THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN TRÊN ĐỊA Khái quát về điều kiện phát triển và di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk Khái quát về điều
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ THÚY HIỀN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
ĐẮK LẮK - NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ THÚY HIỀN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN TRÊN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Học viên xin cam đoan Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngànhQuản lý công với đề tài “Quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng TâyNguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” là công trình do học viên tự nghiên cứu.Các thông tin, số liệu được sử dụng có nguồn gốc rõ ràng, việc trích dẫn đượcthực hiện đúng theo quy định
Học Viên
Nguyễn Thị Thúy Hiền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một quá trình nghiên cứu, học viên đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công với đề tài “Quản lý nhà nước về di sản văn hóa
cồng chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” Đây là thành quả của 02 năm
học tập tại Phân viện khu vực Tây Nguyên - Học viện Hành chính Quốc gia.
Học viên xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô giáo, quý lãnh đạo Học viện đãgiảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi để học viên hoàn thành luận văn tốtnghiệp đúng thời gian, tiến độ và chất lượng Đặc biệt trong suốt thời gian thựchiện luận văn, học viên đã nhận được sự hướng dẫn trực tiếp, tận tình với tinhthần trách nhiệm cao của PGS.TS Đinh Thị Minh Tuyết, Khoa Quản lý nhànước về Xã hội, Học viện Hành chính Quốc gia Học viên xin gửi lời tri ân vàlòng biết ơn sâu sắc nhất đến quý cô
Để hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp với đề tài “Quản lý nhà nước về disản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”, học viên xintrân trọng cảm ơn Văn phòng UBND tỉnh Đắk Lắk, UBND Thành phố Buôn MaThuột, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk, Hội Văn học Nghệ thuậttỉnh Đắk Lắk, Phòng Văn hóa Thông tin Thành phố Buôn Ma Thuột đã tạo điềukiện cung cấp tài liệu, thông tin để luận văn đảm bảo những cơ sở lý luận và thựctiễn
Mặc dù học viên đã nỗ lực, cố gắng để hoàn thành luận văn, tuy nhiênkhông thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong quý thầy cô giáo, quý bạn đọcthông cảm
Xin trân trọng cảm ơn!
Đắk Lắk, ngày 12/03/2017
Học viên
Nguyễn Thị Thúy Hiền
Trang 5MỤC LỤC
Trang bìa phụLời cam đoanLời cảm ơnMục lụcDanh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu đề tài
2 Tình hình nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6 Đóng góp của luận văn
7 Kết cấu của luận văn
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI
SẢN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN
1.1 Khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận văn
1.1.1 Văn hóa
1.1.2 Di sản văn hóa
1.1.3 Di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây
1.1.4.
NguyênNội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng
1.2.
Tây NguyênXây dựng và tổ chức thực hiện thể chế quản lý nhà nước
21
21
24
2630
Trang 6chức chuyên môn về di sản văn hóa cồng chiêng Tây
Nguyên
Hỗ trợ và huy động các nguồn lực để bảo tồn và phát triển
1.2.5.
văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động quản lý nhà nước
1.2.6.
về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Tổng kết và đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về di
1.2.7.
sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Sự cần thiết quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng
1.3.
chiêng Tây Nguyên
Định hướng hoạt động di sản văn hóa cồng chiêng Tây
Nguyên phát huy giá trị
Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa cồng chiêng
1.3.4.
Tây Nguyên
Tiểu kết chương 1 Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI
SẢN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN TRÊN ĐỊA
Khái quát về điều kiện phát triển và di sản văn hóa cồng
chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk
Khái quát về điều kiện phát triển của tỉnh Đắk Lắk
Khái quát về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở
tỉnh Đắk Lắk
Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn hóa
cồng chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk
Thực trạng xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế quản lý
nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Thực trạng xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách bảo
tồn và phát triển di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
404043
49
49
55
Trang 7nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Thực trạng xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý
2.2.4 và viên chức chuyên môn về di sản văn hóa cồng chiêng 59Tây Nguyên
Thực trạng hỗ trợ và huy động nguồn lực tài chính và vật
2.2.5 chất để bảo tồn và phát triển di sản văn hóa cồng chiêng 60Tây Nguyên
Thực trạng thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động
2.2.6 quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây 61Nguyên
2.2.7 Thực trạng tổng kết và đánh giá hoạt động quản lý nhà 62
nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
2.3 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn hóa 63
cồng chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk
2.3.1 Kết quả quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng 63
Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk
2.3.2 Hạn chế của quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng 66
chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk
2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế quản lý nhà nước về di sản văn 67
hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
CHIÊNG TÂY NGUYÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK
3.1 Quan điểm và định hướng về di sản văn hóa cồng chiêng 71
Tây Nguyên
3.1.1 Quan điểm của Đảng về văn hóa và di sản văn hóa cồng 71
chiêng Tây Nguyên
3.1.2 Định hướng và mục tiêu về di sản văn hóa cồng chiêng 75
Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk
3.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa 79
Trang 9Kiện toàn và ổn định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về di
81sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý và bồi dưỡng nghiệp
vụ cho viên chức chuyên môn về di sản văn hóa cồng 82chiêng Tây Nguyên
Tăng hỗ trợ từ ngân sách, huy động nguồn lực tài chính và
vật chất để bảo tồn và phát triển di sản văn hóa cồng 84chiêng Tây Nguyên
Thanh tra, kiểm tra thường xuyên và xử ký nghiêm vi
86phạm về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Cụ thể hóa các tiêu chí tổng kết và đánh giá hoạt động
quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây 87Nguyên
Khuyến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước cấp trung
88ương và chính quyền địa phương tỉnh Đắk Lắk
Đối với các cơ quan tổ chức cấp Trung ương 88Đối với các cơ quan tổ chức của Tỉnh Đắk Lắk 88
Trang 10DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 11MỞ ĐẦU
Cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa vàlịch sử rất lâu đời Về cội nguồn, có nhà nghiên cứu cho rằng, cồng chiêng là
"hậu duệ" của đàn đá Trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loạikhí cụ đá: cồng đá, chiêng đá, tre rồi đến thời đại đồ đồng, mới có chiêngđồng Từ thuở sơ khai, cồng chiêng được đánh lên để mừng lúa mới, xuốngđồng Cồng chiêng là biểu hiện của tín ngưỡng, là phương tiện giao tiếp vớisiêu nhiên, với âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòaquyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng người, sống mãi cùng đất trời
và con người Tây Nguyên Tất cả các lễ hội trong năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sơsinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễđâm trâu, hay trong một buổi nghe khan đều phải có tiếng cồng
Cồng chiêng Tây nguyên là không gian văn hóa có giá trị nổi bật, thểhiện tài năng đích thực của nghệ nhân trong cộng đồng Cồng chiêng TâyNguyên bắt rễ sâu xa từ phong tục tập quán, truyền thống Lịch sử, văn hóa,nghi lễ - lễ hội của cộng đồng Cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện được bảnsắc riêng của từng dân tộc, từng cộng đồng Nó còn là phương tiện giao lưugiữa các dân tộc, làm cho dân tộc hiểu nhau hơn, xích lại gần nhau trong mốiquan hệ cộng đồng Cồng chiêng Tây Nguyên còn là một bí quyết độc đáocủa gia đình, dòng họ, được thể hiện ở một trình độ nghệ thuật cao của nghệnhân âm nhạc truyền khẩu dân gian Đồng thời, cồng chiêng Tây Nguyênđược coi là một minh chứng độc đáo về truyền thống văn hóa đang còn sốngđộng và tồn tại trong cộng đồng
Hiện nay trong bối cảnh văn hóa Phương Tây đang xâm nhập mạnh mẽvào Việt Nam, cồng chiêng Tây Nguyên đang có nguy cơ biến mất do chưa
Trang 12có chính sách bảo vệ thiết thực, hoặc do quá trình giao lưu văn hóa, quá trình
đô thị hóa thay đổi xã hội quá nhanh Do đó, vấn đề bảo tồn nguyên trạng vàphát huy giá trị văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói chung, trên địa bàn tỉnhĐắc Lắc nói riêng, đã và đang đặt ra nhiều thách thức trong giai đoạn hiệnnay, vì vậy quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cồngchiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk là rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thựctiễn
Xuất phát từ lý do trên và đam mê tìm hiểu về văn hóa cồng chiêng,
học viên đã chọn đề tài “Quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” là cấp thiết và có ý nghĩa cả về lý luận và
thực tiễn Qua đó, góp phần vào việc nâng cao nhận thức của cộng đồng vềgiá trị của di sản và đặc biệt đề xuất những giải pháp quản lý nhà nước để bảotồn và phát huy giá trị di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý nhà nước về di sảnvăn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, thông qua việc nghiên cứu, phân tích, đánhgiá thực trạng, từ cơ sở đó góp phần đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản
lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk Kếtquả nghiên cứu đề tài sẽ góp phần hoàn thiện quản lý nhà nước về di sản vănhóa cồng chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Quản lý nhà nước về văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói riêng ởnước ta nói chung trong giai đoạn hiện nay vẫn đang là vấn đề thu hút sự quantâm của các nhà lãnh đạo, quản lý, các nhà khoa học Chính vì vậy trong thờigian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu đã được văn bản hóa bằng chữviết, in thành sách giới thiệu rộng rãi đối với công chúng trong và ngoài nướcdưới dạng xuất bản phẩm, băng đĩa, phim khoa học để giới thiệu các giá trịcủa văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Trang 13Giá trị của cồng chiêng đó là sự tổng hòa các giá trị văn hóa đa dạng:giá trị biểu thị đặc trưng và bản sắc văn hóa vùng; giá trị biểu thị đặc trưngvăn hóa người hoặc nhóm tộc người; giá trị phản ánh đa chiều; giá trị nghệthuật; giá trị sử dụng đa dạng; giá trị vật chất; giá trị biểu thị sự giàu sang và
uy quyền; giá trị tinh thần; giá trị cố kết cộng đồng và giá trị lịch sử Cồngchiêng đại diện cho văn hóa tây nguyên là nguồn sống là tín ngưỡng tâm linhcủa người dân, nhạc cụ này được dùng trong nhiều nghi lễ, tín ngưỡng quantrọng
Các dân tộc bản địa Đắk Lắk hiện có hai hệ thống lễ hội, đó là hệthống lễ hội vòng đời người; hệ thống lễ hội nông nghiệp Các nghi lễ nàyđược tổ chức sau mùa rẫy (từ tháng 11 đến tháng 4) Đặc biệt các lễ hộithường gắn với văn hóa cồng chiêng, văn hóa rượu cần, nuwong, bến nướcvới ước vọng vươn đến cuộc sống bình đẳng hạnh phúc Từ xa xưa người Ê
Đê đã nhận thức rằng nghi lễ và lễ hội chính là những sinh hoạt văn hóa có tácdụng to lớn trong việc củng cố và tăng cường sức mạnh của tình đoàn kết, sựgắn bó của cộng đồng nenn những nghi lễ, lễ hội đặc sắc độc đáo như: lễtrưởng thành của chàng trai, lễ bỏ mã, lễ cúng bến nước, lễ cúng lúa mới, lễcúng nhà mới, lễ rước Kpan, luôn luôn hiện diện trong đời sống sinh hoạttruyền thống cung với sự góp mặt của những nhạc cụ truyền thống do chínhngười Ê Đê chế tác chiêng, trống, Krơng
Ở nước ta, đã có nhiều công trình nghiên cứu, xây dựng hệ thống lýluận về quản lý văn hóa trong đó đặc biệt lưu ý đến văn hóa cồng chiêng TâyNguyên Nhiều cuốn sách, nhiều đề tài khoa học, nhiều luận văn nghiên cứu vềquản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dưới nhiều góc độ khác nhau đãđược công bố, nhiều học phần đã được đưa vào giảng dạy chính thức
ở một số trường Trong đó có một số công trình tiêu biểu như:
Trang 14NXB Thế giới, Viện Văn hóa - Thông tin, Hà Nội (2006), Kiệt tác di sản truyền miệng và phi vật thể của nhân loại Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên [47].
Viện Văn hóa - Thông tin, Hà Nội (2007), Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam [51].
Nhiều tác giả, Hà Nội (2008), Bảo vệ không gian văn hóa cồng chiêng Tây nguyên, kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại [35].
Dương Thị Hưởng, Đỗ Đình Hãng, Đậu Tuấn Nam (2006), Một số vấn
đề về Văn hóa – Xã hội các dân tộc thiểu số ở Tây nguyên hiện nay, NXBChính trị Quốc gia, Hà Nội [22]
Đỗ Hồng Kỳ (2012), Văn hóa cổ truyền ở Tây Nguyên trong phát triển bền vững, NXB Từ điển bách khoa Viện khoa học xã hội Việt Nam, Viện
Phát triển bền vững vùng Tây Nguyên [23]
Linh Nga Niê Kdam, NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội (2012), Văn hóa Tây Nguyên giàu và đẹp [24];
Nguyễn Chí Bền, Nguyễn Tri Nguyên, Võ Hoàng Lan, NXB Văn hóa
Dân tộc, Hà Nội (2006), Các nhạc cụ gõ bằng đồng những giá trị văn hóa [4].
Tuy nhiên, về góc độ quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêngTây Nguyên vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa có nhiều công trình nghiêncứu sâu cho lĩnh vực quản lý nhà nước một các cụ thể, toàn diện, nhất là tronggiai đoạn phát triển hiện nay, vì vậy học viên cập nhật những kiến thức lýluận và thực tiễn hiện nay, kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đó để làmhướng nghiên cứu và giải quyết những yêu cầu đặt ra cho đề tài luận văn Vì
vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” là không trùng với các công trình đã
nghiên cứu
Trang 153 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài luận văn góp phần hoàn thiện quản lý nhà nước về
di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Phân tích cơ sở lý luận quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
+ Phân tích, đánh giá và xác định nguyên nhân thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk
+ Đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý nhà nước về di sản vănhóa cồng chiêng Tây Nguyên
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu một số nội dung quản lýnhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên cấp tỉnh
- Không gian: Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
- Thời gian: Nghiên cứu thực trạng được thực hiện từ năm 2005, thờiđiểm không gian văn hóa cồng chiêng được UNESCO chính thức công nhận là kiệttác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại đến nay, đồng thời nghiên cứuđịnh hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng TâyNguyên ở tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Trang 16Mác Lênin về phép duy vật biện chứng và phép duy vật lịch sử; tư tưởng HồChí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về văn hóa và di sảnvăn hóa phi vật thể nói chung, di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nóiriêng.
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Để giải quyết những nội dung nghiên cứu, luận văn sử dụng kết hợptương thích các phương pháp nghiên cứu, cụ thể như sau:
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: được sử dụng với việc tìm hiểu
các công trình nghiên cứu đi trước, qua đó bổ sung các luận cứ khoa học khi
đi vào nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêngTây Nguyên Trên cơ sở đó tập trung giải quyết những vấn đề còn vướng mắc
về lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóacồng chiêng Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: tập trung vào thống kê, báo cáo
thực tế nhằm làm phong phú hơn các tài liệu nghiên cứu, đây là phương phápgiúp tác giả tiếp cận và thu lượm được những thông tin chính xác, bổ sungnguồn số liệu định lượng cho luận văn
Phương pháp chuyên gia: thu thập và tiếp thu ý kiến của các chuyên
gia, các nhà nghiên cứu am hiểu về chủ đề này là hết sức cần thiết cho luậnvăn
Phương pháp xử lý thông tin, số liệu, tư liệu: thống kê, phân tích, tổng
hợp số liệu, so sánh, xử lý thông tin một cách khoa học và có hệ thống bằngphần mềm tin học
6 Đóng góp của luận văn
6.1 Về lý luận
Đề tài góp phần tổng hợp và hệ thống lý luận cơ bản quản lý nhà nước
về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Trang 176.2 Về thực tiễn
Đề tài phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về di sản vănhóa cồng chiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk; Đề xuất những giải pháp gópphần hoàn thiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
ở tỉnh Đắk Lắk
Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý địa phươngtrong việc nghiên cứu và hoàn thiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồngchiêng Tây Nguyên ở tỉnh Đắk Lắk
7 Kết cấu nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dungchính của đề tài được kết cấu gồm 03 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồngchiêng Tây Nguyên
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồngchiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về disản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Trang 18- những yếu tố xác định đặc tính riêng biệt của mỗi dân tộc [46].
Ở Việt Nam, trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đã có một sốhọc giả trong và ngoài nước nghiên cứu về văn hóa Việt Nam Văn hóa được Chủtịch Hồ Chí Minh quan niệm theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ những giá trị vậtchất, những giá trị tinh thần và phương thức sinh hoạt của con người:
“Vì sự sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo vàphát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, vănhóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ở và cácphương thúc sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là vănhóa” [17]
Như vậy, văn hóa có nhiều khái niệm khác nhau dưới các góc độ khácnhau Từ những quan niệm đó, ta nhận thấy:
Theo nghĩa rộng, văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất, tinh thần do con
người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội, mang tính chất
Trang 19chân, thiện, mỹ và phục vụ cho sự sinh tồn, phát triển của con người, xã hộiloài người.
Theo nghĩa hẹp, văn hóa là toàn bộ các giá trị tinh thần do con người
sáng tạo, tích lũy trong quá trình lịch sử xã hội
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ V (khóa VIII,1998), Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của
xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội.Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động, sáng tạo, đấu tranhkiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, làkết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới đểkhông ngừng hoàn thiện mình Văn hóa đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách,bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc [9]
Văn hóa là sản phẩm của loài người nó được tạo ra và phát triển trongquan hệ qua lại giữa con người và xã hội Tuy nhiên chính văn hóa lại thamgia vào việc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóađược truyền từ thế hệ này sang thế khác thông qua quá trình xã hội hóa Vănhóa được tái tạo, phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội củacon người Văn hóa là trình độ phát triển con người của xã hội được biểu hiệntrong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con ngườivũng như trong giá trị vật chất tinh thần mà do con người tạo ra và được conngười thừa nhận bao gồm trong đó có cái Chân, cái Thiện, cái Mỹ Xây dựng
và phát triển tốt những thành tố cấu thành khái niệm văn hóa chính là để tạo
ra nền tảng tinh thần cho xã hội góp phần khai thác và phát huy sức mạnh nộisinh
1.1.2 Di sản văn hóa
Trang 20Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên, HàNội - Đà Nẵng, xuất bản năm 1998, khái niệm di sản được chú thích là tài sảncủa người chết để lại; cái của thời trước để lại.
Theo Từ điển Hán Việt Từ Nguyên của Bửu kế - Nhà xuất bản ThuậnHóa, 1999 thì khái niệm Di sản được giải thích là: di là để lại, sản là của cải -của cải giá trị của người chết của người trước để lại Ví dụ: những giá trị quýbáu của cha ông chúng ta cần giữ gìn, tiếp thu và phát triển
Theo Luật Di sản văn hóa Việt Nam [27] và Luật Di sản văn hóa sửađổi, bổ sung năm 2009 [29], Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá củacộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhânloại có vai trò lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta
Di sản văn hóa dân tộc bao hàm nhiều giá trị và tinh hoa do các thế hệtiền nhân để lại và lưu truyền Các thế hệ người Việt Nam, ngay từ buổi đầudựng nước đã biết tôn trọng, sáng tạo và giữ gìn các giá trị văn hóa, đặc biệt
đã biết sáng tạo và phát huy sức mạnh văn hóa vào sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Trước những thử thách của thời gian và lịch sử của thiên tai vàđịch họa ông cha ta đã biết khơi nguồn sức mạnh từ chiều sâu của nền văn hóadân tộc, biết chắc lọc tinh hoa từ nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc,thấm đượm tính nhân văn Chúng ta khẳng định di sản văn hóa là những giátrị vật chất và tinh thần do ông cha đã đúc kết, xây dựng và truyền lại chochúng ta đến ngày nay Nước ta với hơn 54 dân tộc anh em có một kho tàng disản văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng như Hồ Chủ Tịch đã nói, nó lànhững “hòn ngọc quý” Cho nên, quản lý nhà nước về di sản văn hóa của ôngcha để lại là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bánh nhằm giữ gìn và phát huybản sắc dân tộc
Trang 21Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 – Ban chấp hành Trung ương Đảngkhóa VIII về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đàbản sắc dân tộc đã nêu rõ: Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồngdân tộc là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới vàgiao lưu văn hóa [9] Ngoài ra, di sản văn hóa góp phần thỏa mãn nhu cầu vănhóa của nhân dân, nâng cao ý thức tự hào dân tộc, góp phần phát triển kinh tế
- xã hội đất nước
Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóavật thể là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa họcđược lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trịlịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền bằng trí nhớ, chữ viết được lưutruyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ,lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói chữ viết, tác phẩm, văn học nghệ thuật,khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễhội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược học cổ truyền,
về văn hóa ẩm thực về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dângian khác Di sản văn hóa thường gắn kết với cộng đồng xã hội ở những cấp
độ khác nhau Có di sản văn hóa của một gia đình, một dòng họ của làng, bản,tộc người nhưng quan trọng hơn là di sản văn hóa của dân tộc - quốc gia
1.1.3 Di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Cồng chiêng là nhạc cụ dân tộc thuộc bộ gõ, được làm bằng đồng thau,hình tròn như chiếc nón quai thao, đường kính khoảng từ 20 cm đến 60 cm, ởgiữa có hoặc không có núm Người ta dùng dùi gỗ có quấn vải mềm (hoặc dùngtay) để đánh cồng, chiêng Cồng, chiêng càng to thì tiếng càng trầm, càng nhỏ thì
Trang 22tiếng càng cao Cũng như các dân tộc Tây Nguyên khác: Cồng Chiêng được xem
là nhạc cụ linh thiêng nên thời kỳ đầu, chinh Ê-đê sử dụng để kết nối giữa conngười và thần linh, về sau mới được sử dụng trong các lễ hội dân gian
Trong cuốn Nhạc khí dân tộc Việt, xuất bản năm 2001, định nghĩa:
Cồng, Chiêng là loại nhạc khí tự thân vang gõ phổ biến tại Việt Nam, đồngthời ở một số nước khác ở Châu Á cũng có Cồng, Chiêng làm bằng đồngthau hoặc hợp kim đồng thiếc, với tỷ lệ các hợp kim rất khác nhau tùy theonơi đúc, hình tròn ở giữa hơi phồng lên, chung quanh có gờ gọi là thành.Cồng luôn luôn có núm ở giữa, Chiêng có hai loại: Chiêng có núm ở giữa gọi
là Chiêng núm và Chiêng không có núm gọi là Chiêng bằng [42]
Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh KonTum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình vănhóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana, Xêđăng, Mnông,Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống củangười Tây Nguyên, là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tảniềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngàycủa họ
Người Tây Nguyên chơi cồng chiêng với nhiều phong cách khác nhau,rất phong phú, rát bài bản Nếu người Giarai và người Bana có phương phápđánh chỉ điệu một bài trầm đánh trên một vài giai điệu thì người Êđê đánhtheo cách thức từng chùm Trong đó, chiêng núm làm bè trầm, chiêng bằngđánh giai điệu Khi biểu diễn vòng tròn các nghệ nhân đánh và di chuyển dàncồng chiêng từ phải sang trái với ý nghĩa ngược chiều với thời gian, hướng vềcội nguồn Tiếng cồng chiêng hòa nhịp âm vang gợi cho người nghe thấyđược cả không gian săn bắn, không gian làm rẫy, không gian lễ hội, những âmthanh ngân nga, sâu lắng, khi thối thúc khi hòa quyện với suối nguồn với
Trang 23tiếng gió đại ngàn và với cả lòng người sẽ là nguồn gốc của những áng sử thihuyền thoại và lãng mạn.
Như vậy, văn hóa cồng chiêng Tây nguyên là tổng thể những mối liên
hệ của con người với cồng chiêng thông qua sử dụng cồng chiêng đa dạng vớinhiều mục đích và chức năng khác nhau, gắn bó thường xuyên, lâu dài với đờisống thường ngày cũng như đời sống tín ngưỡng của con người
Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã được UNESCOchính thức công nhận là kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhânloại vào ngày 25-11-2005 Sau Nhã nhạc Cung đình Huế, Cồng chiêng TâyNguyên là di sản văn hóa phi vật thể thứ hai của Việt Nam được tôn vinh là disản của thế giới Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt
5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân củaloại hình văn hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana,Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai Cồng chiêng gắn bó mật thiếtvới cuộc sống của người Tây Nguyên, là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn conngười, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinhhoạt hàng ngày của họ Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗichiếc cồng, chiêng đều ẩn chứa một vị thần Cồng chiêng càng cổ thì quyềnlực của vị thần càng cao Cồng chiêng còn là tài sản quý giá, biểu tượng choquyền lực và sự giàu có Đã có thời một chiếc chiêng giá trị bằng hai con voihoặc 20 con trâu Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múaquanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vangvọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn và huyền ảo.Cồng chiêng do vậy góp phần tạo nên những sử thi, những áng thơ ca đậmchất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng Tồn tại trên mảnhđất Tây Nguyên hùng vĩ đã hàng ngàn đời nay, nghệ thuật cồng chiêng ở đây
Trang 24đã phát triển đến một trình độ cao vì thế mà cồng chiêng Tây Nguyên rất đa dạng, phong phú.
Cồng chiêng là tên gọi chung cho loại nhạc khí thân vang gõ, có nhiềutên gọi khác nhau (theo vùng hoặc theo tộc người) với các đặc điểm: Chất liệuhợp kim đồng; Dạng phiến mỏng, bề mặt hình tròn; Có núm hoặc không cónúm; Có thành ở vành ngoài; Đơn âm, đơn chiếc hoặc kết cấu thành dàn,nhiều kích cỡ
Nếu Từ điển Bách khoa Việt Nam coi “cồng” là tên chung và Từ điểnVăn hóa cổ truyền Việt Nam coi “chiêng” là tên chung cho hai dạng có nắm
và không nắm, thì tài liệu trên đã cố gắng tách biệt rạch ròi hai dạng đó gắnvới việc định danh cụ thể: Cồng luôn luôn có núm ở giữa, Chiêng có hai loại:Chiêng có núm ở giữa gọi là Chiêng núm và Chiêng không có núm gọi làChiêng bằng” Theo đó, người ta hoàn toàn có thể gọi cồng là “chiêng núm”
và ngược lại, gọi chiêng núm là “cồng”
Cũng có thuyết cho rằng cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốctruyền thống lịch sử lâu đời, là “hậu duệ” của đàn đá trước khi có văn hóađồng, người xưa đã tìm được loại khí cụ bằng đá: cồng đá, chiêng đá, rồi tớithời đại đồ đồng mới có chiêng đồng, cồng đồng Từ thuở sơ khai cồng chiêngđược đánh lên để mừng hội lúa mới, hội xuống đồng, đó là một biểu hiện củatín ngưỡng, là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên Âm thanh cồng chiêng khisâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió của đấttrời và tiếng lòng của con người Tây Nguyên Vì vậy mà tất cả các lễ hộitrong năm từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh, đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễcúng cơm mới, lễ đâm trâu, đều phải có cồng chiêng bởi tiếng chiêng chính làchiếc cầu nối liền con người với đất trời, kết dính các thế hệ
Trang 25Dân gian không có từ “cồng chiêng” Mỗi tộc người có cách gọi riêngcủa mình về loại nhạc khí này Đây là loại nhạc khí có hình thù thô phác, cấutạo đơn giản (dạng phiến mỏng, hình tròn, chất liệu đồng, có thành ở vànhngoài, có núm hoặc không có núm ở giữa), với nhiều kích cỡ khác nhau, khikhông sử dụng tồn tại ở dạng đơn lẻ.
Người Kinh, người Mường dùng cả tên “cồng” và “chiêng” gọi loạinhạc khí nêu trên Đó là hai tên gọi dành cho một dạng hình thù: có núm,(núm chiêng người Mường gọi là “ngôi”), dạng không núm gọi là “thanh la”(người Mường còn gọi là “lệnh” hoặc “phèng la”) Người Mường dùng tên
“chiêng” làm cách gọi phổ biến nhất, tên “cồng” đôi khi cũng được dùng
Người Khmer Nam Bộ gọi loại nhạc khí trên như sau: nếu không cónúm là “Khmuôs”, và nếu có núm là “Kôông Môôn” hoặc “Kôôn Skô” [4]
Người Gia Lai gọi là “chinh”, “chêng”, trong đó “chêng” là loại cónúm Nếu “tròn 1 bộ 16 cái” thì gọi là “Chinh chêng” [4]
Người Ê Đê không phân biệt có núm, không có núm họ đều gọi là
“chinh” [4] hay còn có tên gọi khác là Ching Knăh Ching Ê-đê: Được gọi là
nhạc cụ thuộc bộ gõ định âm vì khi diễn tấu phát ra cao độ, tiết tấu, trường độ
và âm sắc Đó là những thuộc tính của âm thanh có tính nhạc
Người M’nông gọi loại có núm là “goong”, loại không núm là
“cheeng” [6] Theo đó, cách gọi “chêng” của người M’nông, căn cứ hình thù,ngược lại với người Gia Rai, (đối với người Gia Rai, “chênh” có núm)
Ngoài ra, các tộc người Tây Nguyên tương đối phổ biến cách gọi mỗichiếc cồng (hoặc chiêng) theo tên riêng hoặc theo thứ bậc trong gia đình, như
chiêng chồng chiêng vợ (bộ chiêng Tha của người Brâu), chiêng mẹ chiêng chị chiêng em.
Như vậy, trong dân gian, rất ít tộc người sử dụng từ ghép để gọi tênloại nhạc khí trên, đa số họ chỉ dùng từ đơn Có tộc, theo tên gọi, người ta
Trang 26phân biệt hình thù có núm hay không núm, có tộc chỉ dùng một tên, không phân biệt hình thù và có tộc thì dùng tới hai cái tên cho một dạng hình thù.
Từ điển Văn hóa dân gian của các tác giả Vũ Ngọc Khánh, Phạm
Minh Thảo, Nguyên Vũ có định nghĩa liên quan đến cồng chiêng:
- Chinh chiêng – Tên gọi bộ chiêng, cổng nhạc cụ của người Ba Na(Tây Nguyên) Một bộ chinh chiêng hoàn chỉnh thường gồm 5 chiếc có núm
và 8 chiếc chiêng bằng không có núm Chinh chiêng chỉ được phép dùngtrong các nghi lễ lớn, trọng thể của làng như lễ đâm trâu, bò mả, cúng bếnnước, lên nhà mới, cưới [ 4 ]
- Cồng (cũng gọi: chiêng) – Nhạc cụ thuộc bộ gõ, nguồn gốc phương Đông, làm bằng đồng, kích thước lớn hình lòng chảo, treo trên một cái giá gỗ, dùng dùi của trống lớn để gõ Cồng Tây Nguyên gồm 20 chiếc, đường kính 25-30
cm trở lên đến hơn 1m, có thể tạo thành những âm điệu phong phú, độc đáo [4]
Cồng chiêng là vật có giá trị vật chất rất lớn Những chiêng lâu đời, cóthể có giá trị như nhiều con trâu, con voi đã thuần dưỡng Trong một số luậttục của một số dân tộc Tây Nguyên, khi thành viên trong cộng đồng vi phạmquy định nào đó thật lớn, thật nặng, cộng đồng sẽ xử phạt người ấy bằng mộthay nhiều chiếc cồng chiêng Người ta đánh giá sự giàu có hay nghèo khổthông qua số lượng cồng chiêng mà họ sở hữu
Như vậy cồng chiêng là loại nhạc khí gõ của đồng bào dân tộc ít ngườitrong cả nước Nhiều buôn làng, bản mường có số lượng cồng chiêng rất lớn(hàng ngàn bộ) Cồng chiêng được sử dụng trong các lễ hội lớn nhỏ: cầu mưa,đâm trâu, đám tang, bỏ mả Cồng chiêng quy tụ quanh mình nhiều loại hìnhnghệ thuật dân gian: nhảy múa, ca hát, tạo hình Cồng chiêng không riêng gì ởViệt Nam mà địa bàn phân bố rất rộng trong cả vùng Đông Nam Á
Con người tin rằng trong mỗi cái cồng chiêng đều có một vị thần trúngụ Vị thần này là nữ tính hay nam tính tùy theo niềm tin của từng tộc người
Trang 27Chẳng hạn như ở người Ê Đê, tộc người này còn theo chế độ mẫu hệ, thầnchiêng là nữ Nhưng ngay cả tộc người Ba Na, ngành Tồ Lồ thì thần chiêngcũng là nữ Sức mạnh thiêng của cái chiêng cồng không phải có ngay từ lúc
nó mới được chế tác Người Tây Nguyên không tự mình đúc được chiêngcồng mà phải mua chủ yếu từ các cơ sở đúc chiêng của người Việt ở đồngbằng duyên hải Trung Bộ Ở các vùng gần biên giới Cộng hòa dân chủ nhândân Lào, Vương quốc Campuchia, người dân có thể mua một số từ nước lánggiềng Chiêng mua về phải trải qua quá trình chỉnh âm thanh để theo hàng âmcủa tộc người Mỗi tộc người Tây Nguyên đề có nghệ nhân chỉnh chiêng
(tiếng Ba Na là Book Tul Chêng) Sau khi có được âm thanh mong muốn,
người ta còn làm lễ hiến sinh để mời thần chiêng về trú ngụ trong chiêng vàchỉ sau đó chiêng mới thực sự là của cải vật chất và tinh thần của con người
Do đó, cái chiêng càng lâu đời bao nhiêu thì sức mạnh của vị thần trong nócàng lớn bấy nhiêu
Trong xã hội cổ truyền, con người có ít nhất ba mối quan hệ: đó làquan hệ với thiên nhiên thông qua quá trình canh tác cây trồng, quan hệ với xãhội thông qua các tục lệ và tín ngưỡng, quan hệ với dòng đời mỗi con ngườithành viên Để hiện thực hóa các mối quan hệ đó, con người tổ chức các nghi
lễ, các hoạt động văn hóa trong cộng đồng và tất nhiên cồng chiêng có mặttrong các nghi lễ hay hoạt động đó như một thành tố không thể thiếu Đối vớidòng đời người chẳng hạn, có các lễ: Lễ thổi tai: theo quan niệm của ngườiđồng bào khi được đẻ ra, tai đứa trẻ chưa được thông Nay đem cái chiêng đếnđánh bên tai nó, nó sẽ nhận được lời răn dạy của tổ tiên và khi lớn lên, nó sẽsống theo phong tục và phẩm chất đòi hỏi của dân tộc mình; Lễ cưới; Lễmừng lên lão; Lễ tang; Lễ bỏ mả; Lễ dựng nhà mới Đối với cây trồng và tâmlinh cộng đồng người ta thường nhắc đến các lễ thức uy nghi, hoành tráng như
lễ đâm trâu mừng sức khỏe, lễ mừng chiến thắng, lễ xuống
Trang 28giống, lễ ăn cốm, lễ gặt lúa, lễ đưa lúa vào kho Cũng có cả lễ cúng bến nước,
lễ cúng vía lúa, cúng vía trâu, bò v.v…
Cồng chiêng trở thành sức mạnh tinh thần và là biểu tượng của toàncộng đồng trong thế ứng xử với thiên nhiên, xã hội đồng thời là nhân tố gắnkết giữa quá khứ, hiện tại và tương lai của cộng đồng
1.1.4 Quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang tính quyền lực
Nhà nước, bằng nhiều biện pháp, tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiệnnhững chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước trên cơ sở pháp luật”[18] Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt mang tính quyềnlực nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi của con người trêntất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nướcthực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định
và phát triển của xã hội Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợptác lao động, quản lý là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lựctập thể để thực hiện mục tiêu chung Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ phạm
vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp Trình độ xã hội hóa càng cao thì yêucầu quản lý và vai trò quản lý càng tăng lên
Quản lý nhà nước về văn hóa: là những công việc của Nhà nước được
thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sátviệc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về văn hóa Quản lý nhà nước
về văn hóa phải gắn liền với chức năng nhiệm vụ của bộ máy quản lý từ trungương đến địa phương Theo đó cơ quan quản lý nhà nước cấp trung ương là
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ở các cấp chính quyền địa phương là SởVăn hóa, Thể thao và Du lịch cấp tỉnh, phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 29cấp huyện, thị xã và Ban văn hóa cấp xã, phường Trong hệ thống đó vai tròcủa chính quyền địa phương là vô cùng quan trọng.
Quản lý nhà nước về di sản văn hóa: được hiểu là các hoạt động chấp
hành, điều hành của cơ quan Nhà nước, được tiến hành trên cơ sở pháp luật vàthi hành luật pháp đối với hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị của di sảnvăn hóa dân tộc bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể
Cụ thể là quá trình ban hành chính sách, định hướng, huy động, tổ chức, điềuhành các nguồn lực nhằm thực hiện bảo tồn, phát huy các giá trị của di sảnvăn hóa và tổ chức thực hiện các công việc khác liên quan đến di sản văn hóa
Quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên: quản lý
nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng là sự định hướng tạo điều kiện để tổchức điều hành hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa cồng chiêng đượcphát huy theo chiều hướng tích cực Với tư cách là quản lý nhà nước trên mộtlĩnh vực cụ thể, quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng là sự tác độngcủa các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước bằng nhiều biện pháp đến di sảnvăn hóa cồng chiêng và các hoạt động của con người để gìn giữ những giá trị disản văn hóa cồng chiêng, tạo cơ sở cho việc hình thành các giá trị mới
Quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là hoạtđộng quản lý nhằm bảo tồn, phát huy sáng tạo các giá trị của di sản văn hóacồng chiêng Tây Nguyên, đồng thời nâng cao vai trò của di sản văn hóa cồngchiêng Tây Nguyên đối với sự phát triển kinh tế xã hội của khu vực TâyNguyên nói chung và ở tỉnh Đắk Lắk nói riêng Như vậy, cần có biện phápquản lý phù hợp mới phát huy hết được những giá trị của di sản văn hóa cồngchiêng Tây Nguyên trong đời sống đương đại Trong quản lý nhà nước về disản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, mục đích về văn hóa cần thống nhấtvới mục đích về kinh tế và cơ chế tạo nên sự hài hòa, tương tác giữa chúng
Trang 30Theo quy định hiện hành, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịutrách nhiệm, đồng thời phối hợp cùng các cơ quan chức năng và chính quyềnđịa phương chịu trách nhiệm quản lý nhà nước nói chung, nhưng được phânchia trách nhiệm cụ thể cho các đơn vị chức năng thuộc cơ quan quản lý nhànước có liên quan.
Chủ thể quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Chủ thể quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là
hệ thống bộ máy quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương
Cơ quan quản lý nhà nước cấp trung ương: là Chính phủ, các cơ quanthuộc Chính phủ như: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các Bộ, Ban,Nghành, cơ quan ngang Bộ có thẩm quyền trong quản lý nhà nước về bảotồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa Điều 55 Luật Di sản văn hóa Việt
Nam quy định: “Bộ Văn hóa – Thông tin chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý về di sản văn hóa Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa theo sự phân công của Chính phủ” [27; 29].
Cơ quan quản lý nhà nước ở các cấp địa phương là UBND các cấp, các
cơ quan chức năng trực thuộc UBND các cấp như Sở Văn hóa, Thể thao và Dulịch cấp tỉnh, phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp huyện, thị xã và Ban vănhóa cấp xã, phường và các sở ban ngành có thẩm quyền trong quản lý nhà nước
về bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở địaphương Khoản 4, Điều 55, Luật Di sản văn hóa Việt Nam [27; 29] quy định:UBND các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việcquản lý nhà nước về di sản văn hóa ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ
Trong hệ thống bộ máy quản lý nhà nước từ trung ương đến địaphương, chủ thể có vai trò trực tiếp và vô cùng quan trọng đó là chính quyềnđịa phương Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Nhà nước trong việc quản lý
Trang 31di sản văn hóa phi vật thể có sự phân công rõ ràng, trao quyền mạnh mẽ chođịa phương Chính quyền địa phương là chủ thể tự kiểm kê và lập hồ sơ khoahọc di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương mình.
1.2 Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
1.2.1 Xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trướchết là việc xây dựng và ban hành, tổ chức thực thi các văn bản pháp luật vềcông tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa cồng chiêng Đây là công cụquan trọng và hữu hiệu trong công tác quản lý Từ khi nhà nước xuất hiệnpháp luật đã thể hiện vai trò của mình và ngày càng được chú trọng để hoànthiện hơn trong việc quản lý xã hội Vì vậy cũng như những lĩnh vực khác,pháp luật là công cụ quan trọng nhất để điều chỉnh các hoạt động nhằm mụctiêu quản lý di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Hiến pháp 1992 của Việt Nam có dành chương II với một số điềukhoản luật nhà nước đối với sự phát triển và vận hành các hoạt động văn hóa.Tại điều 30 qui định: Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hóa ViệtNam: dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế thừa và phát huy những giá trị của nềnvăn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh;tiếp thu tinh hoa nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân;Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hóa
Hiến pháp 2013 của Việt Nam, Điều 60, Chương III quy định: Nhànước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; Nhà nước, xã hộiphát triển văn học, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng vàlành mạnh của Nhân dân; phát triển các phương tiện thông tin đại chúng
Trang 32nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của Nhân dân, phục vụ sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc; Nhà nước, xã hội tạo môi trường xây dựng gia đình ViệtNam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; xây dựng con người Việt Nam có sức khỏe,văn hóa, giàu lòng yêu nước, có tinh thần đoàn kết, ý thức làm chủ, tráchnhiệm công dân
Nhà nước đã xây dựng một hành lang pháp lý thống nhất để bảo tồn
và phát huy hệ thống di sản văn hóa thông qua các văn bản và các văn bản đó
đã cụ thể hóa chính sách, phương hướng, mục tiêu cũng như những cách thức
để thực hiện hoạt động bảo tồn, phát huy di sản văn hóa nói chung, di sản phivật thể nói riêng trong đó có di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Cụ thể là:
Quyết định số 25-TTg ngày 19/01/1993 của Thủ tướng Chính phủ đãban hành về một số chính sách nhằm xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn hóanghệ thuật
Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, (thông qua ngày 16/7/1998) vềxây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 (ban hành kèm theoQuyét định số 581/QĐ-TTg ngày 06/5/2009 về việc phê duyệt Chiến lượcphát triển văn hóa đến năm 2020) đã nêu vấn đề bảo tồn phát huy di sản vănhóa dân tộc
Quyết định số 36/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày24/02/2005 về việc lấy ngày 23/11 hàng năm là “ngày Di sản văn hóa ViệtNam” Đây là một trong những hành động thiết thực khẳng định giá trị của disản văn hóa, giúp cho người dân quan tâm và tôn vinh giá trị của di sản vănhóa, bao gồm cả di sản văn hóa vật thể và phi vật thể
Năm 2001, Việt Nam đã ban hành Luật di sản văn hóa với cách tiếpcận khái niệm di sản văn hóa hoàn thiện và đầy đủ hơn bao gồm: Di sản văn
Trang 33hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể Đến năm 2009, Luật sửa đổi, bổsung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2001, tiếp tục hoàn thiện vềcách nhận diện cũng như biện pháp bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể Có thểthấy Luật di sản văn hóa của Việt Nam phù hợp với các điều ước quốc tế về disản văn hóa mà Việt Nam đã tham gia Luật di sản văn hóa đã có những quyđịnh riêng đối với di sản văn hóa phi vật thể, khái niệm về di sản văn hóa vậtthể và di sản văn hóa phi vật thể; quyền và nghĩa vụ của các cá nhân đối với
di sản văn hóa, quy định riêng đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị của disản văn hóa phi vật thể trong đó có di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Trong Luật di sản văn hóa năm 2001, nội dung bảo vệ và phát huy disản văn hóa phi vật thể chiếm 11 điều Sau gần 8 năm thi hành, các điềukhoản về di sản văn hóa phi vật thể được sửa đổi, bổ sung đáng kể với sự cụthể, chi tiết, phù hợp với lý luận và thực tiễn Các loại hình văn hóa phi vậtthể được xác định gồm có 7 loại hình cơ bản: Tiếng nói, chữ viết; ngữ văn dângian; nghệ thuật trình diễn dân gian; tập quán xã hội và tín ngưỡng; lễ hộitruyền thống; nghề thủ công truyền thống; tri thức dân gian Nhiệm vụ, quyềnhạn của cơ quan Nhà nước trong việc quản lý di sản văn hóa phi vật thể có sựphân công rõ ràng, trao quyền mạnh mẽ cho địa phương Chính quyền địaphương là chủ thể tự kiểm kê và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thểtại địa phương mình
Dưới Luật di sản văn hóa còn có các văn bản hướng dẫn chi tiết thihành Nội dung pháp luật về di sản văn hóa phi vật thể đã đề cập đến hoạtđộng bảo vệ gồm: nhận diện các loại hình văn hóa phi vật thể; quyền và nghĩa
vụ của các tổ chức, cá nhân; các biện pháp bảo vệ và phát huy di sản văn hóaphi vật thể; quản lý nhà nước và hợp tác quốc tế về di sản văn hóa phi vật thể
Trang 34Đối với nghệ nhân - những báu vật nhân văn sống, các quy định đã thểhiện rõ thái độ ứng xử của Nhà nước, vừa tôn vinh, đề cao, tôn trọng, vừachăm lo đời sống của nghệ nhân như quy định tại điều 26 Luật di sản văn hóa2001; điều 3 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm
2009 [29] và điều 65 của Luật Thi đua khen thưởng [32]
1.2.2 Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách đối với di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Chính sách của nhà nước được ban hành nhằm điều chỉnh nhiều lĩnhvực xã hội khác nhau, trong đó văn hóa xã hội luôn là một trong những vấn đềđược quan tâm hàng đầu Hiện nay, nhà nước đã chú trọng quan tâm nhiềuhơn đến công tác bảo tồn và phát triển hệ thống di sản văn hóa tại Việt Nam
Để thực hiện điều này, Việt Nam đã có những chính sách nhằm xây dựngphương hướng, mục tiêu cũng như những cách thức để thực hiện hoạt độngbảo tồn, phát huy di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa phi vật thể, di sảnvăn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói riêng
Chính sách về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể là sự thểchế các quan điểm và phương hướng phát triển văn hóa, nhằm tác động lêncác nhóm cộng đồng văn hóa, cộng đồng chính trị và cộng đồng dân cư đểgiải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện
Khách thể của chính sách
Cộng đồng văn hóa: Các nghệ sỹ, nghệ nhân, cộng đồng người dân
địa phương, du khách, nhà nghiên cứu, doang nghiệp, các tổ chức xã hội, nhàgiáo dục, nhà hoạt động văn hóa, nhà sáng tác nghệ thuật, người làm phim,người xuất bản, cộng đồng văn hóa có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạtđộng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể nói chung và di sản vănhóa cồng chiêng Tây Nguyên nói riêng, bởi vì:
Trang 35Cộng đồng người dân địa phương là chủ thể quan trọng nhất tronghoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể, di sản văn hóa cồngchiêng Di sản văn hóa phi vật thể nếu được đưa về với cộng đồng càng nhiều,càng lâu thì giá trị và sức ảnh hưởng của di sản càng lớn Yếu tố cộng đồng, ýthức của cộng đồng dân cư tại địa phương mới chính là bảo tồn và phát huy disản, ảnh hưởng trực tiếp đến di sản văn hóa phi vật thể, di sản văn hóa cồngchiêng Khi di sản văn hóa phi vật thể đã sống trong cộng đồng, nghĩa là đượccộng đồng đón nhận thì tự khắc giá trị của di sản đó sẽ được bảo tồn.
Các bên liên quan khác như du khách, các nghệ sĩ, nghệ nhân, nhànghiên cứu, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, nhà giáo dục, nhà hoạt độngvăn hóa, nhà sáng tác nghệ thuật, người làm phim, người xuất bản… cũng cóvai trò rất quan trọng và mật thiết với cộng đồng người dân địa phương tronghoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể, những thành phầnnày chính là nhân tố để nghiên cứu, sưu tầm, phục dựng và quảng bá để tăngthêm tính lan tỏa của di sản văn hóa phi vật thể Vì vậy cần phải hỗ trợ,khuyến khích các nỗ lực của cộng đồng văn hóa trong việc bảo tồn và pháthuy di sản
Cộng đồng công chúng: gồm công chúng tập thể, công chúng hiện
thực và công chúng tiềm năng
Cộng đồng chính trị: gồm các cơ quan Đảng, cơ quan chính quyền và
các đoàn thể ở Trung ương và địa phương
Đối tượng của chính sách
Là các vấn đề nảy sinh trong hoạt động văn hóa về bảo tồn và pháthuy di sản văn hóa phi vật thể cần được hỗ trợ Thực hiện mục tiêu đường lốichính sách của Đảng, chủ trương luật pháp của Nhà nước về phát triển vănhóa và bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể,
Trang 36Hầu hết các chính sách về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vậtthể - di sản văn hóa cồng chiêng của Nhà nước đều thể hiện dưới hình thứccác văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan luật pháp và Nhà nước (các nghịđịnh, thông tư, Quyết định của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ; quy định,thông tư của Bộ trưởng Bộ VHTT & DL).
Phân loại chính sách về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể Theo đối tượng tác động (3 cộng đồng)
Theo phạm vi tác động (chung cho xã hội, riêng cho từng nhóm đốitượng hoặc theo lĩnh vực tác động như: điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn…)
Theo thời gian: dài hạn và ngắn hạn
Theo nguồn kinh phí: Nhà nước cấp, vay từ các tổ chức tín dụng, huy động cộng đồng và tài trợ quốc tế
1.2.3 Xây dựng và kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Theo Nghị định 81/CP ngày 08/11/1993 Bộ Văn hóa - Thông tin là cơquan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về văn hóa thôngtin trong cả nước Bộ có một số nhiệm vụ về quản lý di sản văn hóa phi vậtthể cũng như di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên như sau:
Định hướng nội dung các hoạt động về văn hóa – thông tin cho các tổchức và công dân theo đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Xây dựng các chính sách nhằm bảo vệ và phát huy di sản văn hóa dântộc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế giới, khuyến khích những tài năngsáng tạo, phổ biến những giá trị văn hóa, nghệ thuật, khoa học, nâng cao trình
độ thẩm mỹ và mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân
Trang 37Tổ chức đào tạo bồi dưỡng các tài năng văn hóa nghệ thuật, trực tiếpquản lý trường đại học, cao đẳng và trung cấp về văn hóa nghệ thuật theo quyđịnh của Chính phủ.
Tổ chức, hướng dẫn việc sưu tầm, bảo quản, lưu trữ và phát huynhững di sản văn hóa của các dân tộc anh em trong cả nước
Hướng dẫn việc chỉ đạo và xây dựng các nếp sống văn hóa, các lễ hội,
tổ chức vui chơi giải trí, hội thi, hội diễn, liên hoan nghệ thuật điện ảnh, báochí, thông tin cổ động, hội chợ, triển lãm, ngày hội văn hóa các dân tộc ViệtNam
Tổ chức chỉ đạo công tác thanh tra chuyên ngành về các hoạt động vănhóa, thông tin trong các nước
Để giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước, Bộ Văn hóa– Thông tin có 7 chức năng (Kế hoạch, Tài chính – Kế toán, Tổ chức cán bộ,Đào tạo, Hợp tác quốc tế, Thanh tra và Pháp chế) và 10 vụ, cục chuyên môn(Văn hóa dân tộc miền núi, Mỹ thuật, Thư viện, Báo chí, Bảo tồn bảo tàng,nghệ thuật biểu diễn, Điện ảnh, Xuất bản, Văn hóa – Thông tin cơ sở) Ngoài
ra còn có 49 đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ (Trường học, Viện nghiên cứu,Nhà hát, Thư viện, Bảo tàng, Triển lãm, Báo, Khu sáng tác, Trung tâm hướngdẫn nghiệp vụ, Nhà văn hóa) và một số doanh nghiệp văn hóa
Trong quản lý hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vậtthể cần chú trọng đến tăng cường phân cấp và phát triển các hình thái tự quản.Với cấp Trung ương thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về di sản vănhóa là:
Trang 38Xếp hạng và điều chỉnh khu vực bảo vệ đối với di tích quốc gia đặc biệt; Đềnghị tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO)
công nhận di sản văn hóa và thiên nhiên tiêu biểu của Việt Nam
là di sản thế giới;
Phương án xử lý đối với tài sản là di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm:
di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia,trừ trường hợp luật, pháp lệnh có quy định khác; Cho phép đưa bảo vật quốcgia ra nước ngoài;
- Quyết định theo thẩm quyền:
Xếp hạng di tích quốc gia, bảo tàng hạng I, điều chỉnh khu vực bảo vệđối với di tích quốc gia; giao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia cho bảo tàng nhànước có chức năng theo quy định của pháp luật;
Phê duyệt quy hoạch dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích quốcgia và di tích quốc gia đặc biệt theo pháp luật; phê duyệt hoặc thỏa thuận việcxây dựng các công trình ở khu vực bảo vệ II đối với di tích quốc gia và di tíchquốc gia đặc biệt;
Thẩm định quy hoạch dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích quốcgia, di tích quốc gia đặc biệt; dự án cải tạo, xây dựng các công trình nằmngoài khu bảo vệ di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt xét thấy có khảnăng ảnh hưởng xấu đến di tích theo quy định của pháp luật;
Cấp phép thăm dò, khai quật khảo cổ; đưa di vật, cổ vật ra nước ngoài,làm bản sao di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia thuộc các bảo tàng quốc gia,bảo tàng chuyên ngành; quản lý việc cấp phép cho người Việt Nam định cư ởnước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài nghiên cứu, sưu tầm di sản văn hóaphi vật thể ở Việt Nam
Hướng dẫn hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, lễ hộitruyền thống, tín ngưỡng gắn với các di tích và nhân vật lịch sử
Trang 39Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan huy động, quản
lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
Công nhận, trao tặng danh hiệu vinh dự đối với các nghệ nhân có công giữ gìn, trình diễn, truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể
Chính quyền địa phương được giao trách nhiệm đẩy mạnh sự nghiệpvăn hóa, bảo vệ tính đa dạng và tính thống nhất trong sự phát triển của vănhóa Việt Nam Cụ thể chính quyền địa phương thực hiện các nội dung quản lýsau:
Tổ chức thực hiện quy chế, giải pháp huy động, quản lý, sử dụng cácnguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa tại địa phương sau khiđược phê duyệt;
Hướng dẫn và tổ chức thực hiện các dự án bảo quản, tu bổ và phụchồi di tích thuộc địa phương quản lý sau khi được phê duyệt;
Tổ chức điều tra, phát hiện, thống kê, phân loại và lập hồ sơ di sản vănhóa phi vật thể thuộc địa bàn tỉnh;
Hướng dẫn thủ tục và cấp giấy phép nghiên cứu, sưu tầm di sản vănhóa phi vật thể trên địa bản tỉnh cho tổ chức, cá nhân nước ngoài và ngườiViệt Nam định cư ở nước ngoài;
Tổ chức thực hiện kiểm kê, phân loại, lập hồ sơ xếp hạng di tích lịch
sử văn hóa và danh lam thắng cảnh thuộc địa bàn tỉnh;
Thẩm định dự án cải tạo, xây dựng các công trình nằm ngoài khu vựcbảo vệ di tích cấp tỉnh có khả năng ảnh hưởng đến cảnh quan, môi trường của
di tích;
Tổ chức việc thu nhận, bảo vệ các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia do
tổ chức, cá nhân giao nộp và thu giữ ở điạ phương theo quy định của phápluật;
Trang 40Đăng ký và tổ chức quản lý di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trongphạm vi tỉnh; cấp phép làm bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc bảotàng cấp tỉnh và sở hữu tư nhân;
Quản lý, hướng dẫn tổ chức các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị disản văn hóa, lễ hội truyền thống, tín ngưỡng gắn với di tích, nhân vật lịch sử ởđịa phương
1.2.4 Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn
về di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ về di sản văn hóa cồng chiêngTây Nguyên bao gồm đội ngũ các nhà quản lý và đội ngũ công chức, viênchức thực hiện nhiệm vụ chuyên môn về di sản văn hóa cồng chiêng TâyNguyên
Củng cố và tăng cường đào tạo nguồn nhân lực có năng lực quản lý và
có trình độ chuyên môn cao phục vụ công tác quản lý di sản văn hóa phi vậtthể nói chung, di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói riêng với sự hỗ trợcủa các cơ quan, các nhà khoa học trong nước và thế giới (kể cả đi tham quanhọc tập ở nước ngoài) là rất cần thiết
Cần khẳng định rằng, những người làm công tác quản lý ở cấp cơ sởnói chung và những người làm công tác quản lý trực tiếp ở cấp cơ sở nóiriêng, nếu không hiểu biết sâu về di sản văn hóa phi vật thể cũng như nhữnggiá trị, đặc trưng và các hình thức sinh hoạt của nó, sẽ gặp nhiều khó khăntrong hoạt động
Do đó, đội ngũ cán bộ quản lý và thực hiện chuyên môn này cầnthường xuyên được trang bị những kiến thức cơ bản về quản lý di sản văn hóaphi vật thể nói chung và di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói riêng
Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn về disản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được tiến hành với những nội dung cụ