1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh kiên giang

118 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 621,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, việc cần phải nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý nhànước đối với hoạt động này, kết hợp với việc đánh giá thực trạng công tácquản lý hoạt động các tổ chức phi chính phủ tạ

Trang 1

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGÔ ĐỨC TÍN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI HOẠT ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017

Trang 2

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGÔ ĐỨC TÍN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI HOẠT ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG Chuyên ngành: Quản lý

công Mã số: 60 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS ĐINH THỊ MINH TUYẾT

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, với sự hướng dẫnkhoa học của PGS.TS Đinh Thị Minh Tuyết, Học viện Hành chính Quốc gia.

Tư liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có trích dẫn nguồn gốc

rõ ràng Luận văn không sao chép của bất kỳ một công trình nghiên cứu nào

Người thực hiện

Ngô Đức Tín

Trang 4

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, Khoa Sau đại học, các khoachuyên môn, các thầy giáo, cô giáo Học viện Hành chính Quốc gia đã tạo điềukiện thuận lợi và cung cấp cho tôi những tri thức quý báu trong quá trình họctập, nghiên cứu.

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đinh ThịMinh Tuyết, Nguyên Trưởng Khoa Quản lý nhà nước về Xã hội, Học việnHành chính Quốc gia, người đã trực tiếp và tận tình hướng dẫn tôi trong suốtquá trình thực hiện luận văn này

Chân thành cảm ơn Văn phòng Tỉnh ủy, Văn phòng Ủy ban nhân dântỉnh, Sở Ngoại vụ, Sở Kế hoạch – Đầu tư, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị tỉnhKiên Giang, các đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã hết lòng giúp đỡ, độngviên, khích lệ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi có được kết quả ngày hômnay

Mặc dù rất tâm huyết với đề tài và đã có rất nhiều cố gắng nhưngkhông thể tránh khỏi những hạn chế nhất định Kính mong quý thầy cô tiếptục chỉ dẫn, bạn bè, đồng nghiệp góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn

Người thực hiện

Ngô Đức Tín

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ, BẢNG

MỞ ĐẦU ……… 1

1 Lý do chọn đề tài luận văn……… 1

2 Tình hình nghiên cứu……… 4

3 Mục đích và nhiệm vụ……… 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 7

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu……… 7

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn……… 8

7 Kết cấu của luận văn……… 9

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI HOẠT ĐỘNG TẠI VIỆT NAM………10

1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài luận văn……… 10

1.1.1 Tổ chức phi chính phủ……… 10

1.1.2 Tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam … 12 1.1.3 Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam ……… 15

1.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam ……… 19

1.2.1 Đảm bảo các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động theo đúng định hướng và pháp luật……… ……… 19

Trang 6

1.2.3 Hạn chế tác động chưa tích cực của các tổ chức phi chính phủ nướcngoài hoạt động tại Việt Nam……… ………… 21

1.3 Nội dung quản lí nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nướcngoài hoạt động tại Việt Nam……… ………… 23

1.3.1 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp qui đối với các tổchức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam ………23

1.3.2 Ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách đối với các tổ chứcphi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam ……… 25

1.3.3 Ban hành và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch vậnđộng, sử dụng viện trợ đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạtđộng tại Việt Nam……… 26

1.3.4 Xây dựng và kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý đối với các tổchức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam ……… 29

1.3.5 Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lí đối với các tổ chứcphi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam ……… 34

1.3.6 Kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật đối với các tổ chức phichính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam ……… 35

1.3.7 Tổng kết, đánh giá hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nướcngoài hoạt động tại Việt Nam ……… 361.4 Kinh nghiệm quản lí nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nướcngoài hoạt động tại một số tỉnh/thành phố và giá trị tham khảo cho tỉnh KiênGiang……… 38

1.4.1 Kinh nghiệm quản lí nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủnước ngoài hoạt động tại một số tỉnh/thành phố ……… 38

Trang 7

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔCHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI HOẠT ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀNTỈNH KIÊN GIANG……… 422.1 Khái quát về tỉnh Kiên Giang và các tổ chức phi chính phủ nước ngoàihoạt động tại tỉnh Kiên Giang……… 42

2.1.1 Khái quát về điều kiện phát triển tỉnh Kiên Giang ………… 422.1.2 Khái quát về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tạitỉnh Kiên Giang……….. 472.2 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chínhphủ nước ngoài……… 53

2.2.1 Tổ chức triển khai thực hiện các văn bản pháp qui đối với các tổchức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Kiên Giang………..53

2.2.2 Ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách đối với các tổ chứcphi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Kiên Giang……… 55

2.2.3 Tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch huy động, quản lýviện trợ đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại KiênGiang………… 57

2.2.4 Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lí đối với các tổ chức phi chính phủnước ngoài hoạt động tại Kiên Giang……… 60

2.2.5 Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lí đối với các tổ chứcphi chính phủ nước ngoài và đội ngũ cộng tác viên hoạt động tại tỉnh KiênGiang……… 64

2.2.6 Thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật đối với các tổ chứcphi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Kiên Giang……… 65

Trang 8

2.3 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ

nước ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang……….67

2.3.1 Những kết quả đạt được ……… 67

2.3.2 Những hạn chế……… …… 70

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế……… 73

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI HOẠT ĐỘNG TẠI TỈNH KIÊN GIANG……… 75

3.1 Dự báo xu hướng phát triển của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại tỉnh Kiên Giang……… 75

3.2 Quan điểm và định hướng đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam và Kiên Giang…………. 76

3.2.1 Quan điểm của Đảng đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam……… 76

3.2.2 Định hướng của tỉnh Kiên Giang đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn ……… 78

3.3 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Kiên Giang ……… 79

3.3.1 Rà soát, ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản qui phạm pháp luật quản lý các tổ chức phi chính phủ nước ngoài phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh Kiên Giang……… … 79

3.3.2 Bổ sung và tổ chức thực hiện chính sách huy động viện trợ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Kiên Giang……… 83

Trang 9

và địa phương……… 86

3.3.4 Đa dạng hình thức và phương pháp bồi dưỡng năng lực cho độingũ cánbộ quản lý tổ chức phi chính phủ nước ngoài và đội ngũ cộng tácviên ……… 90

3.3.5 Tiến hành thường xuyên hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát

và xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật của các tổ chức phi chính phủ nướcngoài ……… 94KẾT LUẬN ……… 100DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… … 102

Trang 10

IMF : International Monetary Fund

(Quỹ tiền tệ quốc tế)KTXH : Kinh tế - xã hội

ODA : Oficial Development Assistance

(Viện trợ phát triển chính thức)

PCPNN :Phi chính phủ nước ngoài

TCPCPNN :Tổ chức phi chính phủ nước ngoàiQLNN :Quản lý nhà nước

Sở KH-ĐT :Sở Kế hoạch & Đầu tư

UBND :Ủy ban nhân dân

WB :World Bank (Ngân hàng thế giới)XHCN :Xã hội Chủ nghĩa

Trang 11

1 Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức của Ủy ban Công tác về các tổ chức phi chínhphủ nước ngoài ……… 31

2 Bảng 2.1: Diện tích và dân số tỉnh Kiên Giang năm 2015 43

3 Biểu đồ 2.2: Biểu đồ phân chia theo khu vực của các tổ chức phi chính phủnước ngoài hoạt động tại tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2010 -2016 ………… 48

4 Biểu đồ 2.3: Biểu đồ thống kê lĩnh vực hoạt động của các tổ chức phi chínhphủ nước ngoài hoạt động tại Kiên Giang giai đoạn 2010 -2016………52

5 Sơ đồ 2.4: Sơ đồ tổ chức Ban Công tác vận động, điều phối và sử dụng việntrợ nước ngoài và phi chính phủ nước ngoải trên địa bàn tỉnh KiênGiang……… 63

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Trong bối cảnh thế giới hiện nay, xu hướng phát triển mạnh mẽ của xãhội dân sự và đóng góp của xã hội dân sự vào sự phát triển của xã hội ngàycàng lớn và có ý nghĩa Hơn nữa, một hiện tượng có tính quy luật là Nhànước ngày càng tìm cách và tạo điều kiện chuyển giao cho xã hội tự đảmnhận, tự cân đối nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Vì thế, vai trò của các tổchức xã hội – dân sự, trong đó có tổ chức phi chính phủ - được gọi bằng kháiniệm NGO (Non Governmental Organization) ngày càng được mở rộng vàcoi trọng trong phạm vi quốc gia và toàn thế giới

Các tổ chức phi chính phủ (PCP) đã trở thành một nhân tố quan trọnghoạt động trên nhiều lĩnh vực, nhất là lĩnh vực cứu trợ nhân đạo và phát triển

xã hội Trong thời gian qua, các tổ chức PCP phát triển rất mạnh mẽ, trở thànhmột hiện tượng có tính toàn cầu đến mức người ta đã nói tới một “cộng đồngPCP” mà quan hệ đối ngoại của các quốc gia cần phải tính đến Trong quátrình phát triển xã hội bên cạnh nỗ lực của các chính phủ và tổ chức quốc tế,các tổ chức PCP cũng đã góp một phần công sức đáng kể nhằm cải thiện cuộcsống của những người nghèo và những người bị thiệt thòi trong xã hội Vaitrò của các tổ chức PCP ngày càng được khẳng định, sự tham gia của họ trêncác diễn đàn về kinh tế, xã hội và phát triển ngày một tăng Tiếng nói của các

tổ chức PCP đối với các vấn đề thuộc mối quan tâm chung của cộng đồngquốc tế ngày càng được các nước và các tổ chức quốc tế lớn như Liên hợpquốc (UN), Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) và đặc biệtcác tổ chức ngân hàng, tài chính thế giới như: Ngân hàng thế giới (WB) vàQuỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) quan tâm Chính phủ nhiều nước ngày càng nhậnthức sâu sắc hơn về vai trò và ảnh hưởng của các tổ chức PCP, tăng cường

Trang 13

thông qua các tổ chức PCP triển khai các dự án viện trợ nhằm thực hiện chínhsách đối ngoại của mình.

Việt Nam là một trong những nước đang phát triển, từng phải chịu hậuquả chiến tranh rất nặng nề, do đó nhu cầu giải quyết các vấn đề xã hội như:chất độc da cam/dioxin, xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội, y tế, giáo dục làrất lớn Chúng ta rất cần sự giúp đỡ của các bạn bè quốc tế Các tổ chức phichính phủ nước ngoài (PCPNN) là một lực lượng có vai trò quan trọng để tagiải quyết các nhu cầu đó Mức độ tham gia của các tổ chức này vào côngcuộc phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam ngày càng trở nên sâu rộng, điềunày không chỉ thể hiện qua số lượng các tổ chức PCPNN hoạt động tại ViệtNam và giá trị nguồn viện trợ ngày càng tăng; lĩnh vực và địa bàn hoạt độngngày càng mở rộng mà còn thể hiện qua mối quan hệ ngày càng gắn kết giữachính phủ, chính quyền các cấp của Việt Nam với các tổ chức PCPNN

Tuy nhiên, hoạt động của các tổ chức PCPNN mang tính nhạy cảm, dễ

bị lợi dụng Thực tế các cuộc “Cách mạng màu” xảy ra ở một số nước trên thếgiới đều có sự góp mặt của các tổ chức PCPNN Hiện nay, các vấn đề về dânchủ, nhân quyền và tôn giáo là những quân bài mà các nước phương Tây và

Mỹ chú trọng trong chính sách đối ngoại của họ với Việt Nam Với sự hậuthuẫn về tài chính của chính phủ trong các hoạt động, các tổ chức phi chínhphủ có thể bị lợi dụng hoặc trở thành bình phong trong các vấn đề nêu trêncho các nước có chính sách thù địch với Việt Nam Vì vậy, việc quản lý các

tổ chức PCPNN để vừa tranh thủ được nguồn viện trợ có hiệu quả vừa đảmbảo các tổ chức PCPNN không bị lợi dụng vì các mục đích khác đòi hỏichúng ta phải rất quan tâm chú trọng

Kiên Giang một tỉnh có sớm có nhiều hoạt động của các tổ chức phichính phủ nước ngoài trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long Hiện nay,tại tỉnh Kiên Giang có gần 40 tổ chức PCPNN được cấp giấy phép hoạt động

Trang 14

trong đó trong đó có những tổ chức quốc tế như: CARE International, HabitatFor Humanity International, ICF, World Wild Fund, Action Aids, HiferInternational Số lượng thực tế các tổ chức có dự án và hoạt động hiệu quả chỉchiếm khoảng 70% Hoạt động của các tổ chức PCPNN tại tỉnh Kiên Giang

đa dạng trên nhiều lĩnh vực và ngày càng có nhiều tổ chức mới đến triển khaihoạt động tại tỉnh Tuy nhiên về mặt lý luận cũng như thực tiễn còn tồn tạinhiều vấn đề cần nghiên cứu, hoàn thiện như: thể chế quản lý nhà nước chưađầy đủ, chưa thống nhất, đồng bộ, chưa phù hợp với thực tiễn công tác quản

lý nhà nước về tổ chức PCPNN tại tỉnh; tổ chức bộ máy quản lý các tổ chứcPCPNN chưa được kiện toàn; nhân sự chưa đảm bảo tính chuyên mônnghiệp vụ; cơ chế quản lý chưa thống nhất từ trung ương đến địa phương;công tác kiểm tra, giám sát còn hạn chế; chức năng, nhiệm vụ của các cơ quanQLNN về đối với các tổ chức PCPNN còn chồng chéo, việc phối hợp quản lýcòn lỏng lẻo

Qua tìm hiểu một số tài liệu nghiên cứu về hiệu quả, vai trò, lĩnh vựchoạt động của các tổ chức PCPNN Hiện tại, chưa có tài liệu nghiên cứuchính thức nào nghiên cứu về thực trạng hoạt động và công tác QLNN đối vớihoạt động của các tổ chức PCPNN trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Chính vì vậy, việc cần phải nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý nhànước đối với hoạt động này, kết hợp với việc đánh giá thực trạng công tácquản lý hoạt động các tổ chức phi chính phủ tại Kiên Giang hiện nay và từ đó

đề ra biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối vớihoạt động của các tổ chức phi chính phủ tại Kiên Giang là rất cần thiết vàmang tính thời sự

Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, Học viên chọn đề tài:

“Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Quản lý

Trang 15

công, nhằm mục đích nghiên cứu thực trạng công tác quản lý nhà nước đốivới các tổ chức phi chính phủ đang hoạt động tại tỉnh Kiên Giang và từ đó đềxuất các giải pháp để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với các tổ chứcPCPNN.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Nhằm tìm hiểu vai trò, tính chất, loại hình hoạt động, lĩnh vực hoạtđộng, công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức PCPNN, Học viên đãnghiên cứu một số tài liệu nghiên cứu về các tổ chức PCPNN, các công trìnhnghiên cứu về các tổ chức PCPNN được tổng hợp như sau:

Đề tài “Nâng cao hiệu quả Quản lý nhà nước đối với hoạt động của các

tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam” do học viên Nguyễn Thị Thanh Loanthuộc Học viện Hành chính – Chính trị Quốc gia, khóa học 1999-2002, thựchiện với sự hướng dẫn của TS Thang Văn Phúc

Đề tài “Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nướcngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội” do học viên Cấn Việt Anh thuộc Họcviện Hành chính – Chính trị Quốc gia, khóa học 2005-2008 thực hiện

Tổ chức phi chính phủ nước ngoài với hoạt động vì giảm nghèo ở ViệtNam (1996-2008), tác giả ThS Chử Thu Hà, khoa Văn hóa Dân tộc, Đại họcVăn hóa Hà Nội với nội dung đánh giá hoạt động các tổ chức phi chính phủ ởViệt Nam cho công việc giảm nghèo và phát triển bền vững trong các mảnghoạt động lớn như nông nghiệp, lâm nghiệp, môi trường, phát triển cộngđồng cho đến những hoạt động có quy mô nhỏ như viện trợ trực tiếp tiền vànhu yếu phẩm cũng đều nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo

Viện trợ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam, tácgiả Đôn Tuấn Phong, Ban điều phối viện trợ nhân dân nêu thực trạng và đánhgiá hoạt động viện trợ của các tổ chức phi chính phủ từ năm 1994-2007 về cácmặt hoạt động từ đó tìm ra xu hướng hoạt động cho các năm tiếp theo

Trang 16

Sự hợp tác của Việt Nam với các tổ chức phi chính phủ nước ngoàitrong quá trình hội nhập quốc tế, tác giả Phạm Bình Minh, tạp chí thông tinđối ngoại số 2/2010 với nội dung: Nhằm thực hiện đường lối đối ngoại độclập dân chủ, chính sách đối ngoại mở rộng đa phương hóa, đa dạng hóa cácquan hệ quốc tế, kết hợp công tác đối ngoại chặt chẽ của Đảng, ngoại giao củanhà nước và đối ngoại nhân dân, trong những năm qua Việt Nam đã ngàycàng mở rộng quan hệ với các tổ chức PCPNN Mối quan hệ này đã góp phầngiải quyết một số vấn đề KT-XH, nhất là thực hiện xóa đói giảm nghèo, pháttriển kinh tế tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa còn đang gặp khó khăn.

Báo cáo tổ chức phi chính phủ quốc tế quan hệ đối tác và sự phát triển12/2009 (Trung tâm dữ liệu Tổ chức phi chính phủ) với nội dung miêu tả tổngquan về hoạt động đã được các nhóm làm việc tại Trung tâm dữ liệu các Tổchức phi chính phủ thực hiện năm 2009

Báo cáo về công tác quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủnước ngoài do Sở Ngoại vụ tỉnh Kiên Giang thực hiện từ năm 2011 đến năm2015

Báo cáo 10 năm công tác vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài

do Liên hiệp các tổ chức hữu nghị tỉnh Kiên Giang thực hiện năm 2015 (từnăm 2005 đến năm 2015)

Báo cáo đánh giá công tác vận động, quản lý và sử dụng viện trợ phichính phủ nước ngoài giai đoạn 2010-2015 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnhKiên Giang thực hiện năm 2015

Kiên Giang xã hội hóa các nguồn lực viện trợ vì sự nghiệp phát triểndân sinh, Báo Kiên Giang ngày 15/4/2011 Liên hiệp các tổ chức hữu nghị(LHCTCHN) tỉnh Kiên Giang được thành lập cách đây 7 năm, đã vận độngviện trợ phi chính phủ nước ngoài và giải ngân đạt 736 tỷ đồng, giá trị giảingân theo từng năm tăng liên tục từ 50 đến 75% Nguồn viện trợ đã góp phần

Trang 17

phát triển KT-XH của tỉnh thông qua các dự án giảm nghèo và phát triển bềnvững, giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường Trong đó, phần lớnnguồn viện trợ được dành hỗ trợ trực tiếp cho người dân và đầu tư xây dựngcác công trình phúc lợi xã hội vùng nông thôn như: Xây mới 250 phòng học,

200 cây cầu bê-tông, gần 200 km đường giao thông nông thôn, xây mới và sửa chữa hơn 5.000 căn nhà cho hộ nghèo; hỗ trợ dạy nghề, tạo việc

Theo Học viên tìm hiểu và được biết hiện tại chưa có đề tài nghiên cứukhoa học nào đánh giá hoạt động quản lý nhà nước đối với các tổ chức PCPNNhoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiêncứu ở Việt Nam và thực tiễn tại Kiên Giang, Học viên mong muốn được nghiêncứu một cách đầy đủ hơn về công tác QLNN đối với các tổ

chức PCPNN hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang nhằm đưa ra các định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN đối với các tổ chức này

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Trang 18

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là nội dung QLNN đối với tổchức PCPNN được cấp phép hoặc có dự án đã được phê duyệt thực hiện trênđịa bàn cấp tỉnh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu nội dung QLNN đối vớicác tổ chức PCPNN hoạt động trong những lĩnh vực được pháp luật Việt Nam chophép, cụ thể là lĩnh vực viện trợ nhân đạo, từ thiện và phát triển chứ

không nghiên cứu các tổ chức PCPNN hoạt động trên các lĩnh vực khác như tôn giáo, nhân quyền

- Về không gian: Các tổ chức PCPNN hoạt động trên địa bàn lãnh thổ Việt Nam

- Về thời gian: Đề tài giới hạn thời gian nghiên cứu thực trạng tronggiai đoạn từ năm 2010 đến năm 2016, đồng thời đề xuất giải pháp cho thời giantới

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của phép duyvật biện chứng, duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm của ĐảngCộng sản Việt Nam về đối ngoại nhân dân và tổ chức PCPNN

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu cơ bản được áp dụng trong quá trìnhnghiên cứu luận văn này là:

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các vấn đề lý luận, các luận điểm, luận cứ có liên quan đến đề tài luận văn

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Các số liệu về thực trạng hoạtđộng của tổ chức PCPNN và quản lý nhà nước đối với tổ chức PCPNN hoạt

Trang 19

động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn: Nghiên cứu kinh

nghiệm của một số địa phương

- Phương pháp xử lý thông tin và xử lý số liệu: Thu thập số liệu, xử lý sốliệu để đưa ra những nhận định khách quan về lý luận và thực trạng quản lý

nhà nước đối với tổ chức PCPNN hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn cung cấp một cách khái quát có hệ thống về QLNN đối với tổchức PCPNN, đưa ra cái nhìn tổng thể, khách quan, đa chiều về tổ chứcPCPNN và QLNN đối với tổ chức PCPNN

Luận văn còn giúp cho ta hiểu rõ cách thức quản lý nhà nước của cơquan liên quan đối với các hoạt động này đối với các tổ chức PCPNN trên địabàn tỉnh Kiên Giang

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đánh giá thực trạng QLNN đối với tổ chức PCPNN hoạt động trên tạitỉnh Kiên Giang hiện nay trên cơ sở đó làm rõ những vấn đề chưa đáp ứngnhu cầu thực tiễn

Đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao thực tiễn công tác quản lý nhànước đối với các tổ chức PCPNN tại tỉnh Kiên Giang

Những đóng góp này góp phần làm tăng năng lực cũng như hiệu quảquản lý nhà nước đối với các tổ chức PCPNN tại tỉnh Kiên Giang, qua đó gópphần xây dựng một nền ngoại giao nhân dân vững mạnh, hiệu quả, thân thiện

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo chocán bộ tham gia trong lĩnh vực QLNN đối với tổ chức PCPNN hoạt động trênđịa bàn tỉnh Kiên Giang và cho việc học tập hoặc nghiên cứu trên lĩnh vực cóliên quan

Trang 20

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài mục lục, danh mục các chữ viết tắt, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:

- Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam

- Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

- Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nướcđối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Trang 21

từ khi tổ chức Liên hiệp quốc được thành lập vào năm 1945.

Có khá nhiều khái niệm khác nhau về tổ chức phi chính phủ Một sốnước coi tất cả các tổ chức không thuộc về Chính phủ là tổ chức PCP; trongkhi đó ở một số nước khác các tổ chức PCP là những chủ thể có tư cách phápnhân, các tổ chức không thuộc Chính phủ như: Các Viện, các tổ chức tưnhân, công cộng hoặc các Quỹ Dưới đây là một số định nghĩa về tổ chứcPCP được quan tâm và sử dụng trong thực tiễn nhiều nhất:

- Theo tổ chức Ngân hàng thế giới (World Bank) các tổ chức PCP đượcxác định là những nhóm tổ chức tư nhân theo đuổi các hoạt động để giảm bớt đaukhổ, thúc đẩy các lợi ích của người nghèo, bảo vệ môi trường, cung cấp các dịch vụ

xã hội cơ bản hay đảm nhiệm việc phát triển cộng đồng Với cách sử dụng rộng rãihơn thì thuật ngữ “Tổ chức phi chính phủ” có thể áp dụng cho các tổ chức phi lợinhuận mà hoạt động của chúng hoàn toàn hoặc phần lớn độc lập với Chính phủ Giátrị của các tổ chức PCP chủ yếu thể hiện qua hoạt động viện trợ từ thiện và các dịch

vụ tình nguyện Cho dù trong hai thập kỷ trở lại đây hoạt động PCP ngày càng trở nênchuyên nghiệp hơn nhưng các

Trang 22

nguyên tắc lòng vị tha và tự nguyện vẫn là đặc điểm chủ yếu của tổ chức phi chính phủ.

- Còn theo định nghĩa đưa ra trong Hiến chương của Liên hiệp quốc, làcách định nghĩa được nhiều quốc gia áp dụng hơn cả, thì “Tổ chức phi chính phủ

là thuật ngữ dùng để chỉ một Tổ chức, Hiệp hội, Quỹ Văn hóa Xã hội,

Quỹ hội từ thiện, tập đoàn phi lợi nhuận hoặc các pháp nhân khác mà theopháp luật không thuộc khu vực Nhà nước và không hoạt động vì lợi nhuận.Nghĩa là khoản lợi nhuận nếu có, không thể phân chia theo kiểu chia lợinhuận Tổ chức này không bao gồm các nghiệp đoàn, đảng phái chính trị, hợptác xã phân chia lợi nhuận, hay nhà thờ hoặc chùa”

Tóm lại, có thể thấy tổ chức phi chính phủ theo hiểu một cách chungnhất là các tổ chức Hội, Quỹ VHXH, Hội từ thiện, các tổ chức phi vụ lợi, philợi nhuận hoặc các pháp nhân khác theo luật pháp không thuộc khu vực nhànước tham gia vào các hoạt động hỗ trợ phát triển và hoạt động không vì lợinhuận Nghĩa là, mọi khoản lợi nhuận nếu có thì không được và không thểphân phối theo kiểu chia lợi nhuận

Tuy nhiên, không phải tất cả các nước trên thế giới đều hoàn toànthống nhất với nhau về mặt định nghĩa pháp lý cũng như trong cách gọi về tổchức phi chính phủ Tùy theo đặc thù và tính chất cần nhấn mạnh mà ở cácnước khác nhau lại sử dụng những thuật ngữ khác nhau để chỉ các tổ chức phichính phủ Chẳng hạn ở Pháp, đó là Tổ chức kinh tế - xã hội (ÉconomieSociale); ở Mỹ thì gọi là Tổ chức phi lợi nhuận hay Tổ chức tự nguyện cá thể(Private Voluntary Organizations); Đối với Anh, đó là Hội từ thiện công(Public Charities); Đối với Đức, chỉ đơn giản gọi là Hiệp hội (Verbände);trong khi đó Trung tâm nghiên cứu toàn cầu thúc đẩy sự tham gia của côngdân (The Center for Study of Global Governance) lại thường sử dụng thuậtngữ Tổ chức xã hội dân sự (Civil Society Organization)

Trang 23

1.1.2 Tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia đang trên con đường đổi mới, việc phát huy,tận dụng các nguồn lực để phát triển là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước.Trong đó nguồn lực phát huy sức mạnh toàn dân, thực hiện xã hội hóa, tậndụng sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè, các tổ chức trên thế giới là vô cùng quantrọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm xây dựngmột nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ văn minh

Trong công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện các chủ trương và chínhsách đối ngoại rộng mở, nhà nước đã thu hút ngày càng nhiều tổ chứcPCPNN đến Việt Nam Hầu hết các tỉnh, thành phố, đặc biệt là các tỉnh miềnnúi, các tỉnh phía Nam, các vùng dân tộc ít người đếu có các dự án của các tổchức PCPNN như: chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, chương trình nước sạchnông thôn, vốn tín dụng quay vòng cho phụ nữ nghèo, xây dựng trường tiểuhọc, trường mẫu giáo, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng năng lực,cảnh báo và ứng phó thiên tai Mặc dù kết quả của những trợ giúp này cònkhiêm tốn, nhưng nó đã góp một phần với Chính phủ và nhân dân ta trongcuộc đấu tranh với nghèo đói, bệnh tật và cũng giúp chúng ta có nhận thứcđúng hơn về các tổ chức phi chính phủ

Thuật ngữ “Tổ chức phi chính phủ” mới du nhập vào Việt Nam, lầnđầu tiên được dùng trong Luật tổ chức Chính phủ năm 1992, song cho đếnnay chưa có khái niệm chính thống về “Tổ chức phi chính phủ” Tuy nhiên,trong các cuộc hội thảo khoa học, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đưa rakhái niệm theo những góc độ tiếp cận khác nhau, nhưng có nhiều ý kiến tậptrung vào nội dung sau:

Tổ chức phi chính phủ là một tổ chức được hình thành mang tính độclập tương đối với Chính phủ, hoạt động phi lợi nhuận trong khuôn khổ pháp

Trang 24

luật dưới sự quản lý của nhà nước.

Hiện nay, tại Việt Nam có ba loại hình tổ chức PCPNN đang hoạt động

đó là:

- Các tổ chức PCPNN mang tính chất quốc gia là tổ chức mà các thànhviên đều mang một quốc tịch Các tổ chức này xuất hiện trên thế giới rất sớm.Phạm vi hoạt động chủ yếu phục vụ cho từng cộng đồng, hoạt động trong phạm vimột nước Tại Việt Nam các tổ chức dạng này chiếm số lượng đa số tuyệt đối Ví

dụ như: tổ chức USAID, JICA, Oxfam Anh Quốc

- Các tổ chức PCPNN mang tính chất quốc tế là tổ chức mà các thànhviên của nó mang nhiều quốc tịch khác nhau sáng lập Về số lượng, các tổ

chức dạng này ít hơn nhiều so với các tổ chức PCP quốc gia, tuy nhiên, phạm

vi hoạt động của họ rộng khắp trên thế giới và họ phải tuân theo luật pháp củanước nhận sự hợp tác Tính chất hoạt động của các tổ chức dạng này thườngrất chuyên nghiệp, có trụ sở làm việc, biên chế bộ máy, đội ngũ nhân viênđông đảo và làm việc rất chuyên nghiệp Ví dụ: tổ chức Handicap Quốc tế,OXFAM quốc tế, Plan International, Save the Children, World Vision, WorldWild Fun

- Các tổ chức PCPNN mang tính chất chính phủ là các tổ chức do

Chính phủ lập ra hoặc một tổ chức phi chính phủ nào đó hoàn toàn phụ thuộcvào ngân sách của chính phủ Ví dụ như: Viện Giáo dục Quốc tế (IIE), Cơquan phát triển Quốc tế Thụy Điển (SIDA), Cơ quan phát triển quốc tế HànQuốc (KOICA)

Tại Việt Nam, các tổ chức PCPNN ngày càng nhận được sự quan tâmcủa Chính phủ và nhân dân Việt Nam Hoạt động của các tổ chức PCPNN đãđóng góp một phần không nhỏ cho quá trình phát triển KT-XH của Việt Nam

Cụ thể như sau:

Một là, tạo ra nguồn lực góp phần ổn định và phát triển xã hội

Trang 25

Muốn phát triển xã hội cần phải tìm mọi cách thức để huy động đượcmọi nguồn lực trong xã hội Đặc biệt trong hoàn cảnh nền kinh tế chưa pháttriển, nhà nước chưa có đủ điều kiện về mọi mặt, nhất là về tài chính thì vaitrò của các tổ chức PCPNN sẽ càng trở nên quan trọng Giá trị nguồn viện trợcủa các tổ chức phi chính phủ tuy không lớn nếu so với các nguồn khác,nhưng cũng đã phần nào hỗ trợ Việt Nam giải quyết một số vấn đề khó khănnhư: Chương trình xóa đói giảm nghèo, tăng cường kiến thức, chăm sóc sứckhỏe, nâng cao thu nhập của người dân Nhiều dự án viện trợ của các tổ chứcPCPNN không chỉ giúp giải quyết các vấn đề khó khăn chung mà còn gópphần quan trọng vào quá trình phát triển bền vững của địa phương Ngoài ra,

do hình thức viện trợ của các tổ chức PCPNN thường là đưa trực tiếp đến đốitượng thụ hưởng nên đã thực sự giúp được đối tượng cần sự hỗ trợ là nhữngngười nghèo, thiệt thòi trong xã hội

Hai là, giúp nâng cao nhận thức, năng lực cho người dân và các thành viên

Bên cạnh những đóng góp về vật chất và hiện vật, các tổ chức PCPNNcùng các tình nguyện viên của mình còn có các hỗ trợ khác như hướng dẫn

kỹ thuật, đào tạo và chuyển giao kinh nghiệm Từ việc tham gia quản lý vàthực hiện các dự án, các đối tác Việt Nam đã không chỉ tranh thủ được nguồnvốn, kỹ thuật mà còn học hỏi được kinh nghiệm tổ chức, điều hành hoạt động

và quản lý của các tổ chức PCPNN, nâng cao kỹ năng chuyên môn, trình độhiểu biết và phương pháp làm việc của mình

Các tổ chức PCPNN còn có vai trò tích cực trong việc phát huy tínhnăng động, tăng cường kiến thức, khả năng tự quản lý của người dân Có thểnói, việc tham gia các dự án và hoạt động của các tổ chức PCPNN là một môitrường xã hội rèn luyện tính chủ động, sáng tạo cho người dân

Ba là, giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước

Trang 26

Các tổ chức PCPNN qua các hoạt động của mình cũng đã tạo điều kiện

để người dân phản ánh được những nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của mình,qua đó giúp nhà nước có những chủ trương, chính sách và biện pháp quản lýđúng và phù hợp với thực tiễn xã hội

Nhiều chương trình, dự án của các tổ chức PCPNN đã có hỗ trợ tíchcực trong việc hoạch định các chính sách và hoàn thiện các văn bản quản lýnhà nước của Việt Nam trên lĩnh vực đó Nhất là các chương trình dự án liênquan đến vấn đề bình đẳng giới, bảo vệ quyền của phụ nữ, trẻ em

Bốn là, mở rộng quan hệ hợp tác và tham gia hội nhập khu vực và thế giới

Các tổ chức PCPNN do đặc điểm, tính chất và mục tiêu hoạt động đãtạo ra sự hợp tác đa phương và song phương giúp các nước có điều kiện mởrộng giao lưu, hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực Ngày nay, nhiều Hội nghịquan trọng của Liên hiệp quốc, Hội nghị khu vực hoặc liên khu vực hay cácdiễn đàn quốc tế khi được tổ chức thì đều có các diễn đàn song hành của các

tổ chức phi chính phủ Trong quá trình xây dựng chính sách, chính phủ cácnước phát triển đã hình thành cơ chế tham vấn và lấy ý kiến đóng góp của các

tổ chức phi chính phủ Do đó, nếu biết cách tranh thủ tốt thì thông qua cáchoạt động của mình, các tổ chức PCPNN sẽ góp phần tăng cường hiểu biết và

mở rộng quan hệ hữu nghị của nhân dân các nước với Việt Nam, đấu tranhchống lại các luận điệu sai trái, áp đặt chống Việt Nam Đồng thời, giúpchúng ta tuyên truyền một cách hiệu quả, làm cho nước ngoài hiểu đúng hơn

và khuyến khích, mời gọi thêm nhiều tổ chức PCPNN khác có các chươngtrình dự án hỗ trợ Việt Nam phát triển KT-XH

1.1.3 Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam

Trang 27

Quản lý nhà nước là sự tác động có chủ đích của nhà nước vào cácquan hệ xã hội nhằm làm cho các quan hệ đó diễn ra theo chiều hướng tốtnhất cho sự phát triển đất nước và mỗi con người Nói cách khác QLNN làviệc thực thi quyền lực nhà nước nhằm tác động và điều chỉnh mọi quan hệ

xã hội nhằm làm cho quốc gia phát triển ổn định và bền vững

Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyềnlực nhà nước và chứa đựng trong nó nhiều kỹ năng thuộc về quản lý Có thểthấy QLNN là thuật ngữ dùng để chỉ hoạt động thực hiện quyền lực nhà nướccủa các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện các chức năng đốinội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội nhằmmục đích ổn định và phát triển đất nước

Quản lý nhà nước có những đặc điểm chung phản ánh bản chất củaQLNN và không phụ thuộc vào chế độ chính trị hay trình độ phát triển củatừng quốc gia: đó là hoạt động chấp hành và điều hành với đặc trưng là ra vănbản dưới luật mang tính pháp lý – quyền lực được bảo đảm bằng khả năng ápdụng cưỡng chế và đảm bảo về phương diện tổ chức bộ máy; mang tính tổchức trực tiếp của nhà nước, tính chính trị, tính dân chủ; là hoạt động chủđộng, sáng tạo, có cơ sở vật chất lớn

Ở Việt Nam, QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằngquyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của conngười để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằmthực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc xâydựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc

Thực hiện QLNN phải tuân thủ những nguyên tắc riêng Những nguyêntắc này không phải là sản phẩm duy ý chí của một tổ chức hay một cá nhânnào mà được hình thành trên cơ sở quy luật khách quan, trên bản chất chế độchính trị, xã hội, trong thời gian, không gian và hoàn cảnh cụ thể

Trang 28

Quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN là một bộphận trong tổng thể hoạt động quản lý của nhà nước đối với nền KT-XH củanước ta Cụ thể hơn, đó là một bộ phận của QLNN trên lĩnh vực đối ngoại Vìvậy, trước hết nó cũng mang những đặc điểm chung của hoạt động QLNN.Bên cạnh đó, quản lý nhà nước đối với tổ chức PCPNN cũng có những đặcđiểm riêng của mình.

Quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN là mộtdạng quản lý xã hội mang tính chất nhà nước, điều chỉnh hoạt động của các tổchức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam bằng quyền lực nhà nước Nóicách khác QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN là quá trình nhànước sử dụng các phương thức quản lý để tác động, điều chỉnh các hoạt độngcủa các tổ chức PCPNN diễn ra theo quy định

Quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN để bảođảm hoạt động của các tổ chức này theo đúng mục đích nhân đạo từ thiện,phù hợp với luật pháp và yêu cầu phát triển KT-XH của Việt Nam Mặt khác,QLNN còn nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của các tổ chức PCPNN trong quátrình hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, bảo đảm cho mối quan hệ giữa các tổchức này với các bên đối tác Việt Nam được hài hòa

 Chủ thể quản lý

Cũng như đối với các lĩnh vực khác, chủ thể của hoạt động quản lý trênlĩnh vực này là nhà nước Nhà nước với hệ thống pháp luật và công cụ cưỡngchế, thay mặt nhân dân thực hiện công việc quản lý Nhà nước với đội ngũcán bộ có thẩm quyền pháp lý và được sử dụng thẩm quyền ấy trong quá trìnhquản lý, được trao quyền quản lý, hướng dẫn chỉ đạo khách thể quản lý

Nói một cách cụ thể hơn, chủ thể của hoạt động này ở Trung ương là Chính phủ, Chính phủ thống nhất quản lý và phân công Bộ Ngoại giao là cơ quan đầu mối, phối hợp với các bộ, ngành liên quan Ở cấp tỉnh, chủ thể quản

Trang 29

quan đầu mối, phối hợp với các bộ, ngành liên quan chính là UBND các tỉnh, thành phố và các sở ngành liên quan.

 Khách thể quản lý

Khách thể của hoạt động quản lý này là mối quan hệ giữa các tổ chứcPCPNN với các đối tác Việt Nam và ở một mức độ nào đó là giữa các tổ chứcnày với nhau Nhưng trước hết, khách thể của quản lý trên lĩnh vực này chính

là tất cả những vấn đề liên quan đến hoạt động của các tổ chức PCPNN tạiViệt Nam, bao gồm rất nhiều hoạt động cụ thể khác nhau, từ việc xuất nhậpcảnh của công dân nước ngoài là nhân viên của tổ chức, tuyển dụng lao độngViệt Nam vào làm việc cho các tổ chức PCPNN, cho đến việc xin giấy phéphoạt động, giấy phép mở văn phòng đại diện, văn phòng dự án hay khảo sátthực địa, lập dự án, triển khai dự án, viện trợ tiền, hàng Có thể tổng quátnhững hoạt động đa dạng này vào thành những nhóm đối tượng chính đặtdưới sự quản lý của nhà nước như sau:

- Nhà nước quản lý sự hiện diện của các tổ chức PCPNN trên lãnh thổViệt Nam; hướng dẫn đăng ký hoạt động cho các tổ chức này

- Nhà nước quản lý hoạt động viện trợ phát triển các tổ chức PCPNN

- Nhà nước quản lý nguồn viện trợ PCPNN

- Nhà nước quản lý cán bộ, nhân viên hoạt động trong các tổ chức PCPNN tại Việt Nam

- Nhà nước quản lý thông tin liên quan đến hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam

 Đối tượng quản lý

Đối tượng của QLNN trên lĩnh vực công tác phi chính phủ là các tổchức PCPNN hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam Chiếu theo quy định của nhànước ta, đối tượng này bao gồm: Các tổ chức phi chính phủ, các Quỹ văn hóa

xã hội, Viện nghiên cứu, Trường đại học, Trung tâm giáo dục, Hội đoàn và

Trang 30

các Hội hữu nghị được thành lập ở nước ngoài nhưng đang hoạt động tạiViệt Nam Đối tượng này có đặc thù riêng vì là tổ chức có tư cách pháp nhânnước ngoài và cá nhân là người nước ngoài mà mục đích hoạt động đặc thù

là từ thiện nhân đạo và phát triển cộng đồng

1.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam

1.2.1 Đảm bảo các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động theo đúng định hướng và pháp luật

Cùng với việc thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa và

đa phương hóa các mối quan hệ, số lượng các tổ chức PCPNN hoạt động tạiViệt Nam ngày càng tăng lên Có thể thấy quan hệ với cộng đồng PCPNNđang trở thành một bộ phận quan trọng trong tổng thể quan hệ đối ngoại củaViệt Nam Các tổ chức PCPNN đã và đang góp phần không nhỏ cùng nhànước khắc phục các tác động tiêu cực của quá trình phát triển Chính vì lẽ đó,cũng như các lĩnh vực khác, nó tất yếu cần có sự QLNN Có thể nói QLNNđối với hoạt động của các tổ chức PCPNN là điều hết sức cần thiết, hướnghoạt động của các tổ chức này vào mục tiêu phát triển của đất nước

Mục đích của QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN lànhằm hướng dẫn các tổ chức này hoạt động phù hợp với định hướng của ViệtNam, phù hợp với những yêu cầu, nhiệm vụ phát triển KT-XH của công cuộcđổi mới và phù hợp với văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam QLNNcũng là để đảm bảo cho các tổ chức PCPNN hoạt động trong khuôn khổ phápluật và những chính sách hiện hành của Việt Nam, đồng thời không trái vớipháp luật quốc tế

1.2.2 Phát huy mặt tích cực của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam

Không chỉ nhằm mục đích quản lý, QLNN còn nhằm mục đích tạo điều

Trang 31

kiện thuận lợi cho các tổ chức PCPNN hoạt động và phát huy những tác dụngtích cực của mình và qua đó thu hút tối đa mọi nguồn lực đóng góp cho sựphát triển KT-XH của Việt Nam.

Là một nước nông nghiệp lạc hậu, lại trải qua nhiều năm bị chiến tranhtàn phá, thường xuyên bị thiên tai đe dọa, cuộc sống của người dân còn gặpnhiều khó khăn, thiếu thốn Đảng và Nhà nước Việt Nam đã không ngừng nỗlực đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để đạt đượcmục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Trong

sự nghiệp to lớn và nặng nề này, chúng ta luôn cần huy động và tranh thủ sựgiúp đỡ quí báu, có hiệu quả của Chính phủ các nước và các tổ chức quốc tếtrong đó có cả các tổ chức PCPNN

Quản lý nhà nước còn nhằm mục đích khai thác có hiệu quả nguồnviện trợ của các tổ chức PCPNN Sự hỗ trợ của các tổ chức PCPNN tuykhông lớn so với các nguồn viện trợ khác như viện trợ ODA, song cũng làmột nguồn lực quan trọng giúp nhà nước tháo gỡ khó khăn trong giai đoạnkhôi phục, xây dựng kinh tế, xóa đói giảm nghèo Nhìn chung, nguồn viện trợnày có tác dụng thiết thực đối với nhiều ngành, địa phương và cơ sở, là mộtnguồn bổ sung đáng kể cho ngân sách quốc gia Do đó nó có một ý nghĩa nhấtđịnh đối với nền kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là khi nguồn viện trợ nàyđược tập trung cho các vùng sâu, vùng xa, vùng bị thiên tai

Quản lý nhà nước còn nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức PCPNNtrong công tác đối ngoại nhân dân Trên thế giới hiện nay các tổ chức PCP ngàycàng có vị trí và vai trò quan trọng Các tổ chức PCP được xem như cầu nốitrong quan hệ giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển Chính phủnhiều nước trong số các quốc gia tài trợ ngày càng quan tâm, sử dụng các cơ chếtham vấn, lấy ý kiến của các tổ chức PCP trong việc xây dựng, hoạch định chínhsách, tăng cường sử dụng tổ chức PCP vào việc triển khai viện trợ

Trang 32

cũng như trong thực hiện chính sách đối ngọai của mình Trong bối cảnhngày càng có nhiều tổ chức PCPNN, trong đó có nhiều tổ chức PCP quốc tế

có sức mạnh kinh tế và tầm ảnh hưởng lớn vào hoạt động tại Việt Nam, thì lạicàng cần phải có sự QLNN để từ đó tranh thủ, tác động để các tổ chứcPCPNN này sẽ có đóng góp tích cực trong việc làm cho nhân dân thế giớihiểu biết hơn về Việt Nam; ủng hộ Việt Nam nhiều hơn cả về về kinh tế,chính trị lẫn đối ngoại và chống lại những luận điệu sai lệch bên ngoài về cácvấn đề như: Nhân quyền, dân chủ, tự do tôn giáo, tín ngưỡng Qua đó, ngàycàng nâng cao vị trí của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế

1.2.3 Hạn chế tác động chưa tích cực của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam

Do những đặc thù riêng, hoạt động của các tổ chức PCPNN cũng rấtcần có sự quan tâm đặc biệt và quản lý sâu sát của nhà nước và chính quyềncác cấp bởi đây là một lĩnh vực rất nhạy cảm, liên quan nhiều đến ổn địnhchính trị, an ninh, quốc phòng của quốc gia Nếu không có sự quản lý chặt chẽ

sẽ không loại trừ những tác động xấu cũng như không thể phát huy được hiệuquả của hoạt động này

Quản lý nhà nước về hoạt động của các tổ chức PCPNN nhằm bảo vệlợi ích dân tộc, độc lập chủ quyền, bí mật quốc gia; ngăn ngừa rò rỉ thông tin

và ngăn ngừa phòng chống sự xâm nhập của các yếu tố độc hại từ bên ngoài

Quản lý nhà nước còn nhằm ngăn chặn, hạn chế các tác động tiêu cựctrong hoạt động của các tổ chức PCPNN Đó là:

- Bên cạnh các hoạt động hỗ trợ phát triển và viện trợ nhân đạo, có một số

tổ chức PCPNN lại chú trọng đến các hoạt động nhằm các mục đích khác như: Tuyêntruyền lối sống, tư tưởng phương Tây; tìm cách tác động đến quá trình cải cách hànhchính, cải cách thể chế, xây dựng pháp luật, chính sách của Việt Nam; thúc đẩy sự rađời và phát triển của các tổ chức phi chính phủ

Trang 33

Việt Nam hay các tổ chức xã hội dân sự hoạt động độc lập tách khỏi sự quản

lý của nhà nước Các hoạt động đó đã gây ra ảnh hưởng phức tạp tại địaphương Nhất là ở những nơi thiếu sự quản lý chặt chẽ của chính quyền địaphương hoặc ở những nơi chính quyền chưa đủ mạnh

- Nhiều tổ chức PCPNN đang mất dần tính chất phi chính phủ thực sựcủa mình Trên đà phát triển ngày càng có nhiều tổ chức PCPNN lệ thuộc vềtài chính vào các cơ quan của chính phủ nên các tổ chức này thường bị tácđộng bởi ý đồ của cơ quan tài trợ Hoạt động của tổ chức PCPNN thườngnhằm vào các đối tượng và mục đích nhất định chứ không còn đơn thuầnmang tính chất từ thiện như ban đầu Chẳng hạn như có một số tổ chức lợidụng việc thực hiện các hoạt động dự án của mình để khảo sát lấy thông tincủa Việt Nam qua đó có những thông tin sai lệch một chiều bất lợi cho ViệtNam Có thể thấy đây là thủ đoạn quen thuộc mà các nước tư bản đã áp dụngvới nhiều nước trên thế giới

- Ngày càng có nhiều tổ chức có gắn bó với các hệ phái tôn giáo lớn, cónguồn gốc tôn giáo hoặc nhận nguồn tài trợ từ các tổ chức tôn giáo đến hoạt

động tại Việt Nam Trong quá trình hoạt động nhiều tổ chức trong số này luônquan tâm và có ý định gây ảnh hưởng về tôn giáo, thậm chí có cả những hànhđộng kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi hay tư tưởng tự do tôn giáo theokiểu phương Tây

Tóm lại, PCPNN đang là lĩnh vực có những bước tiến nhanh, do đó càngcần có sự quan tâm chú ý và QLNN QLNN sẽ tạo điều kiện thuận lợi hướngdẫn các tổ chức PCPNN đi đúng hướng, phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam;tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của họ trong quá trình thực hiện những nhiệm vụphát triển KT-XH của nước ta Bên cạnh đó, hoạt động của các tổ chức PCPNNtại Việt Nam rất phức tạp và ẩn chứa những yếu tố có thể gây ra tác động tiêucực đến an ninh, chính trị, văn hóa, tư tưởng Vì vậy, việc

Trang 34

QLNN là điều tất yếu và ngày càng trở nên cần thiết đối với hoạt động củacác tổ chức PCPNN tại Việt Nam hiện nay Thông qua việc quản lý giúp ViệtNam khuyến khích phát huy những ưu điểm và kịp thời ngăn chặn, nhắc nhởnhững sai phạm của các tổ chức PCPNN.

1.3 Nội dung quản lí nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam

1.3.1 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp qui đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam

Để thực hiện tốt việc QLNN của mình, nhà nước cần phải sử dụng rấtnhiều công cụ quản lý như chính sách, pháp luật, bộ máy, tài sản công Có thểthấy các nội dung đầu tiên của việc QLNN đối với hoạt động của các tổ chứcPCPNN chính là xây dựng và ban hành các chính sách, các văn bản pháp luật

về QLNN đối với các tổ chức PCPNN tại Việt Nam

Xây dựng và ban hành chính sách là một nội dung quan trọng và phứctạp trong QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN Các chính sáchQLNN đối với các tổ chức PCPNN chính là tổng thể các giải pháp công cụ màNhà nước sử dụng để tác động lên các tổ chức này để thực hiện những mụctiêu nhất định theo định hướng của nhà nước

Để đảm bảo sự quản lý ở tầm vĩ mô, nhà nước cần phải xây dựng cácchính sách, chiến lược lâu dài và quy hoạch tổng thể cho công tác QLNN đốivới hoạt động của các tổ chức PCPNN; định hướng và xác định triển vọnghợp tác giữa Việt Nam với các tổ chức PCPNN trong tương lai Yêu cầu đề rakhi xây dựng các chính sách QLNN trên lĩnh vực này là phải tạo ra được một

hệ thống các chính sách đồng bộ với nhau và thống nhất chung với chính sáchQLNN trên các lĩnh vực khác, như vậy mới có thể tạo ra được một sự pháttriển đồng bộ Nhiệm vụ của nhà nước là xây dựng được hệ thống chính sách,quy định, phù hợp với tình hình thực tế và với nhiệm vụ cụ thể của từng thời

Trang 35

kỳ nhất định Bằng việc xây dựng và ban hành các chính sách, nhà nước hỗtrợ, khuyến khích, động viên, tạo điều kiện thuận lợi giúp các tổ chức PCPNNhoạt động trên cơ sở đảm bảo quan điểm của Đảng, chính sách của nhà nướcđối với công tác đối ngoại nói chung và PCPNN nói riêng.

Bên cạnh đó, QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN cònphải dựa trên cơ sở pháp luật Pháp luật chính là yếu tố phân biệt QLNN vớinhững dạng quản lý khác Điều đó có nghĩa tất cả các tổ chức PCPNN, khôngphân biệt hình thức tổ chức, quy mô, lĩnh vực hoạt động hay quốc gia gốc đềuphải tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật của Việt Nam

Cụ thể nội dung này là xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật có liênquan đến hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam để làm cơ sở chocông tác QLNN; sử dụng pháp luật điều chỉnh có tính cưỡng chế trong QLNNđối với hoạt động của các tổ chức PCPNN

Đối với phía Việt Nam, sử dụng pháp luật nhằm tranh thủ tận dụngnhững tác động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của các tổ chứcPCPNN đối với sự phát triển KT-XH Đối với phía các tổ chức PCPNN, phápluật tạo lập cho họ một môi trường hoạt động chính thức và cho thấy quyềnlợi của họ cũng được nhà nước Việt Nam bảo đảm

Pháp luật QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN không chỉgồm các quy định về quan hệ đối ngoại mà còn bao gồm cả các chế định về:Ngoại thương, tài chính, tôn giáo, xã hội Toàn bộ hệ thống này cần phải phùhợp với điều kiện cụ thể, với định hướng phát triển của đất nước ta và với luậtpháp quốc tế

Trong thực tế có thể nói PCPNN cũng là một lĩnh vực khá mới mẻ, nênnước ta vẫn chưa có hệ thống pháp luật về quản lý hoạt động của các tổ chứcPCP (nhất là các tổ chức PCPNN) một cách hoàn chỉnh mà mới chỉ dừng lại ởmức độ là một số các văn bản quy phạm pháp luật riêng lẻ Trước năm 1989

Trang 36

khi chưa có nhiều hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam thì không

có một khuôn khổ pháp lý quy định rõ ràng Từ năm 1989, nhất là từ năm

1995 trở lại đây số lượng các tổ chức PCPNN vào hoạt động ngày càng giatăng, phương thức và tính chất cũng thay đổi nhiều Do đó, để có đầy đủ cơ sởpháp lý cho hoạt động của các tổ chức PCPNN, Thủ tướng Chính phủ đãthành lập Ủy ban công tác về các tổ chức PCPNN và ban hành một số văn bảnquy quy phạm pháp luật liên quan

Tuy nhiên thực tế cho thấy, nội dung điều chỉnh của các văn bản nàythực sự vẫn chưa theo kịp yêu cầu của sự phát triển Việc áp dụng phươngthức QLNN theo pháp luật, bằng pháp luật đối với các tổ chức PCPNN vẫncòn nhiều bất cập Để có thể tiếp tục QLNN đối với hoạt động của các tổ chứcPCPNN và tranh thủ nguồn viện trợ một cách hiệu quả phục vụ nhu cầu pháttriển KT & XH trong điều kiện đất nước còn khó khăn, cần phải tiếp tục xâydựng và hoàn thiện các văn bản pháp qui từ đó tạo môi truờng pháp lý thuậnlợi cho việc QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam

1.3.2 Ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam

Xây dựng chiến lược, chương trình, kế hoạch, định hướng trong quản

lý nhà nước nói chung là để thực hiện tầm nhìn, mục tiêu trong tương lai Vìvậy, nếu thiếu một chiến lược phát triển phù hợp, chương trình, kế hoạch,định hướng rõ ràng thì khó thực hiện được mục tiêu đề ra và dễ đi chệchhướng

Tổ chức phi chính phủ nói chung, tổ chức PCPNN nói riêng mang tính chất là tập hợp các nhóm người khác nhau, tự nguyện, phi lợi nhuận nên hoạt động của các tổ chức PCPNN thường rất đa dạng, đôi khi đi ra ngoài khuôn khổ của nước sở tại Chính vì vậy, để đảm bảo sự thống nhất quản lý vĩ mô đối với tổ chức PCPNN hoạt động tại Việt Nam, nhà nước cần xây dựng

Trang 37

chiến lược, chương trình, kế hoạch và định hướng triển vọng quan hệ hợp tácgiữa Việt Nam với các tổ chức PCPNN trong tương lai cũng như hướng hoạtđộng của các tổ chức này theo đúng nguyên tắc, mục tiêu của chúng ta.

Trong quá trình triển khai, thực hiện chính sách cần phải có: Hướngdẫn, theo dõi, giám sát, kiểm tra, đánh giá và rút kinh nghiệm trong việc thựchiện chính sách liên quan đến hoạt động của các tổ chức PCPNN Đây là mộtnội dung rất quan trọng nhưng lại rất dễ bị buông lỏng trong công tác quản lýnhà nước đối với các tổ chức PCPNN Công tác này cần được tiến hànhthường xuyên, có hệ thống, kịp thời kiến nghị, sửa đổi, bổ sung hệ thống vănbản và phương thức quản lý cho phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệulực của QLNN đối với các tổ chức PCPNN

- Để thực hiện công việc này, cần xây dựng hệ thống tiêu chí giám sát

và đánh giá; xây dựng chương trình, kế hoạch đánh giá; thực hiện các hìnhthức tổ chức nhân dân tham gia giám sát các chương trình, dự án phi chínhphủ để rút kinh nghiệm và chấn chỉnh các hoạt động và kết quả của chươngtrình, dự án trên phạm vi toàn quốc

1.3.3 Ban hành và tổ

động, sử dụng viện trợ đối

động tại Việt Nam

chức thực hiện các chương trình, kế hoạch vận với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt

Để vận động viện trợ đối với các tổ chức PCPNN, Chính phủ đã ban hành

Quyết định số 286/2006/QĐ-TTg, ngày 27/12/2006 về“Chương trình quốc gia xúc tiến vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài giai đoạn 2006-2010”; Quyết định số 40/2013/QĐ-TTg, ngày 10/7/2013 về “Chương trình quốc gia xúc tiến vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài giai đoạn 2013-2017” Các Chương trình này định hướng các lĩnh vực cần ưu tiên vận động các nguồn viện

trợ của các tổ chức PCPNN để góp phần giải quyết vấn đề như: Xóa đói giảmnghèo, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, y tế, giáo

Trang 38

Trên cơ sở Quyết định của Thủ tướng, các tỉnh, thành phố căn cứ tìnhhình thực tế tại địa phương ban hành các Quyết định về Chương trình xúc tiếnvận động viện trợ phù hợp với nhu cầu của tỉnh

Quản lý việc thực hiện các chương trình, kế hoạch huy động viện trợ và sửdụng nguồn viện trợ của các tổ chức PCPNN là nhiệm vụ rất quan trọng trongtổng thể các nội dung của QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN Nhànước cần thống nhất quản lý về nguồn viện trợ PCPNN, điều phối giám sát đểđảm bảo sử dụng nguồn viện trợ đúng mục đích và có hiệu quả Công tác quản lýnày phải được lãnh đạo các bộ ngành, các địa phương quan tâm chỉ đạo Đặc biệtcần phải có sự tham gia của các cơ quan tài chính các cấp

Việc quản lý nguồn viện trợ trước đây được thực hiện theo Quyết định

số 64/2001/QĐ-TTg, ngày 26/04/2001 của Thủ tướng Chính phủ Tuy nhiên,sau hơn 8 năm thực hiện Quyết định này đã bộc lộ một số bất cập do hệ thốngpháp lý liên quan của Việt Nam và thực tiễn hoạt động viện trợ của các tổchức PCPNN đã có nhiều thay đổi Xuất phát từ yêu cầu đó, ngày 22/10/2009Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 93/NĐ-CP của Chính phủkèm theo Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ PCPNN (thay thế cho Quyếtđịnh số 64/2001/QĐ-TTg) để làm cơ sở pháp lý cho việc QLNN về nguồnviện trợ PCPNN Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2010

Theo quy chế này, nguồn viện trợ PCPNN được hiểu là viện trợ khônghoàn lại, không vì mục đích lợi nhuận của bên tài trợ để thực hiện các mục tiêuphát triển và nhân đạo dành cho Việt Nam Bên tài trợ gồm các tổ chức PCPNN,các tổ chức và cá nhân người nước ngoài khác, kể cả các tập đoàn, công ty cóvốn nước ngoài, cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài tôn trọng vàchấp hành luật pháp Việt Nam, có thiện chí, cung cấp trực tiếp viện trợ khônghoàn lại nhằm hỗ trợ cho các mục tiêu phát triển KT-XH và

Trang 39

nhân đạo của Việt Nam Các phương thức cung cấp viện trợ PCPNN đượcthể hiện dưới ba hình thức chủ yếu là viện trợ thông qua các chương trình, dự

án, viện trợ phi dự án và viện trợ khẩn cấp trong trường hợp có thiên tai hoặcđịch họa khác

Nguyên tắc cơ bản trong QLNN về viện trợ PCPNN và sử dụng nguồnviện trợ là Chính phủ thống nhất quản lý viện trợ PCPNN trên cơ sở công khai,minh bạch, có phân công, phân cấp, gắn quyền hạn với trách nhiệm, đảm bảo

sự phối hợp chặt chẽ và phát huy tính chủ động của các cấp, các cơ quan quản

lý ngành, địa phương, tổ chức và các đơn vị thực hiện Mọi khoản viện trợ đềuphải ghi vào nguồn thu ngân của nhà nước Các khoản viện trợ khi xây dựng

và triển khai phải tuân thủ theo quy định pháp luật của Việt Nam, không tiếpnhận những khoản viện trợ có thể gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật

tự an toàn xã hội, xâm hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp táccủa tổ chức, cá nhân

Nghị định này cũng đã đưa ra các quy định cụ thể về hoạt động QLNN đối với nguồn viện trợ PCPNN như:

- Quy định rõ thẩm quyền phê duyệt và phân cấp thẩm quyền phê duyệtviện trợ PCPNN; Việc phân cấp thẩm quyền phê duyệt khoản viện trợ PCPNNđược xem xét theo tính chất, phạm vi và mục đích viện trợ, không phụ thuộc vàoquy mô khoản viện trợ

- Quy định chi tiết các nội dung liên quan đến việc chuẩn bị, thẩm định khoản viện trợ PCPNN, hồ sơ của các khoản viện trợ PCPNN

- Quy định về việc xây dựng danh mục cụ thể các chủng loại hàng hóa,trang thiết bị có kết cấu đơn giản đã qua sử dụng phù hợp với nhu cầu và điều kiện

sử dụng của Việt Nam trong từng thời kỳ, do Thủ trưởng các bộ, ngành xây dựng

và trình Thủ tướng Chính phủ, để làm cơ sở cho việc phê duyệt việc

tiếp nhận khoản viện trợ Bên cạnh đó còn quy định trách nhiệm của các bên

Trang 40

liên quan về xác nhận hàng hóa đã qua sử dụng (có kết cấu đơn giản), còn hơn80% so với giá trị sử dụng mới.

- Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơquan quản lý nhà nước về viện trợ PCPNN và các cơ quan, tổ chức liên quan,trong đó quy định cơ quan đầu mối trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệtviệc tiếp nhận các khoản viện trợ PCPNN thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủtướng Chính phủ; Cơ quan đầu mối về quản lý viện trợ PCPNN ở địa phương là

Sở Kế hoạch và Đầu tư; Cơ quan đầu mối trong quan hệ và vận động PCPNN sẽ

do Ủy ban nhân dân tỉnh tự quyết định trên cơ sở nhu cầu thực tế của địa phương

- Quy định liên quan tới xử phạt vi phạm các quy định của Quy chế

1.3.4 Xây dựng và kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam

Bộ máy tổ chức quản lý hoạt động của các tổ chức PCPNN ở nước tahiện nay cơ bản đã được hình thành, bao quát từ trung ương đến địa phương.Tuy nhiên đó không phải là mối quan hệ chi phối ngành dọc mà là giữa trungương và địa phương có sự liên kết và thực hiện chế độ báo cáo thường kỳ

Ở cấp Trung ương, bộ máy gồm 4 cơ quan phụ trách chính là Bộ Ngoạigiao, Ủy ban Công tác về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, Liên hiệp các tổchức hữu nghị Việt Nam, Ban Điều phối viện trợ nhân dân

 Bộ Ngoại giao

Bộ Ngoại giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Nghịđịnh số 12/2012/NĐ-CP ngày 01 tháng 3 năm 2012 của Chính phủ về đăng ký

và quản lý hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam Bộ Ngoại giao là

cơ quan đầu mối quản lý hoạt động của các tổ chức PCPNN và có nhiệm vụ:

- Chủ trì và phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng, ban hành cácvăn bản qui phạm pháp luật về quản lý hoạt động của các tổ chức PCPNN tại

Ngày đăng: 04/04/2022, 12:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cấn Việt Anh (2008), Quản lý Nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Quản lý Hành chính công, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Nhà nước đối với các tổ chức phi chínhphủ nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội
Tác giả: Cấn Việt Anh
Năm: 2008
2. Cấn Việt Anh (2015), Hoàn thiện nội dung quản lý Nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài ở Hà Nội hiện nay, Luận án Tiến sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện nội dung quản lý Nhà nước đối vớicác tổ chức phi chính phủ nước ngoài ở Hà Nội hiện nay
Tác giả: Cấn Việt Anh
Năm: 2015
15. Phạm Kiên Cường (2012), Giáo trình Quản lý Nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ nước ngoài, Nhà Xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý Nhà nước đối với tổchức phi chính phủ nước ngoài
Tác giả: Phạm Kiên Cường
Nhà XB: Nhà Xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2012
16. Phạm Chí Dũng (2012), Hoàn thiện nội dung và cơ chế quản lý nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài, đề tài nghiên cứu khoa học, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện nội dung và cơ chế quản lý nhànước nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài
Tác giả: Phạm Chí Dũng
Năm: 2012
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006, 2011, 2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI, XII, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI, XII
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
18. Đặng Quang Toàn (2014), Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ tại tỉnh Quảng Trị, Luận văn Thạc sỹ Quản lý Hành chính công, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phichính phủ tại tỉnh Quảng Trị
Tác giả: Đặng Quang Toàn
Năm: 2014
19. Đinh Quý Độ (2012), Các tổ chức phi chính phủ quốc tế - vấn đề nổi bật xu hướng cơ bản và tác động chủ yếu, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội 20. Học viện hành chính (2009), Giáo trình Quản lý nhà nước đối với tổchức phi chính phủ, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tổ chức phi chính phủ quốc tế - vấn đề nổibật xu hướng cơ bản và tác động chủ yếu, "Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội20. Học viện hành chính (2009), "Giáo trình Quản lý nhà nước đối với tổ"chức phi chính phủ
Tác giả: Đinh Quý Độ (2012), Các tổ chức phi chính phủ quốc tế - vấn đề nổi bật xu hướng cơ bản và tác động chủ yếu, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội 20. Học viện hành chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2009
21. Học viện hành chính (2006), Giáo trình Quản lý học đại cương, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý học đại cương
Tác giả: Học viện hành chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Năm: 2006
22. Học viện hành chính, Tài liệu bồi dưỡng về Quản lý hành chính nhà nước (chương trình chuyên viên chính) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng về Quản lý hành chính nhànước
24. Trương Thị Phong Lan (2014), Quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sỹHành chính công, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước đối với tổ chức phichính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam hiện nay
Tác giả: Trương Thị Phong Lan
Năm: 2014
25. Nguyễn Thị Thanh Loan (2002), Nâng cao hiệu quan quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Quản lý Hành chính công, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quan quản lý nhànước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Loan
Năm: 2002
26. Phạm Bình Minh (2010), Sự hợp tác của Việt Nam với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trong quá trình hội nhập quốc tế, Thông tin đốingoại, (2), tr. 51-54, 58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin đối"ngoại
Tác giả: Phạm Bình Minh
Năm: 2010
30. Nguyễn Trang Thu, Hoàn thiện quản lý nhà nước về công tác phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Quản lý Hành chính công, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện quản lý nhà nước về công tác phichính phủ nước ngoài tại Việt Nam hiện nay
32. Thủ tướng Chính phủ (2001), Quyết định số 59/2001/QĐ-TTg ngày 24/04/2001 về việc thành lập Uỷ ban Công tác về các tổ chức phi chính phủnước ngoài để giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, giải quyết những vấn đề liên quan đến các hoạt đông PCPNN hoạt động tại Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 59/2001/QĐ-TTg ngày24/04/2001 về việc thành lập Uỷ ban Công tác về các tổ chức phi chính phủ
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2001
34. Thủ tướng Chính phủ (2006), Quyết định số 286/2006/QĐ-TTg ngày 27/12/2006 về việc ban hành “Chương trình quốc gia xúc tiến vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài giai đoạn 2006-2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 286/2006/QĐ-TTg ngày27/12/2006 về việc ban hành “Chương trình quốc gia xúc tiến vận động viện trợphi chính phủ nước ngoài giai đoạn 2006-2010
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2006
35. Thủ tướng Chính phủ (2013), Quyết định số 40/2013/QĐ-TTg về việc ban hành “Chương trình quốc gia xúc tiến vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài giai đoạn 2013 – 2017” nhằm tăng cường hơn nữa công tác quản lý và nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 40/2013/QĐ-TTg về việcban hành “Chương trình quốc gia xúc tiến vận động viện trợ phi chính phủ nướcngoài giai đoạn 2013 – 2017
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2013
39. Ủy ban công tác về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (2013), Báo cáo về tình hình hợp tác với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 2003-2013 tại Hội nghị Quốc tế lần thứ 3, tháng 7/2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về tình hình hợp tác với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tạiViệt Nam giai đoạn 2003-2013 tại Hội nghị Quốc tế lần thứ 3, tháng 7/2013
Tác giả: Ủy ban công tác về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
Năm: 2013
42. Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang (2013), Quyết định số 891/QĐ- UBND ngày 11/4/2013 về việc ban hành Quy chế làm việc của Ban công tác vận động, điều phối và sử dụng viện trợ nước ngoài và phi chính phủ nướcngoài trên đại bàn tỉnh Kiên Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 891/QĐ-UBND ngày 11/4/2013 về việc ban hành Quy chế làm việc của Ban công tác vậnđộng, điều phối và sử dụng viện trợ nước ngoài và phi chính phủ nước
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang
Năm: 2013
43. Ủy ban nhân dân Kiên Giang (2013), Quyết định số 893/QĐ-UBND ngày 11/4/2013 về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng tài trợ trongnước và viện trợ phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 893/QĐ-UBNDngày 11/4/2013 về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng tài trợ trong
Tác giả: Ủy ban nhân dân Kiên Giang
Năm: 2013
44. Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang (2007), Quyết định số 1648/QĐ- UBND ngày 30/8/2007 về thực hiện “Chương trình xúc tiến vận động viện trợphi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2006- 2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1648/QĐ-UBND ngày 30/8/2007 về thực hiện “Chương trình xúc tiến vận động viện trợ"phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2006-2010
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Diện tích và dân số tỉnh Kiên Giang năm 2015 - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh kiên giang
Bảng 2.1 Diện tích và dân số tỉnh Kiên Giang năm 2015 (Trang 54)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm