Phân tích hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính của công ty cổ phần traphaco Phân tích hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính của công ty cổ phần traphaco Phân tích hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính của công ty cổ phần traphaco
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-NGUYỄN TRỌNG QUYỀN
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ VÀ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TRAPHACO
BÀI TẬP GIỮA KỲ
Môn học: Phân tích tài chính nâng cao
Mã học viên: 20057305
Hà Nội – 2021
Trang 2MỤC LỤC
Chương I: Tổng quan về Công ty cổ phần Traphaco (TRA) 2
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần Traphaco 2
1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty cổ phần Traphaco 2
1.3 Khái quát tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Traphaco 3
1.3.1 Lĩnh vực kinh doanh 3
1.3.2 Năng lực sản xuất 4
1.3.3 Đầu vào 4
1.3.4 Đầu ra 6
1.3.5 Đặc điểm ngành kinh doanh chính – ngành đông dược 8
1.4 Bối cảnh chung ngành dược 11
1.4.1 SWOT ngành 11
1.4.2 Môi trường vi mô 12
Chương II: Phân tích hoạt động đầu tư của Công ty cổ phần Traphaco 16
2.1 Đầu tư tài sản ngắn hạn 16
2.2 Đầu tư tài sản dài hạn 17
2.3 So sánh với công ty cổ phần Dược Hậu Giang (DHG) 18
Chương III: Phân tích hoạt động tài chính của Công ty cổ phần Traphaco 20
3.1 Cơ cấu nợ phải trả và vốn chủ sở hữu 20
3.2 Vốn lưu động ròng 21
3.3 Hệ số đòn bẩy tài chính 21
3.4 So sánh với công ty cổ phần Dược Hậu Giang (DHG) 22
Danh mục tham khảo 25
Trang 3Chương I: Tổng quan về Công ty cổ phần Traphaco (TRA)
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần Traphaco
Công ty cổ phần Traphaco, mã cổ phiếu TRA
Tên giao dịch quốc tế: TRA (Pharmaceutical & Medical Stock Company)
Trụ sở chính của Công ty đặt tại: Số 75 – Phố Yên Ninh – Quận Ba Đình – Hà Nội.Ngày 26/11/2008, mã cổ phiếu TRA của Công ty chính thức giao dịch tại Sở giao dịchchứng khoán TP.HCM (HOSE)
1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty cổ phần Traphaco
Nguồn: Báo cáo thường niên CTCP Traphaco
Trang 41.3 Khái quát tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Traphaco
1.3.1 Lĩnh vực kinh doanh
TRA là DN hoạt động chính trong lĩnh vực:
- Sản xuất và kinh doanh dược phẩm, hóa chất, vật tư và thiết bị y tế
- Thu mua, gieo trồng, chế biến dược liệu
- SXKD dược phẩm, hóa chất và vật tư thiết bị y tế
- Pha chế thuốc theo đơn
- Tư vấn sản xuất dược phẩm, mỹ phẩm
- Kinh doanh xuất nhập khẩu nguyên phụ liệu làm thuốc, các sản phẩm thuốc
- Sản xuất, buôn bán mỹ phẩm
Về sản phẩm chủ lực, tận dụng nguồn dược liệu phong phú và nền y học cổ truyềnlâu đời, TRA đã lựa chọn nghiên cứu và sản xuất các sản phẩm Đông Dược trên nềncông nghệ cao Hiện TRA có trên 230 sản phẩm, trong đó nhóm top 10 có tốc độ tăngtrưởng cao và tiềm năng chính Theo báo cáo của IMS, trong nhóm hàng OTC (thuốckhông cần đơn của bác sĩ) TRA xếp thứ 2 về doanh thu, chiếm 3,4% thị phần, sảnphẩm tiêu biểu của TRA phải kể đến Boganic – tăng cường chức năng gan và Hoạthuyết dưỡng não, xếp hạng lần lượt là 3 và 13 về mặt doanh thu tại thị trường OTC(theo IMS Health), mang về nguồn thu chủ yếu chiếm ½ trên tổng doanh thu Bên cạnhsản phẩm đông dược, TRA lấn sân sang mảng tân dược, cạnh tranh bằng công nghệ cao
và tận dụng sản xuất nhượng quyền
Sứ mệnh: Tiên phong sáng tạo dược phẩm Xanh bảo vệ sức khỏe con người.Dược phẩm xanh là dược phẩm được sản xuất trên nền tảng chuỗi cung ứng xanh
từ nguồn nguyên liệu đến công nghệ sản xuất sạch, hệ thống phân phối, dịch vụ thânthiện với môi trường
Trang 51.3.2 Năng lực sản xuất
Về đông dược, trong khi các nhà sản xuất khác ở Việt Nam phải nhập khẩu 90%dược liệu, TRA đã là doanh nghiệp dược đầu tiên của Việt Nam tự cung cấp được 72%dược liệu cho nhu cầu sản xuất của mình Phần dược liệu còn lại được thu mua trongnước (20%) hoặc nhập khẩu (8%) do một số cây thuốc đặc biệt phải trồng ở vùng ônđới Vùng nguyên liệu của TRA gồm 36.000 ha vùng trồng đạt tiêu chuẩn GACP-WHO cho 10 loại dược liệu khác nhau phục vụ các nhóm sản phẩm chính của TRA.Hàng năm, vùng nguyên liệu này trồng được 2.200 tấn dược liệu theo tiêu chuẩnGACP- WHO, cao nhất trong các doanh nghiệp tự trồng dược liệu tại Việt Nam (BVPharma là 500 tấn, Domesco là 250 tấn) Hiện tại TRA đang có 2 nhà máy với tổngcông suất sản xuất là 1 tỷ đơn vị sản phẩm 1 năm Cụ thể, nhà máy sản xuất tại Hà Nộiđạt tiêu chuẩn GMP-WHO rộng 9.000 m2 và nhà máy Đông dược tại Hưng Yên rộng40.000m2
1.3.3 Đầu vào
Công ty cổ phần Traphaco là công ty tiên phong sáng tạo dược phẩm xanh - sảnxuất trên nền tảng chuỗi cung ứng xanh từ nguyên liệu đến công nghệ sản xuất sạch,bảo vệ sức khỏe con người Những năm qua, với chiến lược phát triển "Con đường sứckhỏe xanh", TRA đã tận dụng những lợi thế về đa dạng sinh học của Việt Nam và nền yhọc cổ truyền lâu đời phong phú để phát triển thuốc từ dược liệu Công ty không ngừngnghiên cứu, phát triển chuỗi giá trị xanh từ nguyên liệu - công nghệ - sản phẩm - dịch
vụ phân phối TRA là một trong số ít doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư nghiên cứu theohướng khác biệt hóa trong hướng đi để tạo ra sự đột phá trong tăng trưởng, nhanhchóng trở thành thương hiệu dẫn đầu trong ngành dược của Việt Nam TRA tiên phongxây dựng vùng trồng theo GACP-WHO và đã xây dựng được trên 800 ha vùng trồngcho hơn 10 loại dược liệu chủ lực tại 28 tỉnh, thành phố trên toàn quốc Hướng đi nàyphù hợp với "Chiến lược quốc gia phát triển ngành dược Việt Nam giai đoạn đến năm
Trang 62030" đã được Thủ tướng phê duyệt.
TRA tiên phong xây dựng vùng trồng theo GACP-WHO và đã xây dựng được trên
800 ha vùng trồng cho hơn 10 loại dược liệu chủ lực tại 28 tỉnh, thành phố trên toànquốc
Bà Vũ Thị Thuận, Chủ tịch HĐQT TRA cho biết, việc chủ động nguồn nguyên liệuđầu vào được xem là vấn đề rất quan trọng với TRA, tránh được ảnh hưởng của khủnghoảng kinh tế thế giới, góp phần giảm nhập siêu, tạo doanh thu cho các doanh nghiệpViệt Nam là vệ tinh của TRA Xét về tổng thể, nhằm kết nối, quy hoạch các vùng cungcấp nguyên liệu cho Công ty, TRA đã thúc đẩy nghiên cứu thành công dự án Greenplan Công ty đã hợp tác với người nông dân, với các doanh nghiệp, các nhà khoa họctrong việc nghiên cứu giống, nghiên cứu quy trình trồng, áp dụng công nghệ GACP(trồng sạch), nghiên cứu quy trình chế biến sau thu hoạch Dự án này đã mang lại choTRA nguồn nguyên liệu đầu vào ổn định về chất lượng cũng như số lượng Cũng theo
bà Thuận, hầu như những vùng trồng dược liệu có quy hoạch đều xuất phát từ nhu cầucủa những sản phẩm chủ lực của doanh nghiệp nào đó Như TRA có vùng trồng đinhlăng (ở Nam Định), nghệ vàng (Thái Nguyên), rau đắng đất (Phú Yên), atisô (Sapa, ĐàLạt) Một số dược liệu được khai thác 100% tại Việt Nam như đinh lăng trong sảnphẩm hoạt huyết dưỡng não, chè dây trong sản phẩm Ampelop, Actiso trong sản phẩmBoganic Trên thực tế, các vùng dược liệu phát triển dựa vào trọng tâm là các doanhnghiệp sản xuất dược phẩm sử dụng cây dược liệu, với mô hình liên kết với nông dân,theo đó, công ty hỗ trợ giống và kỹ thuật; người dân trồng và hái Mô hình liên kết vớinông dân của các công ty TRA, Nam Dược, Dược phẩm OPC đã hình thành nên cácvùng trồng đinh lăng, atisô, đương quy, cúc hoa vàng, kim tiền thảo, dây thìa canh,kinh giới, nghệ vàng tương đối ổn định Hiện tại, TRA đã chủ động được 70%nguyên liệu đầu vào và tự túc được hơn 90% nhu cầu dược liệu trong sản xuất thuốc.Khoảng 30 nghìn tấn dược liệu sạch mỗi năm đã được sử dụng tại TRA
Trang 71.3.4 Đầu ra
Thị trường nội địa: Hiện các sản phẩm của TRA chủ yếu tiêu thụ ở thị trường nộiđịa thông qua 1 công ty con phân phối, 28 chi nhánh đại diện và 40 đại lý trải rộngkhắp trên 64 tỉnh thành Theo đánh giá của IMS Health Việt Nam, TRA sở hữu 1,3%thị phần dược Việt Nam, trong đó thị trường OTC (những sản phẩm mà người tiêudùng có thể ra hiệu thuốc mua về sử dụng an toàn và hiệu quả mà không cần sự chỉ dẫn
và theo dõi của bác sĩ - PV) chiếm 3,43%, đứng thứ 2 sau Sanofi Trong khi đó, mứctăng trưởng của thị trường dược Việt Nam được kỳ vọng ở mức 2 con số trong một thờigian dài nữa Chi tiêu cho dược phẩm bình quân đầu người mỗi năm của Việt Nam chỉmới đạt mức 111 USD, thấp xa so với nhiều nước trong khu vực, như Thái Lan là 264USD hoặc Malaysia là 423 USD Thêm vào đó, tầng lớp trung lưu tại Việt Nam ngàycàng đông, ý thức bảo vệ sức khỏe ngày càng được nâng cao
TRA chọn thị trường ngách sản xuất thuốc đông dược trên nền công nghệ cao làcách hóa giải các khó khăn và tránh cạnh tranh với các đối thủ mạnh Bằng cách này,TRA tận dụng những lợi thế về đa dạng sinh học của Việt Nam và nền y dược học cổtruyền lâu đời để phát triển những loại thuốc đông dược dễ dùng, tiện lợi, có tính antoàn cao, thoát khỏi việc phụ thuộc nguyên liệu nhập để tối ưu hóa giá thành sản xuất
Và đến thời điểm này, cũng không có quá nhiều người chơi gia nhập vào thị trườngđông dược
Bên cạnh các sản phẩm dược phẩm được sản xuất trong nhà máy hiện đại theo cáctiêu chuẩn thực hành tốt, các sản phẩm thực phẩm chức năng từ đông dược đã gópphần giúp TRA đi đến chiến lược quan trọng là tập trung vào thị trường OTC Lựachọn phân khúc OTC đồng nghĩa với việc sản phẩm được bán với số lượng rất lớn,được xem như mặt hàng tiêu dùng hơn là thuốc.Để phát triển thành công thị trườngOTC đòi hỏi xây dựng một mạng lưới phân phối tốt Cách đi của TRA khác hẳn nhiều
Trang 8công ty dược khác, vốn dựa vào hệ thống bán buôn - dù việc bán hàng sẽ nhẹ nhànghơn (vì chỉ giao cho một số đầu mối đảm trách việc phân phối), nhưng tính lệ thuộc rấtcao và dễ tạo ra những cơn sốt giá ảo khiến khách hàng quay lưng Nếu mối quan hệvới nhà phân phối có trục trặc, việc kinh doanh sẽ ngay lập tức gián đoạn Ban lãnh đạoTRA nhận thức rõ không thể phó mặc số phận vào tay các đại lý, mà phải tự xây dựng
hệ thống bán lẻ đến tận tay người tiêu dùng Để làm được điều này, TRA đã ứng dụngcông nghệ thông tin để hỗ trợ tối đa cho công tác bán hàng Theo đó, TRA trang bị cácphần mềm cho hệ thống nhà thuốc, máy tính bảng cho nhân viên bán hàng Mọi dữ liệumua bán được truyền thẳng về máy chủ công ty nhanh chóng giúp ban lãnh đạo cậpnhật tình huống theo thời gian thực để có những điều chỉnh chiến lược phù hợp, ngoài
ra giúp nâng cao năng suất bán hàng, thống nhất giá bán lẻ trên thị trường, tối ưu hóaviệc sản xuất, xử lý tồn kho.Và hiện nay gần 80% doanh thu của TRA đến từ thị trườngOTC nhờ vào hệ thống phân phối Với hệ thống phân phối được xây dựng bài bản,vững chắc, giờ đây TRA đang hưởng lợi ích kép, khi nhiều tập đoàn dược nước ngoàimuốn cùng hợp tác để phân phối thuốc cho họ Cái bắt tay giữa TRA và Tập đoànNovartis của Thụy Sỹ gần đây đã minh chứng cho điều này TRA là nhà phân phối độcquyền các sản phẩm của Novartis và tất yếu công ty sẽ có thêm nguồn thu mới.Thị trường xuất khẩu: Không chỉ khẳng định uy tín ở thị trường trong nước, gầnđây, TRA đã xuất khẩu thuốc sang một số nước trong khu vực như Myanma, Lào,Campuchia, Ucraina Hiện tại, các sản phẩm của TRA đã được đăng ký bảo hộ ở trên
20 quốc gia trên thế giới
Một khảo sát của IMS cho thấy, Việt Nam có thể sản xuất thuốc theo tiêu chuẩnEU-GMP có chi phí rất cạnh tranh trên thế giới, thấp hơn 30% so với các doanh nghiệpdược phẩm Ấn Độ, 40% so với Nhật Bản và 20% so với Trung Quốc, chủ yếu nhờ cáclợi thế đặc thù như nhân công, quản trị tốt Như vậy, bên cạnh thị trường trong nướcTRA có thể bước chân ra biển lớn bằng việc xuất khẩu
Trang 91.3.5 Đặc điểm ngành kinh doanh chính – ngành đông dược
Ở thế giới, Mỹ vẫn là nước dẫn đầu trong việc chi tiêu cho thuốc, chiếm khoảng34% tổng giá trị tiêu thụ thuốc toàn cầu Tiếp theo là Nhật Bản chiếm 12% Trung bìnhcác nước kém phát triển sẽ dành khoảng 5,7% GDP cho hệ thống chăm sóc y tế, trongkhi con số này ở các nước phát triển là 12,3% Chi tiêu cho thuốc ở các nước phát triểnvẫn chiếm 67% tổng chi tiêu của toàn cầu, sau đó đến các nước thuộc nhóm thị trườngmới nổi Tuy nhiên, thị trường dược của các nước mới nổi phát triển với tốc độ nhanh
và sẽ dần thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển Giá thuốc ở các nước đang vàchậm phát triển vẫn còn cao so với thu nhập người dân, một phần vì chi phí khá lớncho hệ thống phân phối đến vùng sâu vùng xa, chi phí nhập khẩu do hầu hết các nướcđang phát triển phải nhập nguyên liệu hoặc thành phẩm Ở khu vực Đông Nam Á,Singapore được xem là trung tâm thương mại dược phẩm quan trọng bậc nhất trongkhu vực và trên thế giới
Ngành dược luôn đóng góp một phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế, gópphần tạo ra công ăn việc làm và trên hết đó là nghĩa vụ cao đẹp: bảo vệ sức khỏe vàtính mạng con người Do đó mà hoạt động nghiên cứu và phát triển luôn được quantâm đầu tư, đặc biệt là ở các nước phát triển và các tập đoàn dược đa quốc gia Hoạtđộng chuyển giao công nghệ luôn là bước quan trọng giúp các doanh nghiệp dược ởcác nước đang phát triển tiếp thu công nghệ hiện đại nhằm đưa ngành công nghiệpdược phẩm trong nước phát triển lên tầm cao mới, góp phần phát triển kinh tế, cải thiệnđời sống Bên cạnh đó thì hoạt động xuất khẩu thuốc cũng được xem là thế mạnh củacác doanh nghiệp dược ở các nước phát triển Châu Âu được xem là cái nôi của hoạtđộng xuất khẩu thuốc khi mà các sản phẩm thuốc chiếm hơn ¼ tổng sản lượng xuấtkhẩu các sản phẩm công nghệ cao của châu Âu Trong thời gian gần đây, Ấn Độ, Israel
Trang 10và Singapore nổi lên như những nhà xuất khẩu mới của thị trường dược phẩm thế giới.Các nước này dựa vào doanh thu để tái đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển
để củng cố vị thế trên thị trường Tuy nhiên, các nước đang phát triển cũng nhận rađược vai trò của việc phát triển ngành công nghiệp dược trong nước nên đã khuyếnkhích các doanh nghiệp của mình đầu tư cải thiện chất lượng sản phẩm và chủ động vềnguồn nguyên liệu đầu vào
Ngành dược Việt Nam cũng có nhiều đặc điểm tuân theo xu hướng của toàn cầukhi phải đối mặt với những vấn đề bệnh tật đến từ việc già hóa dân số, ô nhiễm môitrường sống và chế độ dinh dưỡng không hợp lý Việt Nam cũng vẫn phụ thuộc khánhiều vào thuốc nhập khẩu với 63% giá trị toàn thị trường Tuy nhiên đã xuất hiệnnhững tín hiệu tích cực khi tốc độ tăng trưởng của các sản phẩm nội địa đạt 13%, caohơn một chút so với đà tăng của sản phẩm nhập khẩu ở mức 12%
Thị phần ngành công nghiệp dược Việt Nam tăng trưởng khoảng 24%/năm, tuynhiên doanh số thu được gần như thấp nhất khu vực với 0,8 tỷ USD/năm, trong khiTrung Quốc là 18,8 tỷ USD, Ấn Độ 7,6 tỷ USD, Philippines 2,3 tỷ USD
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện Việt Nam đang đứngthứ 16 trong số 22 nước có ngành công nghiệp dược đang phát triển dựa theo tiêu chítổng giá trị tiêu thụ thuốc hàng năm (4,8 tỷ USD) Tiêu thụ các loại thuốc Việt Namvẫn chủ yếu tập trung vào điều trị các bệnh liên quan đến chuyển hóa và dinh dưỡngchiếm tỷ trọng cao nhất là 20%
Doanh nghiệp sản xuất thuốc trong nước chia làm 4 nhóm: Nhóm cổ đông lớn làTổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC), nhóm doanh nghiệp có cổđông lớn là Tổng Công ty Dược Việt Nam, nhóm cổ đông lớn là các cơ quan nhà nước
và nhóm cổ đông lớn không thuộc nhà nước
Hiện Việt Nam có khoảng 178 doanh nghiệp sản xuất thuốc, trong đó có 98 doanhnghiệp sản xuất thuốc tân dược; 80 doanh nghiệp sản xuất thuốc đông dược, doanh
Trang 11nghiệp FDI Ngoài ra, có trên 300 cơ sở sản xuất thuốc đông dược.
Biên lợi nhuận của ngành dược tương đối ổn định và đang được cải thiện trong vàinăm nay do tận dụng được việc tối ưu giá vốn đầu vào, chính sách ưu đãi của Chínhphủ (thuế TNDN), chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp
Các doanh nghiệp dược có lợi thế cạnh tranh trong sản xuất chủ yếu từ chi phí sảnxuất giá rẻ Sản xuất thuốc theo tiêu chuẩn EU-GMP hiện đang có chi phí rẻ hơn 30%
so với các doanh nghiệp dược phẩm tại Ấn Độ, 40% so với Nhật Bản, 20% so vớiTrung Quốc
Các yếu tố làm chi phí sản xuất của doanh nghiệp dược Việt Nam rẻ là chi phínhân công chất lượng cao rẻ, chi phí xây dựng cơ bản thấp, chi phí vận hành thấp, chiphí về xử lý môi trường thấp và các quy định về đăng ký lưu hành thuốc tương đốimềm mỏng
Quy mô các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu vẫn thuộc nhóm doanh nghiệp vừa vànhỏ cả về tài chính lẫn nhân lực Các nhà máy trong nước đều sản xuất danh mục sảnphẩm tương đối giống nhau Hậu quả là phần lớn các doanh nghiệp tập trung sản xuấtthuốc thông thường, trong khi đó có quá ít cơ sở sản xuất thuốc có dạng bào chế đặcbiệt và thuốc chuyên khoa đặc trị do đó rất khó cạnh tranh với thị trường quốc tế.Trong "Chiến lược quốc gia phát triển ngành Công nghiệp Dược đến năm 2020, tầmnhìn đến năm 2030", Chính phủ đang có kế hoạch đầu tư tới 1,5 tỷ USD cho ngànhDược trong 10 năm tới đây, nhằm giảm sự phụ thuộc vào thuốc nhập khẩu
Trang 121.4 Bối cảnh chung ngành dược
1.4.1 SWOT ngành
Điểm mạnh (S):
- Các công ty Việt nam có sẵn hệ thống
phân phối, chi nhánh và mối quan hệ với
các cơ sở điều trị tại địa phương
- Chi phí sản xuất thấp, cạnh tranh với
các nước khác do tiêu chuẩn sản xuất
thấp (GMP-WHO so với EU- GMP),
nguồn lao động giá rẻ, chi phí xây dựng
cơ bản và vận hành thấp, hạ tầng giao
thông thuận tiện, chi phí xử lý mỗi
trường, cấp phép và ưu đãi thuế cạnh
tranh
Điểm yếu (W):
- Có quá nhiều doanh nghiệp cùng khaithác một thị trường, phát triển nhỏ lẻ,thiếu quy hoạch và phát triển dài hạn
- Đa số doanh nghiệp vẫn theo tiêuchuẩn sản xuất WHO-GMP, tiêu chuẩnnày đã khá lạc hậu
- Năng lực R&D của các doanh nghiệpcòn yếu kém
- Hầu hết các nguyên liệu phải nhậpkhẩu
- Các quy định pháp lý còn lỏng lẻo,đang trong giai đoạn tiếp thu và hoànthiện
Cơ hội (O):
- Mức tiêu thụ thuốc đầu người còn thấp
so với khu vực và thế giới, dự kiến tăng
trưởng lớn trong 40-50 năm tới
- Dân số bước vào giai đoạn già hóa, tỷ
lệ người Việt Nam trên 65 tuổi chiếm đến
21% vào năm 2050
- Tỷ lệ bệnh tật gia tăng nhanh ở nhóm
Thách thức (T):
- Các quy định pháp lý và năng lực của
cơ quan quản lý không thay đổi kịp theobiến động của thị trường, hoặc chậmđược nâng cấp, cải tiến
- Sự canh tranh khốc liệt giữa các doanhnghiệp trong nước với nhau và với cáctập đoàn nước ngoài đang thâm nhập vàokhâu sản xuất tại Việt Nam
Trang 13ung thư, tim mạch.
- Quá trình tái cấu trúc đang diễn ra
mạnh mẽ, dịch chuyển từ số lượng sang
1.4.2 Môi trường vi mô
Phân tích SWOT của Công ty cổ phần Traphaco
Điểm mạnh:
Sở hữu thương hiệu hàng đầu về Đông dược với mức độ nhận biết cao Cơ sở hạtầng, trang thiết bị hiện đại với 2 nhà máy đạt tiêu chuẩn GMP-WHO Hoạt động R&Dmạnh chính là lợi thế cạnh tranh lớn nhất của TRA Hàng năm doanh thu từ sản phẩmmới đều chiếm khoảng 7% tổng doanh thu Hệ thống phân phối đứng thứ 2 so với cáccông ty dược niêm yết, rộng khắp toàn quốc Sử dụng 80% nguyên liệu đầu vào là cácnguyên liệu trong nước