dụng các quy định của pháp luật về đất đai hiện hành để giải quyết cáctranh chấp về đất đai tại tòa án nhân dân nhằm phát hiện ra những hạnchế, thiếu sót, bất cập của hệ thống pháp luật
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
MÔN HỌC: PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI
ĐỀ TÀI: THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT
ĐAI_LIÊN HỆ THỰC TẾ
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Mã sinh viên:
Lớp:
Hồ Chí Minh, Tháng 4/2022
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của bài tậ
Đất đai, tài nguyên thiên nhiên ban tặng cho mỗi quốc gia, là hiệnthân của chủ quyền quốc gia, của lãnh thổ và là nguồn nội lực cho sựphát triển của kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng Đối với mỗi ngườidân, đất đai đã vượt ra khỏi ý nghĩa chỉ là nơi ăn, chốn ở, nguồn sống,nguồn việc làm, là tư liệu sản xuất, đất đai đã và đang trở thành mộtphương thức tích lũy của cải lâu dài và vững chắc nhất
Hiện nay, đất đai không chỉ là phục vụ cho các mục đích hiện hữucủa đời sống hàng ngày mà còn trở thành một loại hàng hóa đặc biệt lưuthông trên thị trường dưới sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thịtrường
Xã hội ngày càng phát triển, theo đó, các quan hệ đất đai cũng ngàycàng được thiết lập đa dạng phong phú cả về bề rộng lẫn bề sâu Đặcbiệt với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường, các quan
hệ đất đai cũng ngày càng lan rộng cả quy mô và mức độ phức tạp Kéotheo đó, các tranh chấp, mâu thuẫn, bất đồng của các chủ thể tham giavào các quan hệ đất đai cũng phát sinh và phát triển theo chiều hướng
đa dạng, phức tạp về tính chất, mức độ và ngày càng phổ biến
Tình trạng TCĐĐ kéo dài với số lượng người dân khiếu kiện ngàycàng đông là vấn đề rất đáng được quan tâm TCĐĐ phát sinh nhiều ảnhhưởng tiêu cực đến các mối quan hệ trong cộng đồng dân cư, ảnh hưởngđến phong tục đạo đức tốt đẹp của người dân Việt Nam, gây ra sự mất
ổn định về chính trị, trật tự an toàn xã hội
Trang 3Tranh chấp đất đai phát sinh nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến nhiềumặt của đời sống xã hội như: Làm đình đốn sản xuất, tổn thương đếncác mối quan hệ trong cộng đồng dân cư, ảnh hưởng đến phong tục đạođức tốt đẹp của người Việt Nam, gây ra sự mất ổn định chính trị, trật tự
an toàn xã hội Tranh chấp đất đai kéo dài nếu không được giải quyếtdứt điểm sẽ dễ dẫn đến “điểm nóng”, bị kẻ xấu lợi dụng, làm giảm niềmtin của nhân dân đối với Nhà nước Vì vậy, việc nghiên cứu tranh chấpđất đai và pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai là cần thiết tronggiai đoạn hiện nay Đây cũng là vấn đề đang được Đảng, Nhà nước vàcác cấp, các ngành đặc biệt quan tâm
Kể từ khi Hiến pháp 1980 ra đời thì ở nước ta chỉ còn lại một hìnhthức sở hữu đất đai duy nhất - đó là sở hữu toàn dân về đất đai, Nhànước là đại diện chủ sở hữu [36] Nhìn chung, trong thời gian qua cácquy định của pháp luật về đất đai đã từng bước đi vào cuộc sống, pháthuy hiệu quả điều chỉnh, bảo vệ có hiệu quả chế độ sở hữu toàn dân đốivới đất đai, góp phần đáng kể vào việc đưa công tác quản lý đất đai vào
nề nếp, khai thác đất đai ngày càng có hiệu quả và tiết kiệm hơn Bộluật Dân sự năm năm 1995 đã bước đầu thiết lập cơ chế để giúp người
sử dụng đất thực hiện các quyền của mình Luật Đất đai năm 2003 thaythế cho Luật Đất đai năm 1993 và Bộ luật Dân sự năm 2005 thay thếcho Bộ luật Dân sự năm 1995 đã phần nào giải quyết được những hạnchế trong việc đảm bảo thực hiện quyền của người sử dụng đất - mộttrong những quyền cơ bản mang tính đặc thù được điều chỉnh bởi Bộluật Dân sự và Luật Đất đai, góp phần ổn định trật tự, an toàn xã hội,thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của người sử dụng đất Mặc dù vậy, hiện nay ở nước ta các
Trang 4văn bản pháp luật điều chỉnh việc tranh chấp đất đai và giải quyết tranhchấp đất đai có nhiều nhưng chưa thực sự đồng bộ; nhiều quy địnhkhông phù hợp với đời sống xã hội, có sự mâu thuẫn, chồng chéo nhaunhưng lại chậm được sửa đổi bổ sung v.v làm cho công tác giải quyếttranh chấp đất đai tại tòa án trong thời gian qua gặp rất nhiều khó khăn
và có phần kém hiệu quả
Trong những năm qua, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà cáctranh chấp đất đai ở nước ta đang ngày càng gia tăng Mỗi năm, toà ánnhân dân các cấp thụ lý và giải quyết hàng ngàn vụ tranh chấp đất đai.Nhìn chung, ngành toà án nhân dân đã giải quyết thành công một sốlượng lớn các vụ tranh chấp về đất đai, chất lượng xét xử ngày càngcao, phần nào bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức xãhội và công dân Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng vì nhiều lý dokhác nhau, nhiều lúc, nhiều nơi hoạt động giải quyết tranh chấp đất đaichưa thực sự đem lại hiệu quả như mong muốn, trong đó có cả yếu tốkhách quan như: Pháp luật chưa thực sự đồng bộ; nhiều quy định khôngphù hợp với đời sống xã hội, có sự mâu thuẫn, chồng chéo nhau nhưnglại chậm được sửa đổi bổ sung và yếu tố chủ quan như: Đội ngũ nhữngngười tiến hành tố tụng chưa thực sự nhận thức đầy đủ về tính chất đặcthù của các vụ tranh chấp đất đai; chậm khắc phục các tồn tại, vướngmắc trong quá trình giải quyết các vụ tranh chấp đất đai; trình độchuyên môn của một số thẩm phán còn hạn chế, v.v Trong khi đó,trong hệ thống các cơ quan nhà nước thì toà án nhân dân là một trongnhững cơ quan nhà nước được giao thẩm quyền giải quyết các vụ tranhchấp đất đai, có vai trò ngày càng quan trọng, đã và đang có nhiều đónggóp đáng kể Vì vậy, qua nghiên cứu tranh chấp đất đai và thực tiễn áp
Trang 5dụng các quy định của pháp luật về đất đai hiện hành để giải quyết cáctranh chấp về đất đai tại tòa án nhân dân nhằm phát hiện ra những hạnchế, thiếu sót, bất cập của hệ thống pháp luật và từ đó đưa ra đượcnhững kiến nghị, các giải pháp giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cónhững điều chỉnh phù hợp, góp phần tiếp tục hoàn thiện các văn bảnpháp luật về đất đai cho phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của đấtnước trong điều kiện hội nhập hiện nay là việc làm mang ý nghĩa to lớn
Mặt khác, để góp phần giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn
để hoàn thiện pháp luật về đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai cũngnhư nâng cao hiệu quả của công tác giải quyết tranh chấp đất đai tạitòa án ở nước ta, cần có những công trình khoa học nghiên cứu mộtcách có hệ thống về các vấn đề này Đây là việc làm có ý nghĩa về mặt
lý luận và thực tiễn cấp thiết
Xuất phát từ những căn cứ lý luận và thực tiễn trên thì việc nghiêncứu đề tài “Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai” là một nhu cầucấp bách trong tình hình hiện nay
2 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu bài tập
2.1.Nhiệm vụ cần nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận về tranh chấp đất đai vàgiải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân các cấp, từ đó xácđịnh pháp luật của Việt nam và thế giới về giải quyết tranh chấp đất đai
- Tìm hiểu, phân tích pháp luật về giải quyết TCĐĐ theo thủ tục xét
xử sơ thẩm thông qua TAND và đề xuất các giải pháp cơ bản góp phầnhoàn thiện mảng pháp luật về lĩnh vực này;
Trang 6- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về giải quyết TCĐĐ theothẩm quyền xét xử, từ đó chỉ ra những khó khăn, vướng mắc trong quátrình giải quyết TCĐĐ theo thủ tục xét xử hiện nay.
- Đề xuất các phương hướng và nghiên cứu trình bày những giảipháp mang tính đột phá cụ thể, cho việc áp dụng pháp luật trong giảiquyết TCĐĐ ở Việt Nam hiện nay
2.2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn
về thẩm quyền giải quyết TCĐĐ theo pháp luật đất đai (Luật Đất đainăm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành từ 1/7/2014)đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm đảm bảo hiệu quả giải quyếtTCĐĐ của TAND
3 Kết cấu của bài tập
Phần mở đầu, phần kết luận là 2 yếu tố bắt buộc của bài tập này.Ngoài ra còn được kết cấu thành 4 phần:
Chương I: Tổng quan: Khái niệm và đặc điểm
Chương II: Nội dung, thực trạng và hạn chế
Chương III: Định hướng và giải pháp
Chương IV: Một số vụ việc cụ thể
Chương I: TỔNG QUAN VỀ THẨM QUYỀN TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
1 Khái quát về Tranh chấp đất đai
1.1 Khái niệm Tranh chấp đất đai
Trang 7Đầu tiên chúng ta cần xác định khái niệm tranh chấp đất đai,hiệnnay có nhiều quan điểm, nhiều quy định nhiều các xác định về tranhchấp đất đai.
Vậy TCĐĐ là gì?
Trong tiếng Việt từ điển thì định nghĩa tranh chấp đất đai được hiểu
là “tranh chấp là đấu tranh, giằng co khi có ý kiến bất đồng thường làtrong vấn đề quyền lợi giữa 2 bên” [44, tr.983] Theo cuốn Thuật ngữPháp lý thông dụngmà chúng tôi nghiên cứu được thì: “TCĐĐ: Tranhchấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai vềquyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai.” Thựctiễn cuộc sống tồn tại nhiều loại tranh chấp khác nhau, tùy theo lĩnh vựcphát sinh mà nó có thể được gọi là tranh chấp dân sự, tranh chấpthương mại hay tranh chấp hành chính… Trong quan hệ quản lý nhànước về đất đai có thể phát sinh TCĐĐ, đó có thể là tranh chấp giữa cơquan quản lý nhà nước về đất đai với người sử dụng đất hoặc có thể làtranh chấp giữa những người sử dụng đất với nhau Trước khi Luật Đấtđai 2003 ra đời, khái niệm “TCĐĐ” chưa được chính thức giải thích, màchủ yếu là được hiểu thông qua các quy định của pháp luật về giải quyếtTCĐĐ, quy định về giải quyết các tranh chấp khác có liên quan đếnquyền sử dụng đất Thuật ngữ TCĐĐ đã được sử dụng theo Luật Đất đainăm 1987 (tại các điều luật là Điều 9, Điều 21, Điều 22), Luật Đất đainăm 1993 (Điều 38, Điều 40) nhưng chưa được giải thích chính thức, màchủ yếu là chỉ được hiểu ngầm qua các quy định của pháp luật về giảiquyết TCĐĐ và các tranh chấp khác có liên quan đến quyền sử dụngđất Như vậy, chủ thể tranh chấp vốn được gọi là “hai hay nhiều bên”
Trang 8cũng không được định danh về loại chủ thể: Chỉ là người sử dụng đấthay tất cả các chủ thể có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người sửdụng đất trong quan hệ TCĐĐ?
Theo giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội thì: TCĐĐ là sự bấtđồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa cácchủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai… các chủ thể TCĐĐchỉ là chủ thể quản lý và sử dụng đất, không có quyền sở hữu đối với đấtđai
Một quan điểm khác cho rằng: TCĐĐ là sự bất đồng, mâu thuẫngiữa các chủ thể (sử dụng đất) trong việc xác định ai là người có quyền
sử dụng đối với một (hoặc những) thửa đất nhất định…TCĐĐ có thể baohàm cả các tranh chấp về địa giới giữa các đơn vị hành chính
Dưới góc độ là TCĐĐ theo quy định của Luật đất đai cũ thìTCĐĐ làmọi tranh chấp phát sinh trong quan hệ đất đai bao gồm tranh chấp vềquyền sử dụng đất, tranh chấp về tài sản gắn liền với đất, tranh chấpliên quan đến địa giới hành chính… Quan điểm này được nhiều cơ quan
có thẩm quyền giải quyết chấp nhận trong giải quyết TCĐĐ [25, tr.112].Tuy định nghĩa TCĐĐ theo Luật Đất đai năm 2003 gây ra nhiều rối rắmtrong cách hiểu và áp dụng pháp luật trên thực tế nhưng khoản 24, Điều
3, Luật Đất đai năm 2013 lại tiếp tục giữ nguyên cách quy định như trên,chỉ có sự thay đổi về cách sử dụng thuật ngữ: “TCĐĐ là tranh chấp vềquyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trongquan hệ đất đai.” Có thể nói, cách định nghĩa này không mang tính khoahọc vì dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về chủ thể, đối tượng và mụcđích giải quyết tranh chấp Bên cạnh đó, Khoản 24, Điều 3, Luật Đất đai
Trang 9năm 2013 có một số quy định khác liên quan đến nội hàm của khái niệmTCĐĐ như Khoản 14, Điều 22 quy định một trong những nội dung quản
lý nhà nước về đất đai là “Giải quyết tranh chấp về đất đai; Giải quyếtkhiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai”; Điều 203 quy địnhThẩm quyền giải quyết TCĐĐ (có thể thuộc về TAND hoặc Ủy ban nhândân…) Theo các quy định này, có thể khẳng định, các chủ thể tham giaTCĐĐ chỉ bao gồm những người sử dụng đất và như vậy, chúng tôi chorằng, TCĐĐ liên quan đến địa giới hành chính không phải là loại TCĐĐđược đề cập tại Khoản 26, Điều 4, Luật Đất đai năm 2003 cũng nhưKhoản 24, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013 vì những lý do sau đây:
Thứ nhất, chủ thể TCĐĐ theo Khoản 24, Điều 3 và Điều 203, LuậtĐất đai năm 2013 phải là người sử dụng đất nhưng các chủ thể tranhchấp địa giới hành chính không phải là người sử dụng đất;
Thứ hai, đây không phải là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ củangười sử dụng đất mà là tranh chấp về phân định địa giới hành chínhgiữa các địa phương trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai;
Thứ ba, Luật Đất đai năm 2013 không sử dụng thuật ngữ “TCĐĐliên quan đến địa giới hành chính” như Luật Đất đai năm 2003 mà sửdụng thuật ngữ “tranh chấp địa giới hành chính”, việc sử dụng thuật ngữnày là hợp lý hơn Vì vậy, luật mới không quy định thẩm quyền, thủ tụcgiải quyết tranh chấp địa giới hành chính trong Chương 13 về giải quyếtkhiếu nại, tố cáo về đất đai mà quy định ở Chương Địa giới hành chính
và điều tra cơ bản về đất đai (Chương 3, Khoản 4, Điều 29)
Như vậy, TCĐĐ là tranh chấp về quyền sử dụng đất nhưng khôngphải là tranh chấp về tài sản gắn liền với đất Khoa học pháp lý nói
Trang 10chung không có định nghĩa về quyền sử dụng đất mà chỉ thừa nhậnquyền sử dụng đất là quyền của người sử dụng đất được Nhà nước traoquyền thực hiện các quyền sử dụng, khai thác công dụng, hưởng hoa lợi,lợi tức từ đất và thực hiện các giao dịch liên quan đến quyền sử dụngđất đó phù hợp với các hình thức sử dụng đất theo quy định của phápluật Về thực tế, quyền sử dụng đất hợp pháp của bất kỳ một chủ thểnào được Nhà nước ghi nhận thông qua việc cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho chủ thể đó, nó là chứng thư pháp lý xác lập mối quan
hệ hợp pháp giữa Nhà nước với người sử dụng đất trong việc sử dụngđất BLDS năm 2005 thừa nhận quyền sử dụng đất là một quyền tài sản,
vì vậy nó là một loại tài sản nhưng nó không phải là “tài sản gắn liền vớiđất.”
Điều này có nghĩa, “tranh chấp về quyền sử dụng đất” và “tranhchấp về tài sản gắn liền với đất” là hai khái niệm không giống nhau vềnội hàm vì mục đích giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất là xácđịnh quyền sử dụng đất thuộc về ai còn mục đích giải quyết tranh chấptài sản gắn liền với đất là xác định tài sản tranh chấp thuộc về ai
Bất động sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liềnvới đất đai; Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;Tài sản khác theo quy định của pháp luật Đồng thời, theo quy định củaLuật đất đai năm 2013 thì: “Tài sản gắn liền với đất” khoản 1 Điều 203gồm các tài sản sau đây: nhà ở, vật kiến trúc khác gắn liền với đất đónhư: Nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ô tô, nhà thờ,tường xây làm hàng rào gắn với nhà ở, các công trình trên đất được giao
để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh như nhà xưởng, kho
Trang 11hàng, hệ thống tưới, tiêu nước, chuồng trại chăn nuôi hay vật kiến trúckhác hoặc trên đất có các tài sản khác như cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ănquả, cây công nghiệp hay các cây lâu năm khác Và như vậy, tranhchấp về tài sản gắn liền với đất có đối tượng tranh chấp là các tài sảnnói trên mà không phải là quyền sử dụng đất, chỉ có điều các tài sản nàytồn tại gắn liền với đất còn “tranh chấp về quyền sử dụng đất” có thể làtranh chấp không có các tài sản gắn liền với đất.
Tóm lại, TCĐĐ là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của những người
sử dụng đất trong việc xác định chủ thể nào có quyền sử dụng đối vớidiện tích đất tranh chấp
1.2 Đặc điểm của tranh chấp đất đai
TCĐĐ thể hiện dấu ấn mạnh mẽ trong các thời kỳ lịch sử khác nhaucủa quan hệ pháp luật đất đai Chẳng hạn trước đây, nhà nước chỉ thừanhận hai hình thức sở hữu trong quan hệ đất đai: sở hữu nhà nước và sởhữu tập thể Bước sang nền kinh tế thị trường, nhà nước không can thiệptrực tiếp vào hoạt động sản xuất-kinh doanh mà thực hiện quản lý thôngqua hệ thống pháp luật, chính sách thuế, đất đai được thừa nhận có giátrị, QSDĐ được tham gia các giao dịch trên thị trường làm quan hệ đấtđai ngày càng đa dạng và phức tạp, xuất hiện nhiều quan hệ mới liênquan đến chuyển nhượng, thừa kế, góp vốn… là gia tăng tranh chấp,mâu thuẫn đất đai
Thứ nhất, về chủ thể: chủ thể trong quan hệ TCĐĐ phải là người sử dụngđất (được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụngđất, nhận chuyển quyền sử dụng đất) hoặc người khác có quyền, nghĩa
vụ liên quan đến thửa đất Trường hợp tranh chấp không phát sinh giữa
Trang 12những chủ thể này với nhau liên quan đến thửa đất thì đó là quan hệtranh chấp khác Ví dụ: tranh chấp phát sinh giữa người sử dụng đất với
Cơ quan có thẩm quyền
trong việc giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, thu hồiđất thì đó là tranh chấp về khiếu kiện hành chính
Thứ hai, về khách thể: khách thể trong quan hệ TCĐĐ là quyền quản lý,
sử dụng, tài sản gắn liền với đất hoặc cả hai Đối với quyền sử dụng đấtthì đây là loại tài sản đặc biệt vì pháp luật đã quy định đất đai thuộc sởhữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.Nhà nước sẽ trao lại quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thôngqua các hình thức do pháp luật quy định Đồng thời quyền sử dụng đấtcũng là tài sản (quyền tài sản)
theo quy định của BLDS, vì vậy quyền sử dụng đất có thể là đối tượngtham gia các giao dịch dân sự
Thứ ba, về nội dung: thực tế nội dung của TCĐĐ rất đa dạng vàphức tạp Đất đai đã trở thành loại hàng hóa đặc biệt có giá trị kinh tế
và giá trị của nó được biến động theo nền kinh tế thị trường, từ đó việcquản lý và sử dụng đất đai không chỉ đơn thuần là việc khai thác giá trị
sử dụng mà bao gồm cả giá trị sinh lời của đất Khi nội dung quản lý và
sử dụng đất phong phú và phức tạp thì phát sinh những mâu thuẫn, bấtđồng xung quanh việc này cũng trở nên căng thẳng và trầm trọng hơn
Thứ tư, khi TCĐĐ đã phát sinh thì sẽ phát sinh nhiều hậu quả khôngmong muốn như: gây mất ổn định về chính trị, phá vỡ các mối quan hệtrong xã hội, làm mất tình đoàn kết trong nội bộ quần chúng nhân dân,ảnh hưởng đến trật tự quản lý đất đai, đến sản xuất, ảnh hưởng đến
Trang 13quyền và lợi ích của các bên tranh chấp và gây thiệt hại đến lợi ích củaNhà nước và xã hội.
Thứ năm, Đất đai có những mục đích sử dụng không giống nhau
mà nhà làm luật gọi đó là mục đích sử dụng đất và loại đất.Như thế dẫnđến việc tranh chấp về đất đai sẽ bao gồm các bên khác nhau tham giavào tranh chấp đó Điều này dẫn đến một điều là tranh chấp đất đai cầnphải nhanh chóng, tích cực chủ động giải quyết để bảo đảm quyền lợicủa các bên, tránh tình trạng kéo dài, có tổ chức và đông người thamgia
Hơn nữa, do tính chất phức tạp của nguồn gốc sử dụng đất cũngnhư sự xáo trộn của quan hệ đất đai qua các thời kỳ nên TCĐĐ là mộttrong những loại tranh chấp có tính chất gay gắt, phức tạp nhất
Thứ sáu, quan hệ đất đai có liên quan đến những quan hệ xã hộikhác thuộc phạm vi điều chỉnh của một số đạo luật như BLDS, Luật xâydựng, Luật nhà ở, Luật bảo vệ môi trường, Luật kinh doanh bất độngsản, Luật bảo vệ và phát triển rừng v.v Trên thực tế TCĐĐ xảy ra liênquan đến nhà ở, công trình xây dựng, cây cối và vật kiến trúc khác v.v Nên khi giải quyết TCĐĐ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền không chỉ ápdụng Luật đất đai mà còn áp dụng các đạo luật khác có liên quan đểxem xét, giải quyết
1.3 Các dạng tranh chấp đất đai
Trên thực tế, TCĐĐ không chỉ là hiện tượng phổ biến mà trong đócòn hết sức đa dạng về chủ thể cũng như nội dung tranh chấp Tuynhiên, về cơ bản TCĐĐ được chia thành những dạng như sau:
Trang 14Căn cứ vào chủ thể TCĐĐ thì TCĐĐ được phân chia thành thànhcác dạng chủ yếu sau đây:
- TCĐĐ giữa cá nhân với cá nhân Loại tranh chấp này bao gồm cáctranh chấp cụ thể sau đây:
(i) Tranh chấp về đất hương hỏa được thừa kế trong nhiều đời;
(ii) Tranh chấp trong đồng bào dân tộc thiểu số trong vấn đề khaihoang và kinh tế mới thường diễn ra ở Tây Nguyên và miền núi phíaBắc
(iii) Tranh chấp cá nhân về đất đai khi ly hôn, thừa kế đất đai, ranhgiới mốc giới đất đai, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp Đây là loạitranh chấp có số lượng nhiều nhất ở Việt Nam hiện nay
- TCĐĐ giữa hộ gia đình, cá nhân với tổ chức Loại tranh chấp nàybao gồm các dạng tranh chấp cụ thể sau đây:
(i) Tranh chấp giữa gia đình và cá nhân với các cơ quan, đơn vị, tổchức, hữu quan của nhà nước
(ii) TCĐĐ giữa các cá nhân, gia đình với hợp tác xã sau khi có góptài sản vào hợp tác xã
- TCĐĐ giữa tổ chức với tổ chức: Dạng tranh chấp này bao gồmTCĐĐ giữa các tổ chức, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũtrang nhân dân, tổ chức kinh tế với nhau hoặc giữa các tổ chức này vớicác tổ chức khác như tổ chức tôn giáo, tổ chức quần chúng nhân dân ởđịa phương …
- TCĐĐ liên quan đến địa giới hành chính giữa các đơn vị hànhchính tỉnh, huyện, xã
Trang 15- Nhóm tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất Các TCĐĐthuộc nhóm này bao gồm:
(i) Tranh chấp về ranh giới sử dụng đất (SDĐ);
(ii) Tranh chấp về ngõ đi Đây là những tranh chấp giữa các bên vớinhau về việc ai có quyền sử dụng hợp pháp đối với một mảnh đất nào
đó Trong dạng tranh chấp này chúng ta thường gặp các loại tranh chấp
về ranh giới đất; tranh chấp về quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền vớiđất trong các quan hệ ly hôn, thừa kế; tranh chấp để đòi lại đất (đất đãcho người khác mượn sử dụng mà không trả lại, hoặc tranh chấp giữangười dân tộc thiểu số với người đi xây dựng vùng kinh tế mới…)
Căn cứ vào đối tượng tranh chấp, TCĐĐ được phân chia thành cácdạng tranh chấp cơ bản sau đây:
- Nhóm tranh chấp liên quan đến chuyển quyền sử dụng đất CácTCĐĐ thuộc nhóm này bao gồm:
(i) Tranh chấp về thừa kế quyền SDĐ;
(ii) Tranh chấp về tặng cho quyền SDĐ;
(iii) Tranh chấp về chuyển nhượng quyền SDĐ;
(iv) Tranh chấp về cho thuê quyền SDĐ;
Trang 16(ii) Tranh chấp về việc thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, táiđịnh cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Nhóm tranh chấp liên quan đến giấy chứng nhận quyền sử dụngđất
Các TCĐĐ thuộc nhóm này bao gồm:
(i) Tranh chấp về điều kiện cấp giấy
(ii) Tranh chấp về chia thừa kế nhà ở gắn liền với đất
Các TCĐĐ trên đây phát sinh giữa những chủ thể sau:
Thứ nhất,TCĐĐ phát sinh giữa những người SDĐ với nhau (bao gồmgiữa hộ gia đình, cá nhân với nhau; giữa hộ gia đình, cá nhân với tổchức; giữa tổ chức với tổ chức) liên quan đến quyền và nghĩa vụ SDĐ.Các TCĐĐ này mang tính phổ biến và tồn tại ở cả khu vực nông thôn và
Trang 17khu vực thành thị Đặc biệt đối với khu vực ven đô thị nơi có tốc độ đôthị hóa hoặc công nghiệp hóa tăng nhanh làm cho đất đai ngày càng cógiá thì loại TCĐĐ này gia tăng cả về số lượng vụ việc cũng như tính chấtgay gắt, phức tạp.
Thứ hai, tranh chấp giữa người SDĐ với cơ quan nhà nước (cơ quancông quyền) liên quan đến việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữutoàn dân về đất đai bao gồm: (i) Tranh chấp liên quan đến bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; (ii) Tranh chấp liên quanđến việc cấp, đổi, sửa chữa và thu hồi giấy chứng nhận quyền SDĐ Loạitranh chấp này xuất hiện ở cả khu vực nông thôn và khu vực đô thị Nếukhông giải quyết dứt điểm, kịp thời các TCĐĐ này dễ dẫn đến việc phátsinh thành “điểm nóng” tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị
1.4 Nguyên nhân tranh chấp đất đai
1.4.1 Nguyên nhân khách quan
Thực tế giao dịch đời sống hiện nay thì đất đai có giá trị rất cao, làtài sản lớn của nhiều gia đình Hiện nay, khi nền kinh tế nước ta đangngày càng phát triển mạnh mẽ, Nhà nước thực hiện việc cải cách về đấtđai và giao quyền sử dụng đất cho các cá nhân cơ quan tổ chức Trongtrường hợp đó, giữa người sử dụng đất và người khác có tranh chấp đấtđai về giao dịch chuyển nhượng, thế chấp, tăng cho…
Chính sách, pháp Luật Đất đai và những chính sách có liên quanđến đất đai của chúng ta trong thời gian qua chưa nhất quán, đồng bộ.Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cùng với sự tác động mặttrái của cơ chế thị trường đã làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn trong xã hội,trong khi đó chính sách, pháp luật về đất đai của chúng ta trong thời
Trang 18gian qua chưa đáp ứng đòi hỏi của xã hội, chưa đầy đủ để có thể quản lýhiệu quả đất đai.
Ngoài ra, TCĐĐ còn có nguyên nhân do hoàn cảnh lịch sử để lại.Khi nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung kế hoạch hóa, quan liêubao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, quan hệpháp Luật Đất đai vốn phong phú, đa dạng và phức tạp lại càng trở nên
đa dạng, phức tạp hơn
1.4.2 Nguyên nhân chủ quan
Bên cạnh nguyên nhân khách quan, TCĐĐ còn phát sinh từ cácnguyên nhân chủ quan chủ yếu sau đây:
Thứ nhất,Việc không sâu sát, không kỹ càng trong hoạt động kiểmsoát, điều chỉnh pháp luật về đất đai của Nhà nước ta trong giai đoạnvừa qua việc buông lỏng công tác quản lý đất đai của Nhà nước
Cơ chế cũ ở nước ta sẽ hình thành nhiều vụ việc có tính chất phứctạp trong giải quyết tranh chấp trong đó có tranh chấp đất đai Nhiều vụviệc tranh chấp kéo dài, không được xử lý triệt để Đất đai có quá nhiều
cơ quan quản lý và kiểm soát điều này dẫn đến tình trạng “cha chungkhông ai khóc” khi xảy ra sự vụ thì đùn đẩy trách nhiệm cho nhau
Thứ hai, thực tế hiện nay cho thấy pháp luật đất đai ở Việt Namvẫn còn có những nội dung chưa phù hợp với thực tiễn của đất nước;nhất là các quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; quy định vềthời hạn sử dụng đất; quy định về hạn mức giao đất nông nghiệp v.v.Việc thực hiện chính sách bảo vệ đất nông nghiệp (đặc biệt là đất trồnglúa ổn định) với chính sách phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế,
Trang 19khu công nghệ cao, khu đô thị mới…còn bộc lộ sự mâu thuẫn, khôngtương thích.
Thứ ba, chính sách điều chỉnh địa giới hành chính giữa đơn vị hànhcác cấp của các địa phương song nội dung xác định ranh giới hành chínhthực hiện không kịp thời hoặc không rõ ràng, cụ thể đã làm cho tìnhhình TCĐĐcó nhiều điểm phức tạp chưa được tháo gỡ
Thứ tư, xuất phát từ đặc trưng công tác quản lý nhà nước đất đaicho thấy công tác cán bộ còn nhiều hạn chế bất cập, cán bộ năng lựckém, nhũng nhiều, chưa thực sự gương mẫu
Thứ năm, trong giai đoạn dài vừa qua, hoạt động nâng cao nhậnthức của người dân về quản lý và sử dụng đất đai còn chưa đáp ứngđược yêu cầu, nhiều người dân còn chưa biết được vị trí, vai trò của Tòa
án trong giải quyết đất đai, các giao dịch đất đai còn nhiều trường hợpmua bán viết tay, thiếu tính pháp lý
1.5 Phân loại
Việc phân loại tranh chấp đất đai rất quan trọng, nó giúp cho các
cơ quan có thẩm quyền xác định kịp thời, chính xác các quan hệ phápluật cần giải quyết và đưa ra các quyết định đúng đắn, hợp tình, hợp lýkhi giải quyết tranh chấp đất đai Việc phân loại có thể dựa theo nhiềutiêu chí khác nhau [Xem thêm: 30, tr.5-14] như:
- Căn cứ theo mốc thời gian hoặc theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể,các tranh chấp đất đai có thể phân theo tiêu chí về sở hữu tư nhân haycông hữu
- Phân loại theo tiêu chí hành chính hay tranh chấp về kinh tế; dân
Trang 20sự hay hôn nhân gia đình.
- Dựa theo tính chất vụ việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất; tranhchấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất
- Căn cứ vào tính chất pháp lý và quan hệ pháp luật của tranh chấpđất đai
Trong khuôn khổ luận án này, tác giả chỉ nghiên cứu việc phân loạitranh chấp đất đai dựa trên tiêu chí tính chất pháp lý và quan hệ phápluật của tranh chấp đất đai
Xuất phát từ yếu tố đất đai là một loại tài sản đặc biệt, không thuộcquyền sở hữu của các bên tranh chấp; căn cứ vào tính chất pháp lý vàquan hệ pháp luật của tranh chấp đất đai, chúng ta có thể chia tranhchấp đất đai thành các loại sau:
Một là, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Làviệc các bên tranh chấp trong quá trình thực hiện các giao dịch về đấtđai Loại tranh chấp này thường là do các bên thực hiện việc chuyểnnhượng khi chưa có đầy đủ điều kiện pháp luật cho phép; Thực hiệnkhông đúng hoặc không thực hiện đầy đủ các điều khoản quy định tronghợp đồng; Không tuân thủ các quy định của pháp luật trong khi giaodịch Hiện nay đây là loại tranh chấp phổ biến và có số lượng nhiềunhất, mức độ phức tạp lớn nhất
Hai là, các bên tranh chấp về ranh giới giữa những thửa đất đượcphép quản lý và sử dụng Loại tranh chấp này thường là do các bên sửdụng đất không thoả thuận được với nhau hoặc là do một bên tự ý thayđổi ranh giới sử dụng trong quá trình đất đai được chuyển nhượng qua
Trang 21tay nhiều người, cho thuê, cho thuê lại, cũng có thể là do sai sót từ phía
cơ quan nhà nước trong quá trình đo đạc, cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất
Ba là, tranh chấp quyền sử dụng đất trong quan hệ thừa kế Loạitranh chấp này phát sinh trong trường hợp người chết có quyền sử dụngđất đai nhưng khi chết không để lại di chúc hoặc có để lại di chúc nhưng
di chúc không hợp pháp một phần hay toàn bộ mà các đồng thừa kế lạikhông tự thoả thuận được với nhau nên khởi kiện ra toà Loại tranh chấpnày có trường hợp có tài sản gắn liền với đất, có trường hợp trên đấttranh chấp không có tài sản
Bốn là, tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn Quyền
sử dụng đất có được trong thời kỳ hôn nhân do nhận chuyển nhượng,được Nhà nước giao đất, được tặng cho, khai hoang được Nhà nước thừanhận hoặc được thừa kế Khi ly hôn hai người không tự thoả thuận đượcvới nhau nên phát sinh tranh chấp
Năm là, tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất Loại tranh chấp nàyphát sinh trong trường hợp trước đây người có quyền sử dụng đất đã chomượn, cho thuê nhà đất, cho ở nhờ nhưng nay những người mượn, thuê,
ở nhờ không chịu trả, hoặc do theo chính sách pháp luật của Nhà nướcđất đã được chia, cấp cho người khác nên nay họ khởi kiện để đòi lại,hoặc đất đã được tặng cho nhưng nay vì nhiều lý do khác nhau, người đãtặng cho đòi lại đất v.v Loại tranh chấp này gồm có các dạng sau:
- Tranh chấp quyền sử dụng đất trong trường hợp đất đã đưa vàotập đoàn sản xuất, hợp tác xã mà sau đó tập đoàn sản xuất, hợp tác xã
đã bị giải thể: Loại tranh chấp này thường phát sinh khi người được tập
Trang 22đoàn sản xuất, hợp tác xã giao đất (không phải chủ đã giao đất cho tậpđoàn sản xuất, hợp tác xã trước đây) được cơ quan chức năng cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất, nên chủ cũ kiện đòi lại.
- Tranh chấp quyền sử dụng đất có liên quan đến chính sách cảitạo xã hội chủ nghĩa của Nhà nước: Là loại tranh chấp mà nhà, đất của
họ trước đây vì nhiều lý do khác nhau, bị Nhà nước cải tạo xã hội chủnghĩa và theo chính sách pháp luật của Nhà nước đất đã được chia, cấpcho người khác sử dụng nên nay họ khởi kiện để đòi lại Loại tranh chấpnày thường có tài sản gắn liền trên đất
- Tranh chấp quyền sử dụng đất có liên quan đến việc người ViệtNam định cư ở nước ngoài mua đất nhưng nhờ người khác đứng tên hộ:Nhiều người Việt Nam định cư ở nước ngoài do không đủ điều kiện đượcđứng tên nhà đất ở Việt Nam nhưng lại muốn có nhà đất ở Việt Nam nênmua đất và nhờ người thân đứng tên hộ trong giấy chứng nhận quyền sửdụng đất Loại tranh chấp này thường phát sinh khi người đứng tên hộtrong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nảy lòng tham, tự ý chuyểnnhượng đất mà mình đứng tên hộ hoặc khi người nhờ đứng tên hộ đã đủdiều kiện đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầungười đứng tên hộ trả lại thì họ không chịu trả nên phải khởi kiện để đòilại
- Tranh chấp quyền sử dụng đất liên quan đến việc tặng cho quyền
sử dụng đất: Trong giao dịch tặng cho, nhất là tặng cho nhà đất, thườngthì người tặng cho có điều kiện đi kèm Song song với việc được nhậnnhà đất thì người được tặng cho phải thực hiện một nghĩa vụ nhất địnhnào đó, ví dụ như nuôi dưỡng cha mẹ cho đến khi chết chẳng hạn Hoặc
Trang 23cha mẹ tặng cho con khi con lập gia đình với mong muốn vợ chồng conchung sống hòa thuận, hạnh phúc Loại tranh chấp này thường phát sinhkhi người được tặng cho không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủnghĩa vụ của mình đối với người tặng cho nên người tặng cho kiện đòilại Hoặc khi vợ chồng con ly hôn, cha mẹ không cho nữa mà đòi lại
- Tranh chấp đất đai trong trường hợp đòi lại đất cho mượn, cho ởnhờ: Loại tranh chấp này phát sinh trong trường hợp trước đây người cóquyền sử dụng đất đã cho mượn, cho thuê nhà đất, cho ở nhờ nhưngnay những người mượn, thuê, ở nhờ không chịu trả
- Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền trên đấtcủa dòng họ, nhà thờ, thánh thất, chùa chiền Do hoàn cảnh đất nước,
do yếu tố lịch sử để lại, các cơ sở này được Nhà nước mượn, trưng dụngvào các mục đích khác nhau không trả, nay họ đòi lại
Sáu là, tranh chấp giữa các đơn vị hành chính cấp tỉnh, huyện, xãvới nhau Đây thường là những tranh chấp diễn ra ở các khu vực có vị tríthuận lợi cho phát triển kinh tế địa phương nhưng tại đây sự phân chiaranh giới hành chính chưa rõ ràng dẫn đến tranh chấp phát sinh Đây làtranh chấp giữa những người được Nhà nước giao quản lý đất đai
Bảy là, tranh chấp do việc thực hiện quyền sử dụng đất bị cản trở.Loại tranh chấp này phát sinh khi một bên được Nhà nước công nhậnquyền sử dụng đất nhưng lại không thể sử dụng được do bị người kháccản trở
Tám là, tranh chấp liên quan đến việc bồi thường giải phóng mặtbằng khi Nhà nước thu hồi đất Thông thường đây là các tranh chấp liênquan đến mức độ và diện tích được bồi thường do người sử dụng đất
Trang 24không thoả mãn với mức bồi thường Đây là tranh chấp giữa người đạidiện chủ sở hữu (Nhà nước), người được giao quản lý với người sử dụngđất Loại tranh chấp này cũng là loại tranh chấp điển hình và gay gắt
Chín là, tranh chấp về mục đích sử dụng đất: Các tranh chấp nàyhiện nay cũng diễn ra khá phổ biến, đó là tranh chấp giữa việc sử dụngđất vào việc trồng lúa với việc dùng đất vào việc nuôi trồng thuỷ sản,giữa dùng đất đất trồng cây hàng năm với dùng đất trồng cây lâu năm,giữa sử dụng đất nông nghiệp hoặc đất trồng cây lâu năm với đất thổ cưtrong quá trình phân bổ và sử dụng đất Đây là tranh chấp giữa ngườiđược Nhà nước giao quản lý với người được giao đất
CHƯƠNG II: NỘI DUNG, QUY ĐỊNH VÀ THỰC TRẠNG
1 Khái niệm thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Có thể hiểu “Giải quyết tranh chấp đất đai là giải quyết bất đồng,mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tổ chức trong quá trình quản lý và sửdụng đất đai và trên cơ sở đó phục hồi các quyền lợi hợp pháp bị xâmhại đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm phápluật về đất đai”
Như vậy, giải quyết tranh chấp đất đai là dùng những cách thứcphù hợp trên cơ sở pháp luật nhằm giải quyết những bất đồng, mâuthuẫn trong nội bộ nhân dân, phục hồi các quyền và lợi ích hợp phápcho bên bị xâm hại, đồng thời buộc bên vi phạm phải gánh chịu hậu quảpháp lý do hành vi của họ gây ra, góp phần tăng cường pháp chế tronglĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai Hay nói cách khác là giải quyếttranh chấp đất đai là việc vận dụng đúng đắn các quy định của phápluật vào giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng của các chủ thể tham gia
Trang 25quan hệ pháp luật đất đai nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp phápcủa người sử dụng đất.
Trong quan hệ pháp luật đất đai, việc giải quyết các TCĐĐ là mộttrong những
biện pháp quan trọng để pháp luật đất đai phát huy được hiệu quả,vai trò trong đời sống xã hội Trong thực tế hiện nay có nhiều phươngthức khác nhau để giải quyết TCĐĐ như hòa giải, giải quyết tại UBND vàgiải quyết thông qua Tòa án Hòa giải TCĐĐ là một biện pháp mềm dẻo,linh hoạt và hiệu quả nhằm giúp các bên tranh chấp tìm ra một giảipháp thống nhất để tháo gỡ những mâu thuẫn, bất đồng trong quan hệpháp luật đất đai trên cơ sở tự nguyện, tự thỏa thuận của các bên tranhchấp Hòa giải TCĐĐ có thể thực hiện thông qua hai hình thức là hòa giảitại cơ sở và hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn nơi có tranh chấp.Hòa giải tại cơ sở thực hiện tại cộng đồng dân cư thông qua tổ viên tổhòa giải ở cơ sở thực hiện theo quy định của pháp lệnh hòa giải ở cơ sở,theo những quy tắc đạo đức, phong tục, tập quán, hương ước, quy ướccủa cộng đồng dân cư Còn hòa giải tại UBND được thực hiện sau khihòa giải tại cơ sở không đạt kết quả và một bên gửi đơn đến UBND xã đểyêu cầu tổ chức việc hòa giải Xét về bản chất đây là hình thức hòa giảiTCĐĐ do chính quyền cơ sở thực hiện dựa trên cơ sở quyền lực Nhànước, do vậy việc thực hiện hòa giải do UBND xã thực hiện mang tínhbắt buộc và kết quả hòa giải thành có giá trị pháp lý, là cơ sở để cơ quan
có thẩm quyền cấp trên chỉnh lý hiện trạng sử dụng đất, cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất Giải quyết TCĐĐ bằng con đường hành chính(do cơ quan quản lý nhà nước về đất đai thực hiện) Theo quy định của
Trang 26pháp luật hiện hành, TCĐĐ mà không có Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất hoặc không có một trong số các loại giấy tờ về Quyền sử dụngđất quy định tại Điều 100 Luật đất đai 2013 (các giấy tờ hợp lệ về đấtđai) thì thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp huyện hoặc cấptỉnh Xét về bản chất, các TCĐĐ thuộc dạng này là các tranh chấp vềviệc xác định ai là người sử dụng hợp pháp, do đó, để trả lời câu hỏi nàythì chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới có khả năng và thẩm quyềnđưa ra lời giải chính xác Bởi lẽ, cơ quan hành chính nhà nước thực hiệnnhiệm vụ quản lý đất đai, có đầy đủ thông tin, số liệu, hồ sơ địa chính vềtừng thửa đất cũng như nắm rõ nguồn gốc, hiện trạng sử dụng đất nênbiết r ai là người có quyền sử dụng đất hợp pháp Đối với những tranhchấp này, các quyết định của UBND có thẩm quyền có giá trị bắt buộcthực hiện đối với các bên tranh chấp Giải quyết TCĐĐ bằng con đường
tố tụng (do TAND thực hiện) đối với tranh chấp về tài sản gắn liền vớiđất đai và tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng có giấychứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ quy địnhtại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 hoặc không có một trong các giấy tờquy định tài Điều 100 Luật đất đai 2013 nhưng có yêu cầu Tòa án giảiquyết thì thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND Đây là phương thứcgiải quyết tranh chấp phổ biến và lâu đời nhất Hình thức giải quyết nàythông qua cơ quan quyền lực công có chức năng xét xử để đưa ra mộtbản án, quyết định có hiệu lực pháp luật bắt buộc đối với các bên thamgia tranh chấp, là cơ sở để các cơ hành chính nhà nước về đất đai cónhững điều chỉnh phù hợp theo nội dung quyết định, bản án đã nêu.Ngoài ra, theo tổ chức bộ máy nhà nước thì Tòa án được tổ chức và có
cơ chế hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật nên các phán quyết
Trang 27của Tòa án đảm bảo sự công bằng, khách quan, công minh Chính vì lẽ
đó, giải quyết TCĐĐ bằng Tòa án là phương thức giải quyết TCĐĐ phổbiến trong đời sống hiện nay
2 Nội dung và quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đấtđai
Quy định tại điều 203 Luật đất đai 2013 mà Tranh chấp đất đai đãđược hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giảiquyết như sau:
• Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc cómột trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai vàtranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;
Trong đó các loại giấy tờ quy định tại điều 100 cụ thể như sau:
1,Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trongcác loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụngđất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phảinộp tiền sử dụng đất:
a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng
10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiệnchính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủCách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà
Trang 28nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địachính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặctài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắnliền với đất;
d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắnliền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dâncấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ muanhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;
e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộcchế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;
g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm
1993 theo quy định của Chính phủ
2 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loạigiấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên ngườikhác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký củacác bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thihành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy địnhcủa pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứngnhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liềnvới đất và không phải nộp tiền sử dụng đất
3 Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyếtđịnh của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành
Trang 29án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyếttranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩmquyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụngđất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợpchưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định củapháp luật.
4 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất,cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệulực thi hành mà chưa được cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấychứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắnliền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thựchiện theo quy định của pháp luật
5 Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền,miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3Điều 131 của Luật này và đất đó không có tranh chấp, được Ủy bannhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộngđồng thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữunhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
• Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhậnhoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luậtđất đai thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giảiquyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:
a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp
có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;
Trang 30b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định củapháp luật về tố tụng dân sự;
• Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủyban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đaiđược thực hiện như sau:
a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân
cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếukhông đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủtịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theoquy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sởtôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếukhông đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộtrưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dântheo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
• Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản
3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp Quyết định giảiquyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấpnghiêm chỉnh chấp hành Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bịcưỡng chế thi hành
Trang 31• Các nguyên tắc giải quyết đất đai bằng con đường hành chính(giải quyết ở Uỷ ban nhân dân các cấp)
Việc giải quyết tranh chấp đất đai cần được tuân thủ 3 nguyên tắc
cơ bản như sau:
- Thứ nhất, luôn đảm bảo nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân
và Nhà nước là đại diện chủ sở hữu
- Thứ hai, bảo đảm lợi ích của người sử dụng đất, nhất là lợi ích kinh
tế, khuyến khích tự hòa giải trong nội bộ nhân dân
- Thứ ba, việc giải quyết nhằm mục đích ổn định kinh tế, xã hội,gắn với phát triển sản xuất, mở mang ngành nghề, tạo điều kiện cho laođộng có việc làm, phù hợp với đặc điểm và quy hoạch của từng địaphương
Các hình thức giải quyết tranh chấp đất đai:
Sở tài nguyên môi trường để được thông qua và cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đấy đai mới
Trang 32Nếu không thành: Đối với tranh chấp có Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất thì các bên yêu cầu tòa án nhân dân giải quyết Còn nếukhông có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai thì yêu cầu UBND cóthẩm quyền giải quyết hoặc khởi kiện ra tòa án nhân dân theo quy địnhcủa pháp luật tố tụng dân sự
2 Giải quyết tranh chấp
Tùy vào từng vụ việc mà sẽ do UBND cấp huyện hay UBND cấp tỉnhgiải quyết:
UBND cấp huyện: Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân,cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giảiquyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếunại đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theoquy định của pháp luật về tố tụng hành chính
UBND cấp tỉnh: Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là
tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnhgiải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyềnkhiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tạiTòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính
• Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai bằng Tòa ánMột là, nguyên tắc bảo đảm đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhànước thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu: Đất đai thuộc sở hữu toàndân có nghĩa là, đất đai không thuộc quyền sở hữu riêng của một tổchức hay cá nhân nào Các tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá