Thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác kiểm tra của cơ quan thuế đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi trái ph
Trang 1HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
Người hướng dẫn khoa học:
TS Nguyễn Thúc Hương Giang
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Thúc Hương Giang
Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực
và có nguồn gốc rõ ràng Chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
ĐÀM THỊ THU THỦY
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC BẢNG
BẢNG KÝ HIỆU DANH MỤC VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 5
1.1 Lý luận chung về thanh tra, kiểm tra thuế 5
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thanh tra, kiểm tra thuế 5
1.1.2 Nguyên tắc thanh tra, kiểm tra thuế 8
1.1.3 Yêu cầu đối với thanh tra, kiểm tra thuế 10
1.1.4 Phân loại thanh tra, kiểm tra thuế 11
1.1.5 Phương pháp thanh tra, kiểm tra thuế 12
1.2 Những vấn đề cơ bản về thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp: 15
1.2.1 Trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan thuế trong thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 15
1.2.2 Quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế 17
1.2.3 Quy trình thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp: 18
1.3 Nội dung và hình thức thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp, các tiêu chí đánh giá kết quả và hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra thuế: 23
1.3.1 Đối với kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế 23
1.3.2 Thanh tra, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế: 23
1.3.3 Các tiêu chí đánh giá kết quả và hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra thuế 26
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp 28
1.5 Kinh nghiệm về thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế quản lý rủi ro tại một số nước 30
1.5.1 Về tổ chức bộ máy thanh tra, kiểm tra theo cơ chế quản lý rủi ro: 30
Trang 61.5.2 Dữ liệu và thông tin 31
1.5.3 Kỹ thuật quản lý và phân tích dữ liệu 32
1.5.4 Quản lý nguồn lực cán bộ thanh tra, kiểm tra 33
1.5.5 Các công cụ hỗ trợ công tác thanh tra, kiểm tra 34
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI VĂN PHÒNG CỤC THUẾ THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2011 – 2013 37
2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội và tổ chức quản lý thuế tại Văn phòng Cục Thuế thành phố Hà Nội 37
2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội 37
2.1.2 Giới thiệu chung về Văn phòng Cục Thuế Hà Nội: 39
2.2 Thực trạng công tác thanh tra thuế, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Văn phòng Cục thuế thành phố Hà Nội: 46
2.2.1 Công tác xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế: 46
2.2.2 Công tác tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế 55
2.3 Các hình thức gian lận và các sai phạm về thuế chủ yếu mà Văn phòng Cục thuế thành phố Hà Nội đã phát hiện qua công tác thanh tra thuế trong thời gian qua: 72
2.3.1 Thuế GTGT 72
2.3.2 Về thuế TNDN: 74
2.3.3 Thuế TNCN: 76
2.3.4 Thuế nhà thầu: 77
2.4 Đánh giá chung về công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Văn phòng Cục thuế thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2011-2013: 83
2.4.1 Những kết quả đạt được 83
2.4.2 Tồn tại và hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm 86
CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI VĂN PHÒNG CỤC THUẾ THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN TỚI 91
3.1 Quan điểm đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế 91
Trang 73.1.1 Việc hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế phải phù hợp với chiến
lược cải cách thuế 92
3.1.2 Công tác thanh tra, kiểm tra thuế phải được hoàn thiện theo hướng góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả của quản lý thuế 93
3.1.3 Hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế phải trên cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế khách quan 93
3.1.4 Hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế phải hướng tới tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế 94
3.2 Các giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Cục thuế thành phố Hà Nội trong thời gian tới 95
3.2.1 Xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu người nộp thuế phục vụ hiệu quả cho công tác thanh tra, kiểm tra 95
3.2.2 Phát triển và mở rộng các kỹ năng thanh tra, kiểm tra thuế 97
3.2.3 Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa bộ phận thanh tra, kiểm tra thuế với các bộ phận khác trong cơ quan thuế và phối hợp các ngành có liên quan trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế 99
3.2.4 Tiếp tục phát triển về số lượng, chất lượng nguồn nhân lực thanh tra, kiểm tra thuế của Văn phòng Cục thuế Hà Nội 102
3.2.5 Giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế đối với một số lĩnh vực đặc biệt 104
3.3 Kiến nghị 108
3.3.1 Về cơ chế chính sách: 108
3.3.2 Bổ sung thẩm quyền cho cơ quan thuế 108
3.3.3 Hoàn thiện chế tài xử lý vi phạm về thuế 109
3.3.4 Xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra 109
3.3.5 Đổi mới căn bản chế độ tiền lương đối với công chức nhà nước 109
3.3.6 Xây dựng chế độ đãi ngộ đối cới công chức làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế 110
KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 8
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng số 2.1: Số lượng cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế tại Văn phòng 44Cục thuế thành phố Hà Nội giai đoạn 2011 - 2013 44Bảng số 2.2:Tình hình thực hiện thu NSNN tại Văn phòngCục Thuế thành phố Hà Nội từ năm 2011 đến năm 2013 45Bảng số 2.3:Số lượng cơ sở kinh doanh phải kiểm tra hồ sơ khai thuếtại trụ sở cơ quan thuế giai đoạn 2011 – 2013của Văn phòng Cục thuế thành phố Hà Nội 51Bảng số 2.4:Kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế tại trụ sởngười nộp thuế giai đoạn
2011 – 2013của Văn phòng Cục thuế thành phố Hà nội 54Bảng số 2.5:Kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế giai đoạn 2011 – 2013của Văn
phòng Cục thuế thành phố Hà Nội tổng hợp theo phòng kiểm tra và số hồ sơ khai thuế 57Bảng số 2.6:Kết quả kiểm tra tại trụ sở người nộp thuếgiai đoạn 2011 - 2013 tại Văn phòng Cục thuế thành phố Hà Nội 61Bảng số 2.7:Kết quả thanh tra thuế giai đoạn 2011 – 2013 củaVăn phòng Cục thuế thành phố Hà Nội 64Bảng số 2.8:Kết quả kiểm tra về thuế GTGTtại Công ty TNHH Deloitte Việt Nam: 78Bảng số 2.9:Kết quả kiểm tra về thuế TNDNtại Công ty TNHH Deloitte Việt Nam: 80
Trang 9BẢNG KÝ HIỆU DANH MỤC VIẾT TẮT
NNT: Người nộp thuế
GTGT: Giá trị gia tăng
TNDN: Thu nhập doanh nghiệp
Trang 101
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân
Hiện nay Công tác quản lý thuế theo cơ chế tự khai tự nộp đang được áp dụng ở nước ta Trong đó thanh tra, kiểm tra thuế là một trong những chức năng quan trọng nhất trong công tác quản lý thuế, là cách thức cơ bản để cơ quan thuế cảnh báo, ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những gian lận thuế Thanh tra, kiểm tra thuế cũng giúp phát hiện những bất hợp lý trong chính sách thuế và pháp luật thuế để nghiên cứu bổ sung, sửa đổi kịp thời nhằm phát huy tốt nhất vai trò của thuế trong việc đảm bảo số thu cho ngân sách nhà nước và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Bởi vậy, muốn nâng cao hiệu quả quản lý thuế, một trong những việc mà cơ quan thuế các cấp phải làm là thường xuyên hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Trong những năm qua, Văn phòng Cục thuế thành phố Hà Nội đã hoàn thành tốt nhiệm vụ thu ngân sách, tốc độ tăng trưởng năm sau luôn cao hơn năm trước Trong kết quả chung của Văn phòng Cục thuế thành phố Hà Nội có phần đóng góp không nhỏ của công tác thanh tra, kiểm tra thuế Tuy nhiên, công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Văn phòng Cục thuế thành phố Hà Nội vẫn còn những hạn chế nhất định, cần nghiên cứu hoàn thiện để góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý thuế
Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp tại Văn phòng Cục thuế thành phố Hà Nội” là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn thiết thực
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng phạm vi nghiên cứu của đề tài là công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp
Phạm vi nghiên cứu là công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp do Văn phòng Cục thuế thành phố Hà Nội trực tiếp quản lý trong giai đoạn
2011 – 2013
Trang 112
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích tổng quát của luận văn là tìm các giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Văn phòng Cục thuế thành phố Hà Nội
Các mục tiêu cụ thể của luận văn là:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
- Đánh giá thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Văn phòng Cục thuế thành phố Hà Nội; chỉ ra những thành công và hạn chế cũng như những nguyên nhân chủ quan, khách quan
- Đề xuất phương hướng, giải pháp thích hợp để hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp; qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả quản
lý thuế của Văn phòng Cục thuế thành phố Hà Nội
4 Tổng quan về tình hình nghiên cứu của đề tài
Thanh tra, kiểm tra thuế là chức năng rất quan trọng của hoạt động quản lý thuế nên thời gian qua ở Việt Nam có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này với sự tham gia nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà quản lý, nghiên cứu sinh và học viên cao học Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu sau đây:
- “Giáo trình Quản lý thuế” của Học viện Tài chính có một chương viết về
thanh tra, kiểm tra thuế (Chương 6) Tài liệu này đã cung cấp những vấn đề lý luận
về thanh tra, kiểm tra thuế và giới thiệu nghiệp vụ cơ bản của công tác thanh tra, kiểm tra thuế ở nước ta Đây là công trình mang tính học thuật, trang bị lý luận cơ bản để tiếp cận và nghiên cứu chuyên sâu về thanh tra, kiểm tra thuế
- Cục thuế tỉnh Quảng Ninh với công trình nghiên cứu “Công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục thuế tỉnh Quảng Ninh” trình bày tại Hội nghị tổng kết công
tác thuế năm 2011 của Tổng cục Thuế Công trình này trình bày về tầm quan trọng của công tác thanh tra, kiểm tra thuế do cơ quan thuế thực hiện, đánh giá thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục thuế tỉnh Quảng Ninh năm 2011
Trang 12- “ Tác động của công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với công tác quản lý thuế” của thanh tra Tổng cục Thuế trong báo cáo chuyên đề tại Hội nghị tổng kết
công tác thuế năm 2013 của Tổng cục Thuế Tác giả phân tích làm rõ các nội dung liên quan đến kết quả công tác thanh tra thanh tra, kiểm tra thuế 2013, kế hoạch và giải pháp năm 2014 trong toàn ngành
- “Thanh tra 585 doanh nghiệp FDI có dấu hiệu chuyển giá” của Tuấn Việt,
Tạp chí Thuế nhà nước số 45 (355)-Kỳ I/12/2011 Tác giả phân tích làm rõ các nội dung liên quan đến công tác thanh tra theo chuyên đề chống chuyển giá tại các doanh nghiệp FDI trên phạm vi cả nước đến hết năm 2010, từ đó tập hợp đưa ra các hành vi vi phạm và các biện pháp tổ chức thực hiện trong thời gian tới đối với cơ quan thuế các cấp
- “Cục Thuế Thái Bình: Một số kinh nghiệm trong công tác thanh tra chống chuyển giá” của Xuân Thị Vinh, trang thông tin Cục Thuế Thái Bình
(thaibinh.gdt.gov.vn) ngày 17/01/2013 , tác giả đánh giá tổng quát về nội dung thanh tra chống chuyển giá, kết quả thực hiện của Cục Thuế Thái Bình, các kinh nghiệm rút ra qua công tác thanh tra, biện pháp hoàn thiện
Ngoài ra còn các công trình nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh nhất định của thanh tra, kiểm tra thuế như:
- “Giải pháp khắc phục những bất cập của thuế GTGT” (2011) của ThS
Nguyễn Thanh Hưng
Trang 134
- “Chống chuyển giá cần giải pháp đồng bộ” của TS Nguyễn Minh Phong”
in trên Tạp chí Thuế ngày 29/8/2012
- “Những kiến thức, kỹ năng cần thiết của công chức làm công tác kiểm tra thuế” (2013) của Lê Minh Nhựt Cổng thông tin điện tử Cục Thuế Kon Tum
Qua nội dung tóm tắt các công trình đã nghiên cứu về vấn đề này cho thấy, đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp do Văn phòng Cục thuế thành phố Hà Nội trực tiếp quản lý Tuy nhiên, những vấn đề lý luận hoặc một số phần thực tiễn Việt Nam nói chung thì đã được đề cập ở nhiều công trình khoa học khác Đây là nền tảng lý luận mà luận văn này có thể kế thừa để đi sâu nghiên cứu thực tiễn hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ở Văn phòng Cục thuế thành phố Hà Nội
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, luận văn được trình bày trong 3 chương
Cụ thể như sau:
Chương I: Lý luận chung về thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ở
Việt Nam hiện nay
Chương II: Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Văn phòng Cục thuế thành phố Hà Nội giai đoạn 2011 – 2013
Chương III: Các giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Văn phòng Cục thuế thành phố Hà Nội trong thời gian tới
Trang 145
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Lý luận chung về thanh tra, kiểm tra thuế
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thanh tra, kiểm tra thuế
1.1.1.1 Khái niệm thanh tra, kiểm tra thuế
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân.Tất cả các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đều được đáp ứng qua các nguồn thu từ thuế, phí
và các hình thức thu khác như: vay mượn, viện trợ nước ngoài, bán tài nguyên quốc gia, thu khác vv Song thực tế các hình thức thu ngoài thuế đó có rất nhiều hạn chế, bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện Do đó thuế được coi là khoản thu quan trọng nhất vì khoản thu này mang tính chất ổn định và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu này càng tăng
Quản lý thuế là việc tổ chức thực thi pháp luật thuế của Nhà nước, là hoạt động tác động và điều hành hoạt động đóng thuế của NNT [Trang 9 - Giáo trình Quản lý thuế Học viện Tài chính]
Hiện nay Công tác quản lý thuế theo cơ chế tự khai tự nộp đang được áp dụng ở nước ta Trong đó thanh tra, kiểm tra thuế là một trong những chức năng quan trọng nhất trong công tác quản lý thuế, là cách thức cơ bản để cơ quan thuế cảnh báo, ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những gian lận thuế Thanh tra, kiểm tra thuế cũng giúp phát hiện những bất hợp lý trong chính sách thuế và pháp luật thuế để nghiên cứu bổ sung, sửa đổi kịp thời nhằm phát huy tốt nhất vai trò của thuế trong việc đảm bảo số thu cho ngân sách nhà nước và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Bởi vậy, muốn nâng cao hiệu quả quản lý thuế, một trong những việc mà cơ quan thuế các cấp phải làm là thường xuyên hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Thanh tra, kiểm tra thuế là một trong những chức năng quan trọng nhất trong công tác quản lý thuế, bởi vì thanh tra, kiểm tra thuế là cách thức cơ bản để cơ quan
Trang 156
thuế cảnh báo, ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những gian lận thuế Thanh tra, kiểm tra thuế cũng giúp phát hiện những bất hợp lý trong chính sách thuế và pháp luật thuế để nghiên cứu bổ sung, sửa đổi kịp thời nhằm phát huy tốt nhất vai trò của thuế trong việc đảm bảo số thu cho ngân sách nhà nước và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Bởi vậy, muốn nâng cao hiệu quả quản lý thuế, một trong những việc mà cơ quan thuế các cấp phải làm là thường xuyên hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình
thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt
ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá về tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế của đối tượng kiểm tra [Trang 214 - Giáo trình Quản lý thuế Học viện Tài chính]
Thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác
kiểm tra của cơ quan thuế đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và
xử lý những hành vi trái pháp luật [Trang 214 - Giáo trình Quản lý thuế Học viện Tài chính]
Thanh tra là một hoạt động kiểm tra nên giữa thanh tra và kiểm tra có những điểm giống nhau
Điểm giống nhau cơ bản của thanh tra và kiểm tra là chúng đều phải xem xét tình hình thực tế của đối tượng nhằm phát hiện, phân tích, đánh giá thực trạng tình hình, làm rõ đúng sai, chỉ rõ nguyên nhân để có biện pháp khắc phục Do vậy, giữa thanh tra và kiểm tra có thể có cùng nội dung hoặc phương pháp tiến hành trong những phạm vi công việc nhất định
Tuy nhiên, giữa kiểm tra và thanh tra có các điểm khác nhau cơ bản sau: Thứ nhất, chủ thể của thanh tra không đồng nhất với đối tượng thanh tra
Chủ thể thanh tra là tổ chức thanh tra chuyên trách của Nhà nước; đối tượng thanh tra là đối tượng quản lý của Nhà nước Chủ thể của kiểm tra có thể đồng nhất,
có thể không đồng nhất với đối tượng kiểm tra Chẳng hạn, khi đơn vị tự kiểm tra thì chủ thể và khách thể kiểm tra là một Chủ thể kiểm tra thuế có thể là cơ quan nhà nước, có thể không phải là cơ quan nhà nước
Trang 167
Thứ hai, tính chất của thanh tra là một hoạt động quyền lực của cơ quan quản
lý nhà nước Kiểm tra là hoạt động trung tính, có thể là hoạt động quyền lực quản lý nhà nước, mà có thể là hoạt động quản lý đơn thuần
Thứ ba, mục đích của thanh tra là phát hiện, ngăn chặn những hành vi trái
pháp luật Mục đích của kiểm tra là phát hiện những sai lệch của đối tượng kiểm tra
để điều chỉnh và ngăn chặn những sai lệch ấy (sai lệch có thể là vi phạm pháp luật,
có thể chỉ là không đúng kế hoạch, không đúng yêu cầu, )
Thứ tư, hoạt động kiểm tra có phạm vi rộng hơn, diễn ra ở tất cả các hoạt
động kinh tế - xã hội và được thực hiện một cách thường xuyên liên tục Hoạt động thanh tra có phạm vi hẹp hơn vì hoạt động thanh tra là kiểm tra ở giai đoạn sau khi các hoạt động kinh tế - xã hội đã phát sinh Hoạt động thanh tra phải giải quyết các
“tồn đọng” trong quản lý, giải quyết các khiếu tố đối với các vi phạm của đối tượng kiểm tra
Thứ năm, về hình thức tổ chức: để tiến hành hoạt động thanh tra phải thành
lập đoàn thanh tra, trong khi kiểm tra có thể phải thành lập đoàn kiểm tra, có thể chỉ
do một người tiến hành, không nhất thiết phải thành lập đoàn Cũng có trường hợp cấp trên yêu cầu cấp dưới tự kiểm tra một hoặc một số nội dung và báo cáo kết quả bằng văn bản cho cấp trên
Công tác thanh tra và kiểm tra tuy có những điểm khác nhau song đều là những hoạt động không thể thiếu trong công tác quản lý của Nhà nước Việc phân biệt thanh tra và kiểm tra không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc tổ chức, chỉ đạo, tránh sự chồng chéo, giảm bớt phiền hà cho các đối tượng được thanh tra, kiểm tra [ Trang 215, 216 - Giáo trình Quản lý thuế Học viện Tài chính]
1.1.1.2 Đặc điểm của thanh tra, kiểm tra thuế
Thanh tra, kiểm tra thuế là một lĩnh vực đặc thù với các đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, thanh tra, kiểm tra thuế có phạm vi rộng Đối tượng thanh tra,
kiểm tra là các tổ chức, cá nhân trong ngành Thuế, là đối tượng nộp thuế bao gồm mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của các luật thuế
Trang 178
Thứ hai, thanh tra, kiểm tra thuế là công tác rất khó khăn, phức tạp vì nó
đụng chạm trực tiếp đến lợi ích kinh tế của đối tượng nộp thuế Để che giấu các hành vi trốn thuế nhằm bảo vệ lợi ích vật chất của mình, các đối tượng nộp thuế thường tìm mọi biện pháp cản trở, gây khó khăn cho công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế
Thứ ba, thanh tra, kiểm tra thuế là công việc đòi hỏi rất cao về năng lực
chuyên môn và phẩm chất đạo đức của người cán bộ làm việc trong lĩnh vực này
Để xác định đúng đắn nghĩa vụ thuế của đối tượng thanh tra, đòi hỏi người cán bộ thuế không chỉ nắm chắc các luật thuế mà còn phải nắm bắt được bản chất các hoạt động kinh tế của đối tượng thanh tra, tức là người cán bộ thanh tra còn phải có sự
am hiểu sâu rộng về kinh tế, giỏi kế toán, sâu sắc trong tư duy lô gíc Đồng thời, người cán bộ thanh tra thuế cần phải có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh vững vàng
vì thường xuyên phải làm việc trong môi trường có sự cám dỗ về vật chất
1.1.2 Nguyên tắc thanh tra, kiểm tra thuế
Mục đích của thanh tra, kiểm tra thuế là phát huy nhân tố tích cực, ngăn ngừa, xử lý những sai phạm gây tổn thất tới lợi ích của Nhà nước, của nhân dân, của các doanh nghiệp, góp phần hoàn thiện chính sách thuế, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Để đạt được mục đích trên, công tác thanh tra, kiểm tra thuế phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định Đó là các nguyên tắc sau:
1.1.2.1 Nguyên tắc tuân thủ pháp luật
Pháp luật thể hiện ý chí của nhà nước, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân Thanh tra, kiểm tra thuế là kiểm tra việc thực hiện pháp luật nên phải tuân thủ pháp luật Đây cũng là nguyên tắc cần thiết để đề cao trách nhiệm của chủ thể thanh tra, kiểm tra; nâng cao hiệu lực của công tác thanh tra, kiểm tra thuế; ngăn chặn tình trạng làm trái pháp luật, vô hiệu hoá hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế
Thực hiện đúng nguyên tắc này có nghĩa là các cơ quan và cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế phải thực hiện đúng chức năng, trách nhiệm, quyền hạn mà pháp luật quy định; xem xét sự đúng sai của đối tượng kiểm tra phải căn cứ vào quy định của
Trang 189
pháp luật, không tuân theo ý kiến của bất cứ một cơ quan hoặc cá nhân nào Kết luận thanh tra, kiểm tra theo đúng quy định pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật
1.1.2.2 Nguyên tắc trung thực, chính xác, khách quan
Đảm bảo tính trung thực, chính xác, khách quan là vấn đề có tính nguyên tắc cao trong công tác thanh tra, kiểm tra Có trung thực, chính xác, khách quan trong công tác thanh tra, kiểm tra thì mới cho phép đánh giá đúng thực trạng của đối tượng kiểm tra, xử lý đúng người đúng việc, đúng pháp luật
Nguyên tắc khách quan và chính xác đòi hỏi trong hoạt động thanh tra, kiểm tra phải tôn trọng sự thật, đánh giá sự vật, hiện tượng như nó vốn có, không suy diễn hay quy chụp một cách chủ quan, phải tiến hành công việc một cách thận trọng
Nguyên tắc trung thực đòi hỏi trong hoạt động thanh tra, kiểm tra phải phản ánh và đánh giá đúng bản chất của sự vật, hiện tượng; vô tư, không thiên lệch; không vì quyền lợi cá nhân; phải tỷ mỷ, cẩn thận và phải có kiến thức chuyên môn vững vàng, hiểu biết sâu rộng và sâu sát thực tiễn
1.1.2.3 Nguyên tắc công khai, dân chủ
Tính công khai trong thanh tra, kiểm tra thuế tức là phải thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” để thu hút sự tham gia, đồng tình ủng hộ của nhân dân Việc công khai bao gồm nhiều vấn đề cụ thể như: công khai quyết định thanh tra, tiếp xúc công khai với các đối tượng có liên quan và công bố công khai kết luận thanh tra, kiểm tra Tuy nhiên, tuỳ trường hợp cụ thể mà xác định phạm vi công khai và hình thức công khai cho phù hợp để đảm bảo giữ gìn bí mật quốc gia, bí mật người tố cáo, đảm bảo lợi ích của Nhà nước và công dân, đảm bảo hiệu quả thanh tra, kiểm tra cao nhất
Dân chủ trong hoạt động thanh tra, kiểm tra là thể hiện sự tôn trọng khách quan, tôn trọng quần chúng, lấy dân làm gốc Dân chủ trong hoạt động thanh tra, kiểm tra nhằm lôi cuốn sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân, sử dụng quần chúng như là những tai mắt của lực lượng thanh tra, kiểm tra Thực hiện
Trang 1910
nguyên tắc này đòi hỏi phải coi trọng việc tiếp nhận, thu thập ý kiến của mọi đối tượng có liên quan, tạo điều kiện cho đối tượng thanh tra, kiểm tra được trình bày ý kiến của mình, nhất là khi giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân
1.1.2.4 Nguyên tắc bảo vệ bí mật
Cần quán triệt nguyên tắc này trong thanh tra, kiểm tra thuế là vì trong qúa trình thanh tra, kiểm tra người làm công tác này tiếp cận với nhiều vấn đề, nhiều tài liệu liên quan đến bí mật, bí quyết kinh doanh của doanh nghiệp, bí mật quốc gia Nếu để lộ cho những đối tượng không đựơc phép biết sẽ làm thiệt hại lợi ích của quốc gia và các doanh nghiệp Do vậy, họ chỉ được báo cáo cho những người có thẩm quyền được biết
1.1.2.5 Nguyên tắc hiệu quả
Thực hiện nguyên tắc này mới đảm bảo cho thanh tra, kiểm tra thuế đạt được mục đích của nó Nguyên tắc này đòi hỏi thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo tính hiệu quả, nghĩa là phải có tác dụng đề phòng, ngăn ngừa những thiếu sót, vi phạm; phải đảm bảo giúp các đối tượng kiểm tra thực hiện đúng chính sách thuế [Trang
218, 219 - Giáo trình Quản lý thuế Học viện Tài chính]
1.1.3 Yêu cầu đối với thanh tra, kiểm tra thuế
Thanh tra, kiểm tra thuế là hoạt động có tính chất pháp lý cao, liên quan đến lợi ích kinh tế và chính trị của nhiều đối tượng trong xã hội Do đó, công tác thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
Thứ nhất, thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo chính xác, khách quan, trung thực, xử lý đúng người đúng tội, không bao che, quy chụp cho các đối tượng được thanh tra, kiểm tra Đây chính là những yêu cầu hàng đầu của thanh tra, kiểm tra thuế vì chỉ khi đảm bảo những yêu cầu này mới đạt được mục đích của công tác thanh tra, kiểm tra thuế, mới làm cho thanh tra, kiểm tra thuế thực sự trở thành cán cân công lý, mới có được sự tin tưởng của quần chúng nhân dân
Thứ hai, thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo công khai, dân chủ, kịp thời, tạo điều kiện tốt nhất để quần chúng nhân dân tham gia ý kiến Đảm bảo công khai, dân chủ là yêu cầu quan trọng của công tác thanh tra, kiểm tra thuế vì thông qua đó
Trang 2011
phát huy được sức mạnh và vai trò của quần chúng nhân dân trong công tác giám sát tuân thủ pháp luật Yêu cầu kịp thời được đặt ra trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế nhằm khắc phục những yếu kém, bất cập trong quản lý Nhà nước; ngăn chặn đúng lúc các hành vi tiêu cực, tránh những tổn thất nặng nề cho Nhà nước và nhân dân
Thứ ba, thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo thực hiện đúng các luật thuế, ngăn ngừa, loại trừ các hành vi trốn, lậu thuế Đây là yêu cầu thiết yếu của công tác thanh tra, kiểm tra thuế; đạt được yêu cầu này thì công tác thanh tra, kiểm tra thuế mới làm tròn chức năng và nhiệm vụ của mình
1.1.4 Phân loại thanh tra, kiểm tra thuế
Thanh tra, kiểm tra thuế được chia thành nhiều loại khác nhau tùy theo tiêu thức phân loại Cụ thể như sau:
- Theo yếu tố thời gian:
+ Thanh tra, kiểm tra thuế thường xuyên: Đây là hoạt động thanh tra, kiểm tra
diễn ra định kỳ, lặp đi lặp lại theo chu kỳ hàng ngày, hàng tháng, hàng quý hoặc hàng năm Hoạt động kiểm tra thường xuyên thường được tiến hành tại cơ quan thuế đối với hồ sơ khai thuế của người nộp thuế và được thực hiện thường xuyên đối với nội
bộ cơ quan thuế Hoạt động thanh tra, kiểm tra thường xuyên hàng năm thường được tiến hành tại trụ sở của người nộp thuế đối với những người nộp thuế được xếp vào nhóm rủi ro cao
+ Thanh tra, kiểm tra thuế bất thường: Đây là một trong những hình thức
chủ yếu của thanh tra trong lĩnh vực xét và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân; thường được tiến hành theo yêu cầu của cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra hay do lãnh đạo đơn vị đặt ra
- Theo yếu tố phạm vi:
+ Thanh tra, kiểm tra từng phần: thường được áp dụng với một sắc thuế nhất
định hoặc một phần của quy trình thu nộp
+ Thanh tra, kiểm tra toàn phần: Áp dụng trên toàn diện các mặt công tác
của một cơ quan thuế, một cá nhân hay toàn bộ quá trình kê khai nộp thuế với tất cả các sắc thuế có liên quan của một đối tượng nộp thuế
Trang 2112
- Theo địa điểm tiến hành thanh tra, kiểm tra:
+ Kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế: Công tác kiểm tra các hồ sơ liên quan đến
việc xác định nghĩa vụ thuế của cơ sở kinh doanh được thực hiện tại cơ quan thuế
+ Thanh tra, kiểm tra tại trụ sở của NNT: Công việc thanh tra, kiểm tra được
thực hiện tại trụ sở của người nộp thuế; cho phép cán bộ thanh tra, kiểm tra tiếp cận với tình hình thực tế, tài liệu cụ thể của cơ sở như sổ sách chứng từ kế toán, quỹ tiền mặt thực tế, sản phẩm tồn kho thực tế…
1.1.5 Phương pháp thanh tra, kiểm tra thuế
Phương pháp thanh tra, kiểm tra đóng vai trò quan trọng trong việc phát huy hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra Những phương pháp được sử dụng trong công tác thanh tra, kiểm tra bao gồm: Phương pháp vận dụng kỹ thuật quản lý rủi ro; phương pháp đi từ tổng hợp đến chi tiết; phương pháp đối chiếu, so sánh; các phương pháp kiểm tra chứng từ gốc; các bổ trợ Cụ thể như sau:
1.1.5.1 Phương pháp vận dụng kỹ thuật quản lý rủi ro
Xét riêng trong lĩnh vực quản lý thuế, rủi ro được hiểu là những tổn thất có thể xảy ra phát sinh từ các hoạt động không tuân thủ pháp luật thuế trong một môi trường, hoàn cảnh cụ thể
Căn cứ vào nguyên nhân rủi ro, rủi ro bao gồm: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện và rủi ro thanh tra Trong đó:
- Rủi ro tiềm tàng (IR): là rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra trong một môi trường
nhất định Trong thanh tra thuế, rủi ro tiềm tàng có thể xảy ra sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính và các hồ sơ khai thuế, tồn tại độc lập với tác động của hệ thống kiểm soát nội bộ và việc có thực hiện thanh tra thuế hay không Khi thanh tra, kiểm tra, để xác định loại rủi ro này, cán bộ thanh tra cần phải nắm được những kiến thức liên quan tới hoạt động của người nộp thuế, nhận biết yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tiềm tàng ở các mức độ tổng thể và chi tiết; xác định rõ mức độ rủi ro tiềm tàng của từng cơ sở kinh doanh để làm cơ sở xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra
- Rủi ro kiểm soát (CR): là rủi ro về khả năng kiểm soát tại chỗ không chặt
chẽ nên không ngăn ngừa được những sai sót trọng yếu có thể xảy ra Rủi ro kiểm soát cũng nằm ngoài tầm kiểm soát của cán bộ thanh tra, kiểm tra vì nó luôn tồn tại,
Trang 2213
dù có tiến hành thanh tra, kiểm tra hay không Ví dụ: để giảm việc không vào doanh thu các khoản thu tiền mặt khi bán hàng, hệ thống kiểm soát nội bộ yêu cầu sử dụng các hóa đơn thu tiền đã được đánh số sẵn để ghi nhận các khoản doanh thu bằng tiền Kết quả kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bộ cho thấy nhân viên hạch toán các khoản doanh thu này chỉ hạch toán trong quý đầu của năm kiểm tra Khi đó, rủi ro kiểm soát xảy ra cao trong 9 tháng cuối năm
- Rủi ro phát hiện (DR): là rủi ro mà thanh tra thuế không phát hiện được qua
các báo cáo tài chính gian lận Rủi ro phát hiện xuất hiện xuất phát từ chất lượng của hoạt động thanh tra, hay là từ các quy định của pháp luật, chất lượng của quy trình, trình độ cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế
- Rủi ro thanh tra (AR): là rủi ro mà các báo cáo tài chính gian lận được chấp
nhận như các báo cáo tài chính trung thực Rủi ro thanh tra tổng thể chịu sự tác động của ba nhân tố IR, CR và DR:
AR = IR * CR * DR
Quản lý rủi ro là một quá trình nhận diện, đánh giá, phân tích để có phương
án giải quyết một cách có hệ thống nhằm tối đa hóa khả năng xảy ra khi có hiệu quả tích cực và tối thiểu hóa khả năng xảy ra khi có hiệu quả tiêu cực Quản lý rủi ro có thể được hiểu là quá trình lựa chọn và thực hiện các giải pháp trong bối cảnh nguồn lực có hạn để giảm thiểu nguy cơ xấu đe dọa đến sự thành công của tổ chức Quản
lý rủi ro cũng là một quá trình đo lường hay đánh giá về quy mô và tính chất nghiêm trọng của một sự việc, một hiện tượng, một vấn đề, trên cơ sở đó lập chiến lược quản lý rủi ro Như vậy, điều quan trọng trong quản lý rủi ro là dành ưu tiên mọi nguồn lực vào quản lý những rủi ro có thể xảy ra tổn thất lớn nhất và những rủi
ro có nhiều khả năng xảy ra nhất, tiếp đến là quản lý những rủi ro có tổn thất thấp hơn và ít có khả năng xảy ra hơn
Việc áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro trong thanh tra, kiểm tra thực chất là việc phân loại, đánh giá người nộp thuế dựa trên hệ thống những tiêu thức rủi ro về thuế nhằm xác định những người nộp thế có mức độ tuân thủ thấp và khả năng gian lận cao về thuế để tập chung nguồn lực thanh tra, kiểm tra theo nguyên tắc ưu tiên nguồn lực thanh tra, kiểm tra những người nộp thuế có thể mang lại tổn thất lớn nhất và những sai phạm có nhiều khả năng xảy ra nhất
Trang 2314
1.1.5.2 Phương pháp đối chiếu, so sánh
Phương pháp đối chiếu, so sánh là phương pháp nghiệp vụ được sử dụng chủ yếu trong suốt quá trình tiến hành một cuộc thanh tra, kiểm tra thuế
Cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế cần tiến hành so sánh, đối chiếu các nội dung cần thanh tra, kiểm tra để xác định tính hợp lý, khách quan, trung thực của nội dung cuộc kiểm tra: đối chiếu tài liệu, số liệu của đơn vị được kiểm tra với đơn vị khác; đối chiếu giữa báo cáo kế toán với sổ kế toán, giữa sổ kế toán tổng hợp với chi tiết, giữa số liệu và chứng từ, giữa số liệu báo cáo và thực tế, giữa nội dung tài liệu, báo cáo sổ sách, chứng từ với chuẩn mực…
1.1.5.3 Phương pháp kiểm tra đi từ tổng hợp đến chi tiết
Phương pháp này gọi là phương pháp kiểm tra ngược chiều, khi kiểm tra thì kiểm tra từ tổng hợp đến chi tiết chứ không phải từ chi tiết đến tổng hợp như trình
tự hạch toán kế toán Kiểm tra từ tổng hợp tới chi tiết giúp cán bộ phát hiện những mâu thuẫn, những vấn đề chính, những bất thường để tiến hành thanh tra, kiểm tra, tránh dàn trải không trọng tâm
Kiểm tra số liệu tổng hợp được tiến hành với các số liệu đã được tổng hợp theo nội dung kinh tế, phản ánh trên các báo cáo tài chính (Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ), rút ra nhận xét tổng quát
và vấn đề cần đi sâu kiểm tra
Kiểm tra số liệu chi tiết là kiểm tra số liệu của từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh, thể hiện trên chứng từ gốc hoặc bảng kê chi tiết
1.1.5.4 Phương pháp kiểm tra chứng từ gốc
Các phương pháp được sử dụng:
- Kiểm tra chứng từ theo trình tự thời gian phát sinh;
- Kiểm tra theo loại hình nghiệp vụ: chứng từ thu, chứng từ chi tiền mặt; chứng từ nhập xuất vật tư…;
- Kiểm tra điển hình: là lựa chọn ngẫu nhiên một số chứng từ của một loại nghiệp vụ nào đó để kiểm tra, xem xét và rút ra kết luận chung
1.1.5.5 Phương pháp kiểm tra bổ trợ
Trang 2415
Các phương pháp kiểm tra bổ trợ bao gồm:
- Phương pháp quan sát: Là quan sát trực tiếp, kín đáo và không gây trở ngại những công việc có liên quan đến nội dung thanh tra tại hiện trường
- Phương pháp phỏng vấn: Nhằm thu thập thông tin từ những người có quan
hệ trực tiếp đến nội dung thanh tra
- Phương pháp thẩm tra và xác nhận từng phần (phương pháp phối hợp kiểm tra nhiều nguồn): Theo phương pháp này, số liệu được đối chiếu với nhiều nguồn, nhiều nguồn thông tin để kiểm tra đảm bảo khớp đúng sự việc Cán bộ kiểm tra phải
có văn bản xác nhận về từng phần việc đã được xác minh, trên cơ sở xác nhận từng phần để đi đến xác nhận toàn bộ
- Phương pháp toán học như số học, toán kinh tế… nhằm tính toán đối chiếu
và tổng hợp số liệu
1.2 Những vấn đề cơ bản về thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp: 1.2.1 Trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan thuế trong thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
Theo quy định của Luật Quản lý thuế, cơ quan thuế có trách nhiệm và quyền hạn sau trong hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế:
1.2.1.1 Đối với hoạt động kiểm tra thuế
Nhiệm vụ, quyền hạn của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế
- Chỉ đạo thực hiện đúng nội dung, thời hạn ghi trong quyết định kiểm tra thuế;
- Áp dụng biện pháp tạm giữ tài liệu, tang vật liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế;
- Gia hạn kiểm tra trong trường hợp cần thiết;
- Quyết định xử lý về thuế, xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến hành vi hành chính, quyết định hành chính của công chức quản lý thuế
Nhiệm vụ, quyền hạn của công chức quản lý thuế khi thực hiện kiểm tra thuế
- Thực hiện đúng nội dung, thời hạn ghi trong quyết định kiểm tra thuế;
Trang 25- Xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc kiến nghị với người có thẩm quyền ra quyết định xử lý vi phạm
1.2.1.2 Đối với hoạt động thanh tra thuế
Nhiệm vụ, quyền hạn của người ra quyết định thanh tra thuế
- Chỉ đạo, kiểm tra đoàn thanh tra thuế thực hiện đúng nội dung, thời hạn ghi trong quyết định thanh tra thuế;
- Yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo bằng văn bản, giải trình về những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra thuế; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra thuế cung cấp thông tin, tài liệu đó;
- Áp dụng các biện pháp: khám nơi cất giấu, tạm giữ tài liệu và tang vật liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế;
- Trưng cầu giám định về những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra thuế;
- Tạm đình chỉ hoặc kiến nghị người có thẩm quyền đình chỉ việc làm khi xét thấy việc làm đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
- Xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về thuế; kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện quyết định xử lý về thanh tra thuế;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến trách nhiệm của trưởng đoàn thanh tra thuế, các thành viên khác của đoàn thanh tra thuế;
- Kết luận về nội dung thanh tra thuế
Nhiệm vụ, quyền hạn của trưởng đoàn thanh tra thuế
Trang 26- Lập biên bản thanh tra thuế;
- Báo cáo với người ra quyết định thanh tra thuế về kết quả thanh tra và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực, khách quan của báo cáo đó;
- Xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền ban hành quyết định xử lý vi phạm;
Nhiệm vụ, quyền hạn của thành viên đoàn thanh tra thuế
- Thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của trưởng đoàn thanh tra thuế;
- Kiến nghị xử lý những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra thuế;
- Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao với trưởng đoàn thanh tra thuế
1.2.2 Quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế
Quyền của người nộp thuế trong thanh tra, kiểm tra thuế
- Từ chối việc thanh tra, kiểm tra khi không có quyết định thanh tra, kiểm tra thuế Từ chối cung cấp thông tin, tài liệu không liên quan đến nội dung kiểm tra thuế; thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước, trừ trường hợp pháp luật có quy định
Trang 2718
thuế khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật Trong khi chờ giải quyết khiếu nại, người khiếu nại vẫn phải thực hiện các quyết định đó;
- Khởi kiện và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật;
- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế
Trách nhiệm, nghĩa vụ của người nộp thuế trong thanh tra, kiểm tra thuế
- Chấp hành quyết định thanh tra, kiểm tra thuế của cơ quan quản lý thuế;
- Cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác các thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung kiểm tra theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, trưởng đoàn thanh tra thuế; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của thông tin, tài liệu đã cung cấp;
- Ký biên bản thanh tra, kiểm tra thuế trong thời hạn năm ngày làm việc, kể
từ ngày kết thúc thanh tra, kiểm tra;
- Chấp hành yêu cầu, kết luận thanh tra thuế, quyết định xử lý của cơ quan quản
lý thuế, trưởng đoàn thanh tra thuế và cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
1.2.3 Quy trình thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp:
Quy trình kiểm tra, thanh tra thuế là trình tự và các bước công việc và thời gian thực hiện cụ thể, lô-gich và chặt chẽ, bắt buộc công chức thuế phải tuân thủ khi thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra thuế
Để cụ thuế hoá các quy định về công tác thanh tra, kiểm tra thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế, hiện nay cơ quan thuế các cấp tại Việt Nam đang thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế theo 02 quy trình, đó là: Quy trình kiểm tra thuế và Quy trình thanh tra thuế Cụ thể như sau:
1.2.3.1 Quy trình kiểm tra thuế
Quy trình kiểm tra thuế ban hành kèm theo Quyết định số 528/QĐ-TCT ngày
29 tháng 5 năm 2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế
Nội dung chính quy định về việc thực hiện các công việc:
Trang 2819
Hình 1: Các bước kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế
Hình 2: Các bước kiểm tra tại trụ sở NNT
+ Kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế bao gồm các bước sau:
o Trình tự, thủ tục kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế;
o Lập biên bản kiểm tra;
o Xử lý kết quả kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế;
o Tổng hợp, báo cáo và lưu giữ tài liệu kiểm tra thuế
Xử lý kết quả kiểm tra tại trụ
sở của người nộp thuế
Tổng hợp, báo cáo và lưu giữ tài liệu kiểm tra thuế
Trang 2920
1.2.3.2 Quy trình thanh tra thuế
Quy trình thanh tra thuế ban hành kèm theo Quyết định số 74/QĐ-TCT ngày 27 tháng 1 năm 2014 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế
Nội dung chính quy định về việc thực hiện các công việc:
+ Lập kế hoạch thanh tra năm:
Hình 3: Các bước thanh tra thuế tại trụ sở NNT
o Bước 1 Thu thập, khai thác thông tin dữ liệu về người nộp thuế
o Bước 2 Đánh giá, phân tích để lựa chọn đối tượng lập kế hoạch thanh tra
o Bước 3 Trình, duyệt kế hoạch thanh tra thuế năm
o Bước 4 Điều chỉnh, bổ sung kế hoạch thanh tra
+ Tổ chức thanh tra tại trụ sở của người nộp thuế:
để lựa chọn đối tượng lập
kế hoạch thanh tra
Trình, duyệt kế hoạch thanh tra thuế năm
Điều chỉnh, bổ sung kế hoạch thanh tra
Trang 3021
o Bước 1 Chuẩn bị thanh tra
o Bước 2 Công bố Quyết định thanh tra thuế
o Bước 3 Phân công công việc và lập nhật ký thanh tra thuế
o Bước 4 Thực hiện thanh tra theo các nội dung trong Quyết định thanh tra
o Bước 5 Thay đổi, bổ sung nội dung thanh tra hoặc gia hạn thời gian thanh tra
o Bước 6 Lập Biên bản thanh tra thuế
o Bước 7 Công bố công khai Biên bản thanh tra
+ Xử lý kết quả sau thanh tra:
Phân công công việc và lập nhật ký thanh tra thuế
Thực hiện thanh tra theo các nội dung trong Quyết định thanh tra
Công bố công khai Biên bản thanh tra
Trang 3122
o Bước 1 Báo cáo kết quả thanh tra; dự thảo kết luận thanh tra; dự thảo Quyết định xử lý truy thu thuế; dự thảo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế
o Bước 2 Ký kết luận thanh tra; Quyết định xử lý truy thu thuế; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế
o Bước 3 Lưu hành kết luận thanh tra; Quyết định xử lý truy thu thuế; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế trong cơ quan thuế
o Bước 4 Giao kết luận thanh tra; Quyết định xử lý truy thu thuế; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế cho người nộp thuế
o Bước 5 Nhập số liệu vào hệ thống cơ sở dữ liệu hỗ trợ thanh tra thuế của Ngành
Quyết định
xử lý truy thu thuế; Quyết định xử phạt
vi phạm hành chính về thuế
Lưu hành kết luận thanh tra; Quyết định xử
lý truy thu thuế; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế trong cơ quan thuế
Giao kết luận
thanh tra;
Quyết định xử
lý truy thu thuế; Quyết
định xử phạt vi
phạm hành chính về thuế
cho người nộp
thuế
Nhập số liệu vào hệ thống
cơ sở dữ liệu
hỗ trợ thanh tra thuế của Ngành
Trang 3223
+ Tổng hợp báo cáo và lưu giữ tài liệu thanh tra thuế
1.3 Nội dung và hình thức thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp, các tiêu chí đánh giá kết quả và hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra thuế:
Hoạt động thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế nhằm kiểm tra tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, tài liệu trong hồ sơ thuế nhằm đánh giá sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế
1.3.1 Đối với kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế
Căn cứ Điều 77 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 của Quốc hội quy định về việc kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế:
Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế được thực hiện thường xuyên đối với các hồ sơ thuế nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, chứng từ trong hồ sơ thuế, sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế
Cơ quan thuế thực hiện việc kiểm tra nội dung kê khai trong hồ sơ khai thuế (Tờ khai thuế và các phụ lục của tờ khai theo quy định của pháp luật), đối chiếu với
cơ sở dữ liệu của người nộp thuế và tài liệu có liên quan về người nộp thuế, để phân tích, đánh giá tính tuân thủ hoặc phát hiện các trường hợp khai chưa đầy đủ dẫn tới việc thiếu thuế hoặc trốn thuế, gian lận thuế
1.3.2 Thanh tra, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế:
Căn cứ Điều 78 Luật số: 21/2012/QH13 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế quy định về việc kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế
1.3.2.1 Các trường hợp kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế:
a) Trường hợp hết thời hạn theo thông báo của cơ quan quản lý thuế mà người nộp thuế không giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu hoặc không khai bổ sung hồ sơ thuế hoặc giải trình, khai bổ sung hồ sơ thuế không đúng thì thủ trưởng cơ quan quản lý thuế quản lý trực tiếp ấn định số tiền thuế phải nộp hoặc ra quyết định kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế
b) Đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan nếu cơ quan hải quan phát hiện hồ sơ thuế có nội dung cần làm rõ liên quan đến nghĩa vụ thuế, số tiền thuế được miễn, số tiến thuế được giảm, số tiến thuế được hoàn thì cơ quan hải quan yêu
Trang 3324
cầu người nộp thuế giải trình hoặc bổ sung thông tin, tài liệu Trường hợp người nộp thuế
đã giải trình và bổ sung thông tin, tài liệu chứng minh số thuế là đúng thì hồ sơ thuế được chấp nhận Trường hợp không chứng minh được số thuế đã khai là đúng hoặc quá thời hạn mà không giải trình được thì thủ trưởng cơ quan hải quan ấn định số tiền thuế phải nộp hoặc ra quyết định kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế
c) Các trường hợp kiểm tra sau thông quan, bao gồm kiểm tra theo kế hoạch, kiểm tra chọn mẫu để đánh giá việc tuân thủ pháp luật về thuế và kiểm tra đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế
Khi kiểm tra sau thông quan nếu phát hiện có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế thì Cục trưởng Cục kiểm tra sau thông quan, Cục trưởng Cục hải quan, Chi cục trưởng Chi cục kiểm tra sau thông quan có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp quy định tại Mục 4 Chương X của Luật này;
d) Các trường hợp xác định đối tượng kiểm tra theo tiêu chí đánh giá rủi ro về thuế qua phân tích, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế; kiểm tra đối với trường hợp có phát sinh dấu hiệu vi phạm pháp luật và các trường hợp được lựa chọn theo kế hoạch, chuyên đề kiểm tra do thủ trưởng cơ quan quản lý thuế cấp trên quyết định Đối với các trường hợp nêu tại điểm này, cơ quan quản lý thuế thực hiện kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế không quá một lần trong một năm
1.3.2.2 Các trường hợp thanh tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế:
Căn cứ Điều 81 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 của Quốc hội quy định về các trường hợp thanh tra thuế:
a) Đối với doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng thì thanh tra định kỳ một năm không quá một lần
b) Khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế
c) Để giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ Tài chính
Căn cứ vào quyết định thanh tra, kiểm tra thuế, đoàn kiểm tra phải thực hiện quá trình tập hợp và phân tích rủi ro các thông tin chuyên sâu tại cơ quan thuế, nhằm kiểm tra tính xác thực đối với các hồ sơ khai thuế, báo cáo tài chính, các nghi vấn cần doanh nghiệp cung cấp thêm thông tin hoặc những nội dung nghi ngờ cần
Trang 3425
tiếp xúc với doanh nghiệp để làm rõ (thông tin chung về doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức hạch toán, liên doanh liên kết, đối tác kinh doanh, hợp đồng mua bán hàng, tăng giảm tài sản, biên bản xác nhận công nợ nội bộ, công nợ người bán, người mua ) Việc kiểm tra, đối chiếu số liệu tổng hợp tại trụ sở của người nộp thuế được thực hiện tuỳ theo phạm vi, quy mô, nội dung cuộc thanh tra, kiểm tra
* Các nội dung kiểm tra đối chiếu số liệu tổng hợp gồm:
- Kiểm tra hồ sơ đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, mã số thuế, tình hình đăng ký sử dụng hoá đơn
- Kiểm tra đối chiếu tài liệu, hồ sơ gửi cơ quan thuế với thực tế xuất trình của doanh nghiệp: báo cáo quyết toán tài chính quý, năm; tờ khai thuế giá trị gia tăng, tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp theo quý, tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp tự quyết toán năm và các tờ khai thuế, tờ khai quyết toán thuế khác liên quan đến nội dung ghi tại quyết định thanh tra, kiểm tra
- Kiểm tra việc mở sổ sách và tính hợp pháp: sổ cái, các sổ theo dõi chi tiết theo các chuẩn mực kế toán nhà nước quy định, đối chiếu số liệu tổng hợp giữa sổ chi tiết với bảng cân đối số phát sinh và bảng tổng kết tài sản
Ngoài ra, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể cần kiểm tra xem xét các tài liệu,
hồ sơ liên quan khác: số thuế đầu kỳ trước chuyển sang, xác nhận của cơ quan thuế,
cơ quan kho bạc nhà nước về số nộp ngân sách trong kỳ, các tài liệu liên quan đến hoàn thuế, miễn giảm thuế
* Kiểm tra chi tiết, lập hồ sơ chứng lý tại trụ sở người nộp thuế gồm các nội dung sau:
- Kiểm tra sổ sách, chứng từ và các hồ sơ liên quan đến nội dung kiểm tra, thanh tra thuế
- Kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh: đối chiếu số liệu hạch toán, số liệu tính, kê khai, thu nộp thuế và hạch toán thực tế của doanh nghiệp với các chuẩn mực nhà nước quy định (quy định luật, pháp lệnh thuế và các văn bản
Trang 3526
hướng dẫn thi hành; các cơ chế tài chính và chuẩn mực kế toán nhà nước ban hành )
- Thực hiện lập hồ sơ chứng lý thanh tra, kiểm tra Hồ sơ chứng lý được coi
là tài liệu gốc để lập biên bản thanh tra, kiểm tra, gồm: các biên bản ghi nhận kết quả đối chiếu; các bản sao chụp các tài liệu có liên quan kể cả các bức ảnh, đoạn băng ghi lại những việc làm sai của doanh nghiệp (phân tán kho quỹ, cất giấu chứng
từ, tài liệu )
- Trường hợp cần thiết phải giám định tài liệu, cần lập biên bản thu giữ tài liệu ghi rõ tình trạng của tài liệu đó (kể cả hiện vật nếu có) để yêu cầu cơ quan có trách nhiệm giám định
1.3.3 Các tiêu chí đánh giá kết quả và hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Tình hình thưc hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra có kết quả hay không được thể hiện ở:
+ Số lượng đối tượng được thanh tra, kiểm tra trong năm
Hàng năm, Cục thuế Hà Nội đã xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế giao cho các Phòng Thanh tra, Kiểm tra thuế triển khai thực hiện Thanh tra, kiểm tra thuế được xây dựng theo kế hoạch hàng năm giúp hạn chế việc thanh tra, kiểm tra tràn lan, không trọng tâm; tránh tình trạng lãng phí nguồn nhân lực và chi phí
Việc lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra được thực hiện theo quy trình đánh giá rủi ro, dựa trên phân tích thông tin về đối tượng nộp thuế trên tờ khai thuế hàng tháng, báo cáo tài chính doanh nghiệp và cơ sở dữ liệu của cơ quan thuế để lựa chọn đối tượng kiểm tra, thanh tra thuế Dựa trên bộ tiêu chí đánh giá rủi ro, các Phòng Kiểm tra thuế đã xây dựng và được phê duyệt kế hoạch kiểm tra rủi ro tại trụ sở cơ quan thuế
Với mục tiêu lựa chọn được các doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế để phục
vụ công tác thanh kiểm tra thuế, Cục thuế TP Hà Nội đã tập trung đổi mới phương pháp xây dựng kế hoạch thanh tra dựa trên cơ sở khai thác dữ liệu về thông tin của NNT kết hợp với ứng dụng TTR - Hệ thống phân tích thông tin rủi ro phục vụ lập
kế hoạch thanh tra, cụ thể: Kế hoạch thanh tra thuế được phê duyệt được giao cho
Trang 3627
các đoàn thanh tra dựa trên số lượng được phân công Dựa trên cơ sở này, các đoàn thanh tra sẽ tập trung thu thập hồ sơ, dữ liệu và phân tích rủi ro theo nhóm để tăng tính hiệu quả, rút ngắn thời gian triển khai thanh kiểm tra
+ Thời gian thực hiện các cuộc thanh tra, kiểm tra: Thời gian thực hiện cuộc kiểm tra theo quy định tại quy trình Quyết định 528/QĐ-TCT ngày 29/5/2008 là 5 ngày Thời gian thực hiện một cuộc thanh tra theo Quy trình thanh tra thuế ban hành kèm theo Quyết định số 74/QĐ-TCT ngày 27 tháng 1 năm 2014 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế không quá 30 ngày (Không kể gia hạn Quyết định thanh tra, kiểm tra )
+ Số vụ việc khiếu tố giải quyết được so với kế hoạch năm
+ Số thuế truy thu qua công tác thanh tra, kiểm tra hàng năm năm sau cao hơn năm trước Thời gian thanh tra, kiểm tra được rút ngắn tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp
+ Tình hình vi phạm pháp luật qua công tác thanh tra kiểm tra: Số đối tượng
vi phạm phát hiện/ Tổng số đối tượng kiểm tra; Số đối tượng vi phạm phát hiện/ Tổng số đối tượng thanh tra; Số đối tượng vi phạm phát hiện/ Tổng số đối tượng nộp thuế
+Tình hình chấp hành quyết định thanh tra, kiểm tra của các đối tượng được thanh tra, kiểm tra trên địa bàn thành phố Hà Nội tương đối tốt, các đối tượng được thanh tra, kiểm tra tuân thủ các quyết định thanh tra, kiểm tra tạo điều kiện cho các đoàn thanh tra, kiểm tra hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
+Ngoài ra trong khi thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra thái độ của cán bộ thuế đối với đối tượng nộp thuế phần lớn là nghiêm túc, thực hiện đúng các quy định của ngành và cơ quan đề ra, số cán bộ thuế vi phạm bị xử lý chỉ chiếm phần nhỏ trong ngành và cuối cùng là ý thực tuân thủ pháp luật thuế của các đối tượng nộp thuế trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 37- Sự phối hợp của các cơ quan nhà nước có liên quan: Để tiến hành công tác
thanh tra, kiểm tra thuế, cơ quan thuế cần sự phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước như: công an, quản lý thị trường, địa chính, kho bạc Hoạt động phối hợp có
ý nghĩa quan trọng trong xác định thông tin về hoạt động kinh doanh và tình hình chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế Thậm chí trong một số trường hợp, hoạt động phối có còn có tác động trực tiếp đến việc có hay không hành vi vi phạm pháp luật thuế và mức độ vi phạm cụ thể như thế nào Bởi vậy, nếu sự phối hợp tốt thì giúp cho hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế được thuận lợi và ngược lại
- Trình độ dân trí, ý thức chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế:
Người dân có tác động đến hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế trên hai phương diện: (i) Họ là người nộp thuế, là đối tượng của thanh tra, kiểm tra thuế; (ii) Họ là quần chúng nhân dân có thông tin về đối tượng thanh tra, kiểm tra Trên phương diện thứ nhất, với trình độ dân trí cao và ý thức chấp hành pháp luật tốt thì người nộp thuế phối hợp tốt với cơ quan thanh tra, kiểm tra; tạo sự thuận lợi cho công tác thanh tra,
Trang 38cơ quan thuế trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế
- Cơ sở vật chất và phương tiện làm việc của cơ quan thuế: Sự đầu tư của
nhà nước về cơ sở vật chất và phương tiện làm việc có tác động không nhỏ đến hiệu quả và chất lượng của công tác thanh tra, kiểm tra thuế Cơ sở vật chất và phương tiện làm việc hiện đại giúp nâng cao hiệu suất làm việc của cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế
- Chế độ đãi ngộ đối với người làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế: Chế độ
đãi ngộ đối với cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế nằm trong tổng thể chế
độ tiền lương và thu nhập của cán bộ, công chức Một chế độ đãi ngộ thỏa đáng sẽ tạo động lực làm việc tốt cho mỗi cán bộ công chức nói chung và mỗi cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế nói riêng Chế độ đãi ngộ thỏa đáng, đảm bảo đời sống của cán bộ
sẽ góp phần giảm động cơ tham nhũng
Các nhân tố chủ quan
Các nhân tố chủ quan là các nhân tố thuộc về bản thân cơ quan thuế Chủ yếu
là các nhân tố sau đây:
- Chất lượng của công tác lập kế hoạch và chuẩn bị công tác thanh tra, kiểm tra: Lập kế hoạch đúng giúp lựa chọn đúng đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế Lập
kế hoạch đúng giúp lựa chọn đúng thời điểm tiến hành thanh tra, kiểm tra Chuẩn bị thanh tra, kiểm tra thuế càng kỹ lưỡng thì hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế càng cao và ngược lại
- Trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế: Con người là nhân tố quyết định đến sự thành bại của mọi hoạt động kinh
tế - xã hội Con người là nhân tố trung tâm của mọi hệ thống quản lý Lĩnh vực thanh tra, kiểm tra thuế cũng không phải là ngoại lệ Trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế càng cao thì chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra càng tốt và ngược lại
Trang 39Cơ sở dữ liệu thông tin càng đầy đủ, chính xác và kịp thời thì hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế càng cao Thông tin được tổng hợp xử lý tốt hay không phụ thuộc vào việc ứng dụng công nghệ thông tin vào thanh tra, kiểm tra thuế Bởi vậy, cơ sở dữ liệu thông tin về người nộp thuế và trình độ ứng dụng công nghệ thông tin có ý nghĩa rất quan trọng trong thanh tra, kiểm tra thuế
- Công tác tổ chức, chỉ đạo của thủ trưởng cơ quan thuế: Người lãnh đạo có
vai trò đặc biệt quan trọng trong mọi hệ thống quản lý mà trong quản lý thuế không phải là một ngoại lệ Tài năng, đạo đức và uy tín của người lãnh đạo cơ quan thuế
có tác động quan trọng đến chất lượng và hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra thuế
- Sự nghiêm minh trong xử lý vi phạm: Chế tài là một trong ba bộ phận cơ
bản cấu thành của một quy phạm pháp luật Chế tài có chức năng áp dụng hình phạt với hành vi vi phạm pháp luật Chức năng này sẽ không được thực hiện đầy đủ khi việc tổ chức thực hiện pháp luật không nghiêm minh Khi xử lý vi phạm không nghiêm minh sẽ khiến cả cán bộ thanh tra, và người nộp thuế nhờn luật; giảm tác động cảnh báo, ngăn ngừa của công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Sự ảnh hưởng của mỗi nhân tố đều có tác động hai mặt, cả tích cực và hạn chế Chính vì vậy, cơ quan thuế phải có các biện pháp, giải pháp hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực, phát huy tác dụng tích cực để nâng cao hiệu quả, chất lượng của công tác thanh tra, kiểm tra thuế
1.5 Kinh nghiệm về thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế quản lý rủi ro tại một
số nước
1.5.1 Về tổ chức bộ máy thanh tra, kiểm tra theo cơ chế quản lý rủi ro:
Cơ quan thuế các nước có hoạt động thanh tra, kiểm tra theo cơ chế quản lý rủi ro hiệu quả thường rất chú ý đến việc tổ chức, phân bổ nguồn nhân lực và quản
Trang 4031
lý hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế Do tầm quan trọng của công tác thanh tra, kiểm tra thuế và các kỹ năng chuyên môn kèm theo, đa số cơ quan thuế các nước đều lập một hoặc nhiều phòng chuyên môn chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế đối với người nộp thuế lớn, người nộp thuế vừa và nhỏ và các người nộp thuế khác
Qua nghiên cứu mô hình tổ chức thanh tra, kiểm tra của các nước, không có
01 mô hình “chính xác” hoặc “áp dụng chung” để tổ chức các hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế Tuy nhiên, từ kết quả một cuộc nghiên cứu về mô hình tổ chức cơ quan thuế các nước OECD và một số nước khác, có thể nhận thấy 2 xu hướng được lồng ghép, kết hợp khi tổ chức các hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế: (1) Sử dụng
mô hình “chức năng”để tổ chức các hoạt động quản lý thuế và (2) Xuất hiện việc tổ chức theo nhóm các chức năng quản lý người nộp thuế trên cơ sở phân đoạn người nộp thuế (ví dụ: người nộp thuế lớn, người nộp thuế vừa và nhỏ )
Trong thực tế, mô hình tổ chức của cơ quan thuế các nước OECD và không thuộc OECD là sự lai ghép các mô hình đã được miêu tả, một mô hình phổ biến dựa phần lớn vào các tiêu thức “chức năng”, cùng với các phòng/ban đa chức năng để quản lý những NNT lớn nhất Theo đó, các nước này sẽ tổ chức một bộ phận chuyên thanh tra riêng các NNT lớn (là một bộ phận thuộc phòng/ban quản lý NNT lớn) và hình thành tổ chức thanh tra chuyên trách đối với các NNT khác Những đơn vị này có thể lần lượt được tổ chức dựa trên các nguyên tắc riêng: ví dụ theo ngành kinh tế, và/hoặc theo sắc thuế, theo vấn đề về
1.5.2 Dữ liệu và thông tin
Một yêu cầu cơ bản là việc tiếp cận các dữ liệu chứa đựng trong tờ khai thuế của từng NNT Mỗi nghiên cứu thực tế sẽ tập trung vào một khía cạnh của việc kiểm tra dữ liệu một cách tự động hoặc thủ công Các dữ liệu này được sử dụng nhằm xác định những dấu hiệu của việc không tuân thủ - kể cả bằng cách tính điểm rủi ro hay bằng cách dựa vào các giao dịch có dấu hiệu không tuân thủ (thông qua việc rà soát tổng thể hoặc bằng kinh nghiệm của cán bộ thanh tra)
Các dữ liệu khác cũng được coi là cần thiết để xây dựng các phương pháp lựa chọn hồ sơ thanh tra có hiệu quả là: