Tôi xin cam đoan các kết quả, phân tích và kết luận nghiên cứu trong luận văn Thạc sỹ Chính sách công về “Chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HÀ VIỆT ĐỨC
CHÍNH SÁCH THU HÚT, SỬ DỤNG
NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TẠI BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HÀ VIỆT ĐỨC
CHÍNH SÁCH THU HÚT, SỬ DỤNG
NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TẠI BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN VĂN NGỢI
HÀ NỘI - NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng nội dung của luận văn này chưa được nộp cho bất
kỳ một chương trình cấp bằng cao học nào, cũng như một chương trình đào tạo cấp bằng nào khác
Tôi xin cam đoan các kết quả, phân tích và kết luận nghiên cứu trong
luận văn Thạc sỹ Chính sách công về “Chính sách thu hút, sử dụng nhân
lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường tại Bộ Tài nguyên và Môi trường” (ngoài các phần được trích dẫn) đều là kết quả làm việc của cá
nhân tôi
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận văn
Hà Việt Đức
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình và trách nhiệm của
Tiến sĩ Trần Văn Ngợi đã hướng dẫn, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá
trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể giảng viên, cán bộ, nhân viên tham gia công tác giảng dạy, phục vụ khoá đào tạo Chính sách công đã giúp tôi hoàn thành tốt khoá học
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện luận văn một cách hoàn chỉnh nhất, tuy nhiên do còn hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy, Cô giáo và các anh/chị, các bạn để luận văn được hoàn chỉnh hơn nữa
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Hà Việt Đức
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 7
7 Kết cấu của luận văn 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT, SỬ DỤNG NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO 8
1.1 Các khái niệm cơ bản 8
1.1.1 Nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường 8
1.1.2 Chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường 9
1.2 Sự cần thiết của chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường 14
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường 15
1.3.1 Yếu tố khách quan 15
1.3.2 Yếu tố chủ quan 17
1.4 Kinh nghiệm xây dựng chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao 19
1.4.1 Kinh nghiệm của một số địa phương 19
Trang 61.4.2 Kinh nghiệm của một số bộ, ngành 20
1.4.4 Đánh giá chung 23
Tiểu kết chương 1 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THU HÚT, SỬ DỤNG NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TẠI BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG 27
2.1 Khái quát về nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường tại Bộ Tài nguyên và Môi trường 27
2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường 27
2.1.2 Thực trạng đội ngũ công chức tại Bộ Tài nguyên và Môi trường 29
2.2 Thực trạng xây dựng chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường 42
2.3 Thực trạng thực hiện chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường 45
2.4 Đánh giá chung 48
2.4.1 Kết quả đã đạt được 48
2.4.3 Nguyên nhân của hạn chế 50
Tiểu kết chương 2 52
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT, SỬ DỤNG NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TẠI BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG 53
3.1 Quan điểm và mục tiêu thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường tại Bộ Tài nguyên và Môi trường 53
Trang 73.1.1 Quan điểm 53 3.1.2 Mục tiêu 54
3.2 Dự báo nhu cầu nhân lực của ngành tài nguyên và môi trường giai đoạn 2016 - 2020 và định hướng đến năm 2030 57
3.2.1 Yêu cầu đặt ra đối với nhân lực ngành tài nguyên và môi trường 57 3.2.2 Nhu cầu về nhân lực ngành tài nguyên và môi trường giai đoạn 2016
- 2020 61 3.2.3 Định hướng đến năm 2030 63
3.3 Một số giải pháp hoàn thiện chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường 65
3.3.1 Nhóm giải pháp về tuyên truyền, phổ biến, đổi mới nhận thức, tạo sự thống nhất về quan điểm, chủ trương về chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường 65 3.3.2 Nhóm giải pháp về bổ sung, hoàn thiện văn bản cơ chế, chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao 66 3.3.3 Nhóm giải pháp về lãnh đạo, quản lý, nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của bộ máy, nâng cao năng lực thực thi chính sách 68 3.3.4 Nhóm giải pháp gắn kết chặt chẽ giữa việc thu hút, tuyển dụng với đào tạo, bồi dưỡng và đãi ngộ, tôn vinh 69 3.3.5 Nhóm giải pháp đẩy mạnh cải cách giáo dục, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế và trao đổi kinh nghiệm giữa các bộ, ngành, địa phương về hoàn thiện chính sách thu hút 71 3.3.6 Nhóm giải pháp về xây dựng chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ nhân lực ngành tài nguyên và môi trường 72
Trang 83.3.7 Nhóm giải pháp về xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý, dự báo
nhân lực ngành tài nguyên và môi trường 73
3.4 Đề xuất một số nội dung cụ thể về chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao tại Bộ Tài nguyên và Môi trường 74
Tiểu kết chương 3 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
1 Kết luận 79
2 Kiến nghị 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian qua, công tác xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đã chú trọng đến việc thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao cho nền công vụ Các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý cán
bộ, công chức, viên chức đã quy định việc tổ chức thi tuyển công chức, viên chức công khai, minh bạch nhằm chọn người xứng đáng vào nền công vụ
Một số địa phương đã ban hành chính sách “trải thảm đỏ” để thực hiện thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao về làm việc cho địa phương như cấp nhà, chính sách lương, trợ cấp ban đầu, tạo điều kiện cho đi đào tạo, bồi dưỡng trong và ngoài nước Bên cạnh đó, một số bộ, ngành, địa phương đã thực hiện thí điểm thi tuyển cạnh tranh một số chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp vụ, cấp phòng trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp Tuy nhiên, trên thực tế các chính sách này chưa phát huy được hiệu quả như mong muốn; chưa thực
sự thu hút được nhiều người có năng lực, trình độ cao vào làm việc trong nền công vụ; thiếu nguồn lực để thực hiện chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao vào làm việc trong các cơ quan nhà nước Đồng thời với việc không thu hút được nhiều nhân lực chất lượng cao thì việc “chảy máu chất xám” từ các cơ quan nhà nước đang tiếp diễn Ngoài ra, các bộ, ngành chưa ban hành
cơ chế thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao như các địa phương vì chưa có quy định cụ thể về việc này; việc thực hiện cơ chế tự chủ biên chế và tài chính còn hạn chế, vướng mắc gây khó khăn trong việc thu hút, bố trí và sử dụng nhân lực chất lượng cao
Ngành tài nguyên và môi trường là một ngành đa lĩnh vực mới được hình thành trên cơ sở hợp nhất nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước, trong đó có những lĩnh vực có tính chất phức tạp, nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến quyền lợi của
Trang 10nhân dân, doanh nghiệp, tổ chức, có tác động lớn đến bảo đảm an ninh, quốc phòng, sự phát triển kinh tế - xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước Ngành tài nguyên và môi trường cũng là ngành gắn liền với điều tra cơ bản, nghiên cứu, phát triển khoa học - công nghệ, đồng thời luôn có tính hệ thống
và mối liên hệ chặt chẽ giữa các chuyên ngành hẹp trong các lĩnh vực tài nguyên
và môi trường
Cho đến nay, đối với ngành tài nguyên và môi trường chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào đề cập đến vấn đề thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao vào làm việc trong Ngành Trong khi đó, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của Ngành hiện nay vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đang đặt ra cả về số lượng và chất lượng Số công chức, viên chức, chuyên gia được đào tạo trình độ cao ở các nước tiên tiến trên thế giới trước đây đã nghỉ hưu hoặc chuẩn bị nghỉ hưu nhưng chưa có đủ đội ngũ kế cận thay thế Bên cạnh đó, một số cán bộ có trình độ chuyên môn sâu, đang có xu hướng chuyển
ra ngoài làm việc tại các doanh nghiệp tư nhân, công ty liên danh nước ngoài
do chính sách thu hút, đãi ngộ cao hơn nhiều lần so với làm việc trong cơ quan nhà nước
Để khắc phục tình trạng trên, nghiên cứu về chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường là hết sức cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động ngành tài nguyên và môi trường, phù hợp với xu thể phát triển chung của đất nước, của khu vực ở giai đoạn trước mắt và tương lai
Với các lý do nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Chính sách thu hút,
sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường tại Bộ Tài nguyên và Môi trường” làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành Chính
sách công
Trang 112 Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua, việc thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao đã được các nhà quản lý, các nhà khoa học tại các trường, viện nghiên cứu, cơ quan nhà nước quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau
Đề tài khoa học và công nghệ độc lập cấp Nhà nước: “Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy trình phát hiện, đào, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của Đại học Quốc gia Hà Nội
do Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đào Trọng Thi làm chủ nhiệm, đã xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các quy trình có tính khoa học, hệ thống để đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tài năng trong khoa học - công nghệ, lãnh đạo, quản lý và kinh doanh phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bao gồm tất cả các khâu: từ tạo nguồn, phát hiện, tuyển chọn đến đào tạo, bồi dưỡng, thử thách, cọ xát thực tiễn, sử dụng, đãi ngộ nhân lực tài năng
Đề tài độc lập cấp Nhà nước “Cơ sở lý luận và thực tiễn của chiến lược quốc gia về nhân tài trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của Ban Tổ chức Trung ương do Hồ Đức Việt làm chủ nhiệm, đã tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận, thực tiễn về nhân tài và chiến lược nhân tài trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đánh giá thực trạng về nhân tài, xây dựng và thực hiện các chủ trương, chính sách, giải pháp của Đảng và Nhà nước liên quan đến nhân tài ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Bộ: “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn, đề xuất giải pháp đẩy mạnh chế độ công vụ, công chức ngành tài nguyên và môi trường đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” do Tiến sĩ Tạ Đình Thi, Bộ Tài nguyên và Môi trường làm chủ nhiệm, đã đánh giá đầy đủ và khách quan cơ sở lý luận và thực tiễn về chế độ công vụ, công chức, viên chức trên thế giới và Việt Nam; nghiên cứu, đánh giá thực trạng công vụ,
Trang 12đội ngũ công chức, viên chức ngành tài nguyên và môi trường, từ đó đánh giá mức độ cân đối của nhân lực đối với yêu cầu công việc và yêu cầu phát triển của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đồng thời có các biện pháp để tuyển dụng, đào tạo, đánh giá, quản lý và sử dụng công chức, viên chức phù hợp cho mỗi giai đoạn phát triển
Cuốn sách “Chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong khu vực công ở nước ta hiện nay”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Triệu Văn Cường và Nguyễn Minh Phương, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội (2016) đã đem lại một cái nhìn tổng thể về chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao từ nhiều góc độ, từ đó rút ra được hệ thống giải pháp mang tính toàn diện và đồng bộ trong hoàn thiện chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong khu vực công ở nước ta hiện nay
Cuốn sách “Thu hút và trọng dụng người có tài năng trong các cơ quan hành chính nhà nước Việt Nam”, Tiến sĩ Trần Văn Ngợi, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật (2017) đã luận giải các vấn đề về người có tài năng, các yếu
tố xác định người có tài năng, ý nghĩa, tầm quan trọng và các nhân tố tác động đến việc thu hút và trọng dụng và vai trò của người có tài năng trong các cơ quan hành chính nhà nước, đồng thời chỉ ra những tồn tại, hạn chế và đề xuất các giải pháp cụ thể về thu hút và trọng dụng người có tài năng trong các cơ quan hành chính nhà nước
Cuốn sách “Bí quyết tuyển dụng và đãi ngộ người tài: 21 bí quyết thực
tế để đạt được thành công về phát triển nhân sự”, Brian Tracy (2007), biên dịch Trương Hồng Dũng, Trương Thảo Hiền, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố
Hồ Chí Minh, đã cho thấy tầm quan trọng của người tài cũng như thu hút, quản
lý người tài: “Yếu tố quyết định đối với sự phát triển và thành công của một công ty chính là khả năng thu hút và giữ chân nhân viên giỏi Bạn có thể dễ dàng huy động nguồn vốn, tài sản, cơ sở vật chất, đất đai, nhà xưởng, máy móc
Trang 13thiết bị, nguyên vật liệu Nhưng yếu tố quan trọng nhất có thể vận hành là biến tất cả những yếu tố trên thành lợi nhuận chính là con người, và hơn bao giờ hết, chúng ta hiện nay đang phải đối mặt với một vấn đề hết sức nghiêm trọng là thiếu nguồn nhân lực có chất lượng cao”
Hiện nay, Nhà nước đã có một số quy định chế độ ưu tiên trong tuyển dụng người có trình độ cao, sinh viên tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc; ưu đãi về tiền lương cho người có học vị thạc sĩ, tiến sĩ Bộ Nội vụ đang triển khai xây dựng Đề án về cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ đối với người có tài năng
Như vậy, có thể thấy vấn đề phát triển nhân lực chất lượng cao đã được nhiều đề tài khoa học khác nhau nghiên cứu Tuy nhiên, chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu về thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường, cũng như của Bộ Tài nguyên và Môi trường
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích:
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao, đánh giá thực trạng thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường tại Bộ Tài nguyên và Môi trường, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường vào làm việc tại Bộ Tài nguyên và Môi trường trong thời gian tới
Trang 14+ Nghiên cứu, đánh giá thực trạng chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường vào làm việc tại Bộ Tài nguyên
và Môi trường
+ Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường vào làm việc tại Bộ Tài nguyên và Môi trường
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất
lượng cao ngành tài nguyên và môi trường vào làm việc trong các đơn vị thuộc
Bộ Tài nguyên và Môi trường
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Nghiên cứu nội dung chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường áp dụng cho các đối tượng là công chức làm việc tại các đơn vị hành chính giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước Không nghiên cứu các đối tượng là cán bộ và viên chức tại các đơn
vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ
+ Phạm vi không gian: nghiên cứu trong ngành tài nguyên và môi trường tại Bộ Tài nguyên và Môi trường
+ Phạm vi thời gian: luận văn nghiên cứu về các chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao tại Bộ Tài nguyên và Môi trường từ năm 2011 đến năm 2015
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận văn tiếp cận dựa trên nguyên lý và phương
pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Trang 15- Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu
+ Phương pháp mô tả thống kê
+ Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ cung cấp cơ sở lý luận về nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường, về chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường, về thực trạng thu hút,
sử dụng nhân lực chất lượng cao ở Bộ Tài nguyên và Môi trường; cung cấp các các giải pháp thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường vào làm việc tại các đơn vị thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường Đồng thời, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, những người quan tâm đến chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, tổng quan về tình hình nghiên cứu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao
Chương 2 Thực trạng chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường tại Bộ Tài nguyên và Môi trường
Chương 3 Đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường tại Bộ Tài nguyên
và Môi trường
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT,
SỬ DỤNG NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực Theo Tổ chức lao động quốc tế thì “nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động” [30] Còn Ngân hàng Thế giới cho rằng “nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người, bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân” [20] Với quan điểm như trên sẽ
có hai cách hiểu khác nhau về nguồn nhân lực chất lượng cao: (1) nguồn nhân lực chất lượng cao là những người lao động đã qua đào tạo, có bằng cấp và trình độ chuyên môn kỹ thuật; và (2) nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận của lực lượng lao động, có khả năng đáp ứng những yêu cầu phức tạp của công việc, tạo ra năng suất và hiệu quả cao, có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển xã hội
Các nhà khoa học cho rằng nhân lực chất lượng cao phải là những người
có trình độ học vấn, chuyên môn cao, kỹ năng nghề nghiệp giỏi, có khả năng vận dụng tri thức được đào tạo vào thực tiễn, mang lại năng suất, chất lượng, hiệu quả cao; có sức khỏe tốt đáp ứng yêu cầu công việc: “nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân lực có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng lao động giỏi, có phẩm chất tốt đủ sức đáp ứng một cách tối ưu đòi hỏi ngày càng cao của quá trình sản xuất, tạo ra năng suất, chất lượng và hiệu quả nhằm đạt tới sự phát triển nhanh và bền vững” [36] hoặc “nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận chất lượng cao của nguồn nhân lực đất nước, đó là những người có tài năng, chuyên môn giỏi theo lĩnh vực hoạt động và chuyên môn của mình, có đầy đủ
Trang 17đạo đức của người cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, vừa “hồng” vừa “chuyên” ” [18]
Theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận ưu tú nhất của nguồn nhân lực đất nước, bao gồm những người tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống; có trình độ học vấn, chuyên môn cao; có sức khỏe tốt (theo độ tuổi); luôn đi đầu trong lao động, sáng tạo khoa học, đóng góp tích cực, hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Đó là những “cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa học công nghệ đầu đàn” [14]
Ngoài thuật ngữ nguồn nhân lực chất lượng cao, các nhà khoa học còn
sử dụng các thuật ngữ khác như những khái niệm đồng nghĩa: “nhân lực trình
độ cao”, “nhân lực tài năng”, “nhân lực chất xám”, “nhân lực tri thức”
Trên cơ sở kế thừa nghiên cứu của các nhà khoa học về nhân lực chất
lượng cao, có thể đưa ra khái niệm như sau: nhân lực chất lượng cao ngành tài
nguyên và môi trường là những người có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; có trình độ học vấn, chuyên môn cao về các lĩnh vực tài nguyên và môi trường; có trình độ tay nghề, kỹ năng lao động, thành thạo về chuyên môn nghiệp vụ để hoàn thành công việc đạt chất lượng, hiệu quả cao
1.1.2 Chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường
Có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về chính sách công của các nhà khoa học trên thế giới, như: “chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và giải pháp để đạt được các mục tiêu đó” (William Jenkin) [38]; hay “chính sách công là cái mà chính phủ lựa chọn làm
Trang 18hay không làm” (Thomas R Dye) [35]; hoặc “chính sách công là một sự kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau bao gồm cả các quyết định không hành động do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra” (William N Dunn) [39]
Chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên
và môi trường cần phải bao gồm các nội dung, tiêu chuẩn cụ thể về hỗ trợ, tạo điều kiện để thu hút, sử dụng được nhân lực chất lượng cao vào làm việc tại Bộ Tài nguyên và Môi trường, như:
- Xác định danh mục các lĩnh vực ngành tài nguyên và môi trường cần thu hút, sử dụng: tùy vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể và mục tiêu, định hướng phát triển của Bộ, ngành theo mỗi giai đoạn mà Bộ sẽ có danh mục các lĩnh vực thuộc ngành tài nguyên và môi trường cần thu hút nhân lực chất lượng cao khác nhau theo mỗi giai đoạn
- Tiêu chuẩn đối với các đối tượng được thu hút, sử dụng: các đối tượng thu hút cần phải đạt được các tiêu chuẩn nhất định về thể lực, trí lực, các phẩm chất đạo đức…, và trong mỗi lĩnh vực chuyên môn được thu hút với các vị trí nhân sự cụ thể sẽ có những yêu cầu khác nhau
- Hình thức thu hút, sử dụng: có nhiều hình thức thu hút, sử dụng nhân lực đối với mỗi lĩnh vực, vị trí công việc cụ thể sẽ có hình thức thu hút, sử dụng phù hợp, có thể là thu hút trực tiếp, ưu tiên tiếp nhận, tuyển dụng…
- Các chế độ đãi ngộ với các đối tượng được thu hút, sử dụng: chế độ đãi ngộ thường phải có sự hấp dẫn để có thể thu hút được nhân lực chất lượng cao vào làm việc, chế độ đãi ngộ thường dựa trên nguồn lực của Bộ, ngành, lĩnh vực và sự tương quan một cách tương đối với các Bộ, ngành khác, chế độ đãi ngộ không chỉ về vật chất mà cả về tinh thần
Trang 19- Vấn đề bố trí, sử dụng và môi trường, điều kiện làm việc cho đối tượng được thu hút, sử dụng: để đem lại hiệu quả công việc và tránh lãng phí nhân lực chất lượng cao, thì cần phải có sự bố trí, sắp xếp nhân lực chất lượng cao vào các vị trí công việc một cách phù hợp với chuyên môn và trình độ, năng lực Tạo dựng môi trường làm việc là điều kiện cần thiết để để nhân lực thực
sự cảm thấy thoải mái, được tôn trọng, thấy được vai trò của mình để họ tự nguyện cống hiến năng lực của mình một cách tốt nhất
- Cơ hội đào tạo, bồi dưỡng để ngày càng phát triển, nâng cao trình độ của đối tượng được thu hút, sử dụng: để củng cố và nâng cao kiến thức, năng lực chuyên môn đáp ứng ngày càng tốt hơn công việc của mình và đảm nhận các công việc phức tạp hơn thì đào tạo, bồi dưỡng sau khi vào làm việc là một vấn đề quan trọng Hơn nữa, các đối tượng cũng xem xét cơ hội phát triển của mình có hay không, và phát triển ở mức nào thì họ mới quyết định về Bộ, ngành
đó để làm việc và cống hiến
Từ những phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm Chính sách thu hút,
sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường tại Bộ Tài
nguyên và Môi trường như sau: Chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất
lượng cao ngành tài nguyên và môi trường tại Bộ Tài nguyên và Môi trường là tổng thể các quan điểm và biện pháp của Bộ Tài nguyên và Môi trường về thu hút và sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường vào làm việc tại Bộ nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Bộ
Từ khái niệm nêu trên, có thể thấy nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường sẽ có những đặc điểm sau:
- Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt Họ là những người có lòng yêu nước, thấm nhuần và vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước; có bản lĩnh chính trị vững vàng, lối sống trung thực, không cơ hội,
Trang 20không tham tham nhũng; kiên quyết đấu tranh với các hành vi sai trái, tiêu cực;
là tấm gương sáng để đồng nghiệp học tập, noi theo
- Có trình độ học vấn cao Nói đến trình độ học vấn là nói đến trình độ được học tập, được đào tạo của con người Trình độ học vấn phản ánh trình độ nhận thức, tri thức, năng lực trí tuệ của con người Mỗi lĩnh vực, ngành nghề,
tổ chức, tùy đặc điểm, tính chất hoạt động, yêu cầu nhiệm vụ ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể mà đặt ra yêu cầu đòi hỏi về trình độ học vấn của nguồn nhân lực khác nhau Tuy nhiên, không nên hiểu rằng, những người có bằng cấp, chứng chỉ, trình độ học vấn cao về các lĩnh vực tài nguyên và môi trường đều là nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường Đây là mới chỉ là một tiêu chí - điều kiện cần, ngoài trình độ học vấn còn phải căn cứ vào các tiêu chí khác
- điều kiện đủ, để xem xét Những người có bằng cấp thạc sỹ, thậm chí tiến sỹ nhưng trên thực tế nếu họ không thể hiện đúng vai trò, vị thế, không phát huy được năng lực chuyên môn của mình vào công việc; hoàn thành chức trách, nhiệm vụ với chất lượng, hiệu quả thấp; không đóng góp được nhiều cho tổ chức thì chưa phải là nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường
- Có năng lực chuyên môn giỏi Năng lực chuyên môn là năng lực hoạt động của con người trong một lĩnh vực ngành nghề nhất định Người có năng lực chuyên môn giỏi trong ngành tài nguyên và môi trường phải là người có khả năng phát huy được sở trường, năng lực chuyên môn của mình trong quá trình công tác; có kiến thức thực tiễn, tinh thông nghiệp vụ, am hiểu sâu rộng
về ngành, nghề lĩnh vực công tác của mình; có khả năng tư duy, sáng tạo, đổi mới trong công việc;biết tiếp thu, kế thừa, phát huy kết quả nghiên cứu của những người đi trước
- Có trình độ ngoại ngữ, tin học đáp ứng nhiệm vụ chuyên môn Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, cách mạng khoa học công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ, nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường phải là
Trang 21người có trình độ tin học, ngoại ngữ thông dụng, đồng thời phải sử dụng thành thạo ngoại ngữ chuyên ngành, nắm vững và làm chủ các ứng dụng công nghệ hiện đại chuyên ngành tài nguyên và môi trường để phục vụ cho việc nghiên cứu, hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn
- Có lòng yêu ngành, yêu nghề, có tinh thần trách nhiệm cao, có niềm say mê, tận tâm với công việc chuyên môn của mình Ngoài ra, họ còn phải có khả năng đoàn kết và phát huy năng lực, sở trường của đồng nghiệp để hoàn thành công việc chung đạt chất lượng, hiệu quả cao nhất
- Có sức khỏe tốt theo độ tuổi Nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên
và môi trường còn phải có sức khỏe cả về thể chất và tinh thần Sức khỏe thể chất là sự khỏe mạnh của cơ thể con người, là năng lực lao động chân tay Sức khỏe tinh thần là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, khả năng vận động trí tuệ
và áp dụng vào thực tiễn Họ cũng phải có tâm lý vững vàng, kiên định đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ nghiên cứu, lao động của mình trong một số môi trường
có tính chất đặc thù, nặng nhọc, độc hại của ngành tài nguyên và môi trường như vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo Nhân lực chất lượng cao phải giải quyết các công việc một cách nhanh chóng, đúng thời gian, đảm bảo hiệu quả của công việc, có tính vượt trội hơn so với nhân lực có trình độ trung bình
Trên đây là những đặc điểm cơ bản của nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường Những đặc điểm này tuy có sự khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động, hỗ trợ lẫn nhau, phản ánh phẩm chất và năng lực cần
có người được coi là nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường
Trang 221.2 Sự cần thiết của chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường
Sự cần thiết của chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường tại Bộ Tài nguyên và Môi trường thể hiện ở các điểm sau:
Thứ nhất, bổ sung một lực lượng nhân lực chất lượng cao cho Bộ, ngành tài nguyên và môi trường, khắc phục tình trạng thiếu hụt trầm trọng nhân lực
có trình độ cao, chuyên môn sâu trong các đơn vị thuộc hiện nay Bảo đảm đầy
đủ cả về số lượng và chất lượng nhân lực cho Bộ, ngành, đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Thứ hai, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về mọi mặt, chính sách này
sẽ bảo đảm cho công tác quản lý, điều hành và thực thi các công việc cụ thể của
Bộ, ngành tài nguyên và môi trường có hiệu quả hơn Chính những lực lượng nhân lực chất lượng cao sẽ bù đắp cho sự yếu kém của một bộ phận công chức, viên chức, người lao động về năng lực và phẩm chất
Thứ ba, chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường sẽ giúp công tác tuyển dụng và bố trí nhân lực được hiệu quả hơn, thực chất hơn, hạn chế được tình trạng “con công, cháu cha”, những người có năng lực kém hoặc không đủ năng lực được vào làm việc tại Bộ Đồng thời, cũng hạn chế được tình trạng chạy chức, chạy quyền Qua đó, tạo được sức hấp dẫn, thu hút được lực lượng nhân lực chất lượng cao vào làm việc, tạo tinh thần muốn cống hiến cho Bộ, ngành
Thứ tư, chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường với các chế độ đãi ngộ phù hợp cả về vật chất và tinh thần sẽ giảm bớt hiện tượng “chảy máu chất xám” từ các đơn vị thuộc Bộ ra
Trang 23khu vực tư nhân khi mà khu vực này phát triển năng động, nhiều cơ hội rộng
mở và chế độ đãi ngộ hấp dẫn hơn rất nhiều trong khu vực nhà nước
Thứ năm, chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường là tiền đề và cơ sở cho việc cải cách nền hành chính nhà nước Nhờ những kiến thức, kỹ năng của nhân lực chất lượng cao, nắm bắt kịp thời với khoa học và công nghệ hiện đại giúp nâng cao chất lượng, tinh gọn đội ngũ nhân lực đang làm việc tại Bộ, đây là điểm phù hợp với giai đoạn Nhà nước đang thực hiện tinh giản bộ máy, tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước
Việc nghiên cứu, xây dựng chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường cho thấy sự quan tâm của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc tuyển dụng, sử dụng và phát triển nhân lực chất lượng cao để góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Bộ Tài nguyên và Môi trường
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường
Bất kỳ chính sách nào khi xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện đều chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau Khi nghiên cứu chính sách thu hút,
sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường tại Bộ Tài nguyên và Môi trường có thể thấy chính sách này chịu sự tác động của các yếu
tố cơ bản sau:
1.3.1 Yếu tố khách quan
- Chủ trương, chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Đảng và Nhà nước Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường tại Bộ Tài nguyên và Môi trường Yếu tố này tác động theo hai hướng:
Trang 24Đảng, Nhà nước quan tâm, đầu tư, chú trọng đến vấn đề thu hút nhân lực chất lượng cao, đưa ra các định hướng, pháp luật cơ bản phù hợp sẽ tích cực thúc đẩy chính sách thu hút của các Bộ, ngành, địa phương đạt hiệu quả cao Ngược lại, nếu Nhà nước không có những quan điểm, định hướng phù hợp thì chính sách sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình ban hành và thực hiện Ở nước ta, Đảng và Nhà nước đã sớm đề cao vai trò và sự quan trọng của thu hút nhân lực chất lượng cao, được thể hiện thông qua các chủ trương của Đảng, Nhà nước, tạo điều kiện cho các Bộ, ngành, địa phương chủ động trong việc thực hiện chiến lược thu hút nhân lực chất lượng cao
- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, địa phương Đây là một yếu tố khách quan ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hoạch định, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường tại Bộ Tài nguyên và Môi trường Nếu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, địa phương có nhiều chính sách, định hướng gắn sự phát triển với việc đầu tư nhiều hơn cho ngành tài nguyên và môi trường, sẽ là điều kiện để nâng các mức ưu đãi, hỗ trợ cao hơn đối với nhân lực ngành tài nguyên và môi trường, dẫn đến thu hút được đáng
kể lượng nhân lực chất lượng cao Chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường tại Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng cần phải đặt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, địa phương
- Các quy định về quản lý, phát triển đội ngũ công chức chưa thực sự phù hợp với tình hình thực tế Đây là yếu tố trực tiếp gây khó khăn cho việc thu hút,
sử dụng và đãi ngộ nhân lực chất lượng cao của các cơ quan nhà nước Cơ chế, chính sách tuyển dụng, bố trí cán bộ, công chức chưa thật sự dựa trên tiêu chí năng lực; chính sách tiền lương, đãi ngộ chưa có sự phân biệt giữa nhân lực chất lượng cao và nhân lực nói chung Do đó, việc thực hiện chính sách thu hút,
Trang 25sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường còn hạn chế, mức độ
- Sự phát triển của khoa học và công nghệ đang diễn ra nhanh chóng Khoa học kỹ thuật phát triển, công nghệ thay đổi cũng có nghĩa là một số công việc hoặc kỹ năng sẽ không còn cần thiết nữa, cũng đồng nghĩa với việc cần ít người hơn nhưng vẫn phải sản xuất ra số lượng sản phẩm tương tự như trước
và có chất lượng tốt hơn Chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường cũng phải theo kịp, đáp ứng cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ để có thể thu hút được những nhân lực có trình
độ, làm chủ được những tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới về tài nguyên và môi trường
- Sự cạnh tranh của các cơ quan, tổ chức khác có các hoạt động liên quan đến ngành tài nguyên và môi trường ngoài Bộ Tài nguyên và Môi trường Đây cũng là một vấn đề sẽ tác động trực tiếp đến công tác hoạch định và thực thi chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao vào làm việc tại Bộ Tài nguyên và Môi trường Khi ban hành chính sách cần phải căn cứ cụ thể nội dung chính sách và tổ chức thực hiện của các cơ quan, tổ chức hoạt động trong các lĩnh vực ngành tài nguyên và môi trường khác ngoài Bộ Tài nguyên và Môi trường Điều
đó sẽ có cơ hội học hỏi kinh nghiệm của các đơn vị này, hơn nữa sẽ phải ban hành chính sách với các chế độ ưu đãi với mức thấp nhất phải tương đối hoặc cao hơn các cơ quan, tổ chức đó để tạo được lợi thế cạnh tranh về thu hút nhân lực chất lượng cao
1.3.2 Yếu tố chủ quan
- Những thành tựu, đóng góp của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Từ khi được thành lập đến nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức giành được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần vào sự thành công chung của công cuộc
Trang 26xây dựng và phát triển bền vững của đất nước; được Đảng và Nhà nước ghi nhận, trao tặng nhiều phần thưởng cao quý Với truyền thống và các thành tựu
đã đạt được, đây cũng là một yếu tố cần phải xem xét đến khi xây dựng chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao
- Các nguồn lực để thu hút nhân lực chất lượng cao của Bộ Tài nguyên
và Môi trường, như nguồn lực về tổ chức, con người, tài chính và các nguồn lực khác như đất đai, nhà ở… để hỗ trợ, khuyến khích các đối tượng nhân lực chất lượng cao về làm việc tại cơ quan mình Trong đó nguồn lực tài chính đóng một vị trí quan trọng nhằm đảm bảo duy trì chính sách, thực hiện các mục tiêu của chính sách đặt ra
- Nguồn nhân lực chất lượng cao đang làm việc tại Bộ Tài nguyên và Môi trường Số lượng và chất lượng nhân lực chất lượng cao đang làm việc tại
Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ là cơ sở của việc đưa ra số lượng và tiêu chuẩn nhân lực chất lượng cao của chính sách trong thời gian tới, bởi nếu chất lượng
và số lượng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường đang làm việc tại Bộ đã ở mức trung bình khá, cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, nhu cầu thu hút không còn nhiều, mà lại đẩy mạnh thu hút quá nhiều sẽ dẫn đến lãng phí các nguồn lực về con người và tài chính
- Điều kiện, môi trường làm việc và văn hóa công sở Đây cũng là một yếu tố quan trọng trong thu hút nhân lực chất lượng cao đối với các tổ chức nói chung và Bộ Tài nguyên và Môi trường nói riêng, đó là: cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc, như: nhà ở công sở, diện tích làm việc, máy vi tính, máy in… phục vụ cho hoạt động của các cán bộ, công chức một cách thuận tiện, hiệu quả nhất Môi trường làm việc có mối quan hệ tác động qua lại trực tiếp với môi trường văn hóa của tổ chức Văn hóa của tổ chức là yếu tố quan trọng gắn kết những con người làm việc trong một tổ chức lại với nhau và gắn kết họ ở lại làm việc, cống hiến cho cơ quan, đơn vị
Trang 27- Sự quan tâm của lãnh đạo Bộ đối với việc tổ chức thực hiện chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao Nếu chính sách được lãnh đạo Bộ quan tâm, theo dõi, chỉ đạo sát sao thì việc thực hiện các mục tiêu đặt ra của chính sách sẽ đạt hiệu quả cao
Như vậy, có thể thấy chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường tại Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau và mỗi yếu tố này lại tác động đến chính sách ở nhiều khía cạnh khác nhau Vì vậy, khi hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách cần xem xét các yếu tố một cách cụ thể để chính sách có thể đạt được hiệu quả tốt nhất
1.4 Kinh nghiệm xây dựng chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao
1.4.1 Kinh nghiệm của một số địa phương
Chủ trương thu hút nhân lực chất lượng cao là các cử nhân, kỹ sư tốt nghiệp loại giỏi, thủ khoa các trường đại học về công tác tại địa phương đã được nhiều tỉnh, thành thực hiện Cho dù chưa hoàn toàn được như mong muốn nhưng cách làm này cũng đã cho thấy nỗ lực rất lớn của các địa phương trong việc xây dựng và triển khai chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao về làm việc cho địa phương
- Thành phố Hà Nội: đã ban hành quy định về thu hút, sử dụng, đào tạo tài năng trẻ và nguồn nhân lực chất lượng cao của thành phố Hà Nội Theo đó,
ưu tiên tuyển dụng thẳng, không qua sơ tuyển vào cơ quan hành chính, đơn vị
sự nghiệp đối với các sinh viên tốt nghiệp đại học thủ khoa tại các cơ quan đào tạo trong nước và nước ngoài; sinh viên tốt nghiệp loại giỏi các trường đại học nước ngoài hoặc đại học công lập, hệ chính quy trong nước; người có bằng thạc
Trang 28sĩ (dưới 30 tuổi), tiến sĩ (dưới 35 tuổi) có chuyên ngành đào tạo mà Thành phố
đang có sự thiếu hụt nhân lực
- Một số địa phương khác như Đà Nẵng, Cần Thơ, Bình Dương: thực hiện chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao là sinh viên tốt nghiệp loại khá, giỏi, người có học vị thạc sĩ, tiến sĩ; những người tốt nghiệp đại học và sau đại học loại giỏi, xuất sắc tại các cơ sở đào tạo ở nước ngoài sẽ được nhận chế độ
hỗ trợ ban đầu, được xếp lương theo ngạch, bậc đang hưởng hoặc xếp 100% lương khởi điểm; được hỗ trợ thuê nhà chung cư theo giá nhà nước, miễn giảm tiền thuê chung cư; không phân biệt hay ưu tiên cho đối tượng là đảng viên hay không đảng viên, cũng không đặt ra vấn đề hộ khẩu hay phân biệt người của địa phương nào
1.4.2 Kinh nghiệm của một số bộ, ngành
Thời gian qua, trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng về cải cách chế độ công vụ, đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, bao gồm: Luật cán bộ, công chức năm 2008; các nghị định và thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật cán bộ, công chức
Trong các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Cán bộ, công chức có nhiều quy định liên quan trực tiếp đến vấn đề thu hút, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng trong các cơ quan hành chính nhà nước, như Nghị định số 24/2010/NĐ-
CP ngày 15 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản
lý công chức, tại Điều 19 quy định những trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng, cho phép người đứng đầu cơ quan quản lý công chức được xem xét, tiếp nhận không qua thi tuyển đối với các trường hợp đặc biệt: “người tốt nghiệp thủ khoa tại các cơ sở đào tạo trình độ đại học ở trong nước; người tốt nghiệp đại học, sau đại học loại giỏi, xuất sắc ở nước ngoài; người có trình độ đào tạo từ đại học trở lên, có kinh nghiệm công tác trong ngành, lĩnh vực cần tuyển dụng từ
Trang 2905 năm trở lên, đáp ứng được ngay yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng”; tại Điều 22 quy định chế độ, chính sách ưu đãi đối với người tập sự có trình độ cao: “…trường hợp người tập sự có trình độ thạc sĩ phù hợp với yêu cầu tuyển dụng thì được hưởng 85% mức lương bậc 2 của ngạch tuyển dụng; trường hợp người tập sự có trình độ tiến sĩ phù hợp với yêu cầu tuyển dụng thì được hưởng 85% mức lương bậc 3 của ngạch tuyển dụng Các khoản phụ cấp được hưởng theo quy định của pháp luật”
Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011
- 2020 đã đề ra nhiều mục tiêu, nội dung hoạt động liên quan trực tiếp đến chính sách thu hút và trọng dụng nhân lực chất lượng cao cho các cơ quan hành chính nhà nước Chủ trương tuyển dụng, bố trí, phân công nhiệm vụ phù hợp với trình
độ, năng lực, sở trường của công chức, viên chức trúng tuyển; thực hiện chế độ thi nâng ngạch theo nguyên tắc cạnh tranh; thi tuyển cạnh tranh để bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản lý; hoàn thiện quy định của pháp luật về đánh giá cán bộ, công chức, viên chức trên cơ sở kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; tập trung nguồn lực ưu tiên cho cải cách chính sách tiền lương v.v Kết quả của chương trình sẽ tác động tích cực đến chính sách thu hút và trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao trong các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ còn ban hành Quyết định số 1557/QĐ-TTg ngày 18 tháng 10 năm 2011 phê duyệt Đề án “Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức” Trong đó xác định rõ thực hiện chính sách nhân tài, quy định các chế độ, chính sách liên quan đến việc phát hiện, tuyển chọn, tiến cử, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ nhân lực chất lượng cao trong hoạt động công vụ là một trong các nội dung đẩy mạnh cải cách chế độ công
vụ, công chức
Trang 30Hiện nay, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chưa xây dựng và ban hành các văn bản cụ thể về chính sách thu hút, sử dụng những nguồn nhân lực chất lượng cao vào làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước, nhưng có một số bộ, ngành đã ban hành một số quy định nhằm mục đích thu hút những người có trình độ cao chuyên môn cao về làm việc tại cơ quan, đơn vị mình Các quy định chủ yếu tập trung ưu tiên về tuyển dụng, chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, như:
- Văn phòng Chính phủ đã ban hành Quy chế tuyển dụng, bổ nhiệm hàm cấp vụ nhằm thu hút công chức giỏi về làm việc, đồng thời nhằm thực hiện chính sách đối với cán bộ, công chức có quá trình công tác nhưng đã quá tuổi
bổ nhiệm lãnh đạo
- Bộ Ngoại giao ưu tiên xét tuyển sinh viên tốt nghiệp thủ khoa đại học, tốt nghiệp ngôn ngữ địa phương; xây dựng chế độ tập sự cấp vụ và Quy chế chuyên gia ngoại giao để phát hiện, bồi dưỡng, tuyển chọn người có trình độ cao vào làm việc
- Bộ Công Thương đã triển khai xây dựng và thực hiện Đề án thí điểm thi tuyển chức danh lãnh đạo tại một số đơn vị thuộc Bộ với hình thức thi tuyển cạnh tranh từ năm 2013 Bộ Công thương cũng tăng cường đầu tư cho các cơ
sở đào tạo trực thuộc, tăng cường hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo; hằng năm, đều dự trù một khoản kinh phí để hỗ trợ công chức được cử đi học thạc sĩ, tiến sĩ ở trong và nước ngoài
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng được cơ sở dữ
liệu, hệ thống quản lý nguồn nhân lực; tập trung xây dựng thể chế về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, tuyển dụng, quản lý, sử dụng, đánh giá và chế độ, chính sách đãi ngộ đặc thù đối với nguồn nhân lực của ngành, công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực
Trang 31- Kiểm toán Nhà nước đã ban hành quy định chính sách thu hút nhân tài
về công tác tại Kiểm toán Nhà nước, theo đó quy định cụ thể đối tượng áp dụng, điều kiện, tiêu chuẩn, chính sách, chế độ đãi ngộ đối với nhân lực chất lượng cao tự nguyện làm việc tại các đơn vị trực thuộc của Kiểm toán Nhà nước, quyền lợi và trách nhiệm của người hưởng chính sách
1.4.4 Đánh giá chung
Nhìn chung, công tác thu hút nhân lực chất lượng cao đã được quan tâm rộng khắp trên toàn quốc, không chỉ ở các trung tâm kinh tế, thành phố với nguồn vốn ngân sách lớn, kinh tế phát triển mà còn ở các bộ, ngành ở Trung ương Từ đó, cho thấy nhu cầu sử dụng nhân lực chất lượng cao trong công việc
là rất lớn, rất cần thiết tại mọi địa phương, bộ, ngành
Thực tế cho thấy, các chính sách của các địa phương, bộ, ngành mới chỉ dừng ở mức vận dụng “linh hoạt” cơ chế chính sách pháp luật của nhà nước và một số ưu tiên nhỏ cho công tác thu hút nhân lực chất lượng cao; mỗi địa phương, bộ, ngành thường dựa vào đặc điểm, lợi thế của mình để xây dựng các chính sách phù hợp Để chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao tại Bộ Tài nguyên và Môi trường mang lại hiệu lực, hiệu quả, cần lưu ý một số kinh nghiệm sau:
Một là, xây dựng một cơ chế mở trong tuyển dụng, thu hút nhân lực chất lượng cao, chẳng hạn như: không phân biệt người trong Đảng hay ngoài Đảng, không phân biệt quốc tịch, không phân biệt hộ khẩu; thiết lập một hệ thống dữ liệu về nguồn cán bộ, các ứng cử viên trong khu vực tư nhân
Hai là, ban hành đầy đủ các văn bản pháp quy để thống nhất việc xây dựng tiêu chí đánh giá nhân lực chất lượng cao, việc tuyển dụng nhân lực chất lượng cao, những văn bản này không chỉ là cơ sở cho việc tuyển dụng mà còn
sử dụng và đào tạo, bồi dưỡng nhân lực chất lượng cao
Trang 32Ba là, cần chú trọng đến công tác đánh giá nhân lực chất lượng cao với nhiều hình thức đa dạng Có thể đánh giá nhân lực dựa trên hiệu quả công việc được hoàn thành, đây là phương pháp đánh giá khách quan, công bằng Thường xuyên đánh giá định lượng cán bộ, công chức để họ biết được trình độ, năng lực của mình cũng như điều chỉnh một cách phù hợp; coi trọng việc đánh giá mức độ hài lòng của người dân đối với cán bộ, công chức
Bốn là, có chế độ đãi ngộ xứng đáng đối với nhân lực chất lượng cao, đặc biệt quan tâm đến chế độ tiền lương, hưu trí và các chế độ bảo hiểm xã hội khác Việc trả lương có thể áp dụng tiêu chuẩn thị trường để xác định mức lương cơ bản cho nhân lực chất lượng cao Ngoài các hình thức đãi ngộ trực tiếp với nhân lực chất lượng cao cần quan tâm đến chế độ ưu đãi đối với người thân của các đối tượng như: tạo việc làm cho vợ hoặc chồng, chế độ phụ cấp cho người nuôi bố mẹ già, ưu tiên chọn trường học cho con cái của các đối tượng nhân lực chất lượng cao …
Năm là, bố trí và sử dụng nhân lực chất lượng cao một cách phù hợp: đầu tư dài hạn cho những công chức trẻ xuất sắc, có năng lực chuyên môn, tạo
sự tin tưởng, dám giao trọng trách cho đội ngũ trẻ Đối với nhân lực chất lượng cao có triển vọng, trước tiên cho quản lý một lĩnh vực thuần túy, sau một vài năm chuyển lên quản lý, lãnh đạo cao cấp theo hướng từ thấp đến cao Bên cạnh đó, cần mạnh dạn loại bỏ những cán bộ, công chức không đáp ứng được yêu cầu của công việc
Sáu là, cần triển khai các chương trình, đề án nhỏ hơn, cụ thể hơn trong khuôn khổ nội dung chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao để xác định rõ từng đối tượng và các mục tiêu cụ thể cần đạt được, đem lại thành công cho chính sách
Bảy là, duy trì chặt chẽ chế độ quản lý, giám sát, kiểm tra, thanh tra công tác tuyển dụng nhân lực chất lượng cao, việc thanh tra, kiểm tra không những
Trang 33góp phần hạn chế tiêu cực trong tuyển dụng mà còn làm trong sạch bộ máy thực hiện công tác tuyển dụng
Trang 34Tiểu kết chương 1
Chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên
và môi trường tại Bộ Tài nguyên và Môi trường có vai trò trò lớn trong việc phát triển ngành tài nguyên và môi trường và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt
động của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Trong khuôn khổ nội dung của chương 1 đã trình bày những nội dung cần thiết về cơ sở lý luận của chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao; hiểu được thế nào là nhân lực chất lượng cao, những đặc điểm của nhân lực chất lượng cao để phân biệt với nhân lực phổ thông; tầm quan trọng của chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường; thấy được vai trò quan trọng của nhân lực chất lượng cao đối với Bộ, ngành tài nguyên và môi trường Ở chương này, cũng đã chỉ ra được một số yếu tố ảnh hưởng đến chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường tại Bộ Tài nguyên và Môi trường, nên khi xây dựng và thực thi chính sách trong thực tế cần xem xét các yếu tố này để đưa ra các cách thức, giải pháp phù hợp giúp việc thực thi chính sách có thể đem lại hiệu quả cao nhất
Những cơ sở lý luận được phân tích, tổng hợp ở chương 1 là tiền đề quan trọng trong việc nghiên cứu thực trạng và giải pháp hoàn thiện chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường tại Bộ Tài nguyên và Môi trường ở chương 2 và chương 3
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THU HÚT, SỬ DỤNG NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TẠI BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG GIAI ĐOẠN 2011 - 2015
2.1 Khái quát về nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường tại Bộ Tài nguyên và Môi trường
2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập năm 2002, trên cơ sở hợp nhất một số cơ quan, tổ chức: Tổng cục Địa chính, Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn, Cục Môi trường (Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường), Cục Địa chất
và Khoáng sản, Viện Địa chất và Khoáng sản (Bộ Công nghiệp) và bộ phận quản lý tài nguyên nước thuộc Cục Quản lý nước và Công trình thuỷ lợi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
- Về vị trí, chức năng: Bộ Tài nguyên và Môi trường có chức năng, quản
lý nhà nước trên các lĩnh vực: đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng thuỷ văn; biến đổi khí hậu; đo đạc và bản đồ; quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo
- Về nhiệm vụ, quyền hạn: được quy định tại Nghị định số
21/2013/NĐ-CP ngày 04 tháng 03 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường
- Về cơ cấu tổ chức: theo quy định tại Nghị định số 21/2013/NĐ-CP, cơ
cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường có 23 đơn vị, trong đó có 18 đơn
vị giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước và 5 đơn vị sự nghiệp công lập Bộ Tài nguyên và Môi trường còn được giao thực hiện nhiệm vụ cơ
Trang 36quan thường trực của một số tổ chức phối hợp liên ngành do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, trong đó có 03 cơ quan được tổ chức độc lập Ngoài
ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường còn quản lý hoạt động và là đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước của 03 doanh nghiệp và Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam
Hình 1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Trang 37- Về cơ cấu tổ chức của các cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân các cấp quản lý tài nguyên và môi trường ở địa phương
Ở địa phương, tổ chức quản lý của ngành gồm có Sở Tài nguyên và Môi trường (cấp tỉnh); Phòng Tài nguyên và Môi trường (cấp huyện) và công chức địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc công chức địa chính - xây dựng - nông nghiệp và môi trường (đối với xã) (sau đây gọi chung là cán bộ tài nguyên và môi trường cấp xã); có 63 Chi cục Bảo vệ môi trường thuộc các Sở Tài nguyên và Môi trường, mỗi Phòng Tài nguyên và Môi trường có ít nhất 02 công chức làm công tác môi trường Ngoài ra, còn có các đơn vị chuyên môn về bảo vệ môi trường tại các ban quản lý khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp, khu chế xuất và doanh nghiệp nhà nước
Cả nước hiện có khoảng hơn 11.000 đơn vị hành chính cấp xã Đến nay, 100% số xã có cán bộ tài nguyên và môi trường Thông thường mỗi xã có 01 công chức chuyên trách, tuy nhiên ở một số xã khu vực đô thị hóa và cấp phường, thị trấn có từ 02 đến 03 công chức; ở một số xã, phường, thị thấn đã thành lập Ban Địa chính - Xây dựng
2.1.2 Thực trạng đội ngũ công chức tại Bộ Tài nguyên và Môi trường
Đội ngũ công chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã không ngừng phát triển về số lượng, nâng cao về chất lượng, từng bước được chuẩn hóa, chuyên nghiệp hóa
a) Về số lượng công chức
Tổng số biên chế hành chính đang thực hiện: tổng số biên chế thực hiện
từ năm 2011 đến năm 2015 tương đối ổn định, biến động không đáng kể Do chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của các đơn vị hành chính thuộc Bộ ổn định kéo theo các vị trí việc làm ổn định nên tổng số biên chế thực hiện không
có biến động nhiều
Trang 38Qua các năm, tổng số biên chế thực tế của các đơn vị hành chính tại Bộ luôn thấp hơn tổng số biên chế được giao theo kế hoạch Điều đó cho thấy Bộ đang thiếu hụt nhân lực Năm 2014, thiếu nhiều nhất là 92 người, tiếp đến là năm 2013 thiếu 73 người, năm 2015 thiếu 69 người, năm 2012 thiếu 51 người
và năm 2011 thiếu 39 người
Bảng 2.1: Số lượng công chức tại các đơn vị hành chính
Bộ Tài nguyên và Môi trường từ 2011-2015
(Đơn vị tính: người)
Biên chế giao theo kế hoạch 1.123 1.163 1.185 1.207 1.187 Biên chế thực hiện (thực tế) 1.084 1.112 1.112 1.115 1.118 Nhân lực thừa (+), thiếu (-) -39 -51 -73 -92 -69
b) Về tỷ lệ độ tuổi của công chức
Độ tuổi trung bình của đội ngũ công chức tại các đơn vị hành chính của
Bộ Tài nguyên và Môi trường đa số từ 31 đến 40 tuổi Công chức có độ tuổi dưới 30 chiếm ít nhất, chiếm từ 11,7% đến 13,1% số nhân lực Ở độ tuổi này, công chức mới nhận công tác, còn trẻ, khỏe, nhiệt tình trong công việc, song còn thiếu kinh nghiệm công tác Công chức có độ tuổi từ 31 đến 40 tuổi từ năm
2011 đến năm 2015 đều chiếm số đông nhất, chiếm từ 45% đến 47,8% số nhân lực Đây là độ tuổi có nhiều điều kiện học tập, trau dồi kinh nghiệm, nhiệt tình trong cho công việc, sức khỏe tốt, có thể đảm nhiệm nhiều vị trí công tác tại
Bộ Tiếp đến là công chức có độ tuổi từ 41 đến 50 đứng thứ 2 về số lượng trong
cơ cấu độ tuổi, chiếm từ 24,2% đến 25,9% số nhân lực Giai đoạn này công chức đã được trau dồi về chuyên môn nghiệp vụ, tích lũy được nhiều kinh nghiệm, có thể cống hiến tài năng và công sức cho sự nghiệp phát triển của Bộ Công chức có độ tuổi từ 51 đến 60 chiếm số lượng không nhiều, chiếm từ 14,7%
Trang 39đến 17% số nhân lực Độ tuổi này, công chức đã chín muồi về mọi mặt cả về trình độ chuyên môn lẫn kinh nghiệm thực tiễn và có thể truyền đạt lại kinh nghiệm cho nhân lực trẻ
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu công chức theo độ tuổi tại các đơn vị hành chính
Bộ Tài nguyên và Môi trường từ 2011-2015
Như vậy, công chức tại Bộ Tài nguyên và Môi trường có cơ cấu về độ tuổi không đồng đều, dẫn đến khó khăn trong việc bố trí, sử dụng công chức, đồng thời sẽ hụt hẫng công chức trong quy hoạch cán bộ kế cận Thực trạng trong quy hoạch cán bộ, một người có thể được quy hoạch vào nhiều vị trí ở đơn vị mình hay ở một hoặc nhiều vị trí ở đơn vị khác thuộc Bộ Do cơ cấu theo độ tuổi không đủ, nên ở một số đơn vị của Bộ đưa vào trong quy hoạch cán bộ lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo phòng, ban, công chức của đơn vị khác ở trong
và ngoài Bộ, miễn sao cho đủ cơ cấu độ tuổi Đa số công chức của Bộ trong độ
Trang 40tuổi chín muồi, có điều kiện học tập nâng cao trình độ và tích lũy được nhiều kinh nghiệm, là một trong những thuận lợi cho việc thực thi công vụ một cách hiệu quả
c) Về tỷ lệ giới tính, đảng viên, dân tộc, tôn giáo của công chức
Tỷ lệ công chức là nữ giới qua các năm của các đơn vị hành chính thuộc
Bộ Tài nguyên và Môi trường tương đối đồng đều, chiếm từ 41% đến 42% tổng