Dưới sự giámsát của Quốc hội, sự chỉ đạo và điều hành của Chính phủ và sự tham gia quản lý tích cực của các Bộ, ngành, địa phương Luật NSNN 2002 đã phát huynhững mặt tích cực, nâng cao h
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………./………… ……./…….
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………./………… ……./…….
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công với đề tài “Quản lý chi
ngân sách nhà nước huyện Cư Jút, tỉnh ĐăkNông” là kết quả của quá trình
nỗ lực học tập, nghiên cứu của bản thân và được sự giúp đỡ, động viên củaquý thầy cô, bạn bè đồng nghiệp và người thân Qua trang viết này, tác giả xingửi lời cảm ơn tới những người đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập, nghiêncứu khoa học vừa qua
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với người hướng dẫn khoa học
-TS Nguyễn Ngọc Thao đã dành nhiều thời gian và công sức giúp đỡ tác giảhoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Học viện hành chính quốc gia vàtoàn thể quý thầy cô của trường đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt côngviệc nghiên cứu khoa học của mình
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, đồng nghiệp đơn vị côngtác đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn
TÁC GIẢ
Đỗ Đăng Khoa
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi
và được hướng dẫn khoa học bởi TS Nguyễn Ngọc Thao Những số liệutrong các bảng, biểu đồ phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá đượcchính tác giả thu thập, có nguồn gốc rõ ràng và ghi rõ trong tài liệu thamkhảo Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích mộtcách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của địa phương tôinghiên cứu Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứunào khác
TÁC GIẢ
Đỗ Đăng Khoa
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 6
1.1 Tổng quan về quản lý chi Ngân sách nhà nước 6
1.2 Quản lý chi Ngân sách nhà nước 18
1.3 Quản lý chi ngân sách ở một số địa phương và bài học kinh nghiệm 39
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH HUYỆN CƯJÚT, TỈNH ĐĂKNÔNG 43
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Cư Jút 43
2.2 Phân tích quản lý chi Ngân sách huyện Cư Jút 47
2.3 Đánh giá chung về quản lý chi ngân sách của huyện Cư Jút 69
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐĂKNÔNG 83
3.1 Phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội 83
3.2 Các giải pháp hoàn thiện quản lý chi ngân sách 87
3.3 Một số đề xuất, kiến nghị 97
KẾT LUẬN 101
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu KT-XH chủ yếu 45
Bảng 2.2 Dự toán chi ngân sách huyện 2014-2016 52
Bảng 2.3 Quyết toán chi ngân sách huyện 2014-2016 59
Bảng 2.4 So sánh quyết toán chi ngân sách huyện 2014-2016 62
Bảng 2.5 Quyết toán chi XDCB theo nguồn vốn năm 2014-2016 64
Bảng 2.6 Quyết toán chi TX theo lĩnh vực năm 2014-2016 66
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ Hình 2.1 Bản đồ vị trí địa lý huyện Cư Jút, tỉnh ĐăkNông 43
Hình 2.2 Bản đồ hành chính huyện Cư Jút, tỉnh ĐăkNông 44
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu chi trong dự toán chi NS huyện 2014-2016 53
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu nguồn vốn chi XDCB 2014-2016 64
Biểu đồ 2.3 Cơ cấu lĩnh vực chi trong chi TX 2014-2016 66
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chi TX: Chi thường xuyên
Chi XDCB: Chi xây dựng cơ bản
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bộ máy Nhà nước của bất kỳ quốc gia nào muốn đảm bảo được hoạtđộng một cách bình thường và ổn định để thực hiện tốt các chức năng, nhiệm
vụ quản lý mọi mặt đời sống xã hội của đất nước thì nhất thiết phải có nguồnNSNN Trong nền kinh tế thị trường, ngân sách nhà nước đảm nhận vai tròquản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế, xã hội Một NSNN vững mạnhkhông chỉ đảm bảo được sự cân đối, khuyến khích phát triển sản xuất kinhdoanh, nuôi dưỡng nguồn thu, trên cơ sở đó tăng được nguồn thu để đáp ứngnhu cầu chi tiêu của Nhà nước ngày càng tăng lên mà còn phải thể hiện việcphân phối và quản lý chi đúng đắn, hợp lý và hiệu quả Như vậy, chức năngcủa NSNN, ngoài việc động viên nguồn thu thì còn phải thực hiện quản lý vàphân phối chi tiêu sao cho có hiệu quả Đó cũng là một tất yếu khách quan
Luật NSNN được Quốc hội khoá XI thông qua ngày 16/12/2002 và cácvăn bản hướng dẫn thi hành Luật NSNN đã tạo ra khuôn khổ pháp lý cho việcquản lý tập trung, thống nhất NSNN, đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sáchtrung ương, đồng thời tăng cường phân cấp quản lý, tạo sự chủ động gắn vớităng cường trách nhiệm cho các cấp chính quyền địa phương Dưới sự giámsát của Quốc hội, sự chỉ đạo và điều hành của Chính phủ và sự tham gia quản
lý tích cực của các Bộ, ngành, địa phương Luật NSNN 2002 đã phát huynhững mặt tích cực, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng ngân sách và tài sảnnhà nước, góp phần quan trọng vào những thành công chung của quá trìnhđiều hành ngân sách tạo ra sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Namthời gian qua Tuy nhiên, thực tiễn quá trình triển khai thực hiện Luật NSNNnăm 2002 cũng đã bộc lộ không ít hạn chế, bất cập đặt ra những yêu cầu đổimới phù hợp với sự phát triển của kinh tế xã hội hiện nay Hội nhập kinh tế
Trang 9quốc tế đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng một cách có hiệu quả các công cụ,chính sách tài chính, tiền tệ, đặc biệt là chính sách thu, chi NSNN góp phầnkhắc phục khuyết tật của cơ chế thị trường nhằm điều tiết nền kinh tế có hiệuquả Mặt khác thông qua sử dụng các công cụ này mới có thể quản lý thốngnhất nền tài chính quốc gia, động viên toàn bộ nguồn lực để phát triển KT-
XH, đáp ứng yêu cầu của cuộc đổi mới đất nước
Trong những năm qua, hòa chung với sự phát triển của đất nước, huyệnCưJút, tỉnh ĐăkNông cũng đã đạt được những thành tựu to lớn về KT-XH,quản lý chi ngân sách được tăng cường, điều hành chi phù hợp với khả năngcân đối ngân sách, các nhiệm vụ chi phát triển KT-XH, đảm bảo quốc phòng,
an ninh, đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước và thực hiện chính sách ansinh xã hội của địa phương cơ bản được đáp ứng
Bên cạnh những kết quả đạt được, quản lý chi ngân sách của huyện vẫncòn nhiều hạn chế, hiệu quả chi ngân sách chưa cao, chi đầu tư còn dàn trải,thiếu tập trung, tình trạng NSĐP vượt dự toán thường xuyên lớn và có xuhướng tăng hàng năm cho thấy việc lập và thực thi ngân sách của địa phươngcòn thiếu những căn cứ nền tảng
Củng cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả ngân sách Nhànước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dângóp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển KT-XH của huyện giai đoạn
2016 – 2020 mà Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Cư Jút lần thứ 6,nhiệm kỳ 2015-2020 đề ra là một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay Vì
vậy, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý chi ngân sách nhà nước huyện
Cư Jút, tỉnh ĐăkNông” nhằm góp phần giải quyết vấn đề cấp bách nói trên.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu quản lý ngân sách nhà nước trong những năm qua cónhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả như:
Trang 10- Phạm Văn Thịnh, (2011), Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhànước huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, Luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng.
- Nguyễn Văn Ngọc, (2012), Quản lý và sử dụng kinh phí NSĐP tại các
cơ quan hành chính Nhà nước, đơn vị sự nghiệp trên địa bàn Lâm Đồng; Luậnvăn thạc sĩ, Đại học Kinh tế
- Trần Ngọc Thực, (2012), Đổi mới quản lý chi hành chính sự nghiệp từngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ, Học việnhành chính quốc gia
- Nguyễn Thị Chiến, (2015), Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sáchQuận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Đại học Kinh tế - TP
và nội dung nghiên cứu khác nhau Luận văn “Quản lý chi ngân sách nhà
nước huyện Cư Jút, tỉnh ĐăkNông” được nghiên cứu thực tế và thu thập số
liệu tại Phòng Tài chính - Kế hoạch, Ủy ban nhân dân huyện CưJút Luận văncũng đề xuất nhiều giải pháp có thể áp dụng vào thực tiễn của NSNN nóichung và ngân sách huyện CưJút nói riêng nhằm quản lý chi ngân sách cóhiệu quả hơn Vì vậy, đề tài không trùng lặp với các công trình nghiên cứutrước đây
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích:
Vận dụng lý luận về ngân sách nhà nước để phân tích, đánh giá thựctrạng quản lý chi ngân sách nhà nước của huyện Cư Jút, tỉnh ĐăkNông Từ đó
Trang 11đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý chi ngân sách huyện
Cư Jút, tỉnh ĐăkNông trong thời gian tới
- Nhiệm vụ:
+ Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về quản lý chi NSNN
+ Phân tích thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước huyện Cư Jút,tỉnh ĐăkNông từ năm 2014- 2016
+ Đề xuất quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý chiNSNN của huyện Cư Jút, tỉnh ĐăkNông trong thời gian tới
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng nghiên cứu: Quản lý chi ngân sách nhà nước huyện CưJút, tỉnh ĐăkNông
- Về không gian: Tập trung nghiên cứu công tác quản lý chi ngân sáchnhà nước trên địa bàn huyện Cư Jút, tỉnh ĐăkNông
- Về thời gian: Nghiên cứu giai đoạn năm 2014- 2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Đề tài dựa trên phương pháp luận Chủ nghĩa duyvật lịch sử, Chủ nghĩa duy vật biện chứng của Mác – LêNin và các chủtrương, đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà Nước về quản lý tài chính,ngân sách; lý thuyết quản lý nhà nước về kinh tế, tài chính và kế thừa có chọnlọc các công trình nghiên cứu khoa học có nội dung phù hợp với đề tài
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phương pháp thống kê,tổng hợp, phân tích, so sánh, bảng biểu minh họa
6 Ý nghĩa về lý luận, thực tiễn của luận văn
Luận văn vận dụng lý luận về quản lý ngân sách nhà nước để phân tích,đánh giá thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước của huyện CưJút, tỉnhĐăkNông từ năm 2014- 2016 Từ đó:
Trang 12- Góp phần hệ thống hóa lý luận về NSNN, quản lý NSNN và vai tròcủa NSNN trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
- Làm rõ những những mặt tích cực và những hạn chế trong quản lý chiNSNN huyện Cư Jút, tỉnh ĐăkNông
- Đề ra quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý chi NSNN huyện
Cư Jút, tỉnh ĐăkNông trong thời gian tới
- Với kết quả nghiên cứu, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo choviệc lãnh đạo, quản lý, điều hành NSNN hiệu quả góp phần thúc đẩy pháttriển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Cư Jút, tỉnh ĐăkNông
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu kham khảo, nội dungchính của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chi Ngân sách nhà nước
- Chương 2: Thực trạng quản lý chi Ngân sách nhà nước huyện CưJút,tỉnh ĐăkNông
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý chi Ngân sách nhà nướchuyện CưJút, tỉnh ĐăkNông trong thời gian tới
Trang 13Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 Tổng quan về quản lý chi Ngân sách nhà nước
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Ngân sách nhà nước
NSNN là một phạm trù kinh tế, lịch sử gắn liền với sự hình thành vàphát triển của Nhà nước, để thực hiện duy trì và phát triển xã hội Nhà nướcđặt ra các khoản thu mang tính bắt buộc mọi đối tượng trong xã hội phải đónggóp để đảm bảo chi tiêu cho bộ máy Nhà nước, quân đội, cảnh sát, giáo dục, ytế
NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, quỹ này thể hiện lượngtiền huy động từ thu nhập quốc dân để đáp ứng cho các khoản chi tiêu củaNhà nước NSNN có hai mặt, đằng sau hình thức biểu hiện bên ngoài là mộtloại quỹ tiền tệ của Nhà nước với các khoản thu và các khoản chi của nó thìNSNN lại phản ảnh các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối gắn với mộtchủ thể đặc biệt đó là Nhà nước, nhằm tạo lập và sử dụng nguồn tài chínhquốc gia để giải quyết các nhiệm vụ về KT-XH trong những thời kỳ nhất định
Luật NSNN được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt nam khóa XI,
kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 16/12/2002 đã xác định ” NSNN là toàn bộ cáckhoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyếtđịnh và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng,nhiệm vụ của Nhà nước” Có thể hiểu NSNN là một kế hoạch tài chính quốcgia bao gồm chủ yếu các khoản thu và chi của Nhà nước được mô tả dướihình thức cân đối bằng giá trị tiền tệ Phần thu thể hiện các nguồn tài chínhđược huy động vào NSNN, phần chi thể hiện chính sách phân phối các nguồntài chính đã huy động được để thực hiện mục tiêu KT-XH NSNN được lập và
Trang 14thực hiện cho một thời gian nhất định, thường là một năm và được Quốc hộiphê chuẩn thông qua
Ngân sách Nhà nước Việt Nam gồm: Ngân sách trung ương và Ngânsách địa phương Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hànhchính các cấp có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân Phù hợp với môhình tổ chức chính quyền Nhà nước ta hiện nay ngân sách địa phương baogồm: ngânsách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngânsách cấp tỉnh) Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọichung là ngân sách cấp huyện) và ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọichung là ngânsách cấp xã) [1]
1.1.1.2 Chi Ngân sách nhà nước
Chi NSNN thể hiện các quan hệ tiền tệ hình thành trong quá trình phânphối và sử dụng quỹ NSNN nhằm trang trải cho các chi phí của bộ máyQLNN và thực hiện các chức năng KT-XH mà Nhà nước đảm nhận theonhững nguyên tắc nhất định Quá trình phân phối là quá trình cấp phát kinhphí từ NSNN hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng Quá trình sửdụng là quá trình trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ ngân sách khôngtrải qua việc hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng
Mỗi chế độ chính trị xã hội, mỗi giai đoạn phát triển, chi NSNN cónhững nội dung và cơ cấu khác nhau, song đều có những đặc trưng cơ bảnnhư sau:
Chi NSNN luôn gắn chặt với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh
tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước đó đảm nhiệm Nội dung chi ngân sách do
chính quyền nhà nước các cấp đảm nhận theo quy định hoặc phân cấp quản lýNSNN để đảm bảo thực hiện chức năng quản lý, phát triển KT-XH Các cấpcủa cơ quan quyền lực nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nộidung, mức độ của các khoản chi NSNN vì các cơ quan đó quyết định các
Trang 15nhiệm vụ chính trị, KT-XH của vùng, miền, đất nước, thể hiện ý chí nguyệnvọng của nhân dân.
Chi ngân sách nhằm phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng dân cư
ở các vùng hay ở phạm vi quốc gia Điều này xuất phát từ chức năng quản lý
toàn diện nền KT-XH của Nhà nước Thông thường các khoản chi của NSNNđược xem xét hiệu quả trên tầm vĩ mô Điều này có nghĩa hiệu quả của cáckhoản chi ngân sách phải được xem xét toàn diện dựa trên việc hoàn thànhcác mục tiêu KT-XH đề ra
Các khoản chi NSNN mang tính không hoàn trả hoặc hoàn trả không trực tiếp và thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu với mức độ và số lượng của những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lại dưới hình thức chi tiêu công.
Điều này được quyết định bởi những chức năng tổng hợp về KT-XH của Nhànước Các khoản chi ngân sách gắn chặt với sự vận động của các phạm trù giátrị khác như tiền lương, giá cả, lãi suất, tỷ suất hối đoái… nói chung là cácphạm trù thuộc lĩnh vực tiền tệ [2]
Nội dung, cơ cấu chi NSNN là sự phản ảnh những nhiệm vụ kinh tế,chính trị, xã hội của Nhà nước đó trong từng giai đoạn lịch sử và chịu sự chiphối của các nhân tố sau:
- Chế độ CT-XH là nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến nội dung, cơ cấu chingân sách vì nó quyết định bản chất và nhiệm vụ KT-XH của Nhà nước
- Sự phát triển của lực lượng sản xuất vì nó tạo khả năng và điều kiệncho việc hình thành nội dung, cơ cấu chi, vừa đặt ra yêu cầu thay đổi nội dung
cơ cấu chi trong từng thời kỳ nhất định
- Khả năng tích lũy của nền kinh tế: khả năng này càng lớn thì nguồnchi đầu tư phát triển kinh tế cũng như khả năng đáp ứng yêu cầu chi thườngxuyên tăng lên
Trang 16- Mô hình tổ chức bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ KT-XH mà nóđảm nhận trong từng giai đoạn lịch sử nhất định
1.1.1.3 Quản lý chi Ngân sách nhà nước
Quản lý chi NSNN là quá trình thực hiện có hệ thống các biện phápphân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm phục vụ chi tiêu cho bộ máy
và thực hiện các chức năng của Nhà nước Thực chất quản lý chi NSNN làquản lý quá trình sử dụng các nguồn vốn chi tiêu của Nhà nước từ khâu lập kếhoạch đến khâu sử dụng nhằm đảm bảo ngân sách được sử dụng tiết kiệm vàhiệu quả, phù hợp với yêu cầu đặt ra theo đúng chính sách, chế độ của nhànước phục vụ các mục tiêu KT-XH
Quản lý chi ngân sách là quá trình phân phối lại quỹ tiền tệ tập trungmột cách có hiệu quả nhằm thực hiện chức năng của nhà nước trên cơ sở sửdụng hệ thống chính sách, pháp luật Chi ngân sách mới thể hiện ở khâu phân
bổ ngân sách còn hiệu quả sử dụng ngân sách như thế nào thì phải thông quacác biện pháp quản lý [3]
Quản lý chi NSNN cần phải chú trọng các mặt sau:
- Quản lý chi phải gắn chặt với việc bố trí các khoản chi làm cơ sở choviệc quản lý xây dựng quy chế kiểm tra, kiểm soát
- Bảo đảm yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả trong việc bố trí và quản lý cáckhoản chi tiêu ngân sách nhà nước
- Quản lý chi phải thực hiện các biện pháp đồng bộ, kiểm tra giám sáttrước, trong và sau khi chi
- Phân cấp quản lý các khoản chi cho các cấp chính quyền địa phươngphải gắn với phân cấp nhiệm vụ phát triển KT-XH của các cấp để bố trí nguồnngân sách phù hợp
Trang 17- Quản lý chi ngân sách phải kết hợp quản lý các khoản chi thuộcnguồn vốn nhà nước với các khoản chi thuộc nguồn vốn của các thành phầnkinh tế để tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao hiệu quả chi.
1.1.2 Nội dung chi Ngân sách nhà nước
1.1.2.1 Chi đầu tư xây dựng cơ bản
Chi ngân sách về xây dựng cơ bản là khoản chi cho các công trìnhthuộc kết cấu hạ tầng (cầu cống, bến cảng, sân bay, hệ thống thuỷ lợi, nănglượng, viễn thông…) các công trình kinh tế có tính chất chiến lược, các côngtrình và dự án phát triển văn hóa xã hội trọng điểm, phúc lợi công cộng nhằmhình thành thế cân đối cho nền kinh tế, tạo ra tiền đề kích thích quá trình vậnđộng vốn của doanh nghiệp và tư nhân nhằm mục đích tăng trưởng kinh tế vànâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân
Quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản là quản
lý quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ ngân sách nhànước để đầu tư tái sản xuất tài sản cố định nhằm từng bước tăng cường, hoànthiện, hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất phục vụ củanền kinh tế quốc dân đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn [4]
- Chi đầu tư XDCB có các đặc điểm sau:
+ Chi đầu tư phát triển của ngân sách là khoản chi tích lũy
+ Quy mô và cơ cấu chi đầu tư XDCB của NSNN không cố định vàphụ thuộc vào chiến lược phát triển KT-XH của Nhà nước trong từng thời kỳ
và mức độ phát triển KT-XH của quốc gia, của địa phương
+ Chi đầu tư XDCB phải gắn chặt với chi thường xuyên nhằm nâng caohiệu quả vốn đầu tư
Quản lý chi đầu tư XDCB của NSNN là một nội dung rất rộng lớn, đây
là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn trong chi đầu tư phát triển và được thực hiệntheo phương thức không hoàn trả
Trang 18- Nguyên tắc quản lý quản lý vốn đầu tư XDCB
+ Đúng đối tượng
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách nhà nước được thực hiệncấp phát theo phương thức không hoàn trả nhằm đảm bảo vốn để đầu tư các
dự án cần thiết phải đầu tư thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, quốc phòng
an ninh…từ đó tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết cho sự phát triển toàndiện và cân đối của nền kinh tế quốc dân Nguồn vốn cấp phát đầu tư xâydựng cơ bản của NSNN chỉ được sử dụng để cấp phát thanh toán cho các dự
án thuộc đối tượng sử dụng vốn NSNN theo quy định của Luật NSNN và Quychế quản lý đầu tư và xây dựng
+ Thực hiện nghiêm chỉnh trình tự đầu tư và xây dựng, có đủ các tài liệu thiết kế và dự toán được duyệt.
Trình tự đầu tư và xây dựng là trật tự các giai đoạn, các bước công việctrong từng giai đoạn của quá trình đầu tư và xây dựng công trình Các dự ánđầu tư không phân biệt quy mô và mức vốn đầu tư đều phải thực hiện nghiêmchỉnh trình tự đầu tư và xây dựng gồm 3 giai đoạn: chuẩn bị đầu tư, thực hiệnđầu tư, kết thúc đầu tư đưa dự án vào khai thác sử dụng Các công việc tronggiai đoạn thực hiện đầu tư và kết thúc đầu tư đưa công trình vào khai thác sửdụng có thể thực hiện tuần tự hoặc gối đầu, xen kẽ tùy theo điều kiện cụ thểcủa từng dự án đầu tư
+ Đúng mục đích, đúng kế hoạch.
Nguồn vốn NSNN đầu tư cho các công trình, dự án được xác địnhtrong kế hoạch NSNN hàng năm dựa trên kế hoạch phát triển kinh tế – xã hộicủa toàn bộ nền kinh tế quốc dân, kế hoạch xây dựng cơ bản của từng Bộ,ngành, địa phương, từng đơn vị cơ sở và khả năng nguồn vốn của NSNN Vìvậy, cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản của NSNN đúng mục đích, đúng kếhoạch nhằm tuân thủ đúng nguyên tắc quản lý NSNN và đảm bảo tính kế
Trang 19hoạch, cân đối của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, của từng ngành, từng lĩnhvực và từng địa phương.
+ Theo mức độ khối lượng thực tế hoàn thành kế hoạch và chỉ trong phạm vi dự toán được duyệt.
Sản phẩm xây dựng cơ bản có vốn đầu tư lớn, thời gian xây dựng dài,kết cấu kỹ thuật phức tạp Quản lý và cấp vốn theo mức độ khối lượng thực tếhoàn thành kế hoạch nhằm đảm bảo vốn cho quá trình đầu tư xây dựng cơ bảnđược tiến hành liên tục đúng kế hoạch tiến độ, kiểm tra chặt chẽ được chấtlượng từng khối lượng xây dựng cơ bản và chất lượng của công trình hoànthành, đảm bảo vốn đầu tư được sử dụng đúng mục đích và có vật tư đảmbảo, tránh ứ đọng, gây thất thoát và lãng phí vốn đầu tư
+ Giám đốc bằng đồng tiền.
Giám đốc bằng đồng tiền được thực hiện đối với mọi dự án đầu tư,trong tất cả các giai đoạn của quá trình đầu tư và xây dựng; bao gồm giámđốc trước, trong và sau khi cấp phát vốn Kiểm tra bằng đồng tiền đối với việc
sử dụng vốn đúng mục đích, đúng kế hoạch, có hiệu quả là chức năng của tàichính Thực hiện công tác giám đốc trong quá trình cấp phát vốn đầu tư có tácdụng đảm bảo sử dụng tiền vốn tiết kiệm, đúng mục đích, đúng kế hoạch vàthúc đẩy các đơn vị thực hiện tốt trình tự đầu tư và xây dựng, kế hoạch tiến độthi công, đảm bảo chất lượng công trình và hoàn thành công trình đúng thờihạn để đưa vào sản xuất, sử dụng
- Hình thức cấp phát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản:
Cấp phát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách Nhà
nước: bao gồm cấp phát tạm ứng và cấp phát thanh toán khối lượng xây dựng
cơ bản hoàn thành Cấp phát thanh toán vốn đầu tư xây dựng công trình đượcthực hiện trêncơ sở nội dung, phương thức thanh toán trong hợp đồng đã kýkết và khối lượngthực hiện Tùy theo thời gian thực hiện hợp đồng, tính chất
Trang 20hợp đồng, các bên tham gia thoả thuận áp dụng một phương thức hoặc kếthợp các phương thứcthanh toán sau:
+ Cấp phát thanh toán theo giá trọn gói: Kho bạc Nhà nước cấp phátvốnđầu tư cho chủ đầu tư thanh toán cho nhà thầu theo giá khoán gọn tronghợpđồng, áp dụng cho gói thầu xác định rõ về khối lượng, chất lượng và thờigianthực hiện Trường hợp có những phát sinh ngoài hợp đồng nhưng không
do nhàthầu gây ra sẽ được người quyết định đầu tư xem xét, giải quyết theocác điều khoản quy định trong hợp đồng đã ký Số lần cấp phát thanh toán cóthể theo giai đoạn, theo phần công việc hoàn thành hoặc cấp phát thanh toánmột lần khi hoàn thành toàn bộ hợp đồng
+ Cấp phát thanh toán theo đơn giá cố định: Kho bạc Nhà nước cấpphát vốn đầu tư cho chủ đầu tư thanh toán cho nhà thầu các công việc hoànthànhtheo đơn giá xác định trước trong hợp đồng Giá trị được thanh toán xácđịnhbằng cách nhân khối lượng hoàn thành thực tế với đơn giá xác định trướctronghợp đồng
+ Cấp phát thanh toán theo giá điều chỉnh được áp dụng cho những góithầu mà tại thời điểm ký hợp đồng không đủ điều kiện xác định chính xác về
sốlượng, khối lượng hoặc có biến động lớn về giá cả do Nhà nước thay đổihoặc điều chỉnh, bổ sung các cơ chế, chính sách và hợp đồng có thời gianthực hiện trên 12 tháng
1.1.2.2 Chi thường xuyên.
Chi thường xuyên của ngân sách Nhà nước là quá trình phân phối, sửdụng vốn ngân sách Nhà nước để đáp ứng cho các nhu cầu chi gắn liền vớithựchiện các nhiệm vụ của Nhà nước về lập pháp, hành pháp, tư pháp và một
số dịch vụ công cộng khác mà Nhà nước vẫn phải cung ứng Cùng với quátrình phát triển kinh tế - xã hội, các nhiệm vụ thường xuyên mà Nhà nướcphải đảm nhận ngày càng tăng, đã làm phong phú thêm nội dung chi thường
Trang 21xuyên của ngân sách Nhà nước Tuy vậy, trong công tác quản lý chi người ta
có thể lựa chọn một số cách phân loại các hình thức chi để tập hợp chúng vàonội dung chi thường xuyên nhanh và thống nhất [5]
- Xét theo lĩnh vực chi:
Chi thường xuyên dựa trên chức năng của chính phủ đối với nền kinh tế
- xã hội như: Nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy lợi; thủy sản; công nghiệp khaithác mỏ; công nghiệp chế biến; xây dựng; khách sạn nhà hàng và du lịch; giaothông vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc; tài chính, tín dụng; khoa học vàcông nghệ; quản lý nhà nước và an ninh quốc phòng; giáo dục và đào tạo; y tế
và các hoạt động xã hội; hoạt động văn hoá và thể thao Phân loại theo ngànhkinh tế quốc dân nhằm so sánh chi ngân sách giữa các nước được thuận lợitheo Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) và cẩm nang Thống kê Tài chính củachính phủ (GFS) do Liên Hợp Quốc xây dựng Hơn nữa, cách phân loại nàycòn giúp phân tích chính sách chi ngân sách phù hợp với chức năng, nhiệm vụ
cụ thể của nhà nước trong từng thời kỳ
- Theo nội dung kinh tế của các khoản chi:
Chi thường xuyênlà những khoản chi có thời hạn tác động ngắnthường dưới một năm Nhìn chung, đây là các khoản chi chủ yếu phục vụ chochức năng quản lý và điều hành xã hội một cách thường xuyên của nhà nướcnhư: Quốc phòng, an ninh, sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, văn hoá thôngtin, thể dục thể thao, khoa học công nghệ, hoạt động của Đảng Cộng sản ViệtNam Thuộc loại chi thường xuyên gồm các nhóm, mục chi sau đây:
+ Chi thanh toán cho cá nhân như tiền lương; tiền công; phụ cấp lương;học bổng sinh viên; tiền thưởng; phúc lợi tập thể; các khoản đóng góp như:bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn.v.v
+ Chi nghiệp vụ chuyên môn: Các khoản chi về hàng hóa, dịch vụ tạicác cơ quan Nhà nước như: điện nước, vệ sinh môi trường; vật tư văn phòng;
Trang 22dịch vụ thông tin; tuyên truyền; liên lạc, hội nghị, công tác phí; chi phí nghiệp
vụ chuyên môn của từng ngành như ấn chỉ; đồng phục trang phục
+ Chi mua sắm, sửa chữa: Các khoản chi mua đồ dùng, trang thiết bị,phương tiện làm việc, sửa chữa lớn tài sản cố định và xây dựng nhỏ
+ Chi khác: Gồm những khoản chi thường xuyên không xếp vào nhómtrên
- Chi thường xuyên của NSNN phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
+ Nguyên tắc quản lý theo dự toán:
Quản lý theo dự toán đối với chi thường xuyên là cơ sở để đảm bảo cânđối NSNN, tạo điều kiện chấp hành NSNN, hạn chế tính tùy tiện của các đơn
vị sử dụng NSNN Do đó, cần phải nâng cao chất lượng lập và xét duyệt dựtoán trên cơ sở bố trí NSNN sát đúng với nhiệm vụ của từng đối tượng và cácloại hình hoạt động Các ngành, các cấp, các đơn vị phải có trách nhiệm chấphành dự toán chi thường xuyên được duyệt trong quá trình hoạt động củamình, phải phân bổ và sử dụng cho các khoản, các mục chi theo đúng mục lụcngân sách quy định
+ Nguyên tắc hiệu quả:
Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong quan lýngân sách nói chung và quản lý chi thường xuyên nói riêng Đối với một nềnkinh tế, nguồn lực tài chính là có giới hạn nhất định, cho nên trong quá trìnhphân bổ và sử dụng nguồn lực cần phải tính toán sao cho đạt được những mụctiêu đề ra Quán triệt nguyên tắc này đòi hỏi phải xây dựng các định mức, tiêuchuẩn chi tiêu phù hợp với từng đối tượng, từng tính chất công việc và phùhợp với thực tế, hình thành các phương thức cấp phát phù hợp với đặc thù củanhóm các đơn vị thụ hưởng ngân sách
+ Nguyên tắc đảm bảo sự tự chủ về tài chính của các đơn vị sử dụng ngân sách:
Trang 23Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là: các đơn vị chủ động xây dựng
dự toán chi phù hợp với nhu cầu chi và nhiệm vụ hoạt động của mình; trên cơ
sở dự toán được duyệt, các đơn vị chủ động phân bổ và sử dụng kinh phí theonhu cầu thực tế của đơn vị mình nhằm phát huy tính chủ động của đơn vị,nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách
+ Nguyên tắc chi trả trực tiếp qua KBNN:
KBNN là cơ quan được giao nhiệm vụ quản lý quỹ NSNN, do vậy cónhiệm vụ trực tiếp thanh toán mọi khoản chi ngân sách KBNN có nhiệm vụkiểm soát mọi khoản chi ngân sách và có quyền từ chối đối với các khoản chisai chế độ và chịu trách nhiệm về quyết định của mình Các khoản chi ngânsách phải được thanh toán trực tiếp đến các đối tượng thụ hưởng, hạn chế tối
đa thanh toán qua trung gian Để thực hiện tốt nguyên tắc này yêu cầu các đơn
vị sử dụng ngân sách phải mở tài khoản tại KBNN để thực hiện các giao dịchcủa mình, chịu sự kiểm tra của KBNN trong quá trình sử dụng kinh phí dongân sách cấp phát
Để thực hiện được nguyên tắc chi trực tiếp qua Kho bạc nhà nước cần phải giải quyết tốt một số vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, tất cả các khoản chi ngân sách Nhà nước phải được kiểm tra,
kiểm soát một cách chặt chẽ trong quá trình cấp phát, thanh toán
Thứ hai, tất cả cơ quan, đơn vị, các chủ dự án sử dụng kinh phí ngân
sách Nhà nước phải mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước; chịu sự kiểm tra,kiểm soát của cơ quan Tài chính và Kho bạc Nhà nước trong quá trình lập dựtoán, phân bổ dự toán, cấp phát, thanh toán, hạch toán và quyết toán ngânsách Nhànước
Thứ ba, cơ quan Tài chính các cấp có trách nhiệm xem xét dự toán
ngânsách của các cơ quan, đơn vị cùng cấp; kiểm tra phương án phân bổ và
Trang 24giao dựtoán của các đơn vị dự toán cấp trên cho các đơn vị dự toán ngân sáchcấp dưới.
Thứ tư, Kho bạc nhà nước có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng
từ,điều kiện chi và thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi ngânsách Nhà nước theo đúng quy định; phối hợp với các cơ quan Tài chính, cơquan quảnlý Nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng
và xác nhậnsố thực chi ngân sách Nhà nước qua kho bạc của các đơn vị
Thứ năm, lựa chọn phương thức cấp phát, thanh toán đối với từng
khoảnchi thường xuyên cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, xã hội hiện tại
1.1.3 Tính tất yếu quản lý chi ngân sách nhà nước.
Quản lý chi NSNN là một yêu cầu tất yếu trong quản lý NSNN vì:
Thứ nhất, thông qua quản lý các khoản chi NSNN sẽ có những tác động
đến đời sống KT-XH, giữ vững ổn định, đặc biệt là giải quyết các vấn đề bứcxúc của xã hội như: xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm,các hoạt độngmang tính cộng đồng Quản lý chi tiêu của NSNN có hiệu quả sẽ tác độngkích cầu khi nền kinh tế bị suy giảm hoặc cắt giảm chi tiêu chính phủ để bình
ổn giá cả thúc đẩy sản xuất phát triển, hình thành quỹ dự phòng trong NSNN
để ứng phó với những biến động của thị trường, thúc đẩy nâng cao hiệu quả
sử dụng các khoản chi NSNN
Thứ hai, quản lý chi ngân sách góp phần điều tiết thu nhập dân cư, thực
hiện công bằng xã hội Trong tình hình phân hoá giàu nghèo ngày càng giatăng, chính sách chi NSNN và quản lý chi NSNN sẽ giảm bớt khoảng cáchphân hoá giàu nghèo giữa các vùng, các khu vực, các tầng lớp dân cư, gópphần khắc phục những khiếm khuyết của kinh tế thị trường
Quản lý chi ngân sách có hiệu quả phục vụ cho việc chuyển dịch cơ cấukinh tế ở tầm vĩ mô, đồng thời thông qua đầu tư và quản lý vốn đầu tư sẽ tạo
ra điều kiện rút ngắn khoảng cách nông thôn và thành thị, giữa đồng bằng và
Trang 25miền núi, vùng sâu, vùng xa Có thể nói quản lý chi ngân sách có hiệu quả làyếu tố góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Thứ ba, quản lý tốt chi NSNN nhằm điều tiết giá cả, chống suy thoái và
chống lạm phát Trong quá trình điều tiết thị trường, việc quản lý chi ngânsách có tác động rất lớn đến trong việc chống lạm phát và suy thoái, kích cầunền kinh tế Khi nền kinh tế lạm phát, nhà nước cắt giảm chi tiêu, thắt chặtchính sách tiền tệ để hạn chế tổng cung tổng cầu, hạn chế đầu tư của xã hộilàm cho giá cả dần dần ổn định, chống lạm phát Khi nền kinh suy thoái, sứcmua giảm sút nhà nước tăng chi đầu tư để tăng cung, tăng cầu, tạo việc làm,kích cầu chống suy thoái nền kinh tế
Thứ tư, quản lý chi NSNN để duy trì sự ổn định của môi trường kinh tế
- xã hội Thông qua quản lý các khoản chi thường xuyên, chi đầu tư pháttriển, Nhà nước sẽ điều chỉnh phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng cụthể, tạo ra sự kích thích tăng trưởng nền kinh tế thông qua đầu tư cơ sở hạtầng, đầu tư vào các ngành kinh tế mũi nhọn, đầu tư vào các khu công nghiệp,khu chế xuất, khu kinh tế mở để nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
1.2 Quản lý chi Ngân sách nhà nước
1.2.1 Nguyên tắc quản lý chi Ngân sách nhà nước
Chi ngân sách phải đảm bảo kỷ luật tài chính tổng thể
Nghĩa là chi ngân sách phải được tính toán trong khả năng nguồn lựchuy động được từ nền kinh tế và các nguồn khác, khả năng này không chỉ tínhtrong 01 năm mà phải được tính trong trung hạn (3-5 năm), kết hợp với dựbáo xảy ra rủi ro, chỉ có như vậy mới đảm bảo tính ổn định và bền vững củangân sách trong trung hạn Hàng năm, trên cơ sở đánh giá và xây dựng ngânsách năm rà soát lại kế hoạch trung hạn để điều chỉnh sát với thực tiễn nhữngbiến động tăng giảm nguồn và những chính sách bổ sung hoặc thay đổi đểđảm bảo kế hoạch trung hạn xác định được ngân quỹ trong 3-5 năm, đáp ứng
Trang 26được yêu cầu chi ngân sách trong khuôn khổ nguồn lực cho phép và thể hiệntính bền vững Đây là yêu cầu đầu tiên cần tôn trọng trong cân đối ngân sách
Quản lý Ngân sách nói chung và chi ngân sách nói riêng phải gắn với chính sách kinh tế gắn với mục tiêu phát triển kinh tế trung và dài hạn.
Chi ngân sách phải dựa trên nguồn thu có được, nhưng nguồn thu lạiđược hình thành chủ yếu từ hoạt động kinh tế và gắn với chính sách kinh tế,gắn với mục tiêu vĩ mô Mặt khác, trong bất kỳ nền kinh tế nào, nhất là kinh
tế thị trường, trách nhiệm của Nhà nước là phải tập trung giải quyết vấn đề vềphát triển kinh tế, xã hội, giáo dục, y tế, xoá đói giảm nghèo, trợ cấp xã hội,bảo vệ môi trường, phòng chống dịch bệnh, khắc phục chênh lệch giữa cácvùng, miền NSNN chính là công cụ để Nhà nước thực hiện trách nhiệm xãhội to lớn đó Điều đó thể hiện chỉ có gắn chi ngân sách với chính sách kinh tếthường niên, mục tiêu kinh tế trung và dài hạn thì mới tạo được sự nhất quán,đảm bảo chi ngân sách đạt được tính khả thi cao và dự báo ngân sách chuẩnxác hơn
Chi ngân sách phải đảm bảo tính minh bạch, công khai trong cả quy trình từ khâu lập, tổ chức thực hiện, quyết toán, báo cáo và kiểm toán
Chi ngân sách thực chất là chi chủ yếu từ nguồn thuế, phí do dân đónggóp nên phải đảm bảo rõ ràng, công khai để các tổ chức, cá nhân tham giagiám sát Thực hiện nguyên tắc này vừa nâng cao trách nhiệm của các tổ chức
cá nhân có liên quan đến ngân sách, vừa đảm bảo sử dụng ngân sách có hiệuquả, vừa giúp cho phát hiện chỉnh sửa để thông tin về ngân sách sát đúng thựctiễn hơn
Chi ngân sách phải cân đối hài hoà giữa ngành, địa phương, giữa trung ương địa phương, kết hợp giải quết ưu tiên kế hoạch hàng năm với kế hoạch trung và dài hạn
Trang 27Giải quyết mối quan hệ giữa phát triển ngành với địa phương, giữa cácđịa phương với nhau để xây dựng ngân sách, thúc đẩy phát triển cân đối, toàndiện, tạo ra mối quan hệ tương tác hỗ trợ lẫn nhau giữa các ngành, các địaphương Giải quyết mối quan hệ giữa trung ương- địa phương theo hướngphân cấp mạnh cho địa phương để khuyến khích địa phương khai thác tiềmnăng thế mạnh, gắn trách nhiệm với quyền lợi địa phương, đồng thời tạo chủđộng cao nhất cho địa phương, phân cấp ngân sách trên cơ sở phân cấp kinh
tế xã hội giúp địa phương điều hành nhất quán và thuận lợi hơn Song vớinhững chính sách quan trọng, những nội dung chi ảnh hưởng lớn trong phạm
vi quốc gia cần tập trung nguồn lực để điều hành thì Chính phủ nắm giữ vaitrò chủ đạo để điều phối thống nhất trong phạm vi quốc gia
Chi ngân sách phải gắn kết giữa chi đầu tư và chi thường xuyên
Bố trí cơ cấu chi hợp lý để vừa giải quyết vấn đề tăng trưởng và đápứng nhu cầu dịch vụ mang tính thường xuyên, khuyến khích các thành phầnkinh tế tham gia cùng với Nhà nước cung cấp địch vụ thoả mãn nhu cầu ngàycàng đa dạng, phong phú của mọi người dân Nguồn lực huy động vào ngânsách có hạn, trong khi nhu cầu lớn đòi hỏi phải cân nhắc dành cho đầu tư baonhiêu, dành cho chi thường xuyên bao nhiêu để vừa giải quyết vấn đề trướcmắt vừa giải quyết tăng trưởng trong tương lai; trước đây với ngân sáchtruyền thống thì giữa chi đầu tư và chi thường xuyên ít gắn kết với nhau vìvậy sự phối hợp giữa hai khoản chi để phát huy hiệu quả của chi ngân sáchcòn hạn chế Có thể khắc phục tình trạng này bằng cách phối hợp giữa haikhoản chi trong từng chương trình dự án Như vậy vừa đảm bảo sự kết hợp đểxác định cơ cấu từng khoản chi, lại có thể xem xét ở góc độ hiệu quả
Quản lý chi NSNN phải là đòn bẩy để thúc đẩy các thành phần khác tham gia cung cấp dịch vụ công, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ đa dạng, phong phú của mọi đối tượng
Trang 28Cơ chế thị trường cần nhiều hàng hoá dịch vụ công chất lượng cao,trong đó nhiều dịch vụ người dân có thể trả tiền một phần hoặc toàn bộ đểđược hưởng thụ, đồng thời những người cung cấp dịch vụ muốn tham gia và
tổ chức thu tiền từ người dân được hưởng trực tiếp mà không cần nhà nướcphải trả toàn bộ tiền để mua dịch vụ đó Thực tế đó làm giảm áp lực đối vớiNSNN, chi ngân sách chỉ dành cho những dịch vụ công mà tư nhân khôngmuốn làm hoặc không thể làm nếu không có sự tham gia từ Nhà nước Vai tròcủa chi ngân sách ở đây như đòn bẩy tác động, Nhà nước đảm nhận một phầntrách nhiệm, tạo sức hấp dẫn để các thành phần kinh tế có thể tham gia cungcấp hàng hoá dịch vụ công Đây là điểm khác cơ bản giữa chi ngân sách trong
cơ chế thị trường với chi ngân sách ở các nền kinh tế khác, ngân sách không
là nguồn cung cấp duy nhất cho những dịch vụ công, vai trò tư nhân ngàycàng được nhìn nhận như một lực lượng quan trọng để nâng cao chất lượngdịch vụ công cả về mức độ thoả mãn và tính đa dạng của dịch vụ công Nhìnchung, kinh tế thị trường đưa ra những yêu cầu nghiêm ngặt trong quản lý chingân sách, đó vừa là đòi hỏi để thích ứng, đồng thời bản thân cơ chế thịtrường cũng tạo ra những nhân tố thuận lợi giúp cho thực hiện những nguyêntắc đó
1.2.2 Phân cấp quản lý chi Ngân sách nhà nước
Hệ thống NSNN gồm nhiều cấp thì việc phân cấp quản lý ngân sách làmột tất yếu khách quan Thực chất của phân cấp quản lý ngân sách là giảiquyết mối quan hệ giữa các cấp chính quyền trong toàn bộ hoạt động củaNSNN Thông qua phân cấp NSNN, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi cấpchính quyền trong thu, chi NSNN được xác định cụ thể, đồng thời, phân cấpNSNN còn phản ánh mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa các cấp ngân sách,giữa các địa phương, giữa địa phương với quốc gia Phân cấp quản lý ngânsách gắn liền với nội dung phân cấp quản lý hành chính, phân cấp quản lý
Trang 29ngân sách không chỉ tập trung vào việc nâng cao tính tự chủ của chính quyềnđịa phương mà còn phải hướng đến nâng cao trách nhiệm về chính trị, tínhhiệu quả và minh bạch trọng việc sử dụng NSNN [6]
1.2.2.1 Nội dung chủ yếu của phân cấp ngân sách là:
- Giải quyết mối quan hệ quyền lực giữa các cấp chính quyền trongviệc ban hành các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức tài chính Đây lànội dung chủ yếu của phân cấp ngân sách
- Giải quyết mối quan hệ vật chất trong quá trình phân giao nguồn thu,nhiệm vụ chi và cân đối ngân sách Đây là mối quan hệ lợi ích nên trong thực
tế giải quyết mối quan hệ này rất phức tạp, khó khăn Do đó phải xác định rõnhiệm vụ kinh tế, chính trị của mỗi cấp chính quyền
- Phân cấp ngân sách phải ổn định và đảm bảo cho NSTW giữ vai tròchủ đạo, tập trung những nguồn thu lớn để thực hiện những nhiệm vụ quantrọng trên phạm vi cả nước, đồng thời những nhiệm vụ nào ổn định, mangtính thường xuyên, có tính xã hội rộng cần phân cấp cho chính quyền địaphương
- Giải quyết mối quan hệ trong quá trình thực hiện chu trình ngân sách
đó là quá trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách
1.2.2.2 Nguyên tắc phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước
Một là, phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế – xã hội, quốc phòng, an
ninh của nhà nước và năng lực quản lý của mỗi cấp chính quyền địa phương
Phân cấp quản lý ngân sách của các cấp chính quyền không tách rờiphân cấp quản lý kinh tế, xã hội Mỗi đơn vị hành chính có chức năng vànhiệm vụ quản lý kinh tế, xã hội theo phân cấp phù hợp với đặc điểm của mỗicấp chính quyền Do đó phân cấp quản lý ngân sách phải gắn với mô hình tổchức bộ máy nhà nước, phải phù hợp và tương ứng với mô hình tổ chức các
cơ quan công quyền, gắn với thực trạng nền kinh tế và phải được đánh giá
Trang 30trên các khía cạnh chủ yếu như cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành nghề, tốc độ tăngtrưởng, năng suất, thu nhập và phân phối thu nhập…
Hai là, đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương và vị trí độc
lập của ngân sách địa phương trong hệ thống NSNN thống nhất
Trong nền kinh tế thị trường, ngân sách trung ương ngoài việc thựchiện các nhiệm vụ quan trọng như quốc phòng, an ninh, ngoại giao, đầu tưphát triển còn phải tổ chức quản lý và điều tiết mọi hoạt động kinh tế, thựchiện ổn định kinh tế vĩ mô Để thực hiện nhiệm vụ, mỗi cấp chính quyền cần
có trong tay nguồn lực tài chính nhất định, chính quyền cấp trên cần có nguồnlực tài chính lớn hơn cấp dưới để đảm bảo kinh phí đáp ứng cho các nhiệm
vụ, yêu cầu to lớn và trọng đại có liên quan đến quốc gia hoặc phạm vi lãnhthổ rộng lớn hơn Ngân sách các cấp chính quyền địa phương phải nâng caotính chủ động sáng tạo trong việc phân bổ, khai thác tiềm năng, thế mạnh củađịa phương, làm cho nguồn lực tài chính quốc gia thêm dồi dào Muốn vậyngân sách các cấp chính quyền ở địa phương phải có vị trí độc lập trong hệthống NSNN thống nhất
Ba là, Đảm bảo nguyên tắc công bằng trong phân cấp quản lý NSNN
Đảm bảo tính cân đối giữa thu nhập quốc dân sản xuất và thu nhậpquốc dân sử dụng trên từng vùng, từng địa phương Để giảm bớt khoảng cáchgiàu, nghèo giữa các vùng, các địa phương, trong quá trình phân cấp cần được
sử dụng phương pháp điều hoà ngân sách, tức là quá trình phân phối lại cácnguồn tài chính trong phạm vi hệ thống ngân sách, chuyển một phần số thucủa ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới Thông qua phương pháp bổsung cân đối và bổ sung có mục tiêu, đây là hai phương pháp tài trợ mà chínhquyền cấp trên thường sử dụng đối với chính quyền cấp dưới
1.2.3 Tổ chức bộ máy quản lý Ngân sách nhà nước
1.2.3.1 Những căn cứ tổ chức bộ máy quản lý
Trang 31Hoạt động của bộ máy quản lý NSNN luôn luôn chịu sự chi phối của tổchức bộ máy chính quyền và nội dung, cơ chế hoạt động của các khâu NSNN.
Do đó, việc thiết lập bộ máy quản lý NSNN phải dựa trên các căn cứ chủ yếusau đây:
Một là, căn cứ vào sự hình thành hệ thống các cấp chính quyền và quá
trình thực hiện phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, phân cấp quản lý ngân sách,chủ thể quản lý NSNN là các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý nhà nước.Như vậy, xây dựng bộ máy quản lý NSNN trước hết phải xuất phát từ sự hìnhthành hệ thống chính quyền các cấp và quá trình thực hiện phân cấp quản lýkinh tế xã hội, quản lý NSNN cho các cấp chính quyền, các cơ quan nhànước
Hai là, căn cứ vào đặc điểm, nội dung hoạt động của từng khâu NSNN
Nội dung hoạt động của NSNN rất đa dạng, không chỉ có ngân sách các cấpchính quyền mà còn bao gồm nhiều khâu riêng biệt khác, mỗi khâu hoànthành những chức năng và nhiệm vụ đặc thù riêng Nhờ có chức năng, vai tròquan trọng của NSNN, Nhà nước tác động tích cực đến các quá trình kinh tế
xã hội, giải quyết nhiều vấn đề theo ngành, lãnh thổ và dân cư Như vậy, cáchthức tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, quá trình phân cấp quản lý, đặcđiểm, nội dung và cơ chế hoạt động của các khâu NSNN là căn cứ xuất phát
để hình thành bộ máy quản lý phù hợp
1.2.3.2 Nguyên tắc tổ chức bộ máy quản lý Ngân sách Nhà nước
Tổ chức quản lý NSNN một cách đúng đắn có ý nghĩa hàng đầu đối vớiviệc huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính Hiệu quả quản lýNSNN phần lớn phụ thuộc vào việc tổ chức hợp lý của các chủ thể quản lýbao gồm các cơ quan tài chính từ Trung ương xuống địa phương và bộ máyquản lý tài chính Nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, việc tổ chức bộmáy quản lý NSNN cần phải dựa trên các nguyên tắc sau đây:
Trang 32Một là, Quán triệt nguyên tắc thống nhất, tập trung - dân chủ.
Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản, là "xương sống"của hệ thống quản lý kinh tế xã hội của Nhà nước ta Trong tổ chức bộ máyquản lý NSNN phải coi trọng nguyên tắc tập trung dân chủ nhằm vừa pháthuy sức mạnh của cả hệ thống, đảm bảo tính thống nhất của nền tài chínhquốc gia, vừa đảm bảo tính năng động sáng tạo của mọi cấp quản lý trongviệc xử lý cácvấn đề tài chính và NSNN
Hai là, Thực hiện nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý
theođịa phương và vũng lãnh thổ
Bộ máy quản NSNN cần phải được tổ chức vừa theo hệ thống chuyênngành thống nhất từ Trung ương xuống địa phương trong cả nước, đồng thờichịu sự chỉ đạo song trùng của các cấp chính quyền địa phương Cần xác định
rõ chức năng, nhiệm vụ quản lý theo ngành của Bộ Tài chính và các cơ quantrung ương đối với toàn bộ hoạt động NSNN, đồng thời cần quy định rõ tráchnhiệm, quyền hạn của các cấp chính quyền và cơ quan tài chính địa phươngđối với hoạt động NSNNdiễn ra trên địa bàn lãnh thổ ở địa phương
Ba là, Quán triệt nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả.
Quán triệt nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả đòi hỏi tổ chức bộ máyquảnlý NSNN phải phù hợp với tổ chức bộ máy hành chính và phân cấpquản
lý kinh tế tài chính giữa các cấp chính quyền nhà nước, ở đây đòi hỏi phải có
sự tương hợp giữa quyền hạn và trách nhiệm Đồng thời bộ máy quản lý phảiđược tổ chức phù hợp với đặc điểm, nội dung và cơ chế hoạt động của cáckhâutài chính công trong điều kiện kinh tế thị trường
1.2.3.3 Bộ máy quản lý chi Ngân sách nhà nước hiện nay ở Việt Nam
Theo quy định của Luật NSNN, bộ máy quản lý chi NSNN hiện nay ởViệt Nam gồm:
Trang 33- Quốc hội: Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia để phát
triển kinh tế - xã hội, bảo đảm cân đối thu chi NSNN, quyết định dự toánphân bổ ngân sách trung ương, các dự án, các công trình quan trọng quốc giađược đầu tư bằng NSNN Quyết định điều chỉnh dự toán trong trường hợp cầnthiết, giám sát việc thực hiện NSNN, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia,nghị quyết của Quốc hội, phê chuẩn quyết toán NSNN
- Chính phủ: Thống nhất quản lý NSNN, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ
giữa cơ quan quản lý ngành và địa phương trong việc thực hiện NSNN Tổchức điều hành, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ NSNN được Quốc hộiquyết định Báo cáo Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội về tình hình thựchiện ngân sách nhà nước, các dự án và công trình quan trọng quốc gia, cácchương trình phát triển kinh tế - xã hội Quy định hoặc phân cấp cho cơ quannhà nước có thẩm quyền quy định các định mức phân bổ và các chế độ, tiêuchuẩn, định mức chi NSNN để làm căn cứ xây dựng, phân bổ và quản lý ngânsách nhà nước thống nhất trong cả nước Lập và trình Quốc hội quyết toánngân sách nhà nước, quyết toán các dự án và công trình quan trọng quốc gia
do Quốc hội quyết định
- Bộ Tài chính: Bộ Tài chính là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về tài chính, ngân sách Nhà nước, dự trữ quốc gia, cácquỹ Tài chính Nhà nước, đầu tư tài chính và hoạt động dịch vụ tài chính (gọichung là lĩnh vực tài chính - ngân sách) Xây dựng các định mức phân bổ vàcác chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách nhà nước, chế độ kế toán,quyết toán, chế độ báo cáo, công khai tài chính - ngân sách trình Chính phủquy định để thi hành thống nhất trong cả nước Tổ chức thực hiện chi ngânsách nhà nước theo đúng dự toán được giao; lập quyết toán ngân sách trungương; tổng hợp, lập quyết toán ngân sách nhà nước trình Chính phủ; tổ chứcquản lý, kiểm tra thanh tra, kiểm tra tài chính - ngân sách theo quy định
Trang 34- Kho bạc Nhà nước: Kho bạc Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài
chính, có nhiệm vụ giúp Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lý về quỹngân sách Nhà nước, quỹ dự trữ tài chính nhà nước Thực hiện kiểm soát,thanh toán, chi trả các khoản chi ngân sách nhà nước và các nguồn vốn kháctheo quy định của pháp luật; quản lý các tài sản quốc gia quý hiếm theo quyếtđịnh của cấp có thẩm quyền; quản lý tiền, tài sản, ấn chỉ đặc biệt,các loại chứng chỉ có giá của Nhà nước và của các đơn vị, cá nhân gửi tại Khobạc Nhà nước
- Hội đồng nhân dân các cấp: Quyết định dự toán chi ngân sách địa
phương (gồm chi ngân sách cấp mình và ngân sách cấp dưới) theo các lĩnhvực chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi trả nợ, chi bổ sung quỹ dự trữtài chính, dự phòng ngân sách Quyết định cụ thể một số định mức phân bổngân sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi theo quy định của Chính phủ (đốivới HĐND tỉnh) Quyết định các chủ trương, biện pháp để triển khai thựchiện ngân sách địa phương và điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trongtrường hợp cần thiết Giám sát việc thực hiện ngân sách đã được HĐNDquyết định và phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương
- Uỷ ban nhân dân các cấp: Lập dự toán ngân sách địa phương, phương
án phân bổ ngân sách cấp mình, dự toán điều chỉnh ngân sách địa phươngtrong trường hợp cần thiết, trình HĐND cùng cấp quyết định Quyết định giaonhiệm vụ chi ngân sách cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc; nhiệm vụ chi,mức bổ sung cho ngân sách cấp dưới Tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thựchiện ngân sách địa phương Phối hợp với các cơ quan nhà nước cấp trên trongviệc quản lý ngân sách nhà nước ở địa phương, chỉ đạo cơ quan tài chính địaphương chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện nhiệm vụ quản
lý NSNN theo quy định Lập quyết toán ngân sách địa phương trình HĐND
Trang 35cùng cấp phê chuẩn và báo cáo cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tàichính cấp trên trực tiếp.
1.2.4 Chu trình quản lý chi Ngân sách nhà nước
Chu trình ngân sách hay còn gọi là quy trình ngân sách dùng để chỉtoàn bộ hoạt động của một năm ngân sách kể từ khi bắt đầu hình thành chođến khi kết thúc chuyển sang năm ngân sách mới Một chu trình ngân sáchgồm 3 khâu nối tiếpnhau, đó là: lập ngân sách; chấp hành ngân sách và quyếttoán ngân sách Chu trình ngân sách thường bắt đầu từ trước một năm ngânsách và kếtthúc sau năm ngân sách Trong một năm ngân sách đồng thời diễn
ra cả ba khâu nối tiếp nhau, đó là: chấp hành ngân sách của chu trình ngânsách hiện tại; quyết toán ngân sách của chu trình ngân sách trước đó và lậpngân sách cho chu trìnhtiếp theo. [7]
1.2.4.1 Lập dự toán chi Ngân sách nhà nước
Lập dự toán chi NSNN là dự trù các khoản chi NSNN bằng tiền trongmột khoảng thời gian nhất định Dự toán NSNN là khâu đầu tiên trong mộtchu trình NSNN, có ý nghĩa quyết định đối với 2 khâu còn lại Công tác nàythực hiện tốt sẽ cho biết tương đối chính xác số tiền cần phải bỏ ra từ NSNNtrong một khoảng thời gian để thực hiện những công việc đã được hoạch địnhsẵn Lập dự toán là khâu không thể thiếu trong hoạt động NSNN, nhất làtrong nền kinh tế thị trường đầy biến động, công cụ dự toán càng trở nên có ýnghĩa, bởi nó cho phép dự báo nguồn lực cần có đáp ứng nhu cầu chi tiêu củachính phủ để chủ động trước mọi tình huống
Xây dựng dự toán ngân sách Nhà nước là giai đoạn mà các cấp ngânsách căn cứ vào các chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư hướng dẫncủa Bộ Tài chính ban hành lập dự toán ngân sách nhà nước và thông báo sốkiểm tra về dự toán ngân sách nhà nước cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơquan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương và Uỷ ban nhân dân các
Trang 36tỉnh, thành phố thuộc trung ương Sau khi nhận được quyết định giao nhiệm
vụ thu, chi ngân sách của uỷban nhân dân cấp trên, uỷ ban nhân dân trình Hộiđồng nhân dân cùng cấp quyết định dự toán ngân sách địa phương và phương
án phân bổ dự toán ngân sách cấp mình, bảo đảm dự toán ngân sách cấp xãđược quyết định trước ngày 31 tháng 12 năm trước
Yêu cầu đối với lập dự toán chi ngân sách hàng năm :
- Dự toán ngân sách nhà nước và dự toán ngân sách các cấp chínhquyền phải tổng hợp theo từng lĩnh vực chi và theo cơ cấu giữa chi thườngxuyên, chi đầu tư phát triển, chi trả nợ
- Dự toán ngân sách của đơn vị dự toán các cấp phải lập theo đúng nộidung, biểu mẫu, thời hạn và phải thể hiện đầy đủ các khoản chi theo Mục lụcngân sách nhà nước và hướng dẫn của Bộ Tài chính, trong đó :
+ Việc lập dự toán chi đầu tư XDCB phải căn cứ vào những dự án đầu
tư có đủ các điều kiện bố trí vốn theo quy định về Quy chế quản lý vốn đầu tưxây dựng và phù hợp với kế hoạch tài chính 5 năm, khả năng ngân sách hàngnăm; đồng thời ưu tiên bố trí đủ vốn phù hợp với tiến độ triển khai của cácchương trình, dự án đã được cấp có thẩm quyền quyết định và đang thực hiện
dở dang
+ Việc lập dự toán chi thường xuyên, phải tuân theo các chính sách, chế
độ, tiêu chuẩn, định mức do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
+ Việc lập dự toán ngân sách của các cơ quan hành chính thực hiện chế
độ khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính và các đơn vị sự nghiệp cóthu, thực hiện theo quy định riêng của Chính phủ
+ Trong dự toán ngân sách các cấp phải bố trí chi trả đủ các khoản nợđến hạn (kể cả nợ gốc và trả lãi) theo đúng nghĩa vụ trả nợ
Trang 37+ Việc lập dự toán vay bù đắp thiếu hụt ngân sách trung ương, phải căn
cứ vào cân đối ngân sách, khả năng từng nguồn vay, khả năng trả nợ và mứckhống chế bội chi ngân sách theo Nghị quyết Quốc hội
- Dự toán ngân sách phải kèm theo báo cáo thuyết minh rõ cơ sở, căn
cứ tính toán
Căn cứ lập dự toán ngân sách nhà nước hàng năm :
- Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh
- Những nhiệm vụ cụ thể của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộcChính phủ, cơ quan khác ở trung ương, địa phương
- Phân cấp nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước; chính sách, chế độ, địnhmức phân bổ ngân sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách; mức bổsung cân đối của ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới đã được quy định(đối với dự toán năm tiếp theo của thời kỳ ổn định)
- Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch pháttriển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách năm sau; Thông tư hướng dẫn của
Bộ Tài chính về việc lập dự toán ngân sách; Thông tư hướng dẫn của Bộ Kếhoạch và Đầu tư về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạchvốn đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước và văn bản hướng dẫn của Ủyban nhân dân cấp tỉnh
- Số kiểm tra về dự toán chi ngân sách nhà nước do Bộ Tài chính thôngbáo và số kiểm tra về dự toán chi đầu tư phát triển do Bộ Kế hoạch và Đầu tưthông báo cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quankhác ở trung ương và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương; Ủy ban nhân dân cấp trên thông báo số kiểm tra cho các đơn vị trựcthuộc và Ủy ban nhân dân cấp dưới
- Tình hình thực hiện ngân sách các năm trước
Phương pháp lập dự toán ngân sách :
Trang 38Dự toán chi NSNN có nhiều phương pháp lập, tuỳ thuộc vào cách thứclựa chọn của chủ thể quản lý, thông thường có hai phương pháp sau:
- Phương pháp lập dự toán chi NSNN truyền thống (còn gọi là lập dự toán theo chu trình ngân sách)
Dự toán NSNN của chu trình ngân sách hàng năm được lập căn cứ vàonhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, tăng trưởng kinh tế theo dự báo một tỷ lệtăng nhất định để dự tính nguồn thu ngân sách, trên cơ sở đó dự kiến chi ngânsách từ nguồn thu có được và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội năm đó, trongtrường hợp có biến động về kinh tế dẫn đến thay đổi nguồn thu, thì thực hiệnđiều chỉnh dự toán ngân sách cho phù hợp
Lập dự toán chi theo chu trình ngân sách (01 năm) cho phép quản lýtrong ngắn hạn, bám sát tình hình kinh tế xã hội trong năm, vì vậy thường sátvới thực tiễn Tuy nhiên, đó cũng chính là điểm bất cập vì gắn với nhiệm vụtừng năm, nên thường thoát ly chính sách kinh tế và khuôn khổ tài chínhtrong trung hạn, không cho phép khẳng định an ninh tài chính và cân đối ngânsách vững chắc Nhất là trong nền kinh tế thị trường đầy biến động, cần phải
có công cụ năng động, hiệu quả hơn Vì vậy hiện nay ở một số trước khi sửdụng công cụ này, thông thường được kết hợp với các công cụ tiên tiến nhưkết hợp ngân sách năm cho một số nội dung chi tương đối ổn định như tiềnlương, các khoản trợ cấp cố định và chương trình dự án đặt trong một kếhoạch trung hạn
- Lập dự toán theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn (MTEF)
Có thể nói MTEF là dự toán ngân sách dựa trên những phương pháplập tiên tiến, đây là dự toán phản ánh trung hạn, dự toán nhiều năm, là kếhoạch cuốn chiếu cho tất cả các khoản kinh phí chi tiêu của các cơ quan nhànước bao gồm các khoản chi hàng năm và các khoản chi theo chương trình,
dự án Cách làm như vậy cho phép xem xét một cách tổng thể và toàn diện từ
Trang 39khi xây dựng dự toán ngân sách đến khi đánh giá được kết quả, đồng thờiluôn luôn chủ động nguồn lực trong thời gian dài hơn Nếu như phương pháplập ngân sách truyền thống chỉ tập trung vào từng năm, thì MTEF tập trungvào nhiều năm, ít nhất là trong khuôn khổ trung hạn (từ 3 đến 5 năm) Vớithời gian dài như vậy, cho phép dự báo tương đối chính xác thu chi ngân sách,nguồn thu có thể biến động ở từng năm nhưng với thời gian từ 3 - 5 năm thìtính ổn định càng cao, từ đó chi ngân sách cũng tương đối ổn định trong trunghạn [8]
1.2.4.2 Chấp hành chi Ngân sách nhà nước
Quá trình chuyển từ những nội dung ghi trên bảng dự toán thành hiệnthực gọi là chấp hành dự toán Căn cứ vào dự toán ngân sách được cấp cóthẩm quyền giao, các cơ quan được bố trí kinh phí để thực hiện các khoản chitheo dự toán Khi dự toán được điều chỉnh thì quá trình thực hiện cũng đượcđiều chỉnh cho khớp đúng với dự toán mới Đây là khâu quan trọng trongquản lý chi NSNN, sử dụng tổng hoà các biện pháp về kinh tế tài chính vàhành chính nhằm thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã hội của quốc giatrong một thời kỳ đã được bố trí vào dự toán chi NSNN
Chấp hành chi ngân sách nhà nước, giai đoạn này bao gồm các khâu:
Phân bổ và giao dự toán chi ngân sách: Sau khi được Thủ tướng Chính
phủ, Uỷ ban nhân dân giao dự toán ngân sách, các cơ quan Nhà nước ở trungương và địa phương, các đơn vị dự toán cấp I tiến hành phân bổ và giao dựtoánchi ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc
Lập nhu cầu chi quý: Trên cơ sở dự toán năm được giao, các đơn vị sử
dụng ngân sách lập nhu cầu chi ngân sách quý (có chia ra tháng), chi tiết theocác nhóm mục chi gửi Kho nạc Nhà nước và cơ quan tài chính cuối kỳ trước
để phối hợp thực hiện chi trả cho đơn vị
Trang 40Cơ chế kiểm soát chi: Các đơn vị dự toán ngân sách và các tổ chức
đượcngân sách Nhà nước hỗ trợ thường xuyên phải mở tài khoản tại Kho bạcNhànước theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, chịu sự kiểm tra của cơ quan tàichínhvà Kho bạc Nhà nước trong quá trình thanh toán, sử dụng kinh phí Cáckhoảnthanh toán về cơ bản theo nguyên tắc chi trả trực tiếp qua Kho bạc Nhànước
Điều chỉnh dự toán ngân sách Nhà nước: Trong quá trình chấp hành
ngân sách, nếu có sự thay đổi về nhiệm vụ chi thì phải thực hiện điều chỉnh
dự toán ngân sách như sau: Số tăng thu và số tiết kiệm chi so dự toán đượcgiao, được sử dụng để giảm bội chi, tăng chi trả nợ, tăng chi đầu tư phát triển,
bổ sung quỹ dự trữ tài chính, tăng dự phòng ngân sách Nếu giảm thu so với
dự toán được duyệt thì phải sắp xếp lại để giảm một số khoản chi tương ứng.Trường hợp số thu, chi biến động lớn so với dự toán cần điều chỉnh tổngthểChính phủ trình Quốc hội, Uỷ ban nhân dân trình Hội đồng nhân dân cùngcấpquyết định điều chỉnh dự toán ngân sách
- Việc chấp hành chi ngân sách phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
+ Đã có trong dự toán NSNN được giao, tạm cấp theo định mức khichưa có toán hoặc được quyết định ngoài dự toán của cấp có thẩm quyền
+ Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quy định + Được thủ trưởng đơn vị sử dụng NSNN hoặc người được uỷ quyềnquyết định chi
+ Đối với việc sử dụng NSNN mua sắm, đầu tư XDCB, các công việctheo quy định phải đấu thầu hoặc áp dụng các hình thức khác thì phải tuân thủquy định và phải có kế hoạch sử dụng cụ thể để chủ động nguồn giải ngân
- Việc cấp phát, thanh toán từ NSNN căn cứ vào tính chất các khoản chi như thực hiện như sau: