1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua lê thánh tông và bài học kinh nghiệm cho đánh giá cán bộ, công chức ở việt nam hiện nay

142 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng niềm say mê với lịch sử nước nhà, đặc biệt là lịch sử cải cách hành chính, với sự quan tâm về việc đánh giá cán bộ, công chức của nước ta hiện nay, tôi quyết định lựa chọn nghiên cứ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TRẦN THÚY PHƯỢNG

LỆ KHẢO THÍ, KHẢO KHÓA DƯỚI THỜI VUA LÊ THÁNH TÔNG

VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ,

CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI - NĂM 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TRẦN THÚY PHƯỢNG

LỆ KHẢO THÍ, KHẢO KHÓA DƯỚI THỜI VUA LÊ THÁNH TÔNG

VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ,

CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả trình bày trong Luận văn là trung thực và được tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc Những kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước đã được tiếp thu một cách chân thực, cẩn trọng, có trích dẫn nguồn cụ thể trong Luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả Luận văn

Trần Thúy Phượng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn là kết quả nghiên cứu của cá nhân, nhưng tôi không thể hoàn thành nếu không nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô, các nhà khoa học, các nhà quản lý Tôi xin chân thành bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Thu Hòa đã tận tình chỉ bảo, dạy dỗ và trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện Luận văn Xin được cảm ơn các anh chị nhân viên Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia, Thư viện Quốc gia đã luôn nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp tư liệu và các thông tin hữu ích cho việc thực hiện Luận văn

Xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Khoa Sau Đại học – Học viện Hành chính Quốc gia đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện để tôi hoàn thiện thủ tục, hồ sơ Luận văn Đặc biệt tôi xin cảm ơn gia đình – những người thân đã luôn bên tôi, động viên, khích lệ và là chỗ dựa vững chắc để tôi cố gắng vươn lên hoàn thành Luận văn

Xin được chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 11

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu 14

7 Kết cấu của Luận văn 15

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ QUAN LẠI VÀ LỆ KHẢO THÍ, KHẢO KHÓA THỜI PHONG KIẾN Ở VIỆT NAM 16

1.1 Các khái niệm liên quan 16

1.1.1 Khái niệm quan lại 16

1.1.2 Khái niệm chế độ quan lại 18

1.1.3 Lệ khảo thí, khảo khóa 19

1.2 Sơ lược về chế độ quan lại và lệ khảo thí, khảo khóa thời phong kiến ở Việt Nam 21 1.2.1 Sơ lược về chế độ quan lại 21

1.2.1.1.Chế độ tuyển chọn quan lại 21

1.2.1.2.Chế độ sử dụng quan lại 25

1.2.2 Sơ lược về lệ khảo thí, khảo khóa 32

1.3 Tính kế thừa có chọn lọc của lịch sử hành chính 36

1.3.1 Quy luật của tính kế thừa lịch sử 36

1.3.2 Học hỏi và kế thừa có chọn lọc chế độ quan lại trong lịch sử 38

1.3.2.1.Sự kế thừa chế độ quan lại của các triều đại phong kiến Việt Nam 38

1.3.2.2.Học hỏi kinh nghiệm chế độ quan lại của các triều đại phong kiến Trung Quốc 41

Tiểu kết chương 1: 48

CHƯƠNG 2: LỆ KHẢO THÍ, KHẢO KHÓA DƯỚI THỜI VUA LÊ THÁNH TÔNG (1460 – 1497) 49

2.1 Bối cảnh lịch sử và sự cần thiết ban hành lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời Lê Thánh Tông 49

2.1.1 Bối cảnh lịch sử thời Lê sơ 49

2.1.2 Sự cần thiết ban hành lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời Lê Thánh Tông 52

Trang 6

2.1.2.1.Xuất phát từ yêu cầu của cuộc cải cách hành chính thời Lê Thánh Tông 52

2.1.2.2 Xuất phát từ mục đích cải cách đội ngũ quan lại dưới thời Lê Thánh Tông 58

2.2 Nội dung lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông 60

2.2.1 Mục đích thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa 60

2.2.1.1 Làm cơ sở để thực hiện các chế độ sử dụng quan lại 60

2.2.1.2 Nâng cao ý thức đạo đức đội ngũ quan lại triều đình 63

2.2.2 Kỳ hạn thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa 64

2.2.3 Tiêu chí thực hiện lệ khảo thí, khỏa khóa 66

2.2.4 Đối tượng thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa 68

2.2.5 Trách nhiệm thi hành lệ khảo thí, khảo khóa 69

2.2.6 Xử lý kết quả sau khảo thí, khảo khóa 71

2.2.7 Việc thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông 72

2.3 Đánh giá thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông 76

Tiểu kết chương 2: 81

CHƯƠNG 3: NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 83

3.1 Công tác đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay 83

3.1.1 Khái niệm cán bộ, công chức và việc đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay 83

3.1.1.1 Khái niệm cán bộ, công chức 83

3.1.1.2 Việc đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay 84

3.1.2 Thực trạng công tác đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay 88

3.1.2.1 Những kết quả đạt được trong công tác đánh giá cán bộ, công chức 88

3.1.2.2 Những hạn chế còn tồn tại trong công tác đánh giá cán bộ, công chức 91

3.2 Những giá trị tham khảo từ lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông 101

3.2.1 Coi trọng việc thực hiện đánh giá cán bộ, công chức, coi đó là hoạt động tối cần thiết để đảm bảo chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức 101

3.2.2 Chú trọng việc xây dựng đồng bộ và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật đảm bảo việc đánh giá cán bộ, công chức nghiêm ngặt, chặt chẽ, có hiệu lực hiệu quả 102

3.2.3 Xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy thực hiện công tác đánh giá cán bộ, công chức hoạt động độc lập 104

3.2.4 Coi trọng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác kiểm tra, đánh giá 105

Trang 7

3.2.5 Xác định rõ mục tiêu, đối tượng, kỳ hạn và biện pháp thực hiện đánh giá cán bộ,

công chức 106

3.2.6 Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá rõ ràng, cụ thể; dễ đo lường, kiểm chứng 108

3.2.7 Xử lý và sử dụng hiệu quả kết quả đánh giá cán bộ, công chức 110

3.3 Một số kiến nghị cho công tác đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay 111

3.3.1 Kiến nghị đối với các nghiên cứu tiếp theo 111

3.3.2 Kiến nghị đối với cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền 112

3.3.3 Kiến nghị đối với đơn vị đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 114

3.3.4 Kiến nghị đối với cán bộ, công chức 115

Tiểu kết chương 3: 117

KẾT LUẬN 118

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ 122

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 123

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay……… 93 Biểu đồ 3.2: Tinh thần và trách nhiệm làm việc của cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay……… 94 Biểu đồ 3.3: Việc đánh giá đạo đức công vụ đối với cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay……… 95 Biểu đồ 3.4: Việc tổ chức các kỳ thi sát hạch năng lực chuyên môn dành cho cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay……… 95 Biểu đồ 3.5: Việc đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay……… 97 Biểu đồ 3.6: Sự tương đồng giữa việc bố trí công tác và trình độ chuyên môn, năng lực thực tế của cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay……… 99 Biểu đồ 3.7: Mục đích việc thực hiện đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay……… 100 Biểu đồ 3.8: Sự cần thiết phải học hỏi việc đánh giá tinh thần trách nhiệm, sự mẫn cán dưới thời Lê Thánh Tông vào việc đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay… 109 Biểu đồ 3.9: Sự cần thiết sử dụng kết quả đánh giá cán bộ, công chức làm cơ sở thực hiện các chế độ, chính sách khác đối với cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay…… 110

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lịch sử nước ta phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau, theo đó mỗi giai đoạn tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị, điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau

mà có cách thức quản lý khác nhau Cho đến đầu thế kỷ XX, lịch sử hành chính nước ta đã

trải qua 10 cuộc cải cách, đổi mới lớn (theo cuốn Mười cuộc cải cách đổi mới trong lịch sử Việt Nam của tác giả Văn Tạo) Mỗi cuộc cải cách, đổi mới hướng đến một mục tiêu cụ thể

khác nhau, nhưng đều được thực hiện nhằm cải tổ lại cách thức tổ chức và hoạt động của

bộ máy hành chính nhà nước, giúp việc quản lý đất nước được thực hiện hiệu quả hơn Nhiều triều đại phong kiến đã nhận thức được vai trò của đội ngũ quan lại đối với sự phát triển hưng thịnh của đất nước, do vậy các cuộc cải cách, đổi mới gắn liền với cách tân chế

độ quan lại rất được quan tâm, chú trọng

Triều Lê sơ (1428-1527) là triều đại được đánh giá có nhiều thành tựu trong quá trình cách tân và phát triển đất nước nhất, được coi là đỉnh cao phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam Cải cách hành chính được thực hiện toàn diện, mạnh mẽ và thành công nhất dưới thời vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497) Trong suốt 38 năm trị vì đất nước, Lê Thánh Tông đã sửa sang được nhiều việc chính trị, mở mang sự học hành, chỉnh đốn các việc quân

sự, đánh dẹp các quốc gia mở rộng bờ cõi, khiến cho nước Nam bấy giờ văn minh hơn và lẫy lừng một phương, kể từ xưa đến nay chưa bao giờ cường thịnh như vậy Lê Thánh Tông

đã tập trung vào việc xây dựng một nhà nước quân chủ trung ương tập quyền vững chãi, xây dựng và ban hành Bộ Luật Hồng Đức – bộ luật đầu tiên của Việt Nam có quy định đầy

đủ và chặt chẽ hơn so với Luật lệ của các nước láng giềng thời bấy giờ, đưa Bộ Luật Hồng Đức trở thành khung pháp lý cho toàn bộ hoạt động của quan lại trong triều cũng như người dân Đại Việt Bằng việc kết hợp giữa pháp trị và đức trị, Lê Thánh Tông đã gây dựng và phát triển đội ngũ quan lại và trọng dụng nhân tài cống hiến cho đất nước, góp phần tạo ra một trật tự quy củ trong việc quản lý và sử dụng đội ngũ quan lại

Việc đánh giá nhân tài nói chung và kiểm tra, đánh giá đội ngũ quan lại trong triều nói riêng là một trong những hoạt động được vua Lê nhận thấy vô cùng quan trọng và cần kíp để đưa Đại Việt trở nên ngày càng thịnh vượng Chính vì lẽ đó, trong quá trình thực hiện cải cách hành chính, Lê Thánh Tông đã thực hiện cải cách toàn diện, đồng bộ trên các

Trang 10

lĩnh vực, và tập trung nhiều hơn vào cải cách chế độ quan lại, nổi bật lên trong những chính sách được ban hành và áp dụng đó là lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông Thông qua lệ khảo thí, khảo khóa, Lê Thánh Tông muốn đánh giá chính xác năng lực và phẩm hạnh của đội ngũ quan lại nhằm lựa chọn kẻ sĩ người tài phục vụ cho đất nước; đồng thời cũng để loại bỏ những người đã làm quan mà không cố gắng nỗ lực hết mình vì dân vì nước Bằng việc thể chế hóa các quy định của triều đình, ban hành Bộ Luật Hồng Đức và các chính sách thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội, Lê Thánh Tông đã có một cường quốc hưng thịnh được các triều đại sau học tập và noi theo Đó luôn là cơ sở, là nền tảng, là bài học quý báu để những nhà lãnh đạo hiện nay rút ra bài học trong quá trình xây dựng, cách tân đổi mới đất nước

Khổng Tử - nhà tư tưởng lỗi lạc của Trung Quốc thời xưa cho rằng, biết “ôn cố tri tân” – học hỏi từ lịch sử để mở mang hơn ở hiện tại, thì có thể làm bậc thầy trong thiên hạ

Nhìn lại và đánh giá những thành tựu và hạn chế đã trải qua trong các giai đoạn lịch sử, rút

ra bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng và phát triển đất nước nói chung, đội ngũ quan lại nói riêng là một hoạt động có ý nghĩa kế thừa quan trọng khi nghiên cứu về lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông

Hiện nay, việc đánh giá cán bộ, công chức ở nước ta được thực hiện đều đặn vào tháng 12 hàng năm, riêng đối với các cơ sở giáo dục công lập được thực hiện đánh giá công chức vào thời điểm kết thúc năm học (thường vào ngày 01 tháng 7 hàng năm) Việc đánh giá cán bộ, công chức nhằm xếp hạng cán bộ, công chức; từ đó tạo cơ sở để bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, nâng ngạch hoặc thăng hạng chức danh nghề nghiệp, quy hoạch, bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện các chính sách khác đối với cán bộ, công chức Nhận thức được vai trò quan trọng của đội ngũ cán

bộ, công chức trong việc xây dựng đất nước, Đảng xác định lấy chất lượng, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ làm căn cứ chủ yếu để đánh giá cán bộ Sau Đại hội XII của Đảng, ngày 04

tháng 8 năm 2017 Bộ Chính trị đã ban hành hai quy định: Quy định số 89-QĐ/TW, “Quy định khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”, Quy định số 90-QĐ/TW, “Quy định tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý” nhằm định

hướng việc đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp Trên cơ sở đó, Chính phủ cũng ban

Trang 11

hành hệ thống Nghị định quy định chi tiết hơn về việc đánh giá công chức đang làm việc trong bộ máy nhà nước Để thực hiện tốt những mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng đã đề ra, cần kết hợp giữa tri thức khoa học hành chính hiện đại, học tập kinh nghiệm cải cách hành chính

từ lịch sử nước mình và các quốc gia phát triển trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia có điều kiện hoàn cảnh tương xứng; với tinh hoa truyền thống trong cải cách hành chính của lịch sử dân tộc, từ đó, xây dựng một nền hành chính vừa hiện đại vừa mang bản sắc riêng

Đánh giá cán bộ, công chức hiện nay ở nước ta đã đạt được những thành tựu khá tốt, song cần nhìn lại những quy chuẩn đã được đặt ra dưới thời Lê Thánh Tông để nâng cao hơn nữa hiệu quả của việc đánh giá Bằng niềm say mê với lịch sử nước nhà, đặc biệt là lịch sử cải cách hành chính, với sự quan tâm về việc đánh giá cán bộ, công chức của nước

ta hiện nay, tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông và bài học kinh nghiệm cho đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Quản lý công của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Lịch sử hành chính là một trong những đề tài được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, nhằm đúc rút những bài học kinh nghiệm quý giá của ông cha ta trong quá trình cai trị đất nước Những bài học này giúp cho việc xây dựng và ban hành hệ thống chính sách, pháp luật hiện nay được tốt hơn Có rất nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ và góc độ khác nhau về những nội dung liên quan đến đề tài Luận văn Dưới đây, Luận văn xin giới thiệu tổng quan một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, từ đó chỉ ra những nội dung

đã được nghiên cứu trong các công trình đó, những nội dung chưa sáng rõ, cụ thể cần tiếp tục đặt ra để nghiên cứu và đúc rút thành bài học kinh nghiệm có thể vận dụng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý cán bộ, công chức; góp phần quản lý và sử dụng đội ngũ cán

bộ, công chức hiệu quả hơn ở Việt Nam hiện nay

Một là, nhóm các bộ sử ghi chép lịch sử thời Lê

Phan Huy Chú với Lịch triều hiến chương loại chí được coi là một bách khoa toàn

thư về khoa học xã hội của Việt Nam, đó là một tài liệu quý báu cho công tác nghiên cứu

và xây dựng các khoa học xã hội Lịch triều hiến chương loại chí với 49 quyển chia ra thành

10 bộ môn nghiên cứu khác nhau Trong tất cả các bộ môn nghiên cứu, Phan Huy Chú tập trung nghiên cứu các sự kiện từ triều Lê trở về trước, thường chú trọng nghiên cứu đặc biệt

Trang 12

về triều Lê, còn triều Nguyễn thì ông không nhắc đến Bộ sách nghiên cứu tường tận và cụ thể từ tình hình địa lý, lịch sử địa lý; tiểu sử vua chúa, quan lại, nho sĩ, tướng sĩ; đến lịch

sử chế độ quan liêu; lễ nghi triều đình; từ chế độ khoa cử đến chế độ thuế khóa, tài chính;

từ tình hình pháp luật, tổ chức quân sự đến các chính sách và nghi lễ ngoại giao, lịch sử ngoại giao của triều Lê Những vấn đề lịch sử liên quan nhà Lê được cuốn sách ghi chép lại một cách khoa học và chính xác, góp phần tái hiện chân thực lịch sử nước ta đương thời

Năm 1977, Viện sử học và Nhà xuất bản văn hóa – thông tin cho ra mắt cuốn Lê triều quan chế do Phạm Văn Liệu dịch và chú giải Lê triều quan chế viết khá toàn diện và

chi tiết về bộ máy nhà nước và chế độ quan lại dưới thời Hồng Đức (1471 – 1497) đời Lê Thánh Tông; ngoài ra sách cũng nêu quan chế của các triều trước, như niên hiệu Kiên Trung (1225-1231) triều Trần Thái Tông, niên hiệu Thuận Thiên (1428-1433) triều Lê Thái Tổ, niên hiệu Thiệu Bình (1434-1440) triều Lê Thái Tông, và cả niên hiệu Quang Thuận (1460 – 1470) – niên hiệu đất nước trong những năm đầu Lê Thánh Tông trị vì Cuốn sách được xác định biên soạn sớm nhất vào khoảng cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, tập trung nghiên cứu về quan chế ở nước ta thời trung đại và cung cấp nhiều chi tiết mà các cuốn sách khác từng chép về quan chế thời Lê còn chưa đề cập đến hoặc đề cập đến nhưng chưa

cụ thể, chi tiết

Năm 1993, NXB Văn hóa Thông tin lần đầu tiên phát hành bộ chính sử Đại Việt sử

ký toàn thư – bộ biên niên sử ghi chép từ thời đại truyền thuyết Kinh Dương Vương năm

2879 trước công nguyên đến năm 1675 đời vua Lê Gia Tông nhà Hậu Lê và là bộ chính sử Việt Nam xưa nhất còn tồn tại nguyên vẹn đến ngày nay, do nhiều đời sử quan trong Sử quán triều Hậu Lê biên soạn Bộ sử bắt đầu được Ngô Sĩ Liên – một vị sử quan làm việc trong Sử quán dưới thời vua Lê Thánh Tông biên soạn dựa trên sự chỉnh lý và bổ sung hai

bộ quốc sử Việt Nam trước đó cùng mang tên Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu và Phan Phu

Tiên Hoàn thành vào niên hiệu Hồng Đức thứ 10 (1479), bộ sử mới gồm 15 quyển, ghi lại lịch sử Việt Nam từ một thời điểm huyền thoại là năm 2879 trước công nguyên đến năm

1427 khi nhà Hậu Lê được thành lập và mang tên Đại Việt sử ký toàn thư Sau đó, dù đã hoàn thành, Đại Việt sử ký toàn thư không được khắc in để ban hành rộng rãi mà tiếp tục

được nhiều đời sử quan trong Quốc sử quán sửa đổi, bổ sung và phát triển thêm Khoảng niên hiệu Cảnh Trị đời vua Lê Huyền Tông, chúa Trịnh Tạc hạ lệnh cho một nhóm văn

Trang 13

quan, đứng đầu là Tham tụng Phạm Công Trứ, sửa chữa bộ quốc sử của Ngô Sĩ Liên, đồng thời sai biên soạn tiếp lịch sử Việt Nam từ năm 1428 đời vua Lê Thái Tổ đến năm 1662 đời vua Lê Thần Tông nhà Hậu Lê Bộ sử của nhóm Phạm Công Trứ, gồm 23 quyển, được đem khắc in để phát hành nhưng công việc chưa xong, phải bỏ dở Khoảng niên hiệu Chính Hòa đời vua Lê Hy Tông, chúa Trịnh Căn lại hạ lệnh cho một nhóm văn quan, đứng đầu là Tham tụng Lê Hy, tiếp tục khảo đính bộ sử của nhóm Phạm Công Trứ, đồng thời biên soạn tiếp lịch sử Việt Nam từ năm 1663 đời vua Lê Huyền Tông đến năm 1675 đời vua Lê Gia Tông

nhà Hậu Lê Bộ quốc sử này lấy tên là Đại Việt sử ký toàn thư, theo đúng tên mà sử gia

Ngô Sĩ Liên cách đó gần hai thế kỷ đã đặt cho bộ sử của ông, gồm 25 quyển, được khắc in toàn bộ và phát hành thành công vào năm Đinh Sửu, niên hiệu Chính Hòa năm thứ 18 đời vua Lê Hy Tông, tức là năm 1697

Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép những nhân vật và sự kiện lịch sử qua các triều đại

cô đọng và chi tiết Bộ sử được Ngô Sĩ Liên – quan dưới thời Lê Thánh Tông biên soạn nên không những ghi chép được những mốc lịch sử quan trọng trong thời Lê mà còn có sự chính xác, khách quan của một vị sử quan trong Sử quán bấy giờ Cuốn biên niên sử vừa có giá trị cho ngành sử học, vừa có giá trị cho các ngành khoa học xã hội khác nữa Cho đến nay,

khi tìm hiểu về lịch sử Việt Nam, không học giả nào có thể không nhắc đến Đại Việt sử ký toàn thư như một di sản lịch sử vẫn còn nguyên vẹn

Đại Việt thông sử trong Lê Quý Đôn toàn tập là một cuốn sử ghi chép lại lịch sử thời

Lê, còn gọi là Lê triều thông sử Theo GS Dương Quảng Hàm, Lê Quý Đôn thật là một

nhà bác học ở đời Lê mạt: một tay ông đã biên tập, trứ thuật rất nhiều sách Tuy tác phẩm của ông đã thất lạc ít nhiều, nhưng những bộ còn lưu lại cũng là một cái kho tài liệu để khảo cứu về lịch sử, địa dư và văn hóa của nước Việt Cuốn sử được viết trong giai đoạn Lê Quý Đôn ở nhà dạy học và viết sách, và hoàn thành vào năm 1749 gồm 30 quyển Tuy nhiên, cho đến hiện nay chỉ còn truyền lại 3 phần với 15 quyển – tức là chỉ khoảng một

nửa Đại Việt thông sử là bộ sử được viết theo thể kỷ truyện, chỉ có phần Bản kỷ là chép

theo lối biên niên, chép từ thời vua Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi) đến vua Lê Cung Hoàng Với lối viết trải theo các mốc thời gian, Lê Quý Đôn đã điểm lại khái quát những sự kiện lịch

sử về chính trị, quân sự, trị quốc,… diễn ra dưới triều Lê, cung cấp cái nhìn tổng quan về lịch sử triều Lê cho người đọc

Trang 14

Năm 2011, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản cuốn Lịch sử Việt Nam – từ nguồn gốc đến năm 1884 do GS Nguyễn Phan Quang và TS Võ Xuân Đàn chủ

biên Cuốn sách trình bày cô đọng, súc tích về lịch sử nước nhà từ nền văn hóa sơ khai, trải qua cả nghìn năm dựng nước và giữ nước đến những ngày trước cuộc xâm lược của Thực dân Pháp Lịch sử nhà Lê được ghi chép lại một cách cẩn thận và cụ thể trong cuốn sách,

từ bối cảnh lịch sử, việc phục hồi và phát triển nền kinh tế đến việc xây dựng và thực hiện

có quy củ, nền nếp các chế độ đối với đất nước Với gần 500 trang sách ghi chép lại lịch sử hàng nghìn năm của đất nước, cuốn thông sử đã đưa ra những sự kiện lịch sử quan trọng, giúp người đọc dễ dàng tiếp cận và nắm bắt thông tin

Hai là, nhóm các công trình nghiên cứu ngày nay về cải cách hành chính và chế

độ quan lại, chế độ cán bộ, công chức

Trong cuốn Sử học và hiện thực, Tập II: “10 cuộc cải cách đổi mới trong lịch sử Việt Nam” của GS Văn Tạo xuất bản năm 2000 có bài: “Cải cách hành chính thời Lê Thánh Tông - xây dựng một nhà nước phong kiến thịnh trị” Trong bài viết này tác giả đánh

giá cuộc cải cách hành chính dưới triều vua Lê Thánh Tông là một trong ba cuộc cải cách hành chính nổi bật nhất trong lịch sử hành chính Việt Nam GS Văn Tạo phân tích khá sâu sắc các nguyên nhân dẫn đến cải cách hành chính dưới triều vua Lê Thánh Tông và một số lĩnh vực mà vị vua anh minh này đã thực hiện trong 38 năm trị vì của mình: phân cấp quản

lý đất đai, xây dựng bộ máy hành chính Song những nội dung cải cách quan chế chưa được tác giả đi sâu nghiên cứu

Một công trình nghiên cứu có tầm cỡ về mặt khoa học phải kể đến là cuốn sách “Lê Thánh Tông (1442 - 1497): Con người và sự nghiệp” bao gồm 33 báo cáo khoa học, trong

đó có nhiều báo cáo liên quan đến việc thực hiện cải cách, đổi mới dưới triều vua Lê Thánh Tông Đây là tập hợp các báo cáo khoa học tại cuộc Hội thảo khoa học về con người và sự nghiệp của vua Lê Thánh Tông nhân dịp kỷ niệm 500 năm ngày mất của ông (năm 1997),

do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn phối hợp với Trường Đại học Sư phạm (thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội), Viện Sử học, Viện Triết học, Viện nghiên cứu nhà nước

và pháp luật tổ chức Các báo cáo tại Hội thảo đã đưa ra những nhận thức mới, những kiến giải mới về cuộc đời và sự nghiệp của vị vua anh minh Lê Thánh Tông Trong đó có

các bài viết như: Chức danh xã trưởng dưới thời Lê Thánh Tông của PGS.TS Nguyễn

Trang 15

Quang Ngọc; Cải cách hệ thống quan lại địa phương dưới triều Lê Thánh Tông của TS Nguyễn Hoàng Anh; Vài nét về sự thay đổi hành chính và tổ chức chính quyền địa phương dưới triều Lê Thánh Tông của PGS.TS Nguyễn Đức Nhuệ Các bài viết này đề cập đến

một số lĩnh vực mà vua Lê Thánh Tông đã tiến hành cải cách trong những năm trị vì của ông, nổi bật nhất là cải cách tổ chức bộ máy hành chính

TS Bùi Huy Khiên với cuốn Những bài học từ hai cuộc cải cách hành chính dưới triều vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mệnh xuất bản năm 2011 Cuốn sách gồm 3 chương

được trình bày rõ ràng và chi tiết Nội dung của cuốn sách ngoài việc nêu lên tính tất yếu

và khách quan của việc phải thực hiện cải cách hành chính đối với mọi nhà nước, mọi thời đại; nhận xét, đánh giá một số cuộc cải cách trong lịch sử Việt Nam để tìm ra những quy luật chung, những thành công cũng như rào cản trong việc thực hiện cải cách; cuốn sách còn khái quát về hoàn cảnh lịch sử trước cải cách, sau đó tập trung chính vào nội dung cải cách bộ máy và cải cách quan chế Thông qua việc nghiên cứu nội dung chính của 2 cuộc cải cách, cuốn sách đã đưa ra một số bài học kinh nghiệm mang tính tổng kết nhằm góp phần thúc đẩy công cuộc cải cách hành chính hiện tại ở nước ta

Ngoài ra, tác giả Nguyễn Thị Thu Hòa có đề tài nghiên cứu khoa học cấp Khoa,

Khoa Hành chính học – Học viện Hành chính năm 2010 Những bài học quản lý hành chính nhà nước Việt Nam trong lịch sử; Nguyễn Thanh Lương có bài viết “Từ cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông suy nghĩ về cải cách hành chính nước ta hiện nay” đăng trên Tạp chí Giáo dục lý luận số 5 - 2008; Nguyễn Hoài Văn với bài “Kinh nghiệm sử dụng người tài, xây dựng đội ngũ quan lại thời Lê Thánh Tông” đăng trên Tạp chí Lý luận Chính trị số

5 - 2013 Trong những bài viết trên, các tác giả đã đề cập đến lệ khảo thí, khảo khóa được thực hiện dưới triều Lê Thánh Tông như một quy định bắt buộc nhằm kiểm tra, đánh giá đội ngũ quan lại đang phục vụ công việc triều chính, tạo cơ sở cho việc thăng, giáng và thưởng phạt đối với đội ngũ quan lại

Trang 16

Ba là, nhóm các công trình nghiên cứu trực tiếp về lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời Lê sơ

Có nhiều bài viết đăng trên tạp chí nghiên cứu về việc thực hiện cải cách hành chính

mà trọng tâm là việc thực hiện cải cách chế độ kiểm tra, giám sát đội ngũ quan lại dưới

triều Lê Thánh Tông, như bài Phép khảo khóa của nhà nước phong kiến Đại Việt của tác

giả Bùi Quý Lộ in trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 12 - 1995 Bài viết giới thiệu khái lược

về lệ khảo khóa của các triều đại tiêu biểu như Lê sơ, nhà Nguyễn và ý nghĩa của phép khảo

khóa trong việc xây dựng đội ngũ quan lại Bài Khảo thí, khảo khóa thời Lê và việc thực hiện đánh giá năng lực, đạo đức cán bộ, công chức ngày nay của ThS Nguyễn Thị Thu

Hòa in trên Tạp chí Quản lý Nhà nước số 236 - 2015 Bài viết tập trung cung cấp một số thông tin về nội dung chế độ khảo khóa, khảo thí và đưa ra một số kinh nghiệm tham khảo cho việc thực hiện đánh giá năng lực, đạo đức cán bộ, công chức ngày nay

Bài Từ lệ khảo khóa quan lại dưới triều vua Lê Thánh Tông suy nghĩ về công tác đánh giá cán bộ công chức của TS Bùi Huy Khiên trong Tạp chí Tổ chức nhà nước số 5 -

2015 và bài Chế độ khảo khóa quan chức của nhà nước phong kiến Hậu Lê của ThS Vũ

Thị Yến in trong tạp chí Tổ chức nhà nước số 9 - 2017 đều đề cập đến những nội dung của chế độ khảo khóa và rút ra một số kinh nghiệm cho công tác đánh giá cán bộ, công chức nước ta hiện nay Những bài đăng trên đã nghiên cứu khá cụ thể về bối cảnh thực hiện phép khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông nói riêng và nhà nước phong kiến nói chung Qua việc đi sâu nghiên cứu, các tác giả đã liên hệ đến việc đánh giá năng lực, đạo đức cán bộ, công chức ngày nay nhằm tìm ra phương thức đánh giá cán bộ, công chức phù hợp nhất

Như vậy, các cuốn sách, nghiên cứu trên đã tập trung nghiên cứu chuyên sâu về từng khía cạnh, từng giai đoạn cụ thể trong lịch sử và đã được công bố, có những đóng góp lớn

về học thuật, là nguồn tư liệu quý giá cho những nhà nghiên cứu khác, những người quan tâm đến vấn đề này Tuy nhiên, phần lớn những tài liệu trên chỉ tập trung nghiên cứu về cải cách tổ chức bộ máy hành chính và chế độ quan lại nói chung, chỉ đề cập đến một phần nhỏ của lệ khảo thí, khảo khóa chứ chưa đi sâu nghiên cứu về chế độ này Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu về lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông – một đề tài với hướng tiếp cận mới, không trùng lắp với các công trình đã công bố

Trang 17

Trên cơ sở các nội dung nghiên cứu đã được đề cập tại các công trình nghiên cứu

nói trên về cải cách bộ máy hành chính và chế độ quan lại thời Lê sơ, đề tài: ““Lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông và bài học kinh nghiệm cho đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay” sẽ nghiên cứu một số điểm mới chưa được đề cập và đi sâu

nghiên cứu, như: nghiên cứu có hệ thống các vấn đề lý luận về quan lại và chế độ quan lại thời phong kiến; tái hiện lại một cách có hệ thống, khách quan và chân thực về lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông; nghiên cứu để nhìn nhận, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông trong mối liên hệ chặt chẽ với việc đánh giá cán bộ, công chức ngày nay, gợi mở những giá trị tham khảo và gắn những giá trị tham khảo đó với hoạt động quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

 Mục đích nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu việc xây dựng và thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497) nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm có giá trị trong việc xây dựng và thực hiện đánh giá cán bộ, công chức; đáp ứng yêu cầu xây dựng

và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước

 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Tìm hiểu về lệ khảo thí, khảo khóa, việc đánh giá và sử dụng quan lại (thăng – giáng, phân công, bố trí công việc) quan lại dưới triều vua Lê Thánh Tông;

- Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa trong mối liên hệ chặt chẽ với công tác đánh giá cán bộ, công chức hiện nay; đúc rút bài học kinh nghiệm đối với việc hoàn thiện thể chế đánh giá cán bộ, công chức; góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, đáp ứng yêu cầu của hoạt động quản lý và sử dụng cán bộ, công chức

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu việc thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa đối với đội ngũ quan lại từ trung ương đến địa phương dưới triều Lê Thánh Tông (1460 – 1497) trong sự tham chiếu với những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay

Trang 18

 Phạm vi nghiên cứu:

 Phạm vi tài liệu nghiên cứu:

Đề tài Luận văn nghiên cứu về lịch sử hành chính có sử dụng hệ thống các nguồn tài liệu như sau:

- Các bộ biên niên sử ghi chép lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ theo sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử, chính sách nhà nước: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt thông sử,…

- Văn bản pháp luật, quy định, quy chế dưới triều Lê như: Lê Triều hình luật; Lê triều quan chế;…

- Văn bản pháp luật hiện hành quy định về Cán bộ, Công chức: Luật Cán bộ, Công chức 2008, Nghị định số 56/2015/NĐ-CP do Chính Phủ ban hàng ngày 09 tháng 6 năm

2015 về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức; Nghị định số 88/2017/NĐ-CP

do Chính Phủ ban hành ngày 27 tháng 7 năm 2017 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 56/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của chính phủ về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức;…

- Luận văn cũng sử dụng các tài liệu thứ cấp – hệ thống tài liệu đã được nghiên cứu của các tác giả về triều Lê sơ nói chung, Lê Thánh Tông nói riêng, như: Lịch Triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú), Lê Thánh Tông – Con người và sự nghiệp (Nguyễn Quang Ngọc); Sử học và hiện thực (Văn Tạo), Những bài học từ hai cuộc cải cách hành chính dưới triều Vua Lê Thánh Tông và Vua Minh Mệnh (Bùi Huy Khiên)… cùng với những Luận văn, luận án, đề tài khoa học, bài báo, bài đăng tạp chí và các cuốn sách khác

 Phạm vi nội dung nghiên cứu:

- Khảo thí là khoa thi không theo chính kỳ, không định học vị nhằm tuyển chọn nhân tài ra làm quan hoặc phân định trình độ của quan lại nói chung Khảo khóa là kỳ thi được

tổ chức định kì 3 năm, 6 năm, 9 năm dành cho tất cả quan văn, quan võ trong triều nhằm kiểm tra xem xét đạo đức, tư cách, trình độ, năng lực của đội ngũ quan lại trong triều; trên

cơ sở đó thực hiện việc bố trí, sắp xếp quan lại phù hợp Luận văn tập trung nghiên cứu lệ khảo thí, khảo khóa đối với đội ngũ quan lại dưới triều vua Lê Thánh Tông

Trang 19

 Phạm vi thời gian nghiên cứu:

- Thời gian nghiên cứu tập trung từ năm 1460 – 1497 là 38 năm trị vì Đại Việt của Lê Thánh Tông với Niên hiệu Quang Thuận (1460 – 1469) và niên hiệu Hồng Đức (1470 – 1497)

- Đồng thời, đề tài nghiên cứu về công tác đánh giá cán bộ, công chức hiện nay ở Việt Nam nhằm liên hệ, so sánh, đối chiếu, rút ra bài học kinh nghiệm

 Phạm vi không gian nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu lệ khảo thí, khảo khóa từ cấp chính quyền trung ương đến địa phương trên địa bàn lãnh thổ quốc gia Đại Việt dưới triều vua Lê Thánh Tông

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp luận:

- Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin để nghiên cứu, phản ánh sự kiện lịch sử một cách khách quan, trung thực; xem xét sự vận động của chúng trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau, trong sự vận động và phát triển liên tục của lịch sử Mỗi giai đoạn lịch sử chịu sự ảnh hưởng khác nhau

từ điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nên quá trình nghiên cứu về lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông Luận văn đặt chúng trong bối cảnh lịch sử để xem xét, phân tích Bên cạnh đó, Luận văn cũng sử dụng phương pháp logic để luận giải quan hệ biện chứng giữa những quy định chặt chẽ của pháp luật với việc thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa

và hiệu quả của việc áp dụng thông lệ trong quá trình sử dụng, quản lý đội ngũ quan lại triều Lê Thánh Tông

 Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đây là một đề tài về lịch sử hành chính nên việc nghiên cứu các tài liệu lịch sử là vô cùng quan trọng Song Luận văn không dừng lại ở việc

sử dụng phương pháp mô tả lịch sử mà kết hợp cùng với phương pháp sử liệu học, thu phập tài liệu nhằm tái tạo lịch sử một cách chân thực nhất

- Phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê, phương pháp logic: Luận văn có sử dụng phương pháp thống kê các số liệu về chế độ sử dụng quan lại, các số liệu tổng hợp trên tài liệu sơ cấp và thứ cấp nhằm đánh giá vấn đề nghiên cứu trong tổng quan lịch sử và theo quy luật phát triển khách quan

Trang 20

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để đưa ra lý luận về tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài và ý nghĩa sâu sắc của việc nghiên cứu những tài liệu về lệ khảo thí, khảo khóa đối với giai đoạn hiện nay Đồng thời, Luận văn cũng phân tích những nội dung liên quan chế độ quan lại nói chung được áp dụng dưới thời vua Lê Thánh Tông, từ đó làm rõ những thành công và tồn tại hạn chế của việc thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa đương thời nhằm so sánh, tham chiếu lịch sử và sử dụng tối đa phương pháp này trong việc đưa ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho việc đánh giá cán bộ, công chức trong giai đoạn hiện nay

Phương pháp tổng hợp còn được sử dụng để tóm lược nội dung, đánh giá tổng quan nội dung của từng phần, từng chương và kết luận cho toàn Luận văn

- Phương pháp khảo sát thực tế và xử lý số liệu: Dựa vào mục đích nghiên cứu, thời gian nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, học viên đã tiến hành phát phiếu điều tra khảo sát thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức tại các cơ quan nhà nước, nhằm tìm hiểu

về thực trạng công tác đánh giá cán bô, công chức hiện nay

Về địa bàn khảo sát: Dựa trên địa bàn và tính dễ tiếp cận các đối tượng để lựa chọn

mẫu phiếu, tiến hành thăm dò ý kiến của đội ngũ cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính nhà nước các cấp

Các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương gồm: Văn phòng Chính phủ, Bộ Nội

vụ, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch,…

Các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh gồm có: Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn,

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Lạng Sơn, Sở Nội vụ tỉnh Lạng Sơn, Sở Giao thông Vận tải tỉnh Thái Nguyên, Sở Tư pháp tỉnh Hòa Bình

Cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện gồm có: Ủy ban nhân dân huyện Hữu Lũng – tỉnh Lạng Sơn, Ủy ban nhân dân huyện Chi Lăng – tỉnh Lạng Sơn, Ủy ban nhân dân huyện Lạng Giang – tỉnh Bắc Giang, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lạng Giang – tỉnh Bắc Giang, Phòng Nội vụ huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn, Phòng Văn hóa – Thể thao và

du lịch Thành phố Lạng Sơn – tỉnh Lạng Sơn, Phòng Tài Chính – Kế hoạch Thành phố Lạng Sơn – tỉnh Lạng Sơn

Trang 21

Cơ quan hành chính nhà nước cấp xã gồm có: Ủy ban nhân dân xã Sơn Hà – huyện Hữu Lũng – tỉnh Lạng Sơn, Ủy ban nhân dân xã Mai Pha – Thành phố Lạng Sơn – tỉnh Lạng Sơn, Ủy ban nhân dân xã Quang Thịnh – huyện Lạng Giang – tỉnh Bắc Giang

Về đối tượng phát phiếu khảo sát: đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong các cơ

quan hành chính nhà nước thuộc địa bàn khảo sát, bao gồm các chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính, chuyên viên, cán sự và nhân viên hiện đang công tác tại cơ quan thực hiện điều tra khảo sát

Về thời gian thực hiện điều tra khảo sát: việc thăm dò ý kiến cán bộ, công chức được

tiến hành từ tháng 01 năm 2019 đến tháng 02 năm 2020 Thời điểm này các cơ quan nhà nước mới hoàn thiện viêc thực hiện đánh giá cán bộ, công chức hàng năm; do đó việc tiếp cận đối tượng thăm dò ý kiến sẽ mang lại hiệu quả cao hơn

Về số lượng phiếu khảo sát: Theo thống kê của Bộ Nội vụ, tổng biên chế công chức

hưởng lương từ ngân sách nhà nước năm 2019 của các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước, cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài, biên chế công chức dự phòng và biên chế của các Hội có tính chất đặc thù hoạt động trong phạm vi cả nước là 259.598 biên chế (không bao gồm biên chế của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng; biên chế công chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập và cán bộ, công chức cấp xã) Trong đó, các cơ quan, tổ chức hành chính thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải là đơn vị sự nghiệp công lập là 105.189 biên chế; các cơ quan, tổ chức hành chính thuộc cơ quan của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện là 151.906 biên chế; các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài 1.068 biên chế; các Hội có tính chất đặc thù hoạt động trong phạm vi cả nước là 686 biên chế; và 749 biên chế là công chức dự phòng

Theo Phụ lục 3 về Thống kê số lượng biên chế cán bộ, công chức tại các đơn vị thực hiện khảo sát, tổng số cán bộ, công chức trong các đơn vị được tiến hành khảo sát là 29.387 biên chế Tổng số biên chế thuộc các đơn vị thực hiện khảo sát chiếm 11,32% so với tổng biên chế trong cả nước Với số phiếu phát ra là 400 phiếu trên tổng số 29.387 tổng biên chế của các đơn vị thực hiện khảo sát, lượng phiếu khảo sát tương đương với 1,35% tổng số lượng cán bộ, công chức hành chính hiện nay đang làm việc trong các đơn vị tiến hành

Trang 22

khảo sát Trong đó, tổng số phiếu phát ra là 400 phiếu, tổng số phiếu thu về là 387 phiếu,

số phiếu hợp lệ là 382 phiếu, số phiếu không hợp lệ là 5 phiếu

Về xử lý kết quả khảo sát: Luận văn sử dụng phương pháp thống kê và phần mềm

tin học Microsoft excel để tổng hợp và xử lý kết quả khảo sát Kết quả khảo sát được tính theo tỷ lệ phần trăm tổng số phiếu hợp lệ thu về (Phụ lục 1, 2; tr1,4)

- Phương pháp so sánh: Để đánh giá mức độ thành công hay hạn chế của việc thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa dưới triều Lê Thánh Tông, Luận văn sử dụng phương pháp so sánh để đối chiếu với các triều đại trước và sau đó Luận văn cũng sử dụng phương pháp

so sánh để tham chiếu lịch sử với hiện tại, so sánh giữa bối cảnh lịch sử, thể chế, mục tiêu

và cách thức thực hiện lệ khảo thí khảo khóa dưới thời Lê Thánh Tông và việc đánh giá cán

bộ, công chức hiện nay Thông qua đó, Luận văn phân tích những điểm khác biệt để đưa ra những bài học lịch sử có giá trị vận dụng được trong quá trình thực hiện đánh giá cán bộ, công chức hiện nay

- Các phương pháp nghiên cứu khác: Đề tài còn mang tính liên ngành vì có liên quan đến ngành sử học, hành chính học nên sử dụng các phương pháp nghiên cứu xã hội học, hành chính học như: phương pháp hành chính so sánh, phương pháp tiếp cận quy phạm pháp luật,…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

 Ý nghĩa lý luận:

- Phân tích và chứng minh về sự cần thiết của mọi nhà nước, mọi thời đại trong việc đẩy mạnh sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội; trong đó việc xây dựng được đội ngũ quan lại với hệ thống chính sách hợp lý là một trong những nhiệm vụ thiết yếu Từ đó lý giải vì sao các vị vua thời xưa dành sự quan tâm lớn đến việc thể chế hóa quy định nhà nước, và đưa hoạt động nhà nước vào khuôn khổ pháp luật

- Đề tài đưa ra một số nhận xét, đánh giá về tác động và hiệu quả của việc áp dụng thực thi chính sách sử dụng quan lại nói chung, lệ khảo thí, khảo khóa nói riêng trong lịch

sử, từ đó đưa ra sự ảnh hưởng đến đội ngũ quan lại nói riêng và toàn bộ nền hành chính nhà nước nói chung Thông qua đó có thể khẳng định rằng, để một quốc gia phát triển cần có một đội ngũ quan lại có đức có tài, kèm theo đó là chế độ chính sách dành cho quan lại phải

cụ thể, rõ ràng, công khai, minh bạch

Trang 23

- Nghiên cứu đề tài chỉ rõ sự thành công của quá trình cải cách hành chính thời Lê sơ nói chung và chính sách đối với chế độ quan lại, đặc biệt là lệ khảo thí, khảo khóa trong việc sử dụng quan lại dưới thời vua Lê Thánh Tông nói riêng Từ đó gợi ra những bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho quá trình cải cách hành chính hiện nay nói chung, đánh giá nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nói riêng

- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm phong phú thêm những kiến thức về đánh giá đội ngũ quan lại trong lịch sử hành chính nhà nước Việt Nam

 Ý nghĩa thực tiễn:

- Đưa ra những bài học kinh nghiệm giúp quá trình ban hành chính sách và công tác

quản lý, đánh giá cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay đạt hiệu quả hơn;

- Đề tài nghiên cứu là cơ sở cho quá trình xây dựng, ban hành, thực thi các chính sách

về đánh giá cán bộ, công chức, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, quản lý hiệu quả đội ngũ cán bộ, công chức, lựa chọn được người tài, bố trí sắp xếp đúng người đúng việc

7 Kết cấu của Luận văn

Luận văn “Lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời Lê Thánh Tông và bài học kinh nghiệm cho đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay” được triển khai với bố cục gồm 3

chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về chế độ quan lại và lệ khảo thí, khảo khóa thời

phong kiến ở Việt Nam

Chương 2: Lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497) Chương 3: Những bài học kinh nghiệm cho công tác đánh giá cán bộ, công chức ở

Việt Nam hiện nay

Trang 24

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ QUAN LẠI VÀ LỆ KHẢO THÍ,

KHẢO KHÓA THỜI PHONG KIẾN Ở VIỆT NAM 1.1 Các khái niệm liên quan

1.1.1 Khái niệm quan lại

Với nhiều tác giả và nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay có nhiều cách giải thích khái niệm “quan lại”

Ở nước ngoài, nguồn gốc của từ “quan lại” là từ “mandarin” trong tiếng Pháp, từ nay được vay mượn từ từ “mandarim” trong ngôn ngữ của người Bồ Đào Nha xuất hiện năm 1581 Theo tiếng Bồ Đào Nha, “quan” dùng để chỉ các viên chức đứng đầu các cấp hành chính, các cơ quan chức năng trong bộ máy chính quyền ở Mã Lai, Trung Quốc và

Việt Nam từ năm 1514 Theo Từ điển lịch sử của ngôn ngữ Pháp, “mandarim” là biến dạng

của từ “mandar” với nghĩa là “ra lệnh, tống đạt”, gốc chữ Phạn “mantrin” qua trung gian tiếng Mã Lai “mantari” có nghĩa “cố vấn Nhà nước” Từ này xuất hiện trong tiếng Pháp với nghĩa “cố vấn của Vua, của quan thượng thư”; ở châu Á từ đó có ý nghĩa hiện tại là “viên chức cao cấp” được dùng ở Trung Quốc, Đông Dương hay Triều Tiên từ năm 1604 Như vậy, chỉ những người làm quan mới được gọi là “quan lại” chứ không phải tất cả những người làm việc trong bộ máy nhà nước phong kiến đều được gọi là “quan lại”

Ở Việt Nam, theo Sổ tay từ ngữ lịch sử - Quan chế thì “quan” là những người làm

việc trong bộ máy nhà nước phong kiến, thực dân từ cấp trung ương đến cấp địa phương (trấn – tỉnh – phủ – huyện), có phẩm hàm, tước vị, chức sắc, được tuyển bổ chủ yếu bằng đường khoa cử hoặc bảo cử [13; tr175] “Lại” (còn gọi là lại viên, lại sử, lại điển, liên thuộc, thuộc lại, thư lại, thông lại) là viên chức làm việc trong các cơ quan (nha môn) ở triều đình hoặc các cấp trấn (nếu ở thời Nguyễn là tỉnh), phủ, huyện; có nhiệm vụ thảo giấy tờ, thư trái, công văn Lại có thể chuyển thành quan nếu có công lao và thành tích làm việc [13; tr130]

Theo Từ điển Tiếng Việt, khái niệm “quan lại” do hai thuật ngữ “quan” và “lại” hợp

thành “Quan” là viên chức có quyền hành trong bộ máy nhà nước phong kiến, thực dân [29; tr799] “Lại” gọi chung là viên chức sơ cấp chuyên làm việc bàn giấy trong bộ máy nhà nước phong kiến [29; tr689]

Trang 25

Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, “quan lại” là những người giữ các chức

vụ từ cấp huyện trở lên trong bộ máy nhà nước phong kiến và thuộc địa Những người điều hành gọi chung là quan; những người thừa hành gọi chung là lại

Theo Từ điển Hán Việt, “quan lại” chỉ những kẻ cai trị trong nhà nước phong kiến

nhưng vẫn có sự phân biệt chủ yếu trong bộ máy hành chính giữa “quan” (viên chức chịu trách nhiệm) với “lại” (kẻ thừa hành)

Có thể thấy rằng, quan niệm chung của nhiều tài liệu, nhiều tác giả cho rằng “quan”

là những người giữ cương vị chỉ huy, điều khiển công việc, trị dân; còn “lại” là những người thừa hành công việc, giúp quan Quan do vua tuyển chọn, chỉ định, bổ dụng; là người đứng đầu trong nha môn; là người quản lý, lãnh đạo Lại là viên chức thừa hành, là nhân viên dưới quyền của quan; là người do triều đình hoặc quan lựa chọn, mang tính ổn định để phục

vụ cho công việc vận hành bộ máy hành chính nhà nước phong kiếm Việc phân biệt “quan” – “lại” rất quan trọng, có ý nghĩa trong việc thiết lập cơ chế tổ chức và hoạt động của bộ máy; giới hạn quyền và nghĩa vụ cũng như phạm vi trách nhiệm các đối tượng này

Khi nhắc đến “quan lại” trong nhà nước phong kiến, các nhà nghiên cứu thường nhắc đến ba yếu tố: chức quan, phẩm hàm, tước vị Hàm, phẩm trật, chức, tước để chỉ chức

danh và ngạch bậc của từng chức danh, phân chia cao thấp theo thứ bậc Chức quan là chức

vụ cụ thể của người làm quan, bao gồm nhiệm vụ của người làm quan phải thi hành ở cương

vị mà mình phụ trách Ví dụ: chức quan Thượng thư các bộ, Tả Hữu thị lang các bộ, Đô

ngự sử, Hàn lâm Đại học sĩ,… Tước vị là danh hiệu khen thưởng của triều đình, thường

tương đương với từng chức quan, song có khi phẩm tước cao mà chức lại thấp hoặc ngược

lại Phẩm hàm là cấp bậc cao thấp của quan lại Phẩm cấp các quan thường được xếp theo

chín bậc từ nhất phẩm đến cửu phẩm; mỗi phẩm lại chia ra làm hai trật: chánh và tòng, cộng lại thành 18 trật Hàm thì có hàm Tản quan và Huân hàm Hàm Tản quan là loại chức danh cho các quan làm danh hiệu vinh dự, chỉ có hàm, không có nhiêm vụ hay thực quyền Các hàm Tản quan cũng có sự phân biệt cao thấp như hàm “Đại Phu” cao hơn hàm “Lang”, hàm

“Thượng tướng quân” cao hơn hàm “Đại tướng quân” Huân hàm là danh hiệu vinh dự phong cấp theo công trạng và chỉ phong tặng cho những công thần như Thượng Trụ Quốc, Chính Trị Thượng Khanh, Thượng Hộ Quân,…

Trang 26

Tựu chung lại, khái niệm “quan lại” được hiểu như sau: Quan lại là những người

làm việc trong bộ máy nhà nước quân chủ phong kiến, trong đó “quan” là những người có phẩm hàm, tước vị, chức vụ được tuyển chọn bằng nhiều phương pháp khác nhau như: khoa cử, tiến cử, tập ấm,…; còn “lại” là những người được tuyển chọn vào làm công việc cụ thể nào đó trong các nha môn từ triều đình đến cấp huyện để giúp việc cho quan

1.1.2 Khái niệm chế độ quan lại

Chế độ quan lại – hay còn gọi là quan chế, là một trong những nội dung thiết yếu của các triều đại quân chủ phong kiến trong việc kiến tạo bộ máy nhà nước, xây dựng đường

lối, chủ trương, thực hiện chính sách của vua và triều đình Sổ tay từ ngữ lịch sử - quan chế

định nghĩa: “Quan chế là những quy định về cách tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của hệ thống các cơ quan và quan chức từ trung ương đến địa phương của triều đình phong kiến nói chung” [13; tr175]

Trong Bách khoa toàn thư (mở Wikipedia) thì quan chế là hệ thống định chế pháp luật được áp dụng dưới thời phong kiến Còn cuốn Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông đưa

ra khái niệm ngắn gọn “quan chế là chế độ tổ chức quan lại thời phong kiến” [22; tr342]

Như vậy, chế độ quan lại không chỉ là những quy định pháp luật riêng rẽ đối với

quan lại mà còn bao gồm cả việc xây dựng, vận hành theo những quy định chính trị, pháp luật và đạo đức nhất định; được thể hiện qua những nguyên tắc về tuyển chọn, sử dụng, đào tạo, quản lý, kiểm tra, sát hạch, chế độ trách nhiệm chính trị, trách nhiệm đạo đức, chế độ

đãi ngộ, chế độ khen thưởng và xử phạt Cụ thể hơn, chế độ quan lại bao gồm một quy trình từ tổ chức đến thực hiện các quy định về đào tạo, tuyển chọn, sử dụng quan lại

mà các triều đại phong kiến Việt Nam thực hiện nhằm xây dựng một đội ngũ quan lại cho bộ máy hành chính nhà nước (trong sử dụng lại có phân công, sắp xếp bố trí quan lại; luân chuyển, giản thải; kiểm tra, giám sát; chế độ đãi ngộ và thưởng, phạt quan lại,…) Chế độ quan lại phản ánh trình độ tổ chức, tầm nhìn, sự sáng tạo, canh tân hay bảo

thủ, trì trệ của một chế độ với thời đại mà yêu cầu lịch sử, đất nước giai đoạn đương thời đặt ra Khảo thí, khảo khóa là hoạt động nằm trong chế độ quan lại; là hoạt động kiểm tra, đánh giá việc thực hiện công vụ của đội ngũ quan lại trong triều

Trang 27

1.1.3 Lệ khảo thí, khảo khóa

Trong Từ điển Tiếng Việt, “Lệ” được hiểu là điều quy định có từ lâu năm trở thành nền nếp, mọi người cứ theo thế mà làm; là điều được lặp đi lặp lại nhiều lần, tự nhiên đã thành thói quen [29; tr562]

Theo cuốn Từ điển từ ngữ lịch sử phổ thông, “Lệ” được hiểu là những quy định có

tính tập thể về một việc gì đó để bắt mọi người thực hiện [22; tr264] Trong nhà nước phong kiến, Vua chúa phong kiến chủ yếu ban hành những quy định dưới dạng lệnh, khẩu lệnh, chiếu chỉ, dụ, lệ,… bắt buộc thực hiện trong toàn bộ vùng lãnh thổ của mình, có tính chất tương tự như hệ thống pháp luật ngày nay Như vậy, có thể thấy rằng, trước khi pháp luật được ban hành thành văn bản, triều đình phong kiến ban hành quy định dưới dạng lệnh, chiếu chỉ, dụ, lệ,… để đảm bảo tính bắt buộc và thống nhất trong việc thực hiện quy định chung của nhà nước Do vậy, “Lệ” dưới thời phong kiến được hiểu tương tự như “pháp luật” hiện nay

Theo cuốn Sổ tay từ ngữ lịch sử – Quan chế, “Khảo thí” là khoa thi không theo chính

kỳ, không định học vị nhằm tuyển chọn nhân tài ra làm quan hoặc phân định trình độ của quan lại nói chung; “khảo khóa” là kỳ thi kiểm tra xem xét đạo đức, tư cách, trình độ, năng lực của đội ngũ quan lại trong triều [13; tr120]

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, “khảo khóa là hình thức sát hạch định kì các

quan lại về năng lực và phẩm chất trong các vương triều phong kiến Việt Nam” [42; tr493] Thời hạn khảo khóa thay đổi theo từng triều đại và triều vua (có thể từ 1 đến 15 năm một lần) Thời Lê – Trịnh phổ biến là ba năm, chia thành hai giai đoạn: sơ khảo (xét công trạng hàng năm) và thông khảo (sau ba năm) Cấp trên xem xét cấp dưới Bộ Lại là cơ quan quyết định kết quả khảo khóa Trường hợp đặc cách, không cần phải đợi đến niên hạn Tiêu chuẩn xét duyệt thường dựa vào việc hoàn thành trách nhiệm (thuế hộ đủ hay thiếu), năng lực cai trị (việc kiện tụng ít hay nhiều), tín nhiệm của dân chúng (nhân dân yêu mến hay kêu ca), phẩm chất đạo đức (không mắc lỗi hay mắc lỗi, thanh liêm hay tham nhũng) Thời Lý, xếp các quan chức thành các hạng: người có văn học, người có nết tốt, người siêng năng Thời

Lê – Trịnh, chia thành 3 bậc: thượng (tốt), trung (trung bình), hạ (xấu) Căn cứ vào kết quả xếp loại, quyết định thưởng phạt với các hình thức: thăng chức (từ 1 đến 2 bậc), thưởng tiền, biếm giảng (từ 1 đến 2 bậc), đổi đến nơi ít việc, buộc về hưu, bãi chức… [42; tr493]

Trang 28

Theo Đại từ điển tiếng việt, “khảo” là kiểm tra, tra cứu để xem xét [45; tr888];

“khóa” là kì thi, thời gian ấn định cho một nhiệm kỳ công tác, học tập [45; tr907] Do đó, khảo khóa quan lại là xem xét, đánh giá toàn bộ hoạt động trong một thời gian nhất định giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước phong kiến

Trong Từ điển Hán Nôm, “khảo thí” được hiểu là một tổ chức thi cử để kiểm tra,

đánh giá kiến thức, kỹ năng, năng lực, hay thái độ bằng một quy trình chặt chẽ

Tóm lại, có thể hiểu rằng, lệ khảo thí, khảo khóa thực chất là việc đánh giá, xem

xét trình độ hiểu biết, quan điểm trị quốc và hiệu quả công việc của quan lại theo định

kì, theo khóa Trong đó “khảo thí” là khoa thi không theo chính kỳ, không định học

vị nhằm tuyển chọn nhân tài ra làm quan hoặc phân định trình độ của quan lại nói chung; “khảo khóa” là kỳ thi kiểm tra xem xét đạo đức, tư cách, trình độ, năng lực của đội ngũ quan lại trong triều [13; tr120].Có thể hiểu một cách đơn giản nhất, khảo thí

là một khoa thi không chi dành cho những người đang làm quan mà còn dành cho các học

sĩ, nhằm mục đích vừa để đánh giá trình độ của quan lại, vừa để lựa chọn kẻ sĩ làm quan phục vụ triều đình; còn khảo khóa là những kỳ thi được thực hiện theo kì hạn cụ thể với

mục đích chính là sát hạch đội ngũ quan lại đang làm việc trong triều đình Thông qua các

kỳ khảo thí, khảo khóa sẽ thấy rõ kết quả thực hiện công việc của quan lại trong thực tế để đánh giá đạo đức, tư cách và trình độ, năng lực của quan lại Quan lại là cánh tay nối dài của triều đình đến các địa phương, lựa chọn được người xứng đáng để nhận trách nhiệm và chịu trách nhiệm với công việc thực hiện cần phải dựa vào cả trình độ năng lực và phẩm chất đạo đức Quá trình làm quan khó tránh khỏi sự thay đổi về tư duy, nhận thức; đồng thời cũng có nhiều cám dỗ và sự tha hóa; việc đánh giá, xem xét quan lại định kì là cần thiết Lệ khảo thí, khảo khóa nhằm đánh giá ưu khuyết điểm, sai phạm của quan lại; qua đó xác định tài năng và đức độ của quan lại, vừa để làm căn cứ thưởng – phạt và điều chuyển quan lại; vừa để nhắc nhở quan lại cần phải tận tâm hơn với trách nhiệm của mình trong thi hành công vụ

Như vậy, việc thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa trong nhà nước phong kiến cũng

tương tự như hoạt động đánh giá cán bộ, công chức trong giai đoạn hiện nay của nước ta

Nói đến phép khảo khóa, trong Lịch triều hiến chương loại chí – Tập I, Phan Huy

Chú có bình luận: “Giao cho trách nhiệm một địa phương và tính mạng của nhân dân mà

Trang 29

để mặc cho họ dựa dẫm lui tới, lấy đầy xe mang về, thế thì không để tiếng xấu cho quan trường mà làm đau khổ cho dân, thì ít cũng thấy vậy Cho nên chính sách yên dân chẳng gì hơn việc chấn chỉnh quan trường, tất phải khảo công, để xét rõ người hơn người kém mà thăng giáng cho rõ ràng thì liêm sỉ riêng đường, chính hóa đi khắp Việc cốt yếu cho nước thịnh trị của bậc đế vương, không vượt qua điều ấy được” [3; tr102]

1.2 Sơ lược về chế độ quan lại và lệ khảo thí, khảo khóa thời phong kiến ở Việt Nam

1.2.1 Sơ lược về chế độ quan lại

1.2.1.1 Chế độ tuyển chọn quan lại

Trong tuyển chọn, các triều đại phong kiến Việt Nam thực hiện nhiều phương pháp

để lựa chọn được quan lại Các hình thức tuyển chọn quan lại đều được thực hiện công minh, chính trực nhằm không bỏ sót, không dùng nhầm người Tùy từng triều đại mà cách lựa chọn nhân tài mỗi thời một khác Ngoài chế độ tập ấm có từ thời xưa và chế độ khoa

cử đặt ra từ triều Lý thì các triều Trần, Lê còn có chế độ tiến cử và bảo cử, phàm các quan

to ai cũng phải cử một người có tài đức hoặc người có danh vọng để triều đình bổ dụng

 Chế độ nhiệm tử (tập ấm)

Nhiệm tử (hay còn gọi là tập ấm) là hình thức tuyển chọn quan lại xuất hiện sớm

nhất ở nước ta, trở thành một tập quán chính trị theo kiểu “con vua thì lại làm vua” Ấm là phúc đức, ân huệ của cha ông ta để lại [29; tr17] “Tập ấm là việc gia ân của vua đối với con cháu của các quan lại có công tích, sau khi chết tùy cào chức tước, phẩm trật của cha ông mà được cấp bằng ấm sinh, ấm thụ, ấm tôn để đào tạo làm quan, thường là có kỳ hạn”

[13; tr204]

Theo lệ này, con cháu nhờ vào ân trạch của cha ông mà được tuyển bổ vào một chức quan nào đó Trường hợp không có con trai thì được phép nhận nuôi một người thân thích trong họ để cho hưởng tập ấm Ví dụ, thời Lê sơ, năm 1460 ra sắc chỉ cho các quan trong ngoài rằng: “Viên nào con đáng được tập ấm mà không có con trai thì cho nuôi con người thân thích cùng họ, chỉ được 1 người tập ấm” [5; tr391]; năm 1478 định lệ bổ dụng con cháu quan viên Phàm cháu trưởng các tước công, hầu, bá, tử, nam và con trưởng quan văn

võ nhị, tam phẩm thì bổ làm tản quan tứ, ngũ, lục, thất, bát, phẩm Gián hoặc có người ít

Trang 30

tuổi chăm học thì tuyển vào Sùng văn quán, Lại bộ chọn bổ làm các chức điển nghĩa, tư huấn [3; tr674]

Các triều Lý, Trần có lệ thừa ấm, hễ con các quan thì lại được bổ làm quan Ở triều

Lê vẫn có lệ thừa ấm, có khoa nhiệm tử, cốt lấy con các quan mà bổ dụng Triều Nguyễn cũng có lệ tập ấm, phàm quan chính nhất phẩm thì còn được tập ấm theo hàng tùng lục, gọi

là ấm thọ, đó là bậc cao nhất; còn bậc thấp nhất thì các quan tùng ngũ được một người con tập ấm gọi là ấm sinh Tuy nhiên, phép thế tập ở nước ta không giống như phép thế tập của quý tộc các nước châu Âu diễn ra trong thời gian dài, vì lệ tập ấm ở nước ta thời phong kiến chỉ hưởng được một hai đời Thực tế cho thấy rằng, chế độ tập ấm ở Việt Nam thời phong kiến chỉ có tính chất như một phần thưởng để động viên quan lại, chứ không phải nguồn

chính để tuyển dụng người vào bộ máy nhà nước

 Chế độ khoa cử (thi cử)

Trong các con đường vào quan trường thời phong kiến thì chế độ khoa cử là chủ yếu nhất và rộng rãi nhất Chế độ này bắt đầu được đặt ra từ triều Lý và kéo dài đến khi chế độ phong kiến suy vong Thời gian đầu, việc tổ chức các kỳ thi còn chưa ổn định Thời nhà Lý khoảng 12 năm mới có một khoa thi được tổ chức Đến năm Kỷ Hợi (1239) đời Trần Thái Tông, lệ thi mới được định 7 năm diễn ra một lần Sang nhà Lê đời vua Thái Tông đã đổi lại 3 năm một kỳ thi Khoa cử được chấp nhận và thực hiện suốt cả một thời kỳ Hậu Lê cho tới cuối thời nhà Nguyễn

Mỗi khoa thi thời phong kiến gồm 3 cấp là: thi Hương, thi Hội và thi Đình Thi Hương là thi ở các địa phương Thi Hội là về kinh đô Sau khi đỗ thi Hội thì được vào sân

rồng của vua thi với đề bài có thể do đích thân vua soạn – đây là kỳ thi Đình Việc tổ chức các khoa thi thời phong kiến đều nhằm mục đích chung là lựa chọn nhân tài cống hiến cho

sự phát triển của quốc gia; tuy nhiên các khoa thi được thực hiện khác nhau giữa các vương triều từ thời gian thực hiện, đối tượng thực hiện đến người tổ chức thực hiện các khoa thi

đó Nhìn chung, nội dung các đề thi thường hỏi về ý nghĩa kinh sách Nho giáo, thi làm thơ phú, trình bày quan điểm về đạo trị nước… Những người đỗ thi Hội trở lên được gọi là Tiến sĩ và có thể được bổ dụng các chức quan cao cấp trong triều đình

Chế độ khoa cử bắt đầu từ năm 1075 đời vua Lý Nhân Tông Dưới thời Lý, khoa cử chủ yếu là chế khoa – những khoa thi mở bất thường theo chiếu chỉ của nhà vua (suốt 216

Trang 31

năm triều Lý chỉ tổ chức có 6 kỳ thi) Đến triều Lê, khoa cử chủ yếu là thường khoa (mở theo thông lệ) Triều Lê sơ dùng khoa cử với mục đích tuyển chọn đội ngũ quan lại có đức

có tài: “Muốn có được nhân tài, trước hết phải lựa chọn kẻ sĩ, mà phép lựa chọn kẻ sĩ trước hết phải lấy thi cử làm đầu Nhà nước ta từ thuở xưa loạn lạc, người anh tài như lá mùa thu, bậc tuấn kiệt như sao buổi sớm Thái Tổ buổi đầu dựng nước, mở mang nhà học, dùng

cỗ Thái lao để tế Khổng Tử, rất mực sùng Nho, trọng đạo Nhưng vì nước mới dựng nên chưa kịp đặt khoa thi Trẫm nối theo chí hướng người xưa, lo được nhân tài để thỏa lòng mong đợi” [5; tr319] Nhà Lê sơ – triều đại đầu tiên trong lịch sử phong kiến đã lần lượt ban hành các thể lệ, nguyên tắc về thi cử, trở thành chế độ của Nhà nước: “Nay định rõ thể

lệ khoa thi, kỳ thi: Bắt đầu từ năm Thiệu Bình thứ 5 (1438), thi hương ở các đạo, năm thứ

6, thi hội ở sảnh đường tại kinh đô Từ đấy về sau, cứ 3 năm một lần thi lớn, coi đó làm quy định lâu dài, người nào thi đỗ đều được ban danh hiệu tiến sĩ xuất thân…” [5; tr319] Trong

suốt 100 năm, với nguyên tắc “hữu giáo vô loài”, triều Lê sơ đã xây dựng đội ngũ quan lại bằng khoa bảng nổi trội hơn các giai đoạn phong kiến trước và sau đó, cả về chất lẫn lượng Thời Lê sơ tổ chức được 31 khoa thi (với 1007 tiến sĩ) trong tổng số 182 khoa thi (với 2898 tiến sĩ) của cả thời kỳ lịch sử phong kiến

Khoa cử tiếp tục được thực hiện trong các triều đại về sau, khoa thi cuối cùng diễn

ra ở Bắc Kỳ năm 1915 và Trung Kỳ năm 1918 triều Khải Định nhà Nguyễn Trong gần

1000 năm chế độ khoa cử phong kiến Việt Nam, đã có hàng ngàn vị Tiến sĩ và 55 Trạng nguyên được ghi danh, thể hiện rõ ràng con đường khoa cử là con đường rộng rãi để các sĩ phu bước vào quan trường hành đạo giúp đời

 Chế độ tiến cử - bảo cử

Chế độ tiến cử và bảo cử thực chất tương tự như nhau chỉ khác về hình thức Tiến

cử là bản thân người tự tiến cử thấy mình có đủ tài năng, đức độ, đáp ứng được yêu cầu của

công việc thì cự tiến cử mình Triều đình quyết định chọn lấy người tài đức hơn hẳn mà

không cứ vào thân phận Bảo cử (hay còn gọi là được tiến cử) là một người muốn ra làm

quan cần phải có người khác (có danh vọng, đang làm quan trong triều) giới thiệu và chịu trách nhiệm đảm bảo về tài đức của người mình tiến cử trước triều đình

Theo lệ này, những người tài đức có nguyện vọng gánh vác công việc chung sẽ đươc nhà vua trọng dụng mà không phải trải qua bất cứ kỳ thi hay sát hạch nào Điều này rất

Trang 32

quan trọng và có ý nghĩa to lớn nhằm khắc phục kịp thời việc thiếu người làm việc trong

bộ máy nhà nước, nhất là trong giai đoạn mới lập nên triều đại, hay trong những hoàn cảnh

xã hội biến động, còn nhiều rối ren không thể tổ chức khoa cử Với việc bảo đảm bằng uy tín và trách nhiệm của người tiến cử, người được tiến cử phải là những người có tài năng, đức độ thực sự, đã có kinh nghiệm quan trường cũng như khả năng thực tế đáp ứng được yêu cầu công việc đặt ra

Trong Đại Việt sử ký toàn thư có ghi chép: “Tiến cử người hiền tài, loại bỏ kẻ bất tiếu, đó là việc lớn của chính trị Cho nên, dùng người tài không lưỡng lự, bỏ kẻ gian không chần chừ… Kể từ nay, các nha môn trong ngoài, nếu có ai liêm khiết, có tài, trung thực đáng khen thưởng cất nhắc, cùng những kẻ tham lận bỉ ổi, không làm nổi việc, đều phải xét

rõ sự thực, kê tên tâu lên Ai dám a dua theo nhau, hay vì thù riêng, trao đổi đút lót, mà xếp đặt không đúng thì sẽ bị trị tội nặng không tha” [5; tr532]

Ngay khi vừa phục hồi nền độc lập cho đất nước, năm 1429, vua Lê Thái Tổ đã xuống chiếu định rằng các đại thần từ tam phẩm trở lên có bổn phận tiến cử người hiền tài

“hoặc ở trong triều, hoặc ở thôn quê, hoặc đã làm quan, hoặc chưa làm quan…Nếu cử được người có tài bực trung thì thăng tước hai bậc, nếu cử được người tài đức đều giỏi, hơn hết mọi người, thì tất được thưởng hậu…” [6; tr72]

Đến thời Lê Thánh Tông, việc tiến cử hay bảo cử được quản lý chặt chẽ bằng luật

Điều 174 Bộ luật Hồng Đức: “Người bảo cử phải lập hồ sơ về người được bảo cử trình lên Lại bộ xét Các quan đứng đầu các nha, môn có chức khuyết, đề cử người mình thấy xứng đáng với chức đó về Bộ lại Các quan ở Lại khoa và Ngự sử đài đều ghi chép bản đề nghị

đó, nếu sau này người được đề cử tỏ ra không xứng đáng thì người đề cử sẽ bị trị tội” Bộ luật cũng quy định mức hình phạt đối với những ai bảo cử quan lại không xứng chức:

"Những người làm nhiệm vụ cử người mà không cử được người giỏi thì bị biếm hoặc bị phạt theo luật nặng nhẹ; nếu vì tình riêng hoặc lấy tiền mà bảo cử thì xử tội nặng thêm hai bậc” [33; tr87]

Từ đời Hồng Đức đến thời Lê Trung Hưng, việc bảo cử được hoàn thiện thêm Năm

1671, vua Lê Huyền Tông định rằng các quan nhị phẩm có thể tiến cử bốn người, quan từ lục phẩm đến bát phẩm được tiến cử hai người, tên được kê khai giao cho bộ Lại xét tuyển

Trang 33

Sang thời Nguyễn, dưới triều Minh Mạng, nhà vua rất chú trọng đến lệ bảo cử, đã ban hành những qui định cụ thể như: các Thượng thư (chánh nhị phẩm) được tiến cử người giữ chức Bố chánh (chánh tam phẩm); Tham tri lục bộ và Phó Đô ngự sử (cùng tòng nhị phẩm) được tiến cử người giữ chức Án sát (chánh tứ phẩm); Thị lang lục bộ (chánh tam phẩm) và ấn quan tam phẩm được tiến cử người giữ chức Tri phủ (tòng ngũ phẩm), đồng Tri phủ (chánh lục phẩm)… Nhiều quan lại thuộc diện có quyền tiến cử nhưng ngần ngại, không dám tiến cử vì sợ nhầm người, sẽ bị khiển phạt Mặt khác, tiến cử những người bất tài, vô hạnh (không có đức) cũng sẽ bị trừng phạt Điều này cũng đã từng xảy ra: năm 1836, khi phủ Hoài Đức khuyết chức Tri phủ, Tham tri bộ Hộ là Vũ Đức Khuê tiến cử người quen biết là Tri huyện Tô Ngọc Huyền vào chức này Khoa đạo thấy Ngọc Huyền không phải là người trong sạch, cẩn trọng mà Đức Huyền cũng cố tiến cử, bèn hặc tấu vua Vua Minh Mạng ban chỉ sai Đức Khuê tâu rõ lại, sau thấy tờ tấu có nhiều chỗ chống chế gượng gạo, không nhận lỗi, liền giao cho bộ Hình bàn xử Cuối cùng Đức Khuê đang từ hàm tòng nhị phẩm, bị giáng 3 cấp xuống làm Lang trung, hàm chánh tứ phẩm [15]

1.2.1.2 Chế độ sử dụng quan lại

 Phân công, sắp xếp bố trí quan lại

Trong lịch sử phong kiến nước ta, các vương triều đã đặt ra các chức quan, tuyển chọn và phân công nhiệm vụ trong triều đình Mỗi triều đại lại có tổ chức bộ máy triều đình

và địa phương; chức tước, phẩm cấp dành cho quan lại khác nhau Tuy vậy, các chức quan chưa thực sự được giao nhiệm vụ rõ ràng cụ thể Cho đến triều Lê, với cuộc cải cải hành

chính lớn và dụ Hiệu định quan chế của Lê Thánh Tông, ông đã cải cách lại bộ máy chính

quyền trung ương, quy định rõ chức trách của đội ngũ quan lại Lê Thánh Tông không những chỉ định rõ những phẩm cấp dành cho quan lại, nhiệm vụ của các tự, các khoa mà ông còn quy định rõ cơ cấu tổ chức của từng bộ, từng khoa với những chức danh cụ thể

Phan Huy Chú có bình: “Từ đời Trần trở về trước, chức nào giữ việc gì, không thể khảo cứu rõ được Đại khái bộ, viện, sảnh, cục đều có chức việc, nhưng xem ở sử thì sơ lược không đủ căn cứ Duy từ đời Lê về sau, mỗi đời có quy tắc đặt thêm, chức ty đều có phân biệt, mới có chứng cứ để tham khảo” [3: tr573] Các nhà sử học thường lấy chế độ phân bổ

và sắp xếp quan lại triều Lê như một cơ sở lịch sử để tìm hiểu về việc tổ chức bộ máy quan

Trang 34

lại trong triều đình thời xưa “Vậy nay chép từ đời Diên Ninh triều Lê trở xuống, kế đến chế

độ do các đời sửa sang thêm, rồi về trước cũng có thể do đó mà suy” [3; tr573]

Các triều đại phong kiến Việt Nam thường dựa vào tiêu chí dân số để quy định về

số lượng quan lại Thời vua Lê Thánh Tông quy định: từ 500 hộ trở lên có 5 xã trưởng; 300

hộ có 4 xã trưởng; 100 hộ có 2 xã trưởng, dưới 60 hộ cử 1 xã trưởng Năm 1839 thời vua Minh Mạng thứ 20, lấy số lượng và nhu cầu công việc là tiêu chí cơ bản để quyết định biên chế, phân bổ số quan lại, các chức trách của quan, lại dần được chuyên môn hóa Trong chỉ

dụ vua Minh Mạng năm 1831 có viết “Bắc thành 11 trấn rất rộng việc nhiều, các địa phương ấy các việc quân dân, kiện tụng, tiền lương, thuế khóa, thực là bề bộn Cần phải chiểu theo địa hạt chia người coi giữ có chuyên trách” Nói theo ngôn ngữ ngày nay thì người xưa đã dựa vào việc để định số lượng người chứ không phải dựa vào lượng người để định việc, đã áp dụng chế độ “công vụ theo việc làm” [16]

Bên cạnh đó, pháp luật phong kiến Việt Nam còn áp dụng “Luật hồi tỵ” đối với quan lại bắt đầu từ triều Lê sơ, sau đó triều Nguyễn có thêm những quy định chặt chẽ và rõ ràng hơn “Hồi tỵ” nghĩa là tránh ra, hay lánh đi Theo đó, những người có quan hệ huyết thống, đồng hương, thầy trò, bạn bè không được cùng làm quan hay làm việc ở một địa phương, công sở Nội dung chính của “hồi tỵ” là: quan lại không được lấy vợ, kết làm thông gia với người ở nơi mình cai quản; không đưa quan lại về quê hương, bản quán nhậm trị; quan lại không được tậu đất, vườn, ruộng, nhà tại nơi cai quản; quan lại không được lấy người cùng quê làm người giúp việc; người có quan hệ thầy trò, bạn bè không được làm việc tại cùng một nơi Trong Chiếu tháng 9 năm 1488 của Hồng Đức có quy định việc sắp đặt quan lại tránh quan hệ họ hàng: “Khi xét đặt xã trưởng, hễ là anh em ruột, con chú bác và bác cháu, cậu cháu với nhau thì chỉ có một người làm xã trưởng, không được cùng làm để gây mối tệ

bè phái hùa nhau” Những quy định này nhằm tạo nên một chế độ quan lại liêm chính, không bị chi phối bởi quan hệ họ hàng, dòng tộc, làng – xã mà làm sai lệch việc công hay tham nhũng

Thời vua Minh Mạng quy định: quan vào chầu triều mà bàn đến việc có liên quan đến địa phương mình thì phải tránh mặt Lại dịch ở tất cả các nha môn, hễ có bố con, anh

em ruột, anh em con chú bác cùng làm phải đổi nơi khác (trừ Thái y viện không hồi tỵ, vì nghề thuốc nên cha truyền con nối) Lại dịch ở các nha mà người cùng làng cũng phải đổi

Trang 35

đi nơi khác, lại ở huyện nào thì không được làm ở đấy Người làm quan không được làm quan ở chính quán, trú quán, quê vợ, thậm chí nơi lúc nhỏ đi học Đây chính là chế độ bảo đảm cho sự khách quan, trung thực trong giải quyết các công việc của nhà nước, tránh thiên

vị, nể nang, hay thù oán, làm mất tính khách quan khi đưa ra các quyết định

 Luân chuyển, giản thải quan lại

Đối với đội ngũ “quan”, nhà nước phong kiến Việt Nam áp dụng chế độ thuyên chuyển, điều động; nhưng “lại” thì giữ ổn định, áp dụng chế độ "quan khứ nha tồn” – “quan” thì thực hiện luân chuyển điều động giữa các vùng, còn “nha” (tức “lại”), thì giữ ổn định tại vùng đó Để tạo môi trường mới, phát huy được tính năng động, sáng tạo của người làm quan, đồng thời để tránh những trì trệ, hoặc kéo bè, kéo cánh, phe phái, tham nhũng, nhà nước phong kiến Việt Nam đã áp dụng chế độ thuyên chuyển các quan Nhưng việc thuyên chuyển chỉ thuần túy là thuyên chuyển về không gian, địa điểm làm quan, mà không chuyển tính chất công việc làm quan, ví dụ quan tri phủ ở phủ này chuyển đi làm tri phủ ở phủ khác, hoặc làm tri huyện

Chế độ luân chuyển quan lại, theo sử cũ có từ thời Ngô Quyền Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, Ngô Quyền xưng vương, những quan lại thân cận được phân phong về các địa phương cai trị Hoạt động luân chuyển quan lại dưới thời Lý trở nên rõ ràng, diễn ra đa chiều hơn các thời kỳ trước đó Việc luân chuyển có thể diễn ra đối với từng vị trí ở trung ương, có thể là sự điều động từ trung ương xuống địa phương và ngược lại Các địa phương quan trọng đều do quan lại cao cấp ở trung ương điều về, sau một khoảng thời gian lại được điều động về kinh, kèm theo đó thường là sự gia phong chức tước Hoạt động thăng giáng diễn ra bình thường, có công được phong, có tội bị giáng, thậm chí bị cách hết mọi chức tước, nhưng sau đó lại vẫn có thể được phục hồi như cũ Dưới thời Trần, việc luân chuyển quan lại diễn ra thường xuyên hơn, được thực hiện bằng các quy định cụ thể của Nhà nước

Dưới thời Lê Thái Tổ, do không được kế thừa trực tiếp tổ chức bộ máy nhà nước của triều đại trước, nên ngay sau khi giành được độc lập, công tác xếp đặt quan lại được tiến hành khẩn trương Đến thời Lê Thánh Tông, việc luân chuyển quan lại được xác lập thành một chính sách rõ ràng Năm Quang Thuận thứ 8 (1467), Lê Thánh Tông quy định

“người nhận chức ở tại nơi biên giới xa phải đủ 9 năm mới được đổi về các huyện dưới kinh” [5; tr242] Đến đầu năm sau (1468), thể lệ điều động quan lại giữa các địa phương

Trang 36

được sửa lại, theo đó, những quan viên nhậm chức biên cương xa xôi, nếu hoàn thành nhiệm

vụ thì “đủ hạn 6 năm thì cho chuyển về nơi đất lành” còn nếu không hoàn thành nhiệm vụ thì “lại phải bổ đi miền biên cương xa, đủ 6 năm nữa mới được quyết định lại” [5; tr423]

Việc điều động quan địa phương một mặt đảm bảo chính sách đãi ngộ thỏa đáng, mặt khác cũng chú trọng luân chuyển liên tục để tránh sự cát cứ lộng hành Chính yếu tố này góp phần làm vững mạnh, trong sạch bộ máy quan lại dưới thời Lê Thánh Tông, một yếu tố góp phần vào sự hùng mạnh của quốc gia Đại Việt thời kỳ này

Quan lại nếu không đáp ứng được nhu cầu của nhà nước, hoặc bất tài đều bị bãi Lệ thải quan viên gồm 3 điều ban bố vào năm Hồng Đức thứ 9 (1478) chỉ rõ, quan viên nếu

“hèn kém đần độn bỉ ổi, không làm nổi việc” thì “đều bắt phải nghỉ việc”; chọn người “có tài năng, kiến thức, quen thạo việc mà bổ vào thay” Những quan xét người hay dở mà sai

sự thực thì “Ngự sử đài, Lục khoa, Hiến ty kiểm xét hoặc tâu để trị tội” [5; tr472]

Khi thấy bộ máy quan lại phình to, tốn kém thì vua chủ trương giảm bớt bằng cách tiến hành rà soát đội ngũ quan lại, những ai đã từng phạm tội, hối lộ, đã bị xử biếm, giáng

mà còn đang đương chức thì cho thôi việc, để triệt quan tham nhũng, cho bớt lộc Lê Thánh Tông thực hiện chế độ nghỉ việc đối với quan lại lớn tuổi, thể hiện trong sắc chỉ ngay từ năm thứ ba sau khi lên ngôi “các quan viên văn võ làm việc đến 65 muốn nghỉ việc, các lại điển, giám sinh, nho sinh, sinh đồ tuổi từ 60 trở lên muốn về làm dân, thì đều cho người đó nộp đơn ở Lại bộ” Điều này vừa thể hiện sự đãi ngộ của triều đình, vừa tạo cơ hội để trẻ hoá, nâng cao chất lượng đội ngũ quan lại

 Kiểm tra, giám sát quan lại

Việc thực hiện kiểm tra, giám sát nhằm đánh giá đội ngũ quan lại trong lịch sử phong

kiến được thực hiện bắt đầu từ triều Lý “Lý Anh Tông, năm Đại Định thứ 23 (1162), khảo khóa các quan văn võ, không có tội lỗi thì được thăng trật, cứ 9 năm một khóa, định làm phép thường Cao Tông, năm Trinh Phù thứ 4 (1179), xét công các quan, lấy những người văn học tài cán làm một loại, những người tài cao nết tốt, biết suốt việc xưa nay làm một loại, những người không thông văn học mà siêng năng tài cán làm một loại, sai trị dân quản dân Quan đều đáng tài, không có nhũng lạm” [3; tr692] Dưới triều Lý, lần đầu tiên

trong lịch sử phong kiến nước ta thực hiện khảo công (sau gọi là khảo khóa) đội ngũ quan lại với niên hạn 9 năm một lần

Trang 37

Nhà Trần cũng rất chú trọng xây dựng các cơ quan kiểm tra, giám sát đội ngũ quan

lại Ở Triều đình có Ngự sử đài – cơ quan thực hiện chức năng giám sát; bên cạnh đó còn

có các Đăng văn kiểm sát viện và các quan Gián nghị đại phu Các ngạch quan xử án gọi

là Kiểm pháp quan được lựa chọn trong số những quan lại thanh liêm Sau chiến tranh

chống quân Nguyên – Mông, triều Trần còn tăng cường thêm bộ phận kiểm tra, giám sát ở

các phủ, lộ, đặt thêm các Ty liêm phóng

Bằng việc thực hiện chế độ khảo công các triều đại đánh giá và xem xét năng lực,

trình độ, thái độ của đội ngũ quan lại trong triều “Trần Thái Tông, năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 15 (1246), xét quan văn võ trong ngoài, 15 năm một lần xét, định 10 năm gia tước một cấp, 15 năm gia chức một bậc Quan nào khuyết thì lấy chức chánh kiêm chức phó; chánh phó đều khuyết thì lấy quan khác thay thế, đợi đủ niên hạn mới cho thực thụ” [3;

tr692]

Đến thời vua Lê Thánh Tông, hệ thống cơ quan thực hiện giám sát dày đặc, với cơ chế chặt chẽ và biện pháp quyết liệt nên việc thực hiện kiểm tra, giám sát đem lại hiệu quả cao hơn Với cách thức tổ chức bộ máy hành chính nhà nước gồm Lục bộ, Lê Thánh Tông cho lập ra Lục khoa và Ngự sử đài để thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát công việc Lục

bộ Lục khoa gắn liền với công việc của Lục bộ là: Lại khoa, Lễ khoa, Hộ khoa, Binh khoa, Hình khoa và Công khoa Hệ thống cơ quan Ngự sử đài gồm Ngự sử đài ở trung ương và Giám sát ngự sử ở 13 thừa tuyên Với các cơ quan kiểm tra, giám sát như vậy ông đã kiểm tra, giám sát chặt chẽ bộ máy hành chính ở tất cả các cấp

Bộ máy kiểm tra, giám sát dưới triều vua Lê Thánh Tông thực hiện nhiệm vụ can gián nhà vua, giám sát việc làm của các quan; xem xét việc xử các vụ án và tham gia tuyển chọn đội ngũ quan lại Việc tuyển chọn quan lại do Bộ Lại chịu trách nhiệm chính, Ngự sử đài xem xét, kiểm tra Trong quá trình làm việc, quan lại Thừa ty, Hiến ty xét công, tội các quan phủ, huyện để trình lên Bộ Lại sau khi thực hiện việc khảo khoá tại các địa phương, Ngự sử đài xét công, tội của của quan lại các xứ

Khảo thí, khỏa khóa là một biện pháp tiến hành nhằm thực hiện kiểm tra, giám sát quan lại được nhiều vương triều thực hiện trong thời phong kiến Đây là cách thức kiểm tra trình độ, năng lực, kiến thức, kỹ năng và phẩm chất đạo đức của đội ngũ quan lại mang lại hiệu lực, hiệu quả cao trong quá trình đội ngũ quan lại thực hiện nhiệm vụ Dưới thời Lê

Trang 38

Thánh Tông, kết quả khảo thí, khảo khóa còn là cơ sở cho việc thực hiện các chế độ thăng – giáng, thưởng – phạt quan lại trong triều Do vậy, lệ khảo thí, khảo khóa được thực hiện đều đặn theo niên hạn ba năm một lần

Như vậy, dưới triều Lê Thánh Tông, việc thực hiện cải cách hành chính không chỉ làm hoàn thiện hơn bộ máy nhà nước, quy định cụ thể, rõ ràng chức năng, nhiệm vụ từng

cơ quan, bộ phận mà còn đặt ra những chế độ quan lại nghiêm ngặt, nhất là trong việc thực hiện kiểm tra, giám sát quan lại Việc kiểm tra, giám sát quan lại được Vua Lê Thánh Tông đặc biệt quan tâm bằng việc định ra phép khảo khóa, khảo thí để đánh giá trình độ, năng lực, phẩm chất quan lại theo niên hạn, lấy đó làm cơ sở thăng giáng chức quan và ban bổng lộc

Sau triều Lê Thánh Tông, các triều đại về sau cũng theo lệ thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa để kiểm tra, giám sát nhằm đánh giá thường xuyên trình độ, năng lực và phẩm chất của đội ngũ quan lại trong triều Tuy vậy, mỗi triều đại có niên hạn và cách thức cũng như nội dung thực hiện khảo thí, khảo khóa khác nhau

 Chế độ đãi ngộ và thưởng, phạt quan lại

“Lệ bổng lộc buổi đầu nhà Trần, cấp bậc chưa tường, nói là theo thứ lớp ban cấp, quy chế cũng không khảo được” [3; tr643] Từ triều vua Lê Thánh Tông trở đi, bổng lộc của quan lại được quy định theo chức tước, phẩm hàm và theo khối lượng công việc, trả lương theo việc làm và công trạng Bên cạnh chế độ tiền lương, các triều đình phong kiến còn áp dụng chế độ tiền “dưỡng liêm”, để cấp cho những viên quan cai trị gần dân như tri phủ, tri huyện, nhằm khuyến khích “đức thanh liêm”, nhưng không phải cấp đồng đều cho tất cả tri phủ, tri huyện

Ngoài tiền bổng lộc, quan lại còn được cấp một số đất làm vườn mà chủ yếu là “lộc

điền” “Phàm những người hoàng tộc, các quan văn, quan võ, và phụ nữ quan đều được nhà vua định thể lệ cấp cho ruộng, bãi đất trồng dâu, tiền mặt thay thế cho đầm (hồ hoặc đầm) và thổ trách vườn ao, đều có đẳng cấp khác nhau Những người được ban cấp sau khi chết phải chiêu sổ đã cấp trả lại quan Nếu người nào có tài đức công lao được vua đặc

ân ban cho ruộng đất thế nghiệp để truyền cho con cháu, thì lúc bấy giờ sẽ xin chỉ chuẩn của nhà vua, không phải là thể lệ thường hành”[36; tr37] Chính sách ban cấp lộc điền triều

Lê sơ được ban hành thành quy chế hoàn chỉnh vào năm 1477 dưới thời vua Lê Thánh

Trang 39

Tông, quy định theo phẩm hàm và chức tước, quan phẩm càng cao thì càng được cấp nhiều đất

Cùng với những đãi ngộ quan lại về vật chất, triều Lê sơ còn chú trọng dành cho quan lại nhiều đặc ân, đặc quyền và nhiều cơ hội thăng tiến (thăng thưởng phẩm cấp, chức tước) Quan lại mẫn cán, được thăng thưởng, khi tuổi cao sẽ được hưởng lệ trí sĩ – gia phong tước, bậc, tôn vinh trước triều đình, cho hưởng nguyên bổng lộc và về quê nghỉ ngơi

an dưỡng Những quan chức tài năng, thẳng thắn, công minh, thanh liêm và cần mẫn không những khi sống được trọng dụng, thăng chức mà khi chết còn được nhà nước truy phong, truy tặng danh hiệu, chức tước, được vua sức cho dân một số làng thờ phụng làm thành hoàng…

Triều Lý, 9 năm quan lại được thăng trật một lần, dựa vào việc “xét công các quan, lấy người văn học tài cán làm một loại, những người tài cao nết tốt biết suốt việc xưa nay làm một loại, những người không thông văn học mà siêng năng tài cán làm một loại, sai trị quản dân”; triều Trần “15 năm một lần xét, định 10 năm gia tước một cấp, 15 năm gia chức một bực Quan nào khuyết thì lấy chức chánh kiêm chức phó, chánh phó đều khuyết thì lấy quan khác thay thế, đợi đủ niên hạn xét công mới cho thực thụ” [3; tr692] Đến triều Lê sơ,

lệ cứ ba năm một lần sơ khảo, sáu năm tái khảo và chín năm thông khảo định công thăng thưởng Lệ này được quy định rõ ràng trong lệ khảo khóa triều Lê

Chế độ quan lại thời phong kiến còn chú trọng đến trách nhiệm của các quan lại trong việc thừa hành công vụ Trong Quốc triều Hình luật – Luật Hồng Đức được ban hành dưới thời vua Lê Thánh Tông, có nhiều quy định mang tính chất trừng trị nghiêm khắc như: phạt do để chậm trễ chiếu chỉ, công văn giấy tờ (Điều 23), quan do vô tình dùng dằng để lỡ việc, nếu việc nhỏ xử tội biếm, công việc hàng tháng xử tội đồ, việc lớn tức là công việc hàng năm xử tội lưu (Điều 136) Ngoài ra còn có các quy định khác: đối với quan tại chức, không đến nơi làm việc mà không có lý do thì bị xử phạt biếm hoặc bãi chức (Điều 4), nếu

ở sở làm việc mà ngồi không đúng phép sẽ bị xử tội biếm hoặc phạt tiền (Điều 23)

Dưới triều vua Minh Mạng việc thưởng, phạt rất nghiêm minh, quan lại có công thì được ban thưởng lớn, có tội đều bị xử phạt nghiêm minh, điển hình như, năm 1838 vua Minh Mạng đã cách chức Thượng thư Bộ Lễ về lỗi không kiểm tra, đôn đốc để người dưới

Trang 40

quyền không trông nom, bảo quản đồ thờ trong nhà Thế miếu, để bọn Giám thủ đánh tráo

từ vàng thật thành vàng giả

Tóm lại, dưới thời phong kiến ở Việt Nam, chế độ tuyển chọn và sử dụng quan lại

có nhiều sự kế thừa và phát triển giữa các triều đại Càng về sau, các vương triều càng chú

ý hơn đến việc trọng dụng nguồn nhân tài sẵn có của đất nước, các chế độ đối với quan lại càng có nhiều ưu ái và đãi ngộ tốt hơn, giúp đội ngũ quan lại hạn chế được phần nào nạn hối lộ, tham ô, tham nhũng, tập trung vào thực hiện công việc triều chính được giao Trong những chế độ đối với quan lại, chế độ kiểm tra, giám sát bằng lệ khảo thí, khảo khóa là hoạt động nhận được nhiều sự quan tâm nhất Đội ngũ quan lại ngày càng được kiểm tra, giám sát thường xuyên theo những quy định nghiêm ngặt, chặt chẽ của lệ khảo thí, khảo khóa Như vậy, có thể thấy rõ hiệu quả của việc kiểm tra, đánh giá đội ngũ quan lại với việc nâng cao chất lượng đội ngũ quan lại trong triều thời bấy giờ

1.2.2 Sơ lược về lệ khảo thí, khảo khóa

Các triều đại phong kiến Việt Nam đều nhận thức rất rõ về tầm quan trọng quyết định sự thịnh suy của quốc gia là do đội ngũ quan lại tốt hay kém Người làm quan đương nhiên là phải có đức, có tài; chức quan càng cao thì đòi hỏi về đức, tài càng lớn Với nhận thức sâu sắc về vai trò thiết yếu của đội ngũ quan lại, các triều đại phong kiến đã sớm đưa việc khảo xét năng lực của quan lại từ trung ương đến địa phương trở thành một hoạt động cần thiết Hoạt động khảo xét năng lực quan lại định kì nhằm đánh giá, xem xét phẩm chất đạo đức, năng lực của từng quan lại, trên cơ sở đó thực hiện thăng thưởng những người có đạo đức, nhân cách, trách nhiệm công vụ và có công, đồng thời biếm phạt những quan lại

vô đức, vô tài

Chế độ khảo công của nước ta bắt đầu được thực hiện từ đời vua Lý Thái Tông (1051) Sau đó đến đời vua Lý Anh Tông, năm Đại Định thứ 23 (1162) áp dụng chế độ sát hạch lại (khảo khóa) đối với quan văn – quan võ; không có tội lỗi thì được thăng trật, cứ 9 năm làm một khóa, định làm thông lệ Năm 1179, Lý Cao Tông thực hiện khảo xét công

trạng các quan, phân ra các nhóm đánh giá khác nhau, tùy trao chức vụ Cụ thể: “lấy những người văn học tài cán làm một loại, những người tài cao nết tốt, biết suốt việc xưa nay làm một loại, nhưng người không thông văn học mà siêng năng tài cán làm một loại, sai trị dân quản dân Quan đều đáng tài, không có nhũng lạm” [3; tr692] Điểm mới trong quá trình

Ngày đăng: 04/04/2022, 11:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w