạo đứckhông thôi sẽ không thể đem lại thành công về tài chính nhưng đạo đức sẽ giúp hìnhthành và phát triển bền vững văn hóa tổ chức phục vụ cho tất cả cổ đông, kháchhàng, nên hành vi đạo đức trong một doanh nghiệp rất quan trọng, không chỉ giúplàm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp mà còn trực tiếp góp phần tạo sự vững mạnh
của nền kinh tế quốc gia
Qua khảo sát, nghiên cứu, các nhà kinh tế khẳng định sự trung thực trongkinh doanh của doanh nghiệp là yếu tố vô cùng quan trọng để phát triển, đem lại sựphồn vinh cho nền kinh tế xã hội Các nước phát triển ngày càng giàu hơn vì có hệthống thể chế quy định về đạo đức kinh doanh nhằm thúc đẩy năng suất Trong khi
đó, tại các nước đang phát triển, cơ hội phát triển kinh tế xã hội bị hạn chế bởi vấnnạn độc quyền, tham nhũng, hạn chế tiến bộ cá nhân cũng như phúc lợi xã hội Thực
tế khi so sánh tỉ lệ tham nhũng trong các thể chế xã hội khác nhau cho thấy rõ khácbiệt về sự vững mạnh và ổn định kinh tế giữa các nước này là vấn đề đạo đức, đóngvai trò chủ chốt trong công cuộc phát triển
Tóm lại, đạo đức kinh doanh đóng vai trò quan trọng đối với cá nhân,doanh nghiệp, xã hội và sự vững mạnh của nền kinh tế quốc dân Môi trường đạođức của tổ chức vững mạnh sẽ đem lại sự hài lòng, niềm tin cho khách hàng, sự tậntâm của nhân viên và lợi nhuận cho doanh nghiệp Đạo đức còn đặc biệt quan trọngđối với sự phát triển và thịnh vượng của một quốc gia
Trang 221.4 CÁC NGHĨA VỤ TRONG TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP
Trách nhiệm xã hội là nghĩa vụ mà một doanh nghiệp hay cá nhân phải thựchiện đối với xã hội nhằm đạt được nhiều nhất tác động tích cực và giảm tối đa tácđộng tiêu cực đối với xã hội
Trách nhiệm xã hội có thể được xem là cam kết của doanh nghiệp đối với xãhội, còn đạo đức kinh doanh đề cập đến những quy tắc ứng xử làm cơ sở đưa raquyết định trong quan hệ kinh doanh
Đạo đức kinh doanh liên quan đến các nguyên tắc, quy định chỉ đạo quyếtđịnh của cá nhân và tổ chức; còn trách nhiệm xã hội quan tâm tới hậu quả các quyếtđịnh của tổ chức đối với xã hội; hoặc đạo đức kinh doanh thể hiện những mongmuốn, kỳ vọng xuất phát từ bên trong, còn trách nhiệm xã hội thể hiện những mongmuốn, kỳ vọng xuất phát từ bên ngoài
Tuy khác nhau nhưng đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội có quan hệchặt chẽ với nhau Đạo đức kinh doanh là sức mạnh trong trách nhiệm xã hội vì tínhliêm chính và sự tuân thủ đạo đức của các tổ chức vượt xa cả sự tuân thủ luật lệ vàquy định Nhiều bằng chứng cho thấy trách nhiệm xã hội bao gồm đạo đức kinhdoanh liên quan tới việc tăng lợi nhuận và góp phần vào sự tận tụy của nhân viên,
sự trung thành của khách hàng - những mối quan tâm chủ yếu của bất cứ doanhnghiệp nào để có thể tăng lợi nhuận
1.4.1 Nghĩa vụ về kinh tế
Nghĩa vụ kinh tế của doanh nghiệp hầu như được thể chế hóa bởi các nghĩa
vụ pháp lý như nghĩa vụ kinh tế đối với nguồn nhân lực trong tổ chức, nhà đầu tư,người tiêu dùng và phúc lợi xã hội
Đối với người tiêu dùng, nghĩa vụ kinh tế của doanh nghiệp là những vấn đềliên quan đến chất lượng, an toàn sản phẩm, giá cả, thông tin về sản phẩm, phươngthức bán hàng, cạnh tranh Lợi ích của người tiêu dùng là sự hợp lý khi lựa chọn, sử
Trang 23dụng hàng hóa và dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu Đối với người lao động, đây là cơhội việc làm, phát triển nghề nghiệp chuyên môn với mức thù lao tương xứng trongmôi trường lao động an toàn
Đối với các chủ tài sản, nghĩa vụ của một doanh nghiệp là bảo tồn, phát triểncác giá trị và tài sản được ủy thác do xã hội hoặc cá nhân giao phó cho họ Với từngđối tượng có những điều kiện cam kết, ràng buộc khác nhau, nhưng về cơ bản đềuliên quan đến vấn đề về quyền và phạm vi sử dụng những tài sản giá trị được ủythác, phân phối và sử dụng phúc lợi thu được, báo cáo/thông tin về hoạt động, giámsát…
Với mọi đối tượng liên quan, nghĩa vụ của doanh nghiệp là mang lại lợi íchtối đa và công bằng cho họ như trực tiếp cung cấp hàng hóa, việc làm, giá cả, chấtlượng, lợi tức đầu tư
Nghĩa vụ kinh tế còn được thực hiện một cách gián tiếp thông qua cạnh tranh
vì nó có thể làm thay đổi khả năng tiếp cận, lựa chọn hàng hóa của người tiêu dùng,lợi nhuận và tăng trưởng trong kinh doanh so với các doanh nghiệp khác, có thể tácđộng đến quyết định lựa chọn bỏ vốn của các chủ đầu tư Vì vậy, doanh nghiệp cần
ý thức trong việc lựa chọn biện pháp cạnh tranh và triết lý đạo đức có ý nghĩa quyếtđịnh để có thể chấp nhận được về mặt xã hội Những biện pháp cạnh tranh như giá
cả, bán phá giá, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ có thể làm giảm tính cạnh tranh,tăng sự độc quyền, gây thiệt hại cho người tiêu dùng
1.4.2 Nghĩa vụ về pháp lý
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi côngdân và an sinh xã hội, vì vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải tuân thủ đầy đủ quy địnhcủa pháp luật như yêu cầu tối thiểu Việc kinh doanh của doanh nghiệp không thểtốt đẹp nếu không tuân thủ quy định của pháp luật, đây chính là tâm điểm nghĩa vụ
về pháp lý Cụ thể, doanh nghiệp phải có trách nhiệm với người tiêu dùng, đối thủcạnh tranh, các cấp quản lý vĩ mô và những nhóm đối tượng hưởng lợi khác nhau
Trang 24Nghĩa vụ pháp lý được thể hiện trong Bộ luật Dân sự và Hình sự, nhưng cần lưu ýluật pháp không thể trở thành căn cứ để phán xét một hành động có hay vô đạo đứctrong những trường hợp cụ thể, mà nó chỉ thiết lập quy tắc cơ bản cho những hànhđộng được coi là có trách nhiệm trong kinh doanh
Nghĩa vụ pháp lý cơ bản được quy định bao gồm: điều tiết cạnh tranh, bảo vệngười tiêu dùng và môi trường, an toàn, bình đẳng, khuyến khích phát hiện, ngănchặn hành vi sai trái
Điều tiết cạnh tranh
Do sự độc quyền có thể dẫn đến thiệt hại cho xã hội và các đối tượng hữuquan như nền kinh tế kém phát triển, phân phối phúc lợi xã hội không công bằngnên khuyến khích cạnh tranh và đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh là cáchthức cơ bản để điều tiết sự độc quyền, kiểm soát tình trạng này, ngăn chặn các biệnpháp định giá không công bằng (giá độc quyền) và được gọi chung là luật pháp hỗtrợ cạnh tranh
Bảo vệ người tiêu dùng
Luật pháp đòi hỏi các tổ chức kinh doanh phải cung cấp thông tin chính xác vềsản phẩm và dịch vụ cũng như tuân thủ tiêu chuẩn về sự an toàn của sản phẩm nhằmbảo vệ người tiêu dùng Luật pháp cũng bảo vệ những người không phải đối tượngtiêu dùng trực tiếp Do các biện pháp kinh doanh và marketing có thể tác động đếnnhiều đối tượng, trong đó tác động bất lợi không mong đợi đối với các nhóm chẳngphải “đối tượng mục tiêu” vẫn bị coi là phi đạo đức vì có thể dẫn đến hậu quả khólường
Bảo vệ môi trường
Vấn đề được quan tâm hiện nay là phế liệu, chất thải công nghiệp độc hạitrong sản xuất, tiếng ồn trong môi trường không khí, nước, đất đai cũng như rác thảisinh hoạt… ngày càng trở nên nghiêm trọng, nhất là ở các đô thị, khu công nghiệp.Bên cạnh vấn đề ô nhiễm môi trường tự nhiên, vật chất thì môi trường văn hóa - xã
Trang 25hội phi vật thể cũng được nhiều quốc gia chú trọng bảo vệ Tác động của các hìnhthức quảng cáo - đặc biệt là thông qua phim ảnh, mạng Internet - có thể dẫn đếnnhững trào lưu tiêu dùng làm xói mòn giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống và thayđổi giá trị tinh thần, triết lý đạo đức xã hội, làm mất đi sự trong sáng, tinh tế củangôn ngữ Những vấn đề này cũng được nhiều quốc gia quan tâm
An toàn và bình đẳng
Luật pháp bảo vệ quyền bình đẳng của mọi đối tượng khác nhau, không phânbiệt đối xử về tuổi tác, giới tính, dân tộc, thể chất Các doanh nghiệp có quyền tuyểndụng người có năng lực vào các vị trí khác nhau theo yêu cầu của bộ máy tổ chức,tuy nhiên luật pháp cũng ngăn chặn việc sa thải người lao động tùy tiện, bất hợp lý.Những quyền cơ bản của người lao động được bảo vệ là quyền được sống, làm việcnhư nhau trong môi trường an toàn Việc sa thải người lao động mà không có bằngchứng cụ thể như không đủ năng lực hoàn thành các yêu cầu hợp lý của công việcthì bị coi là vi phạm các quyền trên
Khuyến khích việc phát hiện và ngăn chặn hành vi sai trái
Những chuẩn mực đạo đức đã được thể chế hóa thành luật, khi doanh nghiệpvượt khỏi giới hạn sẽ trở thành vi phạm pháp luật Tuy nhiên, ranh giới giữa chuẩnmực đạo đức và pháp lý thường khó xác định do người quản lý đề ra quyết định tácnghiệp kinh doanh nhưng đồng thời lại phải chịu trách nhiệm cả về vấn đề đạo đức,pháp lý Hành vi sai trái bị phát hiện càng chậm, trách nhiệm hoặc vị trí của nhữngngười có hành vi sai trái càng cao thì hậu quả càng nặng nề và khó khắc phục Vìthế, phát hiện sớm những hành vi hay dấu hiệu sai trái có thể giúp khắc phục mộtcách hiệu quả và giảm thiểu hậu quả xấu
1.4.3 Nghĩa vụ về đạo đức
Nghĩa vụ về đạo đức trong trách nhiệm xã hội liên quan đến những hành vihay hành động được các thành viên tổ chức, cộng đồng và xã hội mong đợi hoặckhông nhưng không được thể chế hóa thành luật Nghĩa vụ đạo đức trong trách
Trang 26nhiệm xã hội của doanh nghiệp được thể hiện thông qua các tiêu chuẩn, chuẩn mựchay kỳ vọng phản ánh mối quan tâm của các đối tượng hữu quan chủ yếu như ngườitiêu dùng, người lao động, đối tác, chủ sở hữu, cộng đồng Nói cách khác, nhữngchuẩn mực này phản ánh quan niệm của các đối tượng hữu quan về đúng - sai, côngbằng, quyền lợi cần được bảo vệ của họ.
Trước đây quan niệm nghĩa vụ đạo đức của doanh nghiệp hoàn thành tráchnhiệm đối với xã hội là thực hiện đầy đủ nghĩa vụ pháp lý và tạo ra lợi nhuận Sứmệnh cơ bản của doanh nghiệp là làm ra hàng hóa, dịch vụ và nhiều lợi nhuận để cóthể đóng góp nhiều nhất cho xã hội Tuy nhiên, thực tế kinh doanh lại chứng tỏ rằnglợi nhuận của một doanh nghiệp được tạo ra nhờ sự trung thành của các đối tượnghữu quan sẽ quyết định giá trị, hình ảnh hay “nhân cách” doanh nghiệp
Sứ mệnh và chiến lược thể hiện nghĩa vụ đạo đức của một doanh nghiệpthông qua các nguyên tắc và giá trị đạo đức được tôn trọng, tuyên bố trong một sốtài liệu, nêu lên quan điểm sử dụng các nguồn lực để đạt mục tiêu và nó trở thànhkim chỉ nam cho sự phối hợp hành động của mỗi thành viên cùng các đối tượng hữuquan
1.4.4 Nghĩa vụ về nhân văn
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đóng góp cho cộng đồng và xã hội lànghĩa vụ nhân văn, thể hiện trên bốn phương diện như nâng cao chất lượng cuộcsống, san sẻ bớt gánh nặng cho chính phủ, nâng cao năng lực lãnh đạo và phát triểnnhân cách đạo đức cho người lao động
Thực phẩm không chỉ để duy trì cuộc sống, được cung cấp dồi dào là đủ màcần phải an toàn, không chứa những chất độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe conngười Chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu, lợi ích mà một số doanh nghiệp, cá nhân bấtchấp sự cân bằng sinh thái, khai thác rừng, khoáng sản, giết hại động vật hoang dã
để bổ sung vào nguồn thực phẩm…, vấn nạn này đã gây ô nhiễm môi trường, làmbiến đổi khí hậu…
Trang 27Nghĩa vụ nhân văn của doanh nghiệp còn được thể hiện ở sự quan tâm thựchiện chính sách “Đền ơn đáp nghĩa” với những người có công giúp đỡ những mảnhđời bất hạnh, khuyết tật, bị bệnh không có điều kiện chữa trị Bên cạnh đó, doanhnghiệp cũng cần tham gia tích cực trong việc giáo dục, nâng cao nhận thức về côngtác xã hội Điều này không chỉ là nghĩa vụ nhân văn đối với doanh nghiệp mà còn làphương thức đầu tư khôn ngoan cho tương lai của chính doanh nghiệp
1.4.5 Quan điểm và cách tiếp cận trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp
1.4.5.1 Quan điểm
Quan điểm cổ điển
Được khái quát bởi ba đặc trưng:
• Hành vi kinh tế là hành vi độc lập được hình thành và tổ chứcthực hiện hoạt động với mục đích kinh tế
• Kết quả hoàn thành các mục tiêu kinh tế chính đáng và hiệu quảtrong việc thực hiện hoạt động kinh tế là tiêu chíđể đánh giá một hoạt động,
tổ chức kinh doanh
• Mục tiêu và động lực của tổ chức kinh tế đã đăng ký chính thức
về pháp lý sẽ được luật pháp xác nhận và pháp luật bảo vệ
Quan điểm cổ điển đối với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có nhiều hạnchế khi cho rằng doanh nghiệp chỉ tập trung vào việc thực hiện mục tiêu kinh tếchính thức; còn những nghĩa vụ khác để các tổ chức chuyên môn, chức năng thựchiện và chính phủ nên chịu trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ xã hội vì những lý
do sau:
+ Tính mục đích: tổ chức kinh tế được xã hội và hệ thống pháp lý chính thứcthừa nhận chủ yếu là vì mục đích kinh tế Việc giám sát, quản lý của cơ quan phápluật, xã hội đối với các tổ chức kinh tế cũng nhằm thực hiện mục tiêu này
Trang 28+ Phạm vi ảnh hưởng: một tổ chức kinh tế không có đủ quyền và năng lựcgiải quyết các vấn đề xã hội vì đối tượng, lĩnh vực, khu vực có phạm vi rất rộng Họchỉ có thể thực hiện tốt các nghĩa vụ xã hội liên quan đến những đối tượng bên trongphạm vi tổ chức và nghĩa vụ kinh tế đối với xã hội theo luật pháp quy định (nghĩa
vụ thuế), có vai trò hỗ trợ, giúp các tổ chức xã hội chuyên trách, cơ quan chức năngthực hiện nghĩa vụ xã hội
Hạn chế của quan điểm cổ điển là khi doanh nghiệp chỉ tập trung vào việcthực hiện mục tiêu kinh tế, lợi nhuận, doanh thu và chi phí sẽ trở thành chủ yếu, họ
có thể sẽ tìm mọi cách đạt được những chỉ tiêu này mà không hề quan tâm đến cáchthức đó có trung thực hay được xã hội chấp nhận không Việc điều tiết của chínhphủ để xử lý những hậu quả do doanh nghiệp gây ra về mặt xã hội cũng tốn kémhơn nhiều so với việc khống chế không để chúng xuất hiện Như vậy, nếu đặt doanhnghiệp bên ngoài trách nhiệm xã hội có thể gây ra những hậu quả bất lợi, nhất làdoanh nghiệp quy mô hay có vị thế và ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế xã hội
Quan điểm đánh thuế
Quan điểm này cho rằng doanh nghiệp không chỉ có nghĩa vụ về kinh tế màcòn phải thực hiện nghĩa vụ đối với chủ sở hữu tài sản Doanh nghiệp sử dụngnguồn lực xã hội cho hoạt động kinh tế sẽ được coi là đúng khi sử dụng vào nhữngviệc được người ủy thác chấp thuận Đó là cổ đông, họ căn cứ vào chức năngnhiệm vụ, kết quả hoạt động kinh doanh, chỉ tiêu phát triển tài chính để quyết định
có góp vốn cho doanh nghiệp hay không Việc những người quản lý sử dụng nguồnlực vào các mục đích không phù hợp, không được sự đồng ý của người ủy thác sẽ
bị coi là “đánh thuế” vào chính cổ đông của mình
Hạn chế của quan điểm này:
Các cổ đông không chỉ quan tâm đến số liệu tài chính mà họ đặc biệt chú ýđến hình ảnh, giá trị, uy tín của doanh nghiệp, niềm tin và hoài bão để quyết địnhđầu tư cho doanh nghiệp Chính vì vậy, trong quản lý hiện đại, mục tiêu tổng quát
Trang 29(tuyên bố sứ mệnh) của doanh nghiệp ngày càng được những người quản lý và cổđông quan tâm, coi trọng
Về cách thức: không chỉ lợi ích của cổ đông phải được đảm bảo mà cáchdoanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ đối với cổ đông của mình cũng rất quan trọng.Chưa chắc cổ đông sẽ vui mừng khi tài sản của mình tăng lên mà người khác phảichịu thiệt hại
Quan điểm quản lý
Quan điểm này cho rằng quyền sở hữu tài sản là tương đối, thực chất chỉ làquyền sử dụng tạm thời đối với tài sản Tài sản có thể được thể hiện bằng giá trị, nóchỉ là hình ảnh phản ánh tạm thời của cải vật chất tự nhiên ở một thời điểm, không
do con người tạo nên mà chúng được chuyển hóa về hình thức tồn tại, tích lũy trong
tự nhiên và xã hội Doanh nghiệp là người sử dụng tạm thời, có trách nhiệm quản lý,giữ gìn, bảo toàn, góp phần phát triển của cải xã hội Quyền sở hữu tài sản của cổđông cũng mang tính hình thức, họ được ủy thác quyền kiểm soát và sử dụng mộtphần nhưng do năng lực ra quyết định và hành vi hạn chế nên phải thực hiện hoặc
ủy thác nghĩa vụ quản lý cho doanh nghiệp Quyền sở hữu thực sự thuộc về toàn xãhội
Theo quan điểm quản lý thì hành vi của doanh nghiệp không chỉ bị ràng buộccác nghĩa vụ trực tiếp đối với cổ đông mà với cả xã hội, không chỉ chịu sự kiểm soátbởi mong muốn của cổ đông mà còn phải đáp ứng kỳ vọng của xã hội Xã hội baohàm phạm vi rất rộng, không cụ thể nên doanh nghiệp phải tự giác thể hiện “lòngnhân ái” khi thực hiện các nghĩa vụ và với tinh thần trách nhiệm thực sự xuất phát
từ “ý thức về nghĩa vụ được ủy thác”
So sánh với quan điểm cổ điển thì quan điểm quản lý tiến bộ hơn vì thể hiệnđược nghĩa vụ của doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế là không giới hạn ở nghĩa vụchính thức, thụ động mà tự nguyện đề cao ý thức đối với các nghĩa vụ xã hội Hạnchế cơ bản của quan điểm quản lý mang giá trị thực tiễn thấp do tính tự giác và tinh
Trang 30thần trách nhiệm khó thể giúp người quản lý doanh nghiệp ra quyết định về nghĩa
vụ xã hội hoặc khi phải đương đầu với những mâu thuẫn về đạo đức
Quan điểm của các đối tượng hữu quan (stakeholders)
Theo quan điểm của các đối tượng hữu quan thì hoạt động của một doanhnghiệp không chỉ liên quan đến khách hàng, đối tác, đối thủ, hiệp hội, cộng đồng,chính phủ và tập trung phục vụ lợi ích của đối tượng hữu quan trực tiếp mà doanhnghiệp đồng thời cần quan tâm thỏa mãn lợi ích, mục đích của tất cả đối tượng hữuquan trong xã hội Tuy nhiên “xã hội” là khái niệm trừu tượng, “trách nhiệm xã hội”trở nên mơ hồ, thiếu thực tế nên doanh nghiệp khó thể làm hài lòng, thỏa mãn mongmuốn cho tất cả được Đối tượng hữu quan là những người có lợi ích ràng buộc vớihoạt động của doanh nghiệp, đại diện cho xã hội trong hoạt động của doanh nghiệp.Việc cụ thể hóa bởi những con người cụ thể được xem là lối thoát cho quan điểmquản lý và vận dụng phổ biến trong quản lý hiện đại
Hạn chế của quan điểm này là gặp nhiều khó khăn trong việc cân đối nghĩa
vụ và mục đích Nghĩa vụ là những yêu cầu, ràng buộc cần đảm bảo, còn mục đích
là những nhu cầu, sự mong muốn được thỏa mãn Nghĩa vụ chỉ cần được thực hiện
để đảm bảo cho những yêu cầu nhất định, còn mục đích thì thỏa mãn càng nhiềucàng tốt Trong thực tế, việc thực hiện nghĩa vụ có thể vướng trở ngại, chưa thỏamãn được mục đích, thậm chí dẫn đến mâu thuẫn Lợi ích có thể được giải quyếtbằng cách thương lượng hay dung hòa, nhưng nghĩa vụ với các đối tượng khác nhauthì không dễ dàn xếp
1.4.5.2 Các cách tiếp cận
Có ba cách tiếp cận điển hình: theo thứ tự ưu tiên, tầm quan trọng và tìnhhuống
Tiếp cận theo thứ tự ưu tiên
Phương pháp tiếp cận này quan niệm các nghĩa vụ không giống nhau và đượcxác định ưu tiên thực hiện theo thứ tự nhất định Doanh nghiệp, tổ chức có chức
Trang 31năng, nhiệm vụ nhất định và được thực hiện với nguồn lực, chuyên môn tốt nhất đểhoàn thành mục tiêu là mang lại của cải vật chất, giá trị (kinh tế) và sự thỏa mãntinh thần cho xã hội Như vậy, các nghĩa vụ của doanh nghiệp theo thứ tự chức năngnhiệm vụ là: kinh tế, pháp lý, đạo lý và nhân đạo
Khi không thể thực hiện đồng thời các nghĩa vụ theo chức năng nhiệm vụ thìdoanh nghiệp sẽ sắp xếp thứ tự, lựa chọn nghĩa vụ có khả năng thực hiện tốt nhất để
ưu tiên tiến hành trước Theo đó, nghĩa vụ cần được hoàn thành trước là kinh tế vàcuối cùng là nhân đạo Ví dụ: trách nhiệm sản xuất nhiều hàng hóa, của cải cho xãhội; trách nhiệm xử lý ô nhiễm môi trường không chỉ riêng của doanh nghiệp màcòn là của cơ quan quản lý môi trường, chính phủ và tổ chức phi chính phủ Thuếdoanh nghiệp phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định
Trong quản lý hiện đại, cách tiếp cận này có một số đóng góp như đòi hỏiphải gắn việc đánh giá về một tổ chức, hành vi với chức năng nhiệm vụ chính thứccủa nó Hạn chế chủ yếu của cách tiếp cận này là “khi nào doanh nghiệp hay tổ chứccho rằng mình đã thực hiện xong nghĩa vụ thứ nhất mới bắt đầu thực hiện các nghĩa
vụ tiếp theo”
Trang 32Sơ đồ 1.2: Tiếp cận theo thứ tự ưu tiên
Tiếp cận theo tầm quan trọng
Cách tiếp cận này cho rằng việc tách riêng hay thực hiện đồng thời các nghĩa
vụ là không thể do mối liên hệ giữa chúng, vì vậy doanh nghiệp cần thực hiện trước những nghĩa vụ được coi là quan trọng hơn Các nghĩa vụ được chia thành ba nhóm theo tầm quan trọng:
- Các nghĩa vụ cơ bản, gồm kinh tế và pháp lý cơ bản tối thiểu
- Các nghĩa vụ cần thiết, gồm kinh tế, pháp lý và đạo lý chính thức, cần thiết
- Các nghĩa vụ tiên phong, gồm phát triển, tiên phong, tự nguyện
Trang 33Sơ đồ 1.3: Tiếp cận theo tầm quan trọng
` Thực chất đây cũng là cách tiếp cận theo thứ tự ưu tiên nhưng thực tiễn hơn dođại diện cho cả hai quan điểm cổ điển và đánh thuế
Ưu điểm: cách tiếp cận này chỉ rõ tính chất, tầm quan trọng của các nghĩa vụ
và trách nhiệm thực hiện của doanh nghiệp nên việc xác minh, ra quyết định thựcthi, kiểm soát trở nên dễ dàng hơn
Hạn chế: thể hiện ở việc đặt ra thứ tự ưu tiên về nghĩa vụ để thực hiện Mặtkhác, phạm vi các nghĩa vụ càng về sau càng lớn dần làm cho việc ra quyết định trởnên khó khăn, vì vậy không có tác dụng khuyến khích doanh nghiệp thực hiện
Tiếp cận theo hoàn cảnh
Trang 34Do hoàn cảnh, tình huống ra quyết định không giống nhau dẫn đến đối tượng,mối quan tâm và nghĩa vụ phải thực hiện trong các hoàn cảnh đó cũng khác nhau, vìvậy cần có cách tiếp cận linh hoạt, phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn
Phương pháp cận này nhấn mạnh yếu tố năng lực ra quyết định của người quản lý
và đánh giá các quyết định dựa vào tính chính đáng của hành vi, đáp ứng được sựmong đợi của xã hội, buộc doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ mọi khía cạnh khi raquyết định và hành động Vì vậy, không chỉ các quyết định trở nên thực tiễn, toàndiện hơn, mà ý thức và sự chủ động của người ra quyết định cũng được phát huy
Cách tiếp cận này là biểu hiện quan điểm của các đối tượng hữu quan, vềnguyên tắc gồm:
- Phân tích kỳ vọng của các đối tượng hữu quan liên quan đến mộtquyết định, công việc, quá trình triển khai hay mục đích nhất định
- Tiến hành lựa chọn quyết định, cách thức hành động để thỏamãn nhiều nhất kỳ vọng của họ đồng thời giảm thiểu xung đột, mâu thuẫn cóthể nảy sinh
Phương pháp ra quyết định gồm ba bước:
- Xác định đối tượng hữu quan
- Xác minh kỳ vọng
- Xây dựng giải pháp
Ưu điểm: cách tiếp cận này trao quyền tự chủ, tự quyết, tự chịu trách nhiệmhoàn toàn cho doanh nghiệp, do đó kết quả thực hiện phụ thuộc vào nhận thức vànăng lực hành động của các thành viên
Hạn chế: các nghĩa vụ và việc thực hiện không rõ ràng Năng lực (nhận thức,phương pháp, kỹ năng) ra quyết định và ý thức đạo đức (động cơ, mục đích, trình độphát triển về ý thức đạo đức) của người ra quyết định, người thực hiện đóng vai tròquyết định
Trang 35CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Trình bày khái niệm đạo đức và đạo đức kinh doanh? Hãy cho biết đối tượngđiều chỉnh và phạm vi áp dụng của đạo đức kinh doanh?
2. Vấn đề đạo đức trong kinh doanh là gì? Cho ví dụ minh họa về các vấn đề đạođức kinh doanh điển hình của các doanh nghiệp trong nước?
3. Mâu thuẫn trong mối quan hệ kinh doanh có thể xuất hiện như thế nào? Cácmâu thuẫn có thể bắt nguồn từ đâu?
4. Hãy trình bày các khía cạnh của mâu thuẫn? Theo anh (chị) lĩnh vực nào xảy ramâu thuẫn cần quan tâm giải quyết, vì sao?
5. Để nhận diện các vấn đề về đạo đức kinh doanh cần tiến hành theo trình tự thếnào?
6. Đạo đức kinh doanh đóng vai trò thế nào trong quản trị doanh nghiệp?
7. Hãy trình bày nghĩa vụ kinh tế trong trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp?
8. Hãy trình bày nghĩa vụ pháp lý trong trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp?
9. Hãy trình bày nghĩa vụ về đạo đức trong trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp?
10.Hãy trình bày nghĩa vụ nhân văn trong trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp?
11.Hãy trình bày quan điểm đối với việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanhnghiệp và cách tiếp cận?
CHƯƠNG 2
NGHIÊN CỨU, TIẾP CẬN HÀNH VI VÀ XÂY DỰNG
ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
Trang 36MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
- Mục đích: trang bị cho người học kiến thức về xây dựng đạo đức
kinh doanh như: các khía cạnh thể hiện của đạo đức kinh doanh, quá trình raquyết định về hành vi đạo đức trong kinh doanh và xây dựng đạo đức kinhdoanh trong doanh nghiệp
- Yêu cầu: người học hiểu rõ các khía cạnh thể hiện của đạo đức
trong các chức năng của doanh nghiệp, trong quan hệ với các đối tượng hữuquan; nắm vững cách tiếp cận các vấn đề liên quan đến việc ra quyết định đạođức trong kinh doanh, làm rõ nhân tố của quá trình ra quyết định, trên cơ sở
đó xây dựng đạo đức kinh doanh
NỘI DUNG
2.1 CÁC KHÍA CẠNH THỂ HIỆN CỦA ĐẠO ĐỨC KINH DOANH 2.1.1 Xét trong chức năng của doanh nghiệp
2.1.1.1 Đạo đức trong quản trị nguồn nhân lực
Đạo đức trong tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng lao động
Phân biệt đối xử là việc không cho phép một người nào đó được hưởngnhững lợi ích nhất định xuất phát từ định kiến về phân biệt như: chủng tộc, giớitính, tôn giáo, vùng miền, văn hóa, tuổi tác Trong tuyển dụng và bổ nhiệm nhân
sự thường xuất hiện tình trạng naỳ, quyết định của người quản lý dựa trên cơ sởphân biệt đối xử chứ không dựa vào năng lực của người lao động và như vậy sẽ ảnhhưởng đến quyền lợi của người lao động
Vấn đề đạo đức khác nữa trong tuyển dụng, bổ nhiệm và sử dụng người laođộng là phải tôn trọng quyền cá nhân riêng tư của họ Để việc tuyển dụng đạt chấtlượng, người quản lý phải thu thập đầy đủ mọi thông tin (có tiền án tiền sự không,
Trang 37tình trạng sức khỏe, tài chính ) của người lao động nhưng không được can thiệpquá sâu vào đời tư của họ
Sử dụng chất xám của chuyên gia nhưng không đãi ngộ xứng đáng với côngsức đóng góp của họ cũng là vấn đề đạo đức mà các nhà quản lý cần quan tâm khituyển dụng, bổ nhiệm và sử dụng lao động Lợi nhuận của một doanh nghiệp và sựđóng góp của người lao động luôn có sự tương quan với nhau nên cần được xử lýmột cách phù hợp với lợi ích đôi bên
Đạo đức trong đánh giá người lao động
Hành vi hợp đạo đức của người quản lý là không được đánh giá người laođộng trên cơ sở định kiến mà phải dựa trên cơ sở họ thuộc một nhóm nào đó để xử
sự và đánh giá thuộc về nhóm đó chứ không dựa vào đặc điểm của cá nhân ấy Cácnhân tố tạo điều kiện duy trì và phát triển định kiến là: quyền lực, hiềm khích, ganhghét, thất vọng, tội lỗi và sợ hãi
Người quản lý có thể sử dụng phương tiện kỹ thuật để giám sát và đánh giángười lao động nhưng việc sát này phải nhằm đánh giá đúng khách quan, công bằng
về hiệu suất và năng lực làm việc của người lao động, nhằm đảm bảo bí mật thôngtin của doanh nghiệp để phòng ngừa hay sửa chữa kịp thời những hành động đingược lại lợi ích doanh nghiệp của người lao động thì mới hợp đạo lý Tuy nhiên,những thông tin thu thập được từ việc giám sát phải phục vụ cho doanh nghiệp;ngược lại, nếu sự giám sát nhằm vào những thông tin riêng tư hoặc chỉ phục vụ mụcđích cá nhân, trù dập thì không được chấp nhận về mặt đạo đức Thêm nữa, sựgiám sát nếu thực hiện không cẩn trọng và tế nhị có thể gây áp lực tâm lý bất lợinhư căng thẳng, thiếu tự tin, thậm chí khiến người lao động không tin tưởng
Đạo đức trong bảo vệ người lao động
Người lao động có quyền được làm việc trong môi trường an toàn, việc đảmbảo điều kiện lao động an toàn là hoạt động có đạo đức nhất trong vấn đề bảo vệngười lao động Còn vấn đề cung cấp trang thiết bị an toàn cho người lao động, chi
Trang 38thời gian nên một số doanh nghiệp không giải quyết thấu đáo, dẫn đến người laođộng gặp rủi ro, điều này rất đáng lên án về mặt đạo đức
Người quản lý sẽ bị quy trách nhiệm không có đạo đức trong các trường hợp:
- Không trang bị đầy đủ trang thiết bị an toàn cho người lao động,
cố tình duy trì các điều kiện nguy hiểm và không đảm bảo sức khỏe tại nơilàm việc
- Che giấu thông tin về mối nguy hiểm của công việc, làm ngơtrước một vụ việc có thể dự đoán và phòng ngừa được
- Bắt buộc người lao động thực hiện những công việc nguy hiểm
mà không cho phép họ có cơ hội từ chối, bất chấp thể trạng, khả năng vànăng lực của họ
- Không phổ biến kỹ quy trình, quy phạm sản xuất và an toàn chongười lao động
- Không thường xuyên kiểm tra thiết bị an toàn lao động để đề rabiện pháp khắc phục
- Không thực hiện các biện pháp chăm sóc y tế và bảo hiểm
- Không tuân thủ quy định của ngành, quốc gia, quốc tế về tiêuchuẩn an toàn
2.1.1.2 Đạo đức trong hoạt động marketing
Marketing và phong trào bảo hộ người tiêu dùng
Marketing là hoạt động hướng dòng lưu chuyển hàng hóa dịch vụ từ ngườisản xuất đến người tiêu dùng Triết lý của marketing là thỏa mãn tối đa nhu cầukhách hàng, nhờ đó tối đa hóa lợi nhuận doanh nghiệp và lợi ích của toàn xã hội Nguyên tắc chỉ đạo của marketing là tất cả hoạt động thuộc lĩnh vực này đều phảiđịnh hướng vào người tiêu dùng vì họ là người phán xét cuối cùng việc doanhnghiệp thất bại hay thành công Tuy nhiên, trên thực tế vẫn tồn tại sự bất bình đẳnggiữa người sản xuất và người tiêu dùng Người sản xuất có thế mạnh là kiến thức,
Trang 39kinh nghiệm, hiểu biết về sản phẩm để quyết định mọi việc liên quan khi đưa sảnphẩm ra thị trường; còn người tiêu dùng thì ở thế bị động, họ thường xuyên bị tấncông bởi các công cụ marketing hiện đại và hậu quả là phải chịu thiệt thòi lớn, sảnphẩm không đảm bảo chất lượng Vậy bất kỳ biện pháp marketing nào cung cấpthông tin mà dẫn đến quyết định sai lầm của người tiêu dùng thì đều bị coi là khônghợp lệ về mặt đạo đức
Các biện pháp marketing phi đạo đức
- Quảng cáo phi đạo đức: là việc lạm dụng quảng cáo từ phóng đại về sảnphẩm và che giấu sự thật tới lừa gạt hoàn toàn
Quảng cáo bị coi là phi đạo đức khi:
• Lôi kéo, nài ép, dụ dỗ người tiêu dùng ràng buộc với sản phẩmbằng những thủ thuật quảng cáo tinh vi, không cho người tiêu dùng cơ hộichuẩn bị, chống đỡ, lựa chọn hay tư duy bằng lý trí
• Quảng cáo tạo ra hay khai thác, lợi dụng niềm tin sai lầm về sảnphẩm gây trở ngại cho người tiêu dùng trong việc ra quyết định lựa chọn tối
ưu, dẫn người tiêu dùng đến quyết định lựa chọn lẽ ra họ không tiến hành nếukhông có quảng cáo
• Quảng cáo phóng đại vượt quá mức hợp lý có thể tạo nên tràolưu tiêu dùng sản phẩm đó, không đưa ra được những lý do chính đáng đốivới việc mua sản phẩm, ưu thế của nó với sản phẩm khác
• Quảng cáo và bán hàng trực tiếp cũng có thể lừa dối khách hàngbằng cách che giấu sự thật trong một thông điệp
• Quảng cáo đưa ra lời giới thiệu mơ hồ với những từ ngữ không
rõ ràng khiến khách hàng phải tự hiểu thông điệp ấy Những lời nói khônngoan này nhằm giúp nhà sản xuất tránh mang tiếng lừa đảo
• Quảng cáo có hình thức khó coi, sao chép, làm mất đi vẻ đẹp củangôn ngữ, cảnh quan thiên nhiên
Trang 40• Quảng cáo nhằm vào những đối tượng nhạy cảm như ngườinghèo, trẻ vị thành niên làm ảnh hưởng đến sự kiểm soát hành vi của họ vàquảng cáo nhồi nhét vào người tiêu dùng tư tưởng bạo lực, quyền thế lànhững quảng cáo mang theo sự xói mòn nền văn hóa
• Nhử và chuyển kênh: là biện pháp marketing dẫn dụ khách hàngbằng “mồi câu” để phải chuyển kênh sang mua sản phẩm khác giá cao hơn
• Lôi kéo: là biện pháp marketing dụ dỗ người tiêu dùng muanhững thứ mà lúc đầu họ không muốn và không cần đến bằng cách sử dụngbiện pháp bán hàng gây sức ép lớn, lôi kéo tinh vi, bất ngờ hoặc kiên trì.Chẳng hạn như nhân viên bán hàng được huấn luyện riêng với cách nóichuyện bài bản được soạn sẵn một cách kỹ lưỡng với lập luận thuộc lòng để
dụ dỗ người mua
• Bán hàng dưới chiêu bài nghiên cứu thị trường: sử dụng cácnghiên cứu thị trường nhằm tạo ra đợt bán điểm, thành lập danh mục kháchhàng tiềm năng hoặc sử dụng số liệu nghiên cứu thị trường để xây dựng cơ sở
dữ liệu thương mại phục vụ mục tiêu thiết kế sản phẩm Hoạt động này viphạm quyền riêng tư của người tiêu dùng vì đòi hỏi phải thu thập và sử dụngthông tin cá nhân về khách hàng