Đông nam á là khu vực thống nhất về văn hóa, lịch sử và địa lý Đông nam á là khu vực thống nhất về văn hóa, lịch sử và địa lý Đông nam á là khu vực thống nhất về văn hóa, lịch sử và địa lý Đông nam á là khu vực thống nhất về văn hóa, lịch sử và địa lý
Trang 1MỤC LỤC
A.Giới thiệu chung về khu vực Đông Nam Á 2
B Đông Nam Á là một khu vực thống nhất về văn hoá, lịch sử, địa lý 2
1 Văn hóa Đông Nam Á, một nền văn hóa thống nhất trong sự đa dạng 2 2.Tính thống nhất về lịch sử khu vực Đông Nam Á 5
-2.1 T TH I NGUYÊN TH Y ĐÊẾN XÃ H I CÓ GIAI CẤẾP VÀỪ Ờ Ủ Ộ NHÀ NƯỚ - 5 -C 2.2 GIAI ĐO N XÁC L P VÀ PHÁT TRI N TH NH Đ T C AẠ Ậ Ể Ị Ạ Ủ 7
-CÁC VƯƠNG QUỐẾC ĐỐNG NAM Á 7
-2.3 GIAI ĐO N SUY THOÁI C A CÁC QUỐẾC GIA PHONG KIÊẾNẠ Ủ 8
ĐỐNG NAM Á VÀ PHONG TRÀO ĐẤẾU TRANH CHỐẾNG ÁCH 8
-THỐẾNG TR C A CH NGHĨA TH C DẤN PHỊ Ủ Ủ Ự ƯƠNG TẤY 8
-2.4 ĐỐNG NAM Á T NĂM 1945 ĐÊẾN NAYỪ 9
3 Tính thống nhất về địa lí của khu vực Đông Nam Á 10
-3.1 Đ a lý t nhiênị ự 10
-3.2 Đ A LÝ KINH TÊẾ C A ĐỐNG NAM ÁỊ Ủ 11
-3.3Đ A LÍ VĂN HÓA C A ĐỐNG NAM ÁỊ Ủ 12
C Kết Luận 13
Tài Liệu Tham Khảo 14
Trang 2-A.Giới thiệu chung về khu vực Đông Nam Á
Đông Nam Á là một tiểu vùng của châu Á, có tất cả 11 quốc gia với sự đa dạng về tôn giáo, văn hóa và lịch sử Các nước Đông Nam Á nằm ở phía Đông của Tiểu Lục địa Ấn Độ, phía Nam Trung Quốc và phía bắc của Úc, giữa Ấn Độ Dương (phía tây) và Thái Bình Dương (ở phía đông)
Đông Nam Á rộng 4.494.047 km² và bao gồm 11 quốc gia : Việt nam, Campuchia, Đông Timor, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan và Brunei
Vào năm 2014, dân số của cả khu vực lên đến 612,7 triệu người (số liệu năm 2015)
Đông Nam Á là khu vực có nền văn hóa lâu đời, được tạo nên từ rất nhiều mối quan hệ và bản sắc riêng của mỗi dân tộc Tiếp cận văn hoá Đông Nam
Á ngày nay cái cảm nhận đầu tiên với mỗi người sẽ là một nền văn hoá đa dạng trong thống nhất Trong kho tàng văn hoá đồ sộ ấy dẫu có rất nhiều yếu
tố chung làm nên cái gọi là “khung” Đông Nam Á song cũng có không ít những yếu tố đặc sắc, riêng biệt tiêu biểu cho mỗi quốc gia, mỗi dân tộc
Để hoàn thiện một cái nhìn tổng quát nhất về Đông Nam Á , trong bài báo cáo này tôi sẽ đi nghiên cứu và khẳng định cho người đọc thấy được rằng :
“Đông Nam Á là khu vực thống nhất về văn hoá, lịch sử, địa lý “
B Đông Nam Á là một khu vực thống nhất về văn hoá, lịch sử, địa lý.
1 Văn hóa Đông Nam Á, một nền văn hóa thống nhất trong sự đa dạng
- Tính thống nhất, tính khu vực của Đông Nam Á trước hết được thể hiện ở chủ thể của văn hóa Đông Nam Á Ngay từ buổi bình minh của lịch sử _
Trang 3Đông Nam Á đã là một trong những cái nôi hình thành loài người, đây là địa bàn hình thành của đại chủng phương Nam (Australoid)
+ Vào khoảng 10.000 năm trước (thời đại đồ đá giữa), có một dòng người thuộc đại chủng Mongoloid từ phía dảy Himalaya thiên di về hướng Đông Nam, tới vùng Đông Nam Á thì dừng lại và hợp chủng với cư dân Melanesien bản địa (thuộc đại chủng Australoid), dẫn đến sự hình thành chủng Indonesien (cổ Mã Lai _ Đông Nam Á tiền sử) Với nước da ngăm đen, tóc quăn dợn sóng, nhỏ, thấp Từ đây chủng này lan tỏa, họ có mặt trên toàn bộ Đông Nam Á cổ đại Đông Nam Á cổ đại được xác định trên một khu vực địa lý rộng lớn Ngoài 11 nước Đông Nam Á hiện nay thì Đông Nam Á
cổ đại được xác định phía Bắc gồm toàn vùng Hoa Nam Trung Quốc (phía Nam sông Dương Tử), đảo Đài Loan, một số lảnh thổ ở Đông Bắc Ấn Độ, quần đảo Andaman và Nicoba trong vịnh Bengal, châu Đại Dương và cả đảo Madagasca ở Đông Nam châu Phi (tổ tiên chính là người Mã Lai di cư sang) +Chính mối liên hệ này đã tạo nên sự thống nhất cao độ của khu vực văn hóa Đông Nam Á Sự thống nhất do cùng một cội nguồn là một loại hình Indonesien, chính điều đó đã tạo ra bản sắc chung cho văn hóa Đông Nam Á
- Tính thống nhất về mặt văn hóa của khu vực và tính đa dạng của các tộc người lại làm nên những đặc trưng bản sắc riêng của từng vùng văn hóa được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, bao hàm trong nó rất nhiều thành tố cả
về vật chất lẩn tinh thần của văn hóa Đông Nam Á Đơn nhiên, trong quá trình phát triển, văn hóa Đông Nam Á đã tiếp thu nhều yếu tố mới từ bên ngoài mà tiêu biểu nhất là từ Trung Hoa, Ấn Độ, Ả Rập và phương Tây Nhờ
sự giao lưu này, văn hóa Đông Nam Á đã đạt được những thành tựu mới mẻ trong quá trình phát triển của mình Sau đây là một số điểm tiêu biểu được
+Về ngôn ngữ - chử viết: Sự đa dạng của ngôn ngữ được thể hiện ở chổ các quốc gia Đông Nam Á hiện có tới hàng chục, thậm chí hàng trăm ngôn ngữ khác nhau Như ở Indonesia có đến 200 ngôn ngữ dân tộc khác nhau cùng tồn tại; ở Philippin củng có tới 80 ngôn ngữ dân tộc khác nhau (1998) Tương
tự, các quốc gia Đông Nam Á khác củng là các quốc gia đa ngôn ngữ Tuy nhiên, các ngôn ngữ Đông Nam Á đều chỉ thuộc về một trong số 4 ngữ hệ sau đây: Nam Á, Nam Đảo, Thái, Hán – Tạng Và xa hơn nữa, chúng đều bắt nguồn từ một nguồn gốc chung là ngôn ngữ Đông Nam Á tiền sử Đó là một
sự thống nhất cao độ Về chữ viết, từ đầu công nguyên, khi cần ghi chép các
Trang 4dân tộc Đông Nam Á đã vay mượn chữ Hán (như ở Việt Nam) và chữ Pali – Sanskrit (ở các nước khác) của Trung Hoa, Ấn Độ để xây dựng chử viết riêng cho dân tộc mình Tuy nhiên, từ thế kỷ XIII , chử viết Ả Rập đã ảnh hưởng mạnh mẻ đến các quốc gia hải đảo như Malaysia, Indonesia Từ thế kỷ XVI, với sự can thiệp của các quốc gia phương tây, chử viết của các quốc gia Đông Nam Á được chuyển đổi theo hướng Latinh hóa (chữ viết Brunay, Malaysia, Indonesia, Philippin và Việt Nam) được sử dụng ngày nay + Về phong tục tập quán: Ở Đông Nam Á có đến hằng trăm dân tộc khác nhau, vì thế phong tục, tập quán rất đa dạng, tạo nên một bức tranh đa sắc Mặc dù rất đa dạng, song những tập tục ấy vẫn có nét gần gủi, tương đồng nhau, là mẩu số chung quy tụ, giao thoa trên nền tảng của cơ sở văn hóa bản địa Đông Nam Á _ Một nền tảng văn minh nông nghiệp trồng lúa nước Đó
là cách ăn mặc với một bộ trang phục chung là Sàrông (váy), khố, vòng đeo tai, vòng đeo cổ,… Đó là tục ăn uống với các thức ăn chính là cơm, rau, cá
và hoa quả (hiện nay, thịt ngày càng quan trọng trong cuộc sống hiện đại) Đó
là tục ăn hỏi trước khi tổ chức đám cưới linh đình Tục chôn theo người chết những thứ cần thiết cho cuộc sống mà khi còn sống họ thường ưa thích Đó là tục nhai trầu, cưa và nhuộm răng đen, xăm mình; rồi đến cả các trò vui chơi giải trí như thả diều, thi chọi gà, bơi thuyền,… Trong cách ăn ở, ngôi nhà chung của các dân tộc Đông Nam Á là nhà sàn “cao cẳng” thích hợp với mọi địa hình của khu vực và phù hợp với khí hậu nóng ẩm của khu vực Đông
+ Về lể hội: Củng giống như sự đa dạng của phong tục, tập quán Có thể nói,
ở mổi dân tộc mùa nào, tháng nào trong năm củng có lể hội Nếu thống kê con số lể hội thì chắc chắn sẽ có đến con số hàng trăm Tất nhiên, trong sự đa dạng ấy, các lể hội ở Đông Nam Á chủ yếu tập trung vào ba hình thức chính:
Lễ hội nông nghiệp (Như lễ xuống đồng của người Việt, lễ mở đường cày đầu tiên của người Thái, lễ dựng chòi cày của người Chăm,…), lễ hội tôn giáo (như lễ hội chùa Keo, chùa Hương ở Việt Nam,…), lễ tết (như tết
+ Về tín ngưỡng bản địa: Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, cùng sinh ra và lớn lên trong một khu vực địa lí, văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước Tín ngưỡng bản địa Đông Nam Á dù hết sức đa dạng, nhiều vẽ nhưng vẫn thuộc
về ba loại chính: Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên (Các cư dân Đông Nam Á như ở Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanma, Indonesia,… thờ cả hạc, rùa, rắn, voi, cá sấu,…), tín ngưỡng phồn thực (thờ sinh thực khí tượng trưng cho
cơ quan sinh dục nam, nữ; các tục tóe nước, tục cầu mưa, tục đánh đu,…), tín
Trang 5ngưỡng thờ cúng người đã mất (tục thờ cúng tổ tiên, ông bà) Cái chung đó xuất phát từ thuyết vạn vật hữu linh, tức thuyết mọi vật đều có hồn Tóm lại, ở mọi thành tố của văn hóa Đông Nam Á, chúng ta đều có thể thấy một sự thống nhất trong muôn hình muôn vẽ sự tồn tại đa dạng của chúng ở
Văn hóa Đông Nam Á ngày nay vừa là sự kế thừa và phát huy vốn văn hóa bản địa truyền thống vừa là sự tiếp thu có chọn lọc những yếu tố mới từ bên ngoài, cả phương Đông lẩn phương Tây Trong kho tàng văn hóa đồ sộ của Đông Nam Á có rất nhiều yếu tố chung, làm nên cái “khung” Đông Nam Á, song củng có không ít những yếu tố đặc sắc, riêng biệt tiêu biểu cho mổi quốc gia, mổi dân tộc Nói cách khác văn hóa Đông Nam Á là nền văn hóa
Có thể khẳng định Đông Nam Á có có một bản sắc văn hóa riêng và ngày càng tiến bộ Đông Nam Á hiện nay đang phát triển kinh tế, đất nước hết sức nhanh chóng và mạnh mẽ Mà văn hóa là động lực quan trọng nhất của của
sự phát triển một nước, một khu vực Với bề dày văn hóa mang bản sắc chung, đặc sắc, các quốc gia Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng
sẽ tiến xa hơn nửa, đạt được nhiều thành tựu mới trong tương lai, Đông Nam
Á sẽ trở thành một khu vực hòa bình, ổn định, một khu vực phát triển, thịnh vượng của thế giới
2.Tính thống nhất về lịch sử khu vực Đông Nam Á
2.1 TỪ THỜI NGUYÊN THỦY ĐẾN XÃ HỘI CÓ GIAI CẤP VÀ NHÀ NƯỚC
Thời kỳ đồ đá cũ, kỹ thuật chế tác công cụ Đông Nam Á vừa mang trình độ chung của kỹ thuật đá cũ thế giới, vừa có những đặc trưng khu vực, thể hiện tính trội của văn hóa đá cuội (Pebble culture) và những công cụ chặt có dáng thô (Chopper và Chopping-tool)
Sau phát hiện công cụ đá giữa ở Sumatra, người ta phát hiện hàng loạt công
cụ đá cuội ghè đẽo hai mặt ở Hòa Bình Kỹ thuật Hòa Bình có mặt trên nhiều địa điểm ở Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Inđônêxia, Trong một số hang ở Hòa Bình, người ta đã tìm thấy dấu vết của bào tử phấn hoa họ rau, đậu Ở Thái
Trang 6Lan, người ta còn tìm thấy cả hạt của một số loài đậu và bầu bí Niên đại của các
di chỉ này khoảng 12.000 năm Vì vậy, thuật ngữ “Văn hóa Hoà Bình” được dùng phổ biến để chỉ nền văn hóa sau đá cũ của khu vực Đông Nam Á hay còn gọi là đá giữa hay đá mới trước gốm hoặc đá mới sơ kỳ Chủ nhân của nền văn hóa này vẫn kết hợp săn bắn với hái lượm để tận dụng nguồn thức ăn phong phú từ thiên nhiên Tuy nhiên, nông nghiệp trồng vườn xuất hiện, được coi là sớm nhất của nhân loại
Ở lớp trên của di chỉ văn hóa Hòa Bình đã xuất hiện những công cụ đá có
mài lưỡi Loại công cụ này đã được tìm thấy ở trong các hang động Bắc Sơn (Lạng Sơn - Việt Nam) Ngay sau đó, người ta đã phát hiện được các loại công cụ tương tự như ở Nia (Sarawak), Guakechin (Malaixia), Bukittalang (Sumatra), Kemđenglombu (Giava) và thuật ngữ “Văn hóa Bắc Sơn” cũng có thể tiêu biểu cho giai đoạn đá mới trung kỳ ở Việt Nam và Đông Nam Á, với niên đại khoảng 10.000 năm đến 6000 năm, thuộc loại sớm nhất thế giới Ở giai đoạn này, gốm và
ở nông nghiệp trồng rau củ có dấu vết rõ rệt hơn.
Đông Nam Á bước vào giai đoạn đá mới hậu kỳ từ khoảng 6000 năm trước đây với những công cụ đá có diện mài rộng hơn, đồ gốm và đồ trang sức phong phú, đẹp đẽ hơn, nhất là việc chuyển từ nông nghiệp trồng vườn sang trồng lúa Thể hiện rõ nét ở dấu vết hạt lúa in trên gốm hay trấu trộn trong gốm ở Đông Bắc Thái Lan có niên đại 6000 năm Hay bào tử phấn hoa lúa Oryza ở một hay thuộc văn hóa Bắc Sơn Hay dao đá cắt lúa ở Thái Lan và liềm đá ở Campuchia
Rõ ràng, cũng như các khu vực tiên tiến khác trên thế giới, Đông Nam Á đã
có sự chuyển biến mạnh mẽ từ nông nghiệp trồng rau củ sang nông nghiệp trồng lúa, từ thuần dưỡng sang chăn nuôi gia súc, kết hợp với sự phát triển nghề làm đồ gốm và dệt vải Tuy nhiên, việc hái lượm và săn bắn vẫn có vị trí quan trọng Điều
đó cho thấy Đông Nam Á là một trong những trung tâm nông nghiệp phát triển và
là một trong những mô hình nông nghiệp chủ yếu trên thế giới
Do tính chất phân tán của địa bàn tự nhiên và sự hạn chế dân số đã làm cho
kỹ thuật và nền kinh tế nông nghiệp ở Đông Nam Á chựng lại và mất vị trí dẫn đầu Sang đến thiên niên kỷ II TCN, thậm chí đến nửa sau thiên niên kỷ này, cư dân Đông Nam Á mới tiến dần đến các chân ruộng thấp, đến đồng bằng rộng lớn hơn, tức là chậm hơn ít nhiều so với đồng bằng sông Hoàng Hà, Sông Ấn, Sông Hằng, Lưỡng Hà, Ai Cập
Sự phát triển không đồng đều thể hiện rõ rệt ở các vùng châu thổ sông
Hồng, cao nguyên Corạt, đồng bằng Irrawaddy, Menam, Tổnlesap, chính vì vậy, thời đại đồ đồng xuất hiện sớm ở Việt Nam, Thái Lan hơn các vùng khác Trong khoảng hai thiên niên kỷ cuối TCN, xã hội có giai cấp và nhà nước của người Việt
đã có những biểu hiện khá rõ ràng Trong khi đó, một số vùng ở Đông Nam Á mới bắt đầu vào giai đoạn đồ đồng và nhìn chung tốc độ tiến bộ đã chậm lại đáng kể so với các khu vực tiên tiến trên thế giới
Trang 7Vào những thế kỷ tiếp giáp Công nguyên, trên cơ sở phát triển của đồ đồng,
đồ sắt bắt đầu được sử dụng phổ biến ở Đông Nam Á, các tộc người ở Đông Nam
Á nói chung, bắt đầu đứng trước ngưỡng cửa của sự hình thành xã hội có giai cấp
và nhà nước Từ đầu Công nguyên đến thế kỷ II là giai đoạn lịch sử sơ kỳ của các nước trong khu vực Đông Nam Á Hàng loạt các quốc gia sơ kỳ ở miền Nam của khu vực như các tiểu quốc của cư dân nói tiếng Nam Đảo hình thành ven biển từ Nam Hải Vân (Việt Nam) đến bán đảo Malaya và trên một số hải đảo Còn các tiểu quốc của cư dân nói tiếng Môn - Khmer hình thành trên lưu vực sông
Irrawaddy, Menam, Sêmụn, Mệcông Đáng chú ý nhất là vai trò của nước Phùnam
và Champa
Sự hình thành các quốc gia sơ kỳ Đông Nam Á dựa trên sự sáng tạo của các nhóm tộc người khi đồ sắt và văn hóa bản địa phát triển với sự tiếp thu một cách tự nhiên ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc Sự trao đổi và liên hệ giữa các quốc gia sơ kỳ trong khu vực cũng đồng thời tạo nên bản sắc văn hóa riêng của mỗi tiểu quốc, mỗi tộc người trên bình diện chung của khu vực
2.2 GIAI ĐOẠN XÁC LẬP VÀ PHÁT TRIỂN THỊNH ĐẠT CỦA
CÁC VƯƠNG QUỐC ĐÔNG NAM Á
Sau khi vương quốc Phùnam tan rã (thế kỷ VII), một số quốc gia sơ kỳ mới được thành lập như Sivijaya, Kalinga ở Inđônêxia, quốc gia của người Khmer, người Môn, người Mianma, người Thái, Những quốc gia Đông Nam Á trong giai đoạn này thường được xây dựng trên nòng cốt của một bộ tộc đông đảo Và mặc dùlà bước đầu, song đã xuất hiện những kỳ tích văn hóa, điển hình như tổng thể kiếntrúc Borobudua (Borobudur) ở Java
Giai đoạn này, mỗi tộc người đều cố gắng khẳng định chỗ đứng của mình
bằng việc xác lập những vương quốc trên cơ sở một nền kinh tế vững chắc và một nền văn hóa dân tộc ổn định Các quốc gia phong kiến Đông Nam Á bước vào giai đoạn phát triển thịnh đạt trên nhiều mặt Nhiều vùng kinh tế quan trọng có khả năng cung cấp một khối lượng lớn sản phẩm lớn, không những đủ chi dùng cho cư dân khu vực mà còn xuất ra các khu vực khác trên thế giới Nhiều công trình văn hóa, nghệ thuật, nhiều nhà tư tưởng, chiến lược gia kiệt xuất của loài người xuất hiện, đóng góp vào kho tàng văn hóa của loài người Đây cũng là giai đoạn Đông Nam Á vừa tiếp thu, vừa lan tỏa ra bên ngoài khu vực những giá trị lớn về văn hóa Các nhóm ngữ tộc trên con đường xác lập vương quốc riêng của mình cũng khác nhau Người Môn, rút cục đã không thể đứng vững để duy trì vương quốc của
Trang 8họ trong cơn bão táp thiên di của người Thái, Mianma từ phương Bắc xuống Nhómcư dân nói tiếng Mã Lai Đa đảo đã lập nên vương quốc cổ Champa khá sớm,nhưng đến thế kỷ XV-XVII đã bị chuyển hóa thành một bộ phận của nước Việt Nam Một bộ phận khác ở bán đảo Malaya đã lập ra các tiểu quốc nhưng mãi đến thế kỷ XV, dưới ảnh hưởng của văn minh hồi giáo, hồi quốc Malacca mới tương đối hùng mạnh ảnh hưởng ra cả bán đảo và một phần Sumatra Một bộ phận khác của nhóm này đã trở thành nòng cốt xây dựng một số quốc gia sơ kỳ trên các đảo ở Indônêxia
Mặc dầu phát triển không đồng đều: Campuchia lớn mạnh từ thế kỷ IX và
suy thoái vào thế kỷ XIV; các quốc gia Thái, Lào hình thành muộn hơn (từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XIV), nhưng nhìn chung, thế kỷ XVI là bước ngoặt suy thoái của các vương quốc Đông Nam Á
Trong giai đoạn này khi các quốc gia Đông Nam Á vươn lên mạnh mẽ, thì ở các khu vực khác trên thế giới bị chững lại Ấn Độ thường xuyên có những biến động bên trong và sự lan tỏa văn hóa ra bên ngoài giảm hẳn xuống Trung Quốc bị khủng hoảng và suy thoái liên miên Châu Âu bị chìm đắm trong “đêm trường trung cổ” Vó ngựa Mông Cổ tràn khắp lục địa Á, Âu nhưng bị chặn lại ở Đại Việt
và Đông Nam Á Chính vì vậy, Đông Nam Á đã đạt tới đỉnh cao phát triển của mình và có lẽ của cả loài người
2.3 GIAI ĐOẠN SUY THOÁI CỦA CÁC QUỐC GIA PHONG KIẾN
ĐÔNG NAM Á VÀ PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHỐNG ÁCH
THỐNG TRỊ CỦA CHỦ NGHĨA THỰC DÂN PHƯƠNG TÂY
Sau giai đoạn phát triển thịnh đạt, Đông Nam Á bước vào giai đoạn suy thoái Sự suy thoái không diễn ra đồng đều ở các nước trong khu vực mà tùy theo điều kiện cụ thể mỗi nước Điểm chung nhất là các quốc gia Đông Nam Á
từ thế kỷ XVI trở đi đã không còn đủ sức thực hiện những đòi hỏi của nền kinh
tế xã hội và những cuộc chiến tranh liên miên để xác định lãnh thổ và quyền lực, những tiềm năng của đất nước đã được tận dụng hết Chính vì vậy, khi chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm nhập, các quốc gia Đông Nam Á không còn đủ sức để tự bảo vệ mình nữa
Chế độ phong kiến ở Đông Nam Á ngày càng khủng hoảng toàn diện về chính trị, kinh tế, xã hội Những cuộc xung đột giữa các tập đoàn phong kiến, giữa các bộ tộc làm cho tình trạng chia cắt xảy ra phổ biến, sức sản xuất giảm
Trang 9sút, nhân dân đói khổ, mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ phong kiến ngày càng gay gắt dẫn đến các cuộc khởi nghĩa nông dân lớn càng thúc đẩy mạnh hơn sự suy yếu của chế độ phong kiến các nước
Trong tình hình như vậy, các công ty thương mại châu Âu đã từng bước xác lập quyền lực của mình ở khu vực này Bồ Đào Nha là cường quốc châu Âu đầu tiên xác lập địa vị của mình ở các cứ điểm quan trọng thuộc Malacca, Inđônêxia, Philippin, Sau cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản, các cường quốc tư bản dần dần thay thế địa vị của Bồ Đào Nha và đặt Đông Nam Á dưới chế độ thuộc địa của nó Tây Ban Nha cai trị Philippin gần 3 thế kỷ và phải nhường cho Mỹ vào đến thế kỷ XX Hà Lan thay thế địa vị của
Bồ Đào Nha ở Inđônêxia từ thế kỷ XVII Anh xác lập quyền đô hộ của mình ở bán đảo Malaya, Mianma Pháp ở Đông Dương và phân chia quyền lực với Anh
ở Thái Lan
Nhân dân các nước Đông Nam Á cũng không ngừng nổi dậy đấu tranh
chống chủ nghĩa thực dân phương Tây Trong giai đoạn từ đầu đến giữa thế kỷ XIX, phong trào dân tộc các nước Đông Nam Á diễn ra dưới ngọn cờ của giai cấp địa chủ phong kiến Từ giữa thế kỷ XIX đến hết chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc các nước Đông Nam Á diễn ra dưới ngọn cờ lãnh đạo của giai cấp tư sản và công nhân thuộc địa
2.4 ĐÔNG NAM Á TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY
Vào những năm cuối của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa phát xít thất bại liên tiếp trên khắp các chiến trường Ở Đông Nam Á, phong trào đấu tranh chống phát xít Nhật diễn ra sôi nổi dưới nhiều hình thức phong phú, đều thu được những thắng lợi quan trọng Ở nhiều nước, cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi, dẫn đến sự ra đời của các nhà nước độc lập Nhưng ngay sau đó, các thế lực đế quốc lấy danh nghĩa giải giáp vũ khí của quân Nhật đã nhảy vào Đông Nam Á, đàn áp các lực lượng yêu nước và lập lại ách thống trị trước đây
Ở Đông Dương, thực dân Pháp quay lại tiến hành cuộc chiến tranh tàn khốc, ròng rã 9 năm trời Ở Inđônêxia, thực dân Hà Lan tái xâm lược kéo dài đến năm
1949 mới chấm dứt Ở Malaixia, thực dân Anh quay lại chiếm đóng đến năm
1957 mới kết thúc Ở Mianma, thực dân Anh cũng âm mưu lập lại ách thống trị đến năm 1947 mới rút quân Ở Philippin, đế quốc Mỹ thông qua các hiệp định
“viện trợ” quân sự và kinh tế để đặt lại các căn cứ quân sự
Sau thất bại của Pháp tại chiến trường Đông Dương (1954), Mỹ nhảy vào
Trang 10thay thế Pháp, lôi kéo cả Đông Nam Á vào cuộc chiến tranh chống 3 nước Đông Dương Nhân dân Việt Nam cùng nhân dân Lào, Campuchia đã kiên cường chiến thắng cuộc xâm lược của đế quốc Mỹ và chư hầu, lập nên kỳ tích năm 1975 Các nước Đông Nam Á bước vào một giai đoạn mới xây dựng và phát triển kinh tế Tuy nhiên, nhiều vấn đề mới nảy sinh ở khu vực như: vấn đề Campuchia, vấn đề biển Đông, sự gia nhập tổ chức ASEAN của các nước Việt Nam, Lào, Campuchia và Mianma, quyền tự chủ của nhân dân đông Timo, thu hút sự chú ý của nhiều nước trên thế giới Tổ chức ASEAN đã đóng vai trò tích cực trong việc giải quyết các vấn đề tồn đọng Hiện nay, các quốc gia trong khu vực đều có mặt trong tổ chức ASEAN, cùng nhau ngồi vào bàn hội nghị để nỗ lực giải quyết các vướng mắc nhằm “xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa, hợp tác bình đẳng và giúp đỡ lẫn nhau trong nhiều lĩnh vực, nhằm tăng cường cơ sở cho một cộng đồng thịnh vượng, hòa bình và ổn định của các quốc gia Đông Nam Á “(tuyên
bố Bằngkok 8/8/1967)
3 Tính thống nhất về địa lí của khu vực Đông Nam Á
3.1 Địa lý tự nhiên
Đông Nam Á là một khu vực trải ra từ khoảng 92° kinh Đông đến 140° kinh Đông và từ khoảng 28° vĩ Bắc đến 15° vĩ Nam Diện tích toàn khu vực ước khoảng 4 triệu km?, dân số hiện nay khoảng gần 400 triệu người Bản đồ hành chính của khu vực Đông Nam Á hiện nay gồm 11 nước Đông Nam Á lục địa gồm 6 nước là Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma và Malaixia, Đông Nam Á hải đảo gồm 5 nước là Inđônêxia, Brunei, Singapore, Philippin và Đông Timo
Đông Nam Á nằm giữa hai đại dương lớn là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương Do điều kiện vị trí địa lí như vậy, lẽ ra Đông Nam Á có điều kiện khí hậu khắc nghiệt, nhưng Đông Nam Á lại là phần chủ yếu và tiêu biểu của khu vực “Châu Á gió mùa” nên đã giảm bớt những khắc nghiệt của khí hậu cận chí tuyến và xích đới
Gió mùa và khí hậu biển đã làm cho Đông Nam Á đáng lẽ khô cằn trở lên xanh tốt và trù phú Gió mùa đã tạo nên cho Đông Nam Á hai mùa tương đối rõ rệt Mùa khô lạnh mát và mùa mưa tương đối nóng, ẩm Mùa mưa kéo dài từ tháng tư đến tháng 11 với những cơn mưa nhiệt đới có quy luật đã cung cấp cho con người đủ nước dùng trong đời sống và sản xuất trong năm, đồng thời cũng