1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai_liên hệ thực tế

22 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 728 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn chung, giải quyết tranh chấp đất đai là việc vận dụng các quy định của pháp luật để bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của nhân dân 1.3 Khái niệm thẩm quyền

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT -

BÀI TẬP CÁ NHÂNHỌC PHẦN PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT ĐAI VÀ MÔI TRƯỜNG

Trang 2

1.Các khái niệm cần làm rõ

1.1 Khái niệm tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai là vấn đề rất phổ biến trong xã hội, xảy ra ở nhiều vùng miền,

khu vực khác nhau với vô vàn những tranh chấp đa dạng và phức tạp

Khoản 24, Điều 3 Luật Đất đai 2013 ghi nhận:”Tranh chấp đất đai là tranh chấp vềquyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đấtđai”.Như vậy, đối tượng tranh chấp chính là quyền và nghĩa vụ của người sử dụngđất, bao gồm cả tranh chấp quyền sử dụng đất và các tranh chấp liên quan đếnquyền sử dụng đất

Hiểu một cách khái quát, tranh chấp đất đai là các bất đồng, mâu thuẫn giữa

những người sử dụng đất với nhau trong thực hiện quyền và nghĩa vụ khi tham gia

quan hệ đất đai

1.2 Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai

Giải quyết tranh chấp đất đai với ý nghĩa là một nội dung của chế độ quản lý nhànước đối với đất đai, là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằmgiải quyết các bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ các tổ chức, hộ gia đình và cánhân để tìm ra các giải pháp đúng đắn trên cơ sở quy định của pháp luật nhằmphục hồi các quyền lợi bị xâm hại, đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối vớinhững hành vi vi phạm pháp luật

Nhìn chung, giải quyết tranh chấp đất đai là việc vận dụng các quy định của pháp

luật để bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của nhân dân

1.3 Khái niệm thẩm quyền

-Thẩm quyền là quyền chính thức được xem xét để kết luận và định đoạt, quyếtđịnh một vấn đề

Thẩm quyền gắn liền với quyền và nhiệm vụ mà pháp luật quy định cho cơ quannhà nước, người nắm giữ những chức vụ lãnh đạo, quản lí trong các cơ quan đó đểthực hiện chức năng và nhiệm vụ của họ Thẩm quyền của mỗi cơ quan và cá nhânđược phân định theo lĩnh vực, ngành, khu vực hành chính, cấp hành chính Trongmỗi ngành, thẩm quyền được phân định theo chức năng, nhiệm vụ của ngành nhưthẩm quyền của Toà án nhân dân là xét xử Tuy nhiên, một loại việc có thể thuộcthẩm quyền của một hoặc nhiều cơ quan, cá nhân trong các ngành, cấp khác nhau -Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai được hiểu là quyền chính thức đượcxem xét để kết luận và định đoạt, quyết định về các vấn đề tranh chấp đất đai

Trang 3

2.Các vấn đề liên quan

2.1 Những nội dung liên quan đến tranh chấp đất đai

a.Phân loại tranh chấp đất đai

*) Căn cứ vào chủ thể, có thể phân loại tranh chấp đất đai thành các tranh chấp sau:

-Một là, tranh chấp giữa tổ chức với tổ chức

Dạng tranh chấp này bao gồm tranh chấp đất đai giữa các tổ chức, cơ quan Nhànước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức kinh tế với nhau hoặc giữacác tổ chức này với các tổ chức khác như tổ chức tôn giáo, tổ chức quần chúngnhân dân ở địa phương, Hay tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chínhtỉnh, huyện, xã

-Hai là, tranh chấp giữa tổ chức với hộ gia đình, cá nhân (hoặc các chủ thể khác như cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo)

Loại tranh chấp này bao gồm các dạng tranh chấp cụ thể sau đây:

+Tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân với cơ quan, tổ chức của Nhà nước, cácnông, lâm trường; đơn vụ vũ trang nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội, tổchức xã hội, tổ chức chính trị, xã hội – nghề nghiệp, tổ chức nước ngoài, trongquá trình sử dụng đất

+Tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân với các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất khicác tổ chức này giải thể

-Ba là, tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân với hộ gia đình, cá nhân (hoặc các chủ thể khác như cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo)

+Tranh chấp về đòi lại đất của ông cha đã được Nhà nước chia cấp cho người kháckhi thực hiện chính sách đất đai qua các thời kỳ

+Tranh chấp giữa đồng bào dân tộc thiểu số với đồng bào ở các địa phương khácđến khai hoang, xây dựng kinh tế mới Dạng tranh chấp này phát sinh ở khu vựcmiền núi phía Bắc và khu vực Tây Nguyên

+ Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về chia tài sản chung là nhà, đất khi ly hôn;

về thừa kế nhà, đất do cha mẹ để lại, tranh chấp về ranh giới, mốc giới sử dụng đất,tranh chấp về chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất, tranh chấp về thế chấpbằng giá trị quyền sử dụng đất,

*) Căn cứ vào nội dung, có thể phân loại tranh chấp đất đai thành:

Trang 4

-Tranh chấp về địa giới hành chính

-Tranh chấp về quyền sử dụng đất

b Đặc điểm của tranh chấp đất đai

Nhìn chung, tranh chấp đất đai có các đặc điểm cơ bản sau:

-Thứ nhất, chủ thể của tranh chấp đất đai là chủ thể của quyền quản lý và sử dụngđất.Họ không phải là chủ thể của quyền sở hữu do tính đặc thù của chế độ sở hữuđất đai ở nước ta: đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sởhữu.Quyền sử dụng đất của các chủ thể được phát sinh trên cơ sở quyết định giaođất, cho thuê đất của Nhà nước.Chủ thể của tranh chấp đất đai là các tổ chức, hộgia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư tham gia với tư cách là người quản lý hoặcngười sử dụng đất

-Thứ hai, khách thể của tranh chấp đất đai là quyền quản lý và quyền sử dụng đất

Do đất đai là loại tài sản đặc biệt không thuộc quyền sở hữu của các bên tranh chấp

mà thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu

-Thứ ba, nội dung tranh chấp đất đai rất phức tạp.Mục đích sử dụng đất ngày càng

đa dạng và phức tạp phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng đất của người sử dụng.Giá trịtinh thần và giá trị vật chất kết tinh trong đát chính là cội nguồn của tranhchấp.Tranh chấp đất đai vì thế thường có tính chất phức tạp và thường gay gắt,quyết liệt hơn các loại tranh chấp khác

-Thứ tư, tranh chấp đất đai xảy ra gây hậu quả xấu về nhiều mặt trong đời sống xãhội Tranh chấp làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý đất đai, ảnh hưởng đến tinhthần, lợi ích của các bên tranh chấp Bên cạnh đó còn ảnh hưởng đến lợi ích củacộng đồng

2.2 Những nội dung liên quan đến giải quyết tranh chấp đất đai

a.Đặc điểm của giải quyết tranh chấp đất đai

-Giải quyết tranh chấp đất đai là giải quyết tranh chấp về quyền quản lý và sử dụngđất đai vì hiện nay không còn tranh chấp về quyền sở hữu đất đai

-Giải quyết tranh chấp đất đai là một nội dung quản lý nhà nước về đất đai Hoạtđộng này do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện căn cứ vào các quy địnhcủa pháp luật, quan điểm, đường lối của Đảng và thực tiễn sử dụng đất để tìm raphương thức phù hợp nhằm giải quyết bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên tranhchấp

-Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất không chỉ đơn thuần là giải quyết tranhchấp dân sự mà nó còn phát sinh trong quá trình quản lý và sử dụng đất nên bị chiphối bởi chủ thể và đối tượng của tranh chấp

Trang 5

-Do đất đai là vấn đề nhạy cảm, phức tạp và có tầm quan trọng trên nhiều phươngdiện, hơn nữa, việc quản lý và sử dụng đất có nhiều biến động qua các thời kỳ lịch

sử nên tranh chấp đất đai xảy ra rất phức tạp, có đông người tham gia Hoạt độnggiải quyết tranh chấp đất đai huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chínhtrị, khuyến khích các tổ chức quần chúng ở cơ sở và người dân tham gia giải quyếttranh chấp đất đai.Trong giải quyết tranh chấp đất đai, Nhà nước coi trọng và đềcao các phương thức thương lượng, hòa giải nhằm giải quyết ổn thỏa tranh chấp,duy trì sự ổn định chính trị - xã hội, đảm bảo sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân.-Việc giải quyết tranh chấp đất đai không chỉ dựa vào quan điểm đường lối củaĐảng; chính sách pháp luật của Nhà nước mà còn căn cứ vào tâm lý, thị hiếu,phong tục tập quán trong quá trình quản lý, sử dụng đất đai của người dân ở cácvùng, miền khác nhau trong cả nước,

-Do tính đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai nên Nhà nước không thừanhận và không xem xét giải quyết các tranh chấp về đòi lại đất đã chia cấp chongười khác khi thực hiện chính sách đất đai qua các thời kỳ

b.Nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai

Việc giải quyết tranh chấp đất đai cần được tuân thủ 3 nguyên tắc cơ bản như sau:

-Thứ nhất, luôn đảm bảo nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước là

đại diện chủ sở hữu

-Thứ hai, bảo đảm lợi ích của người sử dụng đất, nhất là lợi ích kinh tế, khuyến

khích tự hòa giải trong nội bộ nhân dân

-Thứ ba, việc giải quyết nhằm mục đích ổn định kinh tế, xã hội, gắn với phát

triển sản xuất, mở mang ngành nghề, tạo điều kiện cho lao động có việc làm, phùhợp với đặc điểm và quy hoạch của từng địa phương

c.Các hình thức giải quyết tranh chấp đất đai

-Thứ nhất, giải quyết bằng biện pháp hòa giải các tranh chấp đất đai.

Đây là cách thức giải quyết được Nhà nước khuyến khích nhưng kết quả giải quyếtkhông bắt buộc các bên phải thực hiện mà phụ thuộc vào sự thiện chí của cácbên.Các bên tranh chấp tự hòa giải với nhau, nếu hòa giải không thành thì yêu cầu

Ủy ban nhân cấp xã hòa giải

+Nếu thành: UBND cấp xã lập biên bản chứng nhận kết quả hòa giải Nếu hòa giải

mà làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất ban đầu thì UBND cấp xã phải gửi biênbản cho Phòng tài nguyên môi trường hoặc Sở tài nguyên môi trường để đượcthông qua và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai mới

Trang 6

+Nếu không thành: Đối với tranh chấp có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thìcác bên yêu cầu TAND giải quyết Còn nếu không có giấy chứng nhận quyền sửdụng đất đai thì yêu cầu UBND có thẩm quyền giải quyết hoặc khởi kiện ra tòa ánnhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

-Thứ hai, giải quyết theo thủ tục hành chính

Căn cứ khoản 2 Điều 203 Luật Đất đai 2013, tranh chấp mà đương sự không cóGiấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụngđất quy định tại Điều 100 Luật Đất đai 2013 thì đương sự chỉ được lựa chọn mộttrong hai hình thức giải quyết:

+Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại UBND cấp có thẩm quyền (nếu tranhchấp giữa hộ gia đình, cá nhân với nhau thì nộp tại UBND cấp huyện).Nếu khôngđồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấptỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.+Khởi kiện tại Tòa án nơi có đất tranh chấp theo quy định của pháp luật tố tụngdân sự

-Thứ ba, giải quyết theo thủ tục tư pháp

Căn cứ khoản 1, 2 Điều 203 Luật Đất đai 2013, những tranh sau đây thì đương sựđược khởi kiện tại Tòa án nhân dân gồm:

+ Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loạigiấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai

+Tranh chấp về tài sản gắn liền với đất (nhà ở, công trình xây dựng…)

+Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có mộttrong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai

II.THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

Giải quyết tranh chấp đất đai luôn gắn với quyền của chủ thể và nghĩa vụ pháp lý

có sự can thiệp trực tiếp của nhà nước và cơ quan công quyền.Một khi có tranhchấp đất đai xảy ra, quyền của chủ thể và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham giaquan hệ pháp luật đất đai mà các đương sự không thể tự giải quyết được hoặc giảiquyết không đúng, không hiệu quả.Trong lĩnh vực này, quan hệ pháp luật đất đaiphát sinh sẽ tác động vào quyền và nghĩa vụ của các bên, có xuất hiện những xungđột, mâu thuẫn, bất đồng mà bên nào cũng cho rằng quyền và nghĩa vụ của mìnhđang bị xâm phạm

Với vai trò của nhà nước, các quan hệ pháp luật đất đai phát sinh thì nhà nước cầnphải giám sát hoạt động để giải quyết những mâu thuẫn, xung đột của các bên thamgia quan hệ đó.Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai được quy định tại LuậtĐất đai năm 2013 như sau:

Trang 7

1.Tranh chấp về quyền sử dụng đất

*) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranhchấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợpvới Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt

trận, các tổ chức xã hội khác (Khoản 3, Điều 202 Luật Đất đai 2013)

*)Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành

thì được giải quyết như sau: (Điều 203 Luật Đất đai 2013)

- Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loạigiấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai 2013 và tranh chấp về tài sản gắnliền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết

-Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có mộttrong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai 2013 thì đương sự chỉđược lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy địnhsau đây:

+Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyềntheo quy định tại khoản 3 Điều 203 Luật Đất đai 2013

+ Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tốtụng dân sự

-Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp cóthẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

+ Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thìChủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết địnhgiải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởikiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính

+Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, ngườiViệt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủtịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giảiquyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặckhởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

-Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải raquyết định giải quyết tranh chấp Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thihành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành Trường hợp các bênkhông chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành

Như vậy, theo quy định của Luật Đất đai 2013, có hai cơ quan có thẩm quyền giảiquyết tranh chấp đất đai bao gồm Tòa án nhân dân và Ủy ban nhân dân.Trong đó

Trang 8

UBND có thẩm quyền tranh chấp đất đai khi đương sự không có các loại giấy tờquy định tại Điều 100 Luật Đất đai 2013 và nếu đương sự được lựa chọn Còn Tòa

án có thẩm quyền rộng hơn đối với mọi tranh chấp mà đương sự có các loại giấy tờtại Điều 100 Luật Đất đai 2013 hoặc các tranh chấp về các tài sản gắn liền với đấtthì việc giải quyết tranh chấp đất đai là hoàn toàn thuộc về Tòa án nhân dân

2.Tranh chấp về địa giới hành chính (Khoản 4, Điều 29 Luật Đất đai 2013)

Tranh chấp địa giới hành chính giữa các đơn vị hành chính do Ủy ban nhân dâncủa các đơn vị hành chính đó cùng phối hợp giải quyết Trường hợp không đạtđược sự nhất trí về phân định địa giới hành chính hoặc việc giải quyết làm thay đổiđịa giới hành chính thì thẩm quyền giải quyết được quy định như sau:

-Trường hợp tranh chấp liên quan đến địa giới của đơn vị hành chính tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương thì Chính phủ trình Quốc hội quyết định;

-Trường hợp tranh chấp liên quan đến địa giới của đơn vị hành chính huyện, quận,thị xã, thành phố thuộc tỉnh; xã, phường, thị trấn thì Chính phủ trình Ủy banthường vụ Quốc hội quyết định

Bộ Tài nguyên và Môi trường, cơ quan quản lý đất đai của tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có trách nhiệm cungcấp tài liệu cần thiết và phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giảiquyết tranh chấp địa giới hành chính

3.Thời gian thực hiện thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai

Khoản 40 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP quy định về thời gian thực hiện thủ tụchòa giải tranh chấp đất đai, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai như sau:

a, Hòa giải tranh chấp đất đai là không quá 45 ngày;

b) Giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dâncấp huyện là không quá 45 ngày;

c) Giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dâncấp tỉnh là không quá 60 ngày;

d) Giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên

và Môi trường là không quá 90 ngày;

đ) Cưỡng chế thi hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai là không quá 30ngày

Trang 9

Thời gian thực hiện thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai, thủ tục giải quyết tranhchấp đất đai được tính kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; không tính thời gian cácngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật; không tính thời gian tiếp nhận hồ

sơ tại xã, thời gian thực hiện nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất; không tínhthời gian xem xét xử lý đối với trường hợp sử dụng đất có vi phạm pháp luật, thờigian trưng cầu giám định

Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, chưa hợp lệ thì trong thời gian không quá 03 ngàylàm việc, cơ quan tiếp nhận, xử lý hồ sơ phải thông báo và hướng dẫn người nộp

hồ sơ bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ theo quy định

Đối với các xã miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xãhội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gianthực hiện đối với từng loại thủ tục được tăng thêm 10 ngày, trừ thủ tục hòa giảitranh chấp đất đai

Như vậy, có thể thấy thời gian giải quyết tranh chấp đất đai là khác nhau và kéo dàitheo từng hình thức giải quyết Do đó khi xảy ra tranh chấp đất đai, Nhà nướckhuyến khích các bên tự hòa giải hoặc thông qua hòa giải viên cơ sở để tránh việctranh chấp kéo dài, gây mất đoàn kết

III.LIÊN HỆ THỰC TẾ

1.Thực tiễn về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai hiện đang là vấn đề nóng bỏng thu hút sự quan tâm của dư luận

xã hội ở nước ta Thủ tục hành chính rườm rà, nguồn gốc lịch sử tranh chấp đất đaiphức tạp, và cơ chế giải quyết tranh chấp còn nhiều bất cập đẩy người dân vàotranh chấp kéo dài với những hệ lụy cho bản thân và ổn định xã hội Dưới đây làmột số vấn đề thực tiễn đặt ra với những quy định về thẩm quyền giải quyết tranhchấp đất đai:

-Hệ thống pháp luật về lĩnh vực đất đai ở nước ta hiện nay chưa thực sự thốngnhất, đồng bộ giữa luật, nghị định, pháp lệnh, trong khi đó, số lượng các vụ tranhchấp liên quan đến đất đai mà Tòa án phải thụ lý, giải quyết ngày càng tăng vớitính chất ngày càng phức tạp.Từ đó rất đến nhiều sai phạm của các cơ quan cóthẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai.Không hiếm những trường hợp cơ quan

có thẩm quyền không thông báo kịp thời đến các đương sự về việc giải quyết vụviệc.Hay sự tắc trách, thiếu công tâm, vô tư trong quá trình giải quyết tranh chấp

đã làm cho những tranh chấp ngày một phức tạp và căng thẳng hơn

-Qua thực tiễn xét xử cho thấy, việc phối hợp giữa Tòa án với các cơ quan hànhchính thường chưa thực sự hiệu quả Các cơ quan hành chính nhà nước và cơ quanchuyên môn thường là nơi nắm giữ những tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việctranh chấp nhưng nhiều khi cán bộ các cơ quan này thiếu sự hợp tác trong việc

Trang 10

cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, thậm chí có trường hợp Tòa

án yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ còn gặp trở ngại

-Thực tế cho thấy rằng, dù có hệ thống hành chính và toà án để giải quyết các tranhchấp, người dân vẫn thường tìm đến các hình thức giải quyết khác trước khi phảitìm đến cơ quan nhà nước như một biện pháp cuối cùng Pháp Luật Đất đai đã cócác quy định về giải quyết vấn đề này mà một trong những biện pháp đó là hoàgiải Hoà giải là quá trình tự nguyện khi các bên tranh chấp cùng thương lượng đểđạt tới một giải pháp đồng thuận với sự giúp đỡ của một người/nhóm người trunggian và trung lập Tuy nhiên các nghiên cứu cho thấy thực tiễn hoà giải tranh chấpđất đai ở Việt Nam không đạt hiệu quả cao

Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 quy định về việc hòa giải tranh chấp đất đai doChủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tạiđịa phương mình Tuy nhiên quy định này lại không đề cập đến trách nhiệm pháp

lý của các bên đương sự trong việc thực hiện kết quả hòa giải tranh chấp đất đaithành Vì vậy, trên thực tế các bên đương sự không thực hiện theo kết quả hòa giảitranh chấp đất đai thành song UBND cấp xã không có chế tài xử lý để buộc họphải thực hiện Hiện nay, khi Ủy ban nhân dân triệu tập các bên để hòa giải trongnhiều trường hợp phía bị đơn không đến (mặc dù đã được tống đạt giấy triệu tậphợp lệ), do vậy, phát sinh trường hợp: Khi bị đơn không đến thì Ủy ban nhân dânkhông thể tiến hành hòa giải được, trong biên bản hòa giải cũng không thể có chữ

ký của bị đơn Nếu Ủy ban nhân dân có lập biên bản không hòa giải vì bị đơnkhông đến thì biên bản này có được coi là biên bản hòa giải không thành không vàTòa án có được căn cứ vào đó để thụ lý giải quyết các tranh chấp đất đai theo thủtục tố tụng dân sự không? Đây là một vấn đề vướng mắc trong thực tiễn giải quyếtcác tranh chấp đất đai tại Tòa án, cần phải được hướng dẫn một cách cụ thể trongthời gian tới để việc áp dụng pháp luật đất đai được thực hiện một cách thống nhất.Ngoài ra, kết quả hòa giải thành tại

Ủy ban nhân dân không có giá trị bắt buộc thực hiện đối với các bên đương sự nênnếu sau khi Ủy ban nhân dân cấp xã hòa giải thành xong mà các bên không thựchiện thì phải xử lý như thế nào? Vì trong thực tế, có nhiều trường hợp trong thờigian chờ thực hiện kết quả hòa giải thành thì hết thời hiệu khởi kiện

-Một thực tế nữa là có nhiều trường hợp không biệt rõ giữa tranh chấp và khiếu nạiđất đai.Dẫn đến sự nhầm lẫn về cơ quan có thẩm quyền giải quyết.Bản chất của vụviệc là tranh chấp đất đai, nhưng đương sự lại gửi đơn đến cơ quan nhà nước cóthẩm quyền đề nghị giải quyết và trong đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đailại ghi là đơn khiếu nại.Cơ quan có thẩm quyền thụ lý hồ sơ và ban hành quyếtđịnh giải quyết khiếu nại.Giải quyết khiếu nại và giải quyết khác nhau về bản chất

sự việc, khác nhau về hình thức văn bản và nội dung sự việc

2.Liên hệ vụ việc thực tiễn

Trang 11

Liên hệ vụ việc tranh chấp của Bà H tại xã H, huyện Từ Liêm đã giải quyết qua hòa giải tại UBND xã:

Bà H, xã H, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã làm đơn tới UBND xã nêu vềviệc hộ liền kề là nhà ông S khi xây dựng nhà đã lấn chiếm sang phần đất của giađình nhà bà là 8m2

UBND xã đã tổ chức hòa giải giữa bà H và đại diện bên hộ gia đình ông S lấnchiếm đất nhưng không thành Sau đó, bà H đã làm đơn khởi kiện ra Tòa án huyện

Từ Liêm Tuy nhiên, Tòa án hướng dẫn bà về làm lại thủ tục hòa giải tại UBND xã

H, lý do UBND xã H làm chưa đúng trình tự, thủ tục vắng mặt thành phần BanMặt trận Tổ quốc xã Đồng thời, người đại diện của hộ ông S không được ủy quyềntheo đúng quy định của pháp luật

Bà H đã có đơn đề nghị UBND xã thực hiện lại việc hòa giải nhưng UBND xãkhông đồng ý Bà H chưa thể làm đơn khởi kiện ra Tòa án huyện Từ Liêm Ở đâyUBND xã khi tiến hành công tác hòa giải chưa có sự tham gia đầy đủ các thànhphần theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai 2013, người đại diện của gia đìnhông S là hộ liền kề lấn chiếm đất không được ủy quyền đúng theo quy định củapháp luật Biên bản hòa giải không được lập đúng nội dung và hình thức quy địnhnên không được Tòa án huyện Từ Liêm chấp nhận Tòa đề nghị bà H về UBND xãthực hiện lại thủ tục hòa giải là đúng quy định Việc UBND xã H không đồng ýhòa giải lại là không có cơ sở Do đó, UBND xã H phải có trách nhiệm nhận đơn

đề nghị tổ chức hòa giải lại của bà H và tiến hành tổ chức hòa giải trong thời hạn

lý đất đai và giải quyết tranh chấp.Cần tăng cường bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụcho đội ngũ thẩm phán, cán bộ Tòa án nhân dân nhằm giúp cho các thẩm phán vàcán bộ Tòa án nắm được các kỹ năng tiến hành hòa giải, nhận thức được tính chấtđặc thù trong quá trình giải quyết các tranh chấp về đất đai để từ đó nắm vữngđược các nguyên tắc chỉ đạo, áp dụng đúng các quy định của pháp luật về đất đai,

Ngày đăng: 04/04/2022, 10:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w