Lý do chọn đề tài Hiến pháp, đạo luật gốc, sự thỏa thuận và thỏa hiệp giữa các tầng lớp nhândân trong xã hội là một Đạo luật mà trong đó chứa đựng tính nhân văn, dân chủ vànhân quyền.Hiế
Trang 1HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TẠ QUỐC LONG
CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾN PHÁP BẰNG PHÁP LUẬT
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI – 2016
Trang 2HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TẠ QUỐC LONG
CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾN PHÁP BẰNG PHÁP LUẬT
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật
Hành chính Mã số: 60 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS NGUYỄN QUỐC SỬU
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực với sự kế thừa học hỏi, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam.
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Tạ Quốc Long
Trang 4Thật vinh dự cho cá nhân em khi được tham gia học tập tại Học viện Hànhchính Quốc gia Em xin trân trọng bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn tới các Thầy,
Cô giáo tại Học viện hành chính quốc gia, đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Quốc Sửu Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Hành chính quốc gia, đã nhiệt tình hướngdẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập tại học viện cũng như quá trình thực
-hiện, hoàn thiện luận văn cao học về nội dung “Cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng
pháp luật ở Việt Nam hiện nay”
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng, nhưng do thời gian và năng lực có hạn, chắcchắn luận văn còn nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng gópquý báu của các Thầy, các Cô
Em xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày… tháng … năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Tạ Quốc Long
Trang 5MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾN PHÁP BẰNG PHÁP LUẬT 9
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾN PHÁP BẰNG PHÁP LUẬT 9
1.1.1 Hiến pháp và vi phạm Hiến pháp 9
1.1.2 Bảo hiến và các mô hình bảo hiến trên thế giới 12
1.2 NHU CẦU KHÁCH QUAN CỦA CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾN PHÁP BẰNG PHÁP LUẬT 16
1.2.1 Khái niệm và các yếu tố cấu thành cơ chế bảo vệ hiến pháp 16
1.2.2 Cơ chế nhà nước, cơ chế xã hội và cơ chế chính trị bảo vệ Hiến pháp 18
1.2.3 Những dạng thức vi phạm Hiến pháp ở nước ta thời gian qua 23
1.3 CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾN PHÁP BẰNG PHÁP LUẬT 33
1.3.1 Khái niệm cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật 33
1.3.2 Đặc điểm cơ chế chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật 35
1.3.3 Nội dung cấu thành và nguyên tắc đối với cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật 36
1.3.4 Một số mô hình cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật trên thế giới 38
1.3.5 Các yếu tố chi phối sự lựa chọn mô hình bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật trên thế giới 49
Tiểu kết Chương 1 52
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾN PHÁP BẰNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM 53
2.1 SƠ LƯỢC CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾN PHÁP BẰNG PHÁP LUẬT QUA CÁC GIAI ĐOẠN 53
2.1.1 Cơ chế bảo vệ Hiến pháp theo Hiến pháp 1946 53
2.1.2 Cơ chế bảo vệ Hiến pháp theo Hiến pháp 1959 54
Trang 62.1.4 Cơ chế bảo vệ Hiến pháp theo Hiến pháp 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 57
2.2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾN PHÁP BẰNG PHÁP LUẬT THEO
HIẾN PHÁP 2013 58
2.2.1 Thực trạng thể chế bảo vệ Hiến pháp 58
2.2.2 Thực trạng thiết chế bảo vệ Hiến pháp 61
2.2.3 Thực trạng phương thức, sự vận hành cơ chế bảo vệ Hiến pháp 64
2.2.4 Đánh giá chung 67
2.3 QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾN PHÁP BẰNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM 68
2.3.1 Quán triệt chủ chương của Đảng về xây dựng và hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 68
2.3.2 Cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật phải tuân thủ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 70
2.3.3 Cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật phải góp phần bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân một cách hữu hiệu 70
2.3.4 Bảo đảm tính đồng bộ, rõ ràng, minh bạch và hiệu lực của cơ chế bảo vệ Hiến pháp, mọi vi phạm Hiến pháp phải được phán quyết và xử lý 71
2.4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾN PHÁP BẰNG PHÁP LUẬT 73
2.4.1 Giải pháp chung nhằm hoàn thiện thể chế, thiết chế và phương thức vận hành của cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật 73
2.4.2 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ Hiến pháp bằng những cơ chế sẵn có 74
2.4.3 Tạo môi trường thuận lợi và phát huy vai trò của Hiệp hội luật Hiến pháp 77
2.4.4 Xây dựng cơ quan bảo hiến chuyên trách ở Việt Nam - Tòa án Hiến pháp 78
Tiểu kết Chương 2 90
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiến pháp, đạo luật gốc, sự thỏa thuận và thỏa hiệp giữa các tầng lớp nhândân trong xã hội là một Đạo luật mà trong đó chứa đựng tính nhân văn, dân chủ vànhân quyền.Hiến pháp quy định các nguyên tắc cơ bản về nhà nước và pháp luật,các quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân Căn cứ vào Hiến pháp, các quy phạmpháp luật và các chính sách để quản lý xã hội được ban hành nhằm đáp ứng nguyệnvọng của nhân dân Tuy nhiên, Hiến pháp cũng mang tính nhạy cảm và mong manhnếu có những thế lực vô tình hay hữu ý xâm phạm đến sự thiêng liêng của nó thìHiến pháp cũng dễ trở thành công cụ để một nhóm người nô dịch số đông còn lại đểphục vụ những mưu đồ riêng của mình Vì sự quan trọng đó, Hiến pháp cần sự bảo
vệ của tất cả các công dân và của cả hệ thống pháp luật với những thiết chế đủ mạnh
để hiến pháp thực sự được tôn trọng và vì con người
Trên thế giới nhu cầu bảo vệ Hiến pháp đã xuất hiện từ rất lâu và tồn tạikhách quan với sự ra đời của Hiến pháp.Ngay từ khi có Hiến pháp, đạo luật gốc này
đã luôn bị nhiều thế lực chính trị muốn thao túng và vì thế nhu cầu bảo hiến đã xuấthiện.Về mặt lý luận và thực tiễn, quyền lực nhà nước là quyền lực nhân dân màhiến pháp là mặt biểu hiện quan trọng Do tầm quan trọng đó, cần có một hệ thốngpháp luật đủ mạnh, đảm bảo hiệu lực và hiệu quả quy định Cơ chế bảo vệ Hiến phápnhằm mục đích trực tiếp bảo vệ hiến pháp, bảo vệ quyền lực nhân dân đã trao chonhà nước Với mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, hơn lúcnào hết vấn đề xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật về cơ chế bảo vệHiến pháp cần được tiếp tục đặt ra và nghiên cứu một cách nghiêm túc Xác địnhđược tầm quan trọng của hoạt động bảo vệ Hiến pháp là xương sống của địnhhướng xây dựng nhà nước pháp quyền, Đảng đã chú trọng xác định phương hướng
và bước đi cụ thể để xây dựng một hệ thống pháp luật khoa học, hiệu lực, hiệu quả
để có thể lãnh đạo và điều hành mọi mặt đời sống đất nước theo hướng: Tôn trọng,
đề cao pháp luật.
Trang 8Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 2/5/2005 của Bộ chính trị về chiến lược xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2020 đã ghi nhận: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Tại văn kiện trình đại hội 12 năm 2016, Đảng cũng xác định phương hướng:Hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức của Nhà nước theo quy địnhcủa Hiến pháp năm 2013, đáp ứng các đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vàhội nhập quốc tế Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và phápluật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dânchủ Phân định rõ hơn vai trò và hoàn thiện cơ chế giải quyết tốt mối quan hệ giữaNhà nước và thị trường
Lãnh đạo việc đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện hệ thốngpháp luật theo các nguyên tắc được quy định trong Hiến pháp năm 2013 Bảo đảmpháp luật vừa là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, vừa là công cụ để nhân dânkiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước Quản lý đất nước theo pháp luật, đồng thờicoi trọng xây dựng nền tảng đạo đức xã hội
Ở nước ta hiện nay, vấn đề bảo vệ Hiến pháp đã được đặt ra từ lâu với sựtham gia của chuyên gia pháp lý và những nhân sĩ có tâm huyết Tuy nhiên, trên thực tếvẫn chưa xây dựng được những thiết chế cụ thể và rõ ràng mang tính Luật định hoặc caohơn là Hiến định để có cơ chế thực sự hiệu quả bảo vệ Hiến pháp, bảo vệ nhân dân trước
sự vi hiến mà ở đây chủ yếu đến từ các cơ quan nhà nước và người có trách nhiệm và có
cơ chế xử lý các hành vi vi hiến ngày càng có chiều hướng gia tăng
Trang 9Hiến pháp 2013 ra đời với hy vọng sẽ có quy định cụ thể mang tính Hiếnđịnh về cơ chế bảo hiến để từ đó xây dựng hệ thống các quy định pháp luật tạo cơchế cần thiết để xử lý các hành vi vi hiến Tuy nhiên, căn cứ điều Điều 119 Hiếnpháp 2013 một lần nữa sự kỳ vọng về việc có một có một cơ chế bảo hiến hiệu quả
và cụ thể lại chưa được đáp ứng đầy đủ khi không có cơ chế bảo hiến mang tính
Hiến định Điều 119 Hiến pháp 2013 quy định: “1 Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất.Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp.Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý 2 Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa
án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định”.
Từ những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Cơ chế bảo vệ Hiến pháp
bằng pháp luật ở Việt nam hiện nay” làm luận văn Thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật
hành chính
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, vấn đề bảo hiến nói chung đã dần được nghiên cứu sâu,rộng hơn ở nước ta, đặc biệt là thời điểm chuẩn bị cho việc sửa đổi bản Hiến pháp năm
1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) vào năm 2013 Trong lĩnh vực luật học,nghiên cứu về vấn đề bảo hiến, có thể kể tới những công trình tiêu biểu sau đây:
- Nguyễn Văn Bình, “Tổ chức và hoạt động Tòa án Hiến pháp một số nước”,
Tạp chí Thông tin Khoa học pháp lý, số 4/1991;Bài viết của tác giả Tống Công Cường – “Mô hình tổ chức cơ quan bảo vệ hiến pháp các nước”, Tạp chí Nhà nước
và pháp luật, số 10/1999.
Từ khi bản Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001, vấn đềbảo hiến được nghiên cứu mạnh mẽ và đa dạng hơn, phải kể tới như:
- PGS.TS Nguyễn Đăng Dung với hai cuốn sách chuyên khảo: Hiến pháp và
bộ máy nhà nước (2002), Sự hạn chế quyền lực nhà nước (2005); Tập thể tác giả Nguyễn
Đăng Dung, Trương Đắc Linh, Nguyễn Mạnh Hùng, Lưu Đức Quang,
Trang 10Nguyễn Văn Trí (2006): Xây dựng và bảo vệ Hiến pháp - Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam (2006); Sách chuyên khảo Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến, Nxb Lao động - xã hội (2012) Sách chuyên khảo Mô hình tổ chức và hoạt động của Hội đồng Hiến pháp ở một số nước trên thế giới, Ban Biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp (1992), Nxb Chính trị quốc gia (2013) Sách chuyên khảo Các thiết chế hiến định độc lập kinh nghiệm quốc tế và triển vọng ở Việt Nam, Viện chính sách công
và pháp luật, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội (2013).Sách chuyên khảo, Sửa đổi Hiến pháp - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khoa luật - ĐHQG Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội (2011) Tài liệu tham khảo Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về bảo hiến,
Văn phòng Quốc hội, Nxb Thời đại (2009); bài viết của PGS.TS Trương ĐắcLinh:“Cơ chế giám sát Hiến pháp theo các Hiến pháp Việt Nam và vấn đề xây dựng
tài phán ở nước ta hiện nay”, Tạp chí nhà nước và pháp luật số 1-2007….và nhiều
- Nguyễn Mậu Tuân (2011), Bảo hiến trong nhà nước pháp quyền, Khoa
- Tào Thị Quyên (2012), Cơ chế bảo vệ Hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Luận án
tiến sĩ luật học
- Bùi Thanh Cương (2014), Cơ chế bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam, Khoa Luật
- Đại học Quốc gia Hà Nội, luận văn thạc sĩ luật học
- Bùi Hải Đường (2015), Sự lựa chọn mô hình bảo hiến ở Việt Nam, Khoa
Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, luận văn thạc sĩ luật học
Các công trình khoa học nghiên cứu tập trung vào những vấn đề lý luậnchung về bảo hiến, khái niệm, vai trò bảo hiến, cung cấp những nền tảng cơ bản về
mô hình bảo hiến trên thế giới, mô hình bảo hiến hiện tại ở Việt Nam đồng thời chỉ
Trang 11rõ ra những kinh nghiệm Việt Nam có thể tham khảo, cũng như lựa chọn cho mìnhmột mô hình bảo hiến phù hợp với đặc thù quốc gia Những nghiên cứu đã thể hiệnnhững ưu điểm, hạn chế của mô hình bảo hiến Việt Nam hiện tại đồng thời đề xuấtkhắc phục hạn chế nhằm hoàn thiện cơ chế bảo hiến từ đó tạo nền tảng cho việc xâydựng cơ quan bảo hiến chuyên trách ở nước ta.Những nghiên cứu khoa học trên lànguồn tham khảo, vận dụng và học hỏi quan trọng để đề tài luận văn có thể thựchiện hoàn chỉnh Bên cạnh đó, luận văn nghiên cứu những vấn đề liên quan đến lịch
sử bảo hiến ở nước ta, các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn mô hình bảo hiến… đểđóng góp một phần ý nghĩa thực tiễn và lý luận về cơ chế bảo hiến ở nước ta
Vấn đề nghiên cứu pháp luật về bảo vệ hiến pháp ở Việt Nam đã được nhiềunhà khoa học pháp lý xem xét và nghiên cứu trong thời gian dài nhưng tính thời sự
và các vấn đề thực tiễn cần giải quyết vẫn tiếp tục được đặt ra.Hiến pháp 2013 rađời nhưng quy định về bảo hiến còn mờ nhạt, thiếu cụ thể và hiện thực, chưa đápứng sự mong mỏi của những nhà khoa học và nhân dân Với những đòi hỏi của thựctiễn việc tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật bảo vệ Hiến pháp ở nước tatrong Luận văn thạc sĩ vẫn là điều cần thiết Vì thế đề tài này dưới góc độ nghiêncứu khoa học vẫn đảm bảo tính mới, tính cấp thiết của nó
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là: tìm hiểu thực trạng pháp luật về bảo vệ hiến pháptheo tinh thần của bản Hiến pháp năm 2013, trên cơ sở những giá trị kế thừa, thamkhảo từ lịch sử bảo hiến ở Việt Nam và trên thế giới, đề xuất giải pháp hoàn thiệnbảo hiến bằng pháp luật ở Việt Nam trong điều kiện xây dựng nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về bảo hiến như: khái niệm, nhucầu bảo hiến, những mô hình bảo hiến tiêu biểu trên thế giới;
Trang 12- Thiết lập, hệ thống hóa những nội dung lý luận về cơ chế bảo vệ hiến pháp,
cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật: khái niệm, yếu tố cấu thành, một số loại cơ chếbảo vệ hiến pháp; khái niệm, đặc điểm, các yếu tố cấu thành và yêu cầu đối với cơ chếbảo vệ hiến pháp bằng pháp luật;
Hệ thống hóa một số mô hình cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật trênthế giới; Khái quát hóa và phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới sự lựa chọn môhình bảo hiến ở các quốc gia, trong đó tìm hiểu mối liên hệ giữa mô hình hệ thốngpháp luật đối với việc lựa chọn, triển khai cơ chế chế bảo hiến bằng pháp luật ở ViệtNam
- Nghiên cứu mô hình cơ chế bảo hiến bằng pháp luật ở Việt Nam theo cácbản hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992 (2001) và 2013 ở phạm vi quy định, môhình thiết chế và cơ chế bảo hiến; đánh giá về mỗi mô hình bảo hiến theo mỗi bản Hiếnpháp
- Nghiên cứu thực trạng vi hiến ở Việt Nam hiện nay và đánh giá khả năngbảo vệ Hiến pháp của mô hình bảo hiến bằng pháp luật theo Hiến pháp năm 2013, từ đóxây dựng các nguyên tắc, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật để bảo hiến theo tinhthần Hiến pháp năm 2013
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu lý thuyết về cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật ởViệt Nam dưới góc độ mô hình bảo vệ hiến pháp và thực tiễn áp dụng cơ chế bảohiến này hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu lý thuyết về cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật ởViệt Nam gồm: quy định hiến pháp và quy định luật (chủ yếu) về bảo vệ Hiến pháp(thể chế, thiết chế và cơ chế vận hành), trong đó tập trung chủ yếu vào Hiến phápnăm 2013 và các luật có liên quan
Nghiên cứu thực tiễn áp dụng cơ chế bảo hiến bằng pháp luật cũng chủ yếutập trung vào thời gian từ năm 2013 tới nay, theo tinh thần bảo Hiến của Hiến phápnăm 2013 và các văn bản luật (chủ yếu), và văn bản dưới luật khác có liên quan;
Trang 13nhằm xác định những thuận lợi và khó khăn, thách thức trong việc xây dựng môhình bảo hiến, trên cơ sở đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm hoànthiện cơ chế bảo hiến bằng pháp luật ở Việt Nam.
Về thời gian nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu từ năm 2013 trở lạiđây theo tinh thần bảo hiến của bản Hiến pháp năm 2013; những nghiên cứu về cơchế bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật theo các bản Hiến pháp trước đây chủ yếu đểkhảo sát và đảm bảo tính hệ thống của vấn đề nghiên cứu
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.2 Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận khoa học củaChủ nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biệnchứng), tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhànước về xây dựng nhà nước dân chủ, pháp quyền, trong đó Hiến pháp là văn bảnpháp lý có giá trị tối thượng của quốc gia và phải được bảo vệ
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phương phápphân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử và lôgic, phương pháp thống kê, sosánh… để phân tích và làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn đề cập khá toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt độngbảo vệ hiến pháp bằng pháp luật trong bối cảnh Việt Nam đang từng bước nỗ lựcthực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế, xâydựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Với những kết quả mà luận văn đạt được, tác giả hy vọng sẽ là sự kế thừacác công trình nghiên cứu đã có và góp một phần nhỏ vào việc tạo thêm cơ chế hiệuquả để bảo vệ Hiến pháp, ngăn ngừa và xử lý có hiệu quả các hành vi vi hiến
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luậnvăn gồm 2 chương:
Trang 14Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về cơ chế bảo vệ Hiên pháp bằng
pháp luật
Chương 2: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp
bằng pháp luật ở Việt Nam hiện nay.
Trang 15Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾN PHÁP BẰNG PHÁP LUẬT
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾNPHÁP BẰNG PHÁP LUẬT
1.1.1 Hiến pháp và vi phạm Hiến pháp
1.1.1.1 Hiến pháp
Trong hệ thống pháp luật mỗi quốc gia, Hiến pháp là văn bản có hiệu lựcpháp lý cao nhất, là nguồn của các văn bản quy phạm pháp luật, cần phải được tôntrọng và bảo vệ nghiêm chỉnh Nội dung Hiến pháp quy định những vấn đề quantrọng cơ bản như tổ chức quyền lực nhà nước, chế độ chính trị, quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân, chế độ kinh tế, văn hóa, giáo dục…Nội dung những quy địnhcủa Hiến pháp xác định nền tảng pháp lý quan trọng cho sự duy trì quyền lực nhànước, bảo đảm quyền tự do, dân chủ và nghĩa vụ cơ bản của công dân Đồng thờiđây cũng là những cơ sở pháp lý cho việc đánh giá, xem xét tính hợp hiến của cácđạo luật, văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành Hiếnpháp có vai trò quan trọng như vậy, nên việc bảo vệ Hiến pháp khỏi những hành vi
vi hiến là điều tất yếu phải làm Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trong quá trình thực thiHiến pháp luôn luôn xảy ra tình trạng vi phạm Hiến pháp
Tình trạng này không thể xảy ra trong nhà nước pháp quyền, bởi một trongnhững đòi hỏi cơ bản của nhà nước pháp quyền là tính tối cao và bất khả xâm phạmcủa Hiến pháp Muốn xây dựng nhà nước pháp quyền thì bảo vệ Hiến pháp là mộtnhu cầu hàng đầu cần phải được quan tâm
1.1.1.2 Vi phạm Hiến pháp
Là một dạng đặc biệt của vi phạm pháp luật, vi phạm Hiến pháp cũng được xemxét với đầy đủ các yếu tố cấu thành bao gồm: mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể,khách thể Một hành vi được xem là vi phạm Hiến pháp nếu hội tụ đủ các dấu hiệunhư: năng lực chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thể, tính trái Hiến pháp của hành vi,
Trang 16yếu tố lỗi Vi phạm Hiến pháp được thể hiện dưới hai dạng: hành động và khônghành động Trên cơ sở đó, vi phạm Hiến pháp có thể tạm chia thành hai loại: viphạm Hiến pháp một cách chủ động và vi phạm Hiến pháp một cách bị động.
Vi phạm một cách chủ động Đây là hình thức vi phạm khi các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền ban hành một văn bản quy phạm pháp luật thuộc trách nhiệm,quyền hạn của mình đã đặt ra những quy định trái với những quy định của Hiến pháphoặc là trái với tinh thần của Hiến pháp Dạng vi phạm này trong thời gian qua xảy rakhá phổ biến và chủ yếu tập trung ở các các văn bản dưới luật Nguyên nhân phát sinh
ra những vi phạm này chủ yếu xuất phát từ hai lý do:thứ nhất, do các cơ quan (vi phạm)
này hầu hết là các cơ quan thực hiện chức năng quản lý, nên khi đưa ra các quy định đểthực hiện việc quản lý thì luôn đưa ra những quy định tạo nhiều thuận lợi cho côngviệc của mình và vô hình trung, đẩy những bất lợi về phía người dân (đối tượng chịu
sự quản lý) và vì thế mà đồng thời vi phạm các quyền của người dân được Hiến phápquy định Thứ hai là, xuất phát từ lý do thứ nhất, các cơ quan này không cho rằngnhững quy định của mình ban hành ra là vi phạm Hiến pháp và lập luận rằng, nó rất cầnthiết cho việc thực hiện các chức năng, quyền hạn của mình Có thể dẫn chứng hàngloạt các việc thuộc dạng vi phạm này trong thời gian qua Ví dụ như việc quản lý dân
sự bằng hộ khẩu của các cơ quan nhà nước đã
vi phạm các quyền hiến định của công dân, đặc biệt là quyền tự do cư trú Mặc dù đếnthời điểm hiện nay các vấn đề vướng mắc về quyền công dân liên quan đến hộ khẩu đã được
cơ bản giải quyết bằng Luật Cư trú, nhưng vấn đề chúng tôi muốn đặt ra ở đây là có nhữngquy định của các cơ quan nhà nước đã trực tiếp hoặc là gián tiếp vi phạm các quyền hiếnđịnh của công dân Đã có việc các cơ quan nhà nước cứ làm mà không nghĩ đến Hiến pháp(như việc cấm đăng ký xe máy trước đây), việc nhiều bộ ngành làm sai luật, việc ban hànhgiấy phép, điều kiện kinh doanh, hạn chế quyền kinh doanh của người dân… mà không bịmột cơ quan nào phán xét cả
Vi phạm một cách thụ động Dạng vi phạm này thực chất là rất khó nhận
thấy ở dạng vi phạm này thì các cơ quan nhà nước có nghĩa vụ đã không ban hànhnhững văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hóa việc thực hiện các quy định của
Trang 17Hiến pháp hoặc không ban hành những văn bản quy phạm pháp luật mà theo quyđịnh là phải ban hành Ví dụ, tại điều 70 Hiến pháp 1992 hay điều 25 Hiến pháp
2013 thì công dân có quyền tự do biểu tình theo quy định của pháp luật Phân tíchđiều luật này chúng ta sẽ thấy là công dân có quyền tự do biểu tình và muốn biểutình thì phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật và muốn người dân tuân thủcác quy định của pháp luật thì phải có pháp luật để người dân tuân theo Nhưngthực tế, đến thời điểm hiện nay chúng ta chưa có bất kỳ văn bản nào quy định chitiết về việc tự do biểu tình của người dân Do đó, quyền biểu tình của người dânkhông thể thực hiện được trên thực tế Như vậy, chúng ta thấy là khi các cơ quannhà nước có trách nhiệm đã không ban hành một văn bản quy phạm pháp luật thìcũng đồng nghĩa với việc vi phạm Hiến pháp
Hoặc, theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp 1992 hoặc điều 7 Hiến pháp 2013 thì
cử tri có quyền bãi nhiệm đại biểu Quốc hội hoặc đại biểu Hội đồng nhân dân khi đạibiểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân Nhưng nếu chỉ căn cứvào quy định trên thì cử tri không thể thực hiện được quyền bãi nhiệm các đại biểu dân
cử của mình, mà nhất thiết phải có một văn bản quy phạm pháp luật quy định một cách
cụ thể và chi tiết hơn Và đến thời điểm hiện nay, các cơ quan nhà nước có thẩm quyềnvẫn chưa ban hành bất kỳ văn bản nào quy định về vấn đề này
Ngoài ra, hình thức vi phạm này cũng có thể bắt gặp khi đối chiếu một quyđịnh của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 với thực tế Đó là
quy định tại khoản 2 Điều 7: “Văn bản quy định chi tiết thi hành phải được soạn thảo cùng với dự án luật, pháp lệnh để trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời ban hành khi luật, pháp lệnh có hiệu lực” cho đến khoản 2 điều 11 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 cũng quy định “Dự thảo văn bản quy định chi tiết phải được chuẩn bị và trình đồng thời với dự án luật, pháp lệnh và phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết” Nhưng trong thời gian qua, thực trạng luật chờ nghị định vẫn diễn ra một cách phổ biến trong công tác lập pháp của các cơ quan
nhà nước ở nước ta
Trang 18Như vậy, có thể thấy rằng, bất luận là hành động hay không hành động, thì viphạm Hiến pháp cũng để lại những hậu quả hết sức nghiêm trọng, khó mà khắcphục được.
1.1.2 Bảo hiến và các mô hình bảo hiến trên thế giới
1.1.2.1 Bảo hiến
Hiện nay, xung quanh khái niệm bảo hiến có nhiều quan điểm khác nhau Cóngười cho rằng bảo hiến (bảo vệ Hiến pháp) là tổng hợp các biện pháp giữ gìn,chống lại sự vi phạm các nguyên tắc và quy phạm của Hiến pháp Bảo hiến ở đâyđược hiểu theo nghĩa rộng, trong trường hợp này bảo hiến đã được đồng nhất vớibảo đảm Hiến pháp Quan điểm khác lại cho rằng, bảo hiến là hoạt động của chủ thể
có thẩm quyền ra phán quyết về tính hợp hiến hoặc bất hợp hiến của văn bản phápluật, qua đó làm phát sinh hệ quả pháp lý vô hiệu hóa văn bản pháp luật vi hiến Rõràng quan điểm thứ hai này có xu hướng thu hẹp nội hàm của khái niệm bảo hiến.Trong khi đó, hoạt động bảo hiến không chỉ có mỗi việc xem xét và đánh giá tínhhợp hiến hay vi hiến của các văn bản quy phạm pháp luật Do đó, cần phải hiểu bảohiến theo nghĩa rộng nhất Bởi lẽ, toàn bộ hoạt động của hệ thống nhà nước, của xãhội và các hành vi pháp lý tích cực của công dân, đặc biệt là hệ thống thanh tra,giám sát và xét xử, suy cho cùng đều có khả năng và mục tiêu bảo vệ Hiến pháp.Lịch sử bảo hiến thế giới ghi nhận sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hợp hiến phươngTây, đặc biệt là chủ nghĩa hợp hiến phương Tây tự do, đối với sự hình thành nền tàiphán Hiến pháp tại Châu Âu, Mỹ nói riêng và trên toàn thế giới nói chung Bản chấtcủa chủ nghĩa hợp hiến là sự giới hạn pháp lý đối với quyền lực nhà nước, nênthông qua đó, người ta có thể tìm được những biện pháp nhằm thực hiện sự giớihạn đối với quyền lực nhà nước
Lịch sử tài phán Hiến pháp thế giới có thể chia làm 4 giai đoạn, trong đó, giaiđoạn I bắt đầu từ trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, giai đoạn II tiếp nối từ sauchiến tranh thế giới thứ nhất đến trước chiến tranh thế giới II, giai đoạn thứ ba kéodài từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến những năm 70 của thế kỷ 20, giai
Trang 19đoạn thứ tư- giai đoạn phát triển của nền tài phán Hiến pháp hiện đại trên toàn thếgiới Có thể nói, mỗi giai đoạn đều có những đặc thù riêng về điều kiện chính trị,pháp lý và đều ghi dấu ấn khác nhau đối với sự phát triển của nền tài phán Hiếnpháp thế giới.
Như vậy, có thể thấy rằng: bảo vệ Hiến pháp là tổng hợp các hoạt động được tiến hành bởi các chủ thể mà hiến pháp xác định thẩm quyền nhằm bảo đảm
sự tôn trọng, giữ gìn hiến pháp, ngăn ngừa, chống lại và triệt tiêu hành vi vi hiến.
Nội hàm của khái niệm “bảo vệ Hiến pháp” ở đây chỉ bao hàm những hoạtđộng do những chủ thể mà Hiến pháp đã quy định thẩm quyền (hiến pháp xác địnhnhiệm vụ và quyền hạn nhất định liên quan trực tiếp đến việc bảo đảm sự tôn trọng,giữ gìn Hiến pháp, chống lại và triệt tiêu hành vi vi hiến) tiến hành Bởi lẽ, Hiếnpháp là văn bản chính trị - pháp lý do nhân dân thiết lập, thể hiện chủ quyền và ý chícủa nhân dân; do đó, việc nhân dân giao cho ai chịu trách nhiệm bảo vệ hiến phápcũng phải được thể hiện trong hiến pháp Chính nhân dân xác định nhiệm vụ vàquyền hạn của chủ thể tiến hành hoạt động bảo vệ hiến pháp bằng các quy định củaHiến pháp Cách hiểu này sẽ loại trừ những chủ thể trong xã hội có tham gia thựchiện các hoạt động nhằm bảo vệ hiến pháp nhưng sự tham gia đó không xuất phát
từ thẩm quyền hiến định mà chỉ là thẩm quyền mang tính phái sinh từ hiến pháp vàđược quy định bởi văn bản quy phạm pháp luật khác
1.1.2.2 Các mô hình bảo hiến trên thế giới
Mỗi nhà nước xuất phát từ điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội cụ thể củamình mà xây dựng mô hình, hay cơ chế bảo vệ Hiến pháp phù hợp Ở bình diệnchung nhất, có thể khái quát thành 3 mô hình cơ bản:
Thứ nhất là mô hình bảo hiến theo kiểu Mỹ (American Model), có đặc điểm
là giao cho Toà án Tư pháp xem xét tính hợp hiến của các đạo luật Mô hình nàythông qua việc giải quyết các vụ việc cụ thể, dựa vào các đơn kiện của đương sự,các sự kiện pháp lý cụ thể mà bảo vệ Hiến pháp Mô hình này có ưu điểm là bảohiến không trừu tượng vì nó liên quan trực tiếp đến những vụ việc cụ thể nên bảo vệ
Trang 20Hiến pháp một cách cụ thể Mô hình này cũng có nhược điểm, giao quyền bảo hiếncho Toà án Tư pháp thì thủ tục tố tụng rất dài dòng Hơn nữa, phán quyết chỉ cótính ràng buộc đối với các bên tham gia tố tụng, tranh tụng vụ việc cụ thể đó, chỉbảo vệ Hiến pháp từng vụ việc cụ thể Mô hình của Mỹ, sở dĩ giao cho Toà án Tưpháp là xuất phát từ hệ thống pháp luật của các nước theo hệ thống Anh – Mỹ(Common Law), chủ yếu là án lệ Án lệ được xem là pháp luật để xét xử.
Thứ hai là mô hình bảo vệ Hiến pháp của các nước châu Âu (European
Model) Đây là kiểu thành lập cơ quan chuyên trách để thực hiện bảo vệ Hiến pháp
Mô hình này có cái hay là kết hợp được việc giải quyết các vụ việc cụ thể, đồngthời giải quyết cả những việc có tác dụng chung cho cả xã hội thông qua đề nghị củanhững người, cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước Ví dụ như Tổngthống có thể đề nghị sửa đổi, bãi bỏ một văn bản nào đó của Nghị viện trái với Hiếnpháp Nó giải quyết cả ở tầm vĩ mô và cả những vụ việc cụ thể liên quan đến quyền
cơ bản của người dân được yêu cầu phán xét
Thứ ba là mô hình bảo hiến hỗn hợp kiểu Âu – Mỹ (The Mixed Model).
Tức là kết hợp các yếu tố của cả 2 mô hình trên, gọi là mô hình bảo hiến của châu
Âu và Mỹ, vừa trao cho cơ quan bảo hiến chuyên trách như Toà án Hiến pháp, vừatrao quyền bảo hiến cho tất cả các toà án khi giải quyết các vụ việc cụ thể có quyềnxem xét tính hợp hiến của các đạo luật và được quyền không áp dụng các đạo luậtđược coi là không phù hợp với Hiến pháp Mô hình này được áp dụng ở Bồ ĐàoNha, Thuỵ Sỹ, và một số nước châu Mỹ Latin như Columbia, Venezuela, Peru,Braxin Ngoài ra cũng có mô hình giám sát thông qua các cơ quan như Nghị viện,Hội đồng nhà nước hoặc cơ quan đặc biệt nào đó của Nghị viện đảm đương luônchức năng bảo vệ Hiến pháp
Ngoài các mô hình cơ chế bảo vệ Hiến pháp kể trên còn có mô hình giám sáttính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật kiểu Pháp (The French Model) Theo mô hình này việc giám sát tính hợp hiến chỉ được tiến hành đối với các vănbản được phê chuẩn bởi Hạ viện nhưng chưa được ban hành bởi Tổng thống Môhình kiểu Pháp cho phép việc giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp
Trang 21luật được tiến hành ngay trước khi văn bản được ban hành do đó hạn chế đáng kể
số văn bản vi hiến, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật nhưng điểm yếucủa nó là tạo điều kiện cho cơ quan bảo hiến (Hội đồng Hiến pháp) can thiệp quánhiều vào quá trình lập pháp của Nghị viện
Lý thuyết về bảo hiến thường chia các mô hình bảo hiến bằng cơ quan tưpháp thành hai mô hình cơ bản: mô hình bảo hiến phi tập trung hoá với đại diện tiêubiểu là Mỹ và mô hình bảo hiến tập trung hoá với đại diện tiêu biểu là Đức Mô hìnhbảo hiến kiểu Mỹ được thiết lập đầu tiên tại Mỹ (năm 1803) và được xem là môhình bảo hiến phi tập trung bởi quyền giám sát tính hợp hiến của các đạo luật thuộc
về tất cả các toà án Hầu hết các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ đều ápdụng mô hình này Ngoài ra mô hình bảo hiến kiểu Mỹ còn được áp dụng ở một sốnước theo truyền thống Luật La Mã ở châu Mỹ Latin và ở một số nước châu Âunhư Hy Lạp, Na Uy, Đan Mạch…
Mô hình bảo hiến kiểu châu Âu được thiết lập đầu tiên ở Áo (năm 1920) vàđược áp dụng ở hầu hết các nước châu Âu và một số nước châu Mỹ Latin, châu Á,châu Phi… Mô hình này được gọi là mô hình bảo hiến tập trung hoá bởi chỉ có một
cơ quan chuyên trách được giao quyền giám sát, bảo vệ Hiến pháp
Ở các nước Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Cuba nhiệm vụ bảo vệ hiến phápđược giao cho nhiều cơ quan đảm nhiệm, mà trách nhiệm cao nhất thuộc về Quốc hội,các cơ quan của Quốc hội, Tòa án, Viện kiểm sát (Điều 62 Hiến pháp nước Cộng hòanhân dân Trung Hoa quy định: “Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc thực hiện các chứcnăng, quyền hạn sau đây: (1) Sửa đổi Hiến pháp; (2) Giám sát thực thi Hiến pháp ”;Điều 67 Hiến pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định: “Ủy ban Thường vụĐại hội đại biểu nhân dân toàn quốc có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: “(1) Giảithích Hiến pháp, giám sát thực thi Hiến pháp ”)
Sở dĩ các nước trên thế giới sử dụng các mô hình bảo hiến khác nhau, vì theohọc thuyết Mác-Lênin về các hình thái kinh tế - xã hội: mỗi hình thái kinh tế - xãhội tương ứng với chế độ kinh tế của nó, có một kiểu nhà nước, hiến pháp, pháp luật nhất định
Trang 221.2 NHU CẦU KHÁCH QUAN CỦA CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾN PHÁPBẰNG PHÁP LUẬT
1.2.1 Khái niệm và các yếu tố cấu thành cơ chế bảo vệ hiến pháp
1.2.1.1 Khái niệm cơ chế bảo vệ hiến pháp
Theo nghĩa rộng, cơ chế bảo vệ Hiến pháp là toàn bộ những yếu tố, phươngtiện, phương cách và biện pháp nhằm bảo đảm cho hiến pháp được tôn trọng,chống lại mọi sự vi phạm Hiến pháp có thể xảy ra
Với nghĩa hẹp, cơ chế bảo vệ Hiến pháp là một thiết chế được tổ chức vàhoạt động theo những nguyên tắc và quy định của pháp luật, để thực hiện các biệnpháp nhằm bảo đảm cho Hiến pháp được tôn trọng, chống lại mọi sự vi phạm cóthể xảy ra
Có thể định nghĩa rằng, cơ chế bảo vệ Hiến pháp là một tổng thể các yếu tố
có quan hệ mật thiết, tương tác lẫn nhau, hình thành một hệ thống và phương thức vận hành của hệ thống đó để tiến hành hoạt động bảo vệ Hiến pháp, nhằm bảo đảm
sự tôn trọng, giữ gìn Hiến pháp, ngăn ngừa và chống lại mọi hành vi vi phạm hiến pháp.[14]
1.2.1.2 Các yếu tố cấu thành cơ chế bảo vệ hiến pháp
Cơ chế bảo vệ Hiến pháp bao gồm các yếu tố: thể chế, thiết chế và phương
thức vận hành của cơ chế bảo vệ Hiến pháp
Thể chế bảo vệ hiến pháp: thể chế bảo vệ Hiến pháp là các nguyên tắc, quy
phạm được sắp xếp một cách logic, hợp thành một hệ thống thống nhất, định hướng
và điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động bảo vệ Hiến pháp
Thiết chế bảo vệ Hiến pháp: thiết chế bảo vệ Hiến pháp được hiểu là các cơ
quan nhà nước, cá nhân được Hiến pháp quy định nhiệm vụ và quyền hạn tiến hànhcác hoạt động bảo vệ Hiến pháp Việc tổ chức các thiết chế bảo vệ hiến pháp phụthuộc vào hoàn cảnh lịch sử, đặc điểm chế độ chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội vàtruyền thống pháp lý của mỗi nước Thiết chế bảo vệ Hiến pháp là yếu tố trung tâm,
là phần “động cơ” của toàn bộ cơ chế “Động cơ” đó bao gồm những bộ phận nào,quyền năng, sức mạnh hay “công năng” của mỗi bộ phận ra sao sẽ giữ vai trò quyếtđịnh hiệu quả của hoạt động bảo vệ Hiến pháp
Trang 23Phương thức vận hành của cơ chế bảo vệ Hiến pháp: để thiết chế bảo vệ
Hiến pháp hoạt động và thể chế bảo vệ Hiến pháp được thực thi, phải có phươngthức vận hành Phương thức vận hành cơ chế bảo vệ Hiến pháp tồn tại song songvới thiết chế và thể chế bảo vệ Hiến pháp Trong cơ chế bảo vệ Hiến pháp, thể chế
và thiết chế là những yếu tố thuộc diện cấu trúc, còn nguyên tắc và phương thứchoạt động thể hiện mối quan hệ và quy trình vận hành Như vậy, phương thức vậnhành là phương pháp, hình thức, biện pháp thực hiện hoạt động bảo vệ hiến phápcủa thiết chế được giao thẩm quyền bảo vệ Hiến pháp
Mối quan hệ giữa các yếu tố của cơ chế bảo vệ Hiến pháp: thể chế bảo vệ
Hiến pháp là yếu tố thiết lập nên toàn bộ cơ chế bảo vệ Hiến pháp, nó có ý nghĩanhư là việc “khai sinh” và “đặt tên” cho cơ chế, xác định mục đích, nhiệm vụ của
cơ chế bảo vệ Hiến pháp, trao thẩm quyền cho thiết chế bảo vệ Hiến pháp Thiết chếbảo vệ Hiến pháp là “cỗ máy” hiện hữu của cơ chế
Thiết chế - với ý nghĩa là một yếu tố của cơ chế bảo vệ Hiến pháp tồn tạitrong thực tế được cấu trúc bởi các bộ phận của nó Khi xem xét thiết chế bảo vệHiến pháp, người ta xem thiết chế bảo vệ Hiến pháp thuộc thể loại nào, bao gồmcác bộ phận gì; tính chất của từng bộ phận; vị trí, chức năng của từng bộ phận cóbảo đảm thực hiện được các thẩm quyền mà thể chế trao cho thiết chế bảo vệ hiếnpháp hay không Như vậy, thể chế bảo vệ Hiến pháp quyết định “hình hài”, “cấutrúc”, “quy mô” của thiết chế bảo vệ Hiến pháp Ngược lại, việc các bộ phận củathiết chế bảo vệ Hiến pháp hoạt động trong thực tế ra sao sẽ thể hiện tính đúng đắn,
sự phù hợp, tính khả thi của thể chế bảo vệ Hiến pháp (nói cách khác là thể hiệnhiệu lực của các nguyên tắc và quy phạm về bảo vệ Hiến pháp)
Nguyên tắc và phương thức vận hành của cơ chế bảo vệ Hiến pháp là yếu tốquan trọng, không thể thiếu của cơ chế bảo vệ Hiến pháp Việc các chủ thể thựchiện các nguyên tắc, phương pháp, hình thức theo những thủ tục, quy trình trong cơchế bảo vệ Hiến pháp giúp cho “cỗ máy” thiết chế bảo vệ Hiến pháp chuyển từtrạng thái “tĩnh” sang trạng thái “động” Chính thiết chế bảo vệ Hiến pháp là chủ thểvận hành, thực hiện các nguyên tắc, phương thức bảo vệ Hiến pháp trên cơ sở pháp
Trang 24lý là thể chế bảo vệ hiến pháp Bằng các phương pháp, hình thức, quy trình, thủ tục
mà các thiết chế tiến hành các hoạt động bảo vệ hiến pháp, nguyên tắc và phươngthức vận hành tạo nên “trạng thái hoạt động” của cơ chế bảo vệ Hiến pháp Nếu cơ
sở pháp lý cho hoạt động của thiết chế bảo vệ hiến pháp cụ thể, rõ ràng, khoa học,đồng bộ và khả thi, cấu trúc của thiết chế bảo vệ Hiến pháp phù hợp, các bộ phậncấu thành của nó có đủ năng lực, các nguyên tắc, hình thức, phương pháp, thủ tụchợp lý, công khai, rõ ràng, minh bạch thì sẽ bảo đảm tính liên thông, kịp thời vàhiệu quả của toàn bộ cơ chế bảo vệ Hiến pháp
Tóm lại, cơ chế bảo vệ Hiến pháp hoạt động dựa trên sự tương tác giữa cácyếu tố của cơ chế, sự ảnh hưởng và quy định lẫn nhau giữa các yếu tố của cơ chếbảo vệ Hiến pháp Thiếu bất cứ yếu tố nào thì cơ chế bảo vệ Hiến pháp cũng khôngthể hoạt động được Bất cứ khiếm khuyết nào của mỗi yếu tố hay sự không phùhợp, không tương thích giữa các yếu tố cấu thành cơ chế bảo vệ Hiến pháp đều ảnhhưởng đến mức độ hiệu quả và chất lượng của mục tiêu bảo vệ Hiến pháp
1.2.2 Cơ chế nhà nước, cơ chế xã hội và cơ chế chính trị bảo vệ Hiến pháp
1.2.2.1 Cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp
Xét trên khía cạnh lịch sử, bản thân Hiến pháp cũng chứa trong nó nội dung
về tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo vệ quyền con người và quyềncông dân Do vậy, Hiến pháp các nước thường xác lập luôn trong nội dung Hiếnpháp về vị trí, vai trò, các chủ thể của Nhà nước và cơ chế vận hành giữa các chủthể ấy, hay còn gọi là cơ chế bảo vệ Hiến pháp
Trong tổ chức bộ máy nhà nước có những cơ quan nhà nước khác nhau thựchiện nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp tạo thành hệ thống nhà nước bảo vệ Hiến pháp.Như vậy, ở một mức độ nào đó, Hiến pháp đã được bảo vệ ở cấp độ nhà nước, cáctranh chấp, vi phạm Hiến pháp quan trọng và phổ biến mà các thiết chế bảo hiếnchuyên trách các nước vẫn giải quyết như: luật, các văn bản quy phạm pháp luậtkhác, quyền lập hội, quyền bầu cử… đều được giải quyết trong hệ thống này Hệthống này được gọi là cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp
Trang 25Về mặt lý luận, trong cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp, có thể nhận thấyhai mô hình sau:
Thứ nhất, Trong mô hình bảo hiến phi tập trung, thẩm quyền thẩm tra tính
hợp hiến không được trao cho một cơ quan nhà nước cụ thể, mà được trao cho tất
cả các thẩm phán và tòa án (Hoa Kỳ, Anh, Nhật Bản ) Cơ chế bảo vệ hiến phápcủa Hoa Kỳ là điển hình của mô hình bảo vệ hiến pháp phi tập trung Sự phân chiaquyền lực trong Hiến pháp Hoa Kỳ được thiết lập trên cơ sở phân chia ba nhánhquyền lực nền tảng và chế độ đối trọng (check and balance) để thực hiện cơ chếkiểm soát giữa ba nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp Học thuyếtkiểm soát hiến pháp được hình thành ở Hoa Kỳ từ vụ án nổi tiếng Mabury Madisonnăm 1803 được xét xử bởi Chánh án John Marshall và theo ông thẩm quyền bảo vệhiến pháp cần được thiết lập và trao cho các thẩm phán và tòa án
Thứ hai, mô hình bảo vệ hiến pháp tập trung: Trong mô hình bảo hiến tập
trung, thẩm quyền kiểm tra tính hợp hiến chỉ được trao cho một cơ quan nhà nước
cụ thể Đó có thể là tòa án hiến pháp, hội đồng hiến pháp hoặc một thiết chế chuyêntrách khác được quy định trong Hiến pháp Các nước Đức, Áo, Tây Ban Nha, BồĐào Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, thành lập Tòa án Hiến pháp; các nước Pháp, An-giê-ri, Li-băng thành lập Hội đồng Hiến pháp Cơ chế bảo vệ hiến pháp của Cộng hòa Pháp
là điển hình của mô hình bảo vệ hiến pháp tập trung Hội đồng Hiến pháp (Conseilconstitutionel) độc lập với nghị viện và đưa ra các quyết định có tính ràng buộc đốivới các cơ quan và tòa án
1.2.2.2 Cơ chế xã hội bảo vệ Hiến pháp
Song song tồn tại cùng cơ chế bảo hiến mang tính chất nhà nước trên là cơ chếbảo vệ Hiến pháp có tính chất xã hội với chủ thể thực hiện là các cơ quan, tổ chứcĐảng, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội khác, công dân Tuy không mangtính quyền lực nhà nước khi tham gia vào hoạt động bảo vệ Hiến pháp, nhưng với tầmảnh hưởng sâu rộng, các chủ thể này vẫn thực hiện khá tốt vai trò bảo hiến của mình.Kết luận trên dựa trên cơ sở các hoạt động giải thích Hiến pháp, tham gia tổ chức thựchiện các quy định của Hiến pháp cũng như việc giáo dục ý thức các
Trang 26thành viên tổ chức mình và quần chúng nhân dân thuộc mọi giai tầng trong xã hội,đồng thời tích cực tham gia vào việc góp ý, xây dựng pháp luật, giám sát việc thựcthi Hiến pháp do các chủ thể nêu trên thực hiện một cách đầy đủ và rộng rãi, khiếncho hoạt động bảo hiến thực sự được tuyên truyền đến người dân, cộng đồng và lantruyền ra toàn thể xã hội Với những kết quả hoạt động như vậy, có thể đánh giákhách quan rằng, cơ chế bảo hiến mang tính chất xã hội đã ít nhiều chứng tỏ đượctầm vóc và sức ảnh hưởng to lớn của mình trong việc thực thi sứ mệnh “bảo vệHiến pháp” Trong khuôn khổ đề tài này, luận văn tập trung nghiên cứu hệ thốngpháp luật (nói chung) với tư cách là một cơ chế (cũng là một thành tố bất biến củabất cứ cơ chế bảo hiến chính thức nào) bảo vệ Hiến pháp, trong đó bao gồm cả cơchế xã hội bảo vệ Hiến pháp khi cơ chế này được Hiến pháp, luật ghi nhận.
1.2.2.3 Cơ chế chính trị bảo vệ Hiến pháp
Về mặt lý luận, theo học thuyết Mác – Lênin, chính trị phản ánh mối quan hệgiữa các nhóm xã hội nói chung; mà tập trung nhất là hình thái giai cấp trong xã hội
về việc giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước Giai cấp nào giành được quyềnlực nhà nước – một loại quyền lực chính trị đặc biệt, giai cấp đó có nhiều thuận lợi
để thực hiện các mục tiêu chính trị của mình Để cân bằng được mối quan hệ giữachính trị và tổ chức bộ máy nhà nước, Hiến pháp các nước phải quy định (ở nhữngmức độ và hình thức không giống nhau) về chế độ chính trị, các quyền về chính trịcủa công dân, quy định về các đảng phái chính trị,… để làm sao vừa đảm bảo dânchủ, vừa giữ được trật tự chính trị và trật tự nhà nước, xã hội Đó cũng là cách mà
cơ chế chính trị bảo vệ Hiến pháp
Xét trường hợp cơ chế chính trị bảo vệ Hiến pháp ở Mỹ: Nước Mỹ có nhiều
đảng phái chính trị (ĐPCT) khác nhau, trong đó có cả đảng cộng sản và một số đảng
xã hội, nhưng từ trước đến nay, chỉ có hai đảng lớn là Dân chủ và Cộng hoà Hai
đảng này luôn chiếm ưu thế ở mọi cấp độ chính quyền và luôn khống chế nền chínhtrị Mỹ Hệ thống lưỡng đảng đã bắt rễ sâu trong nền chính trị Mỹ và cho dù có đảngthứ ba xuất hiện trong các cuộc bầu cử Tổng thống, thì đảng thứ ba cũng chưa baogiờ giành được chiến thắng Các đảng thiểu số đôi khi cũng giành được
Trang 27một số chức vụ trong chính quyền cấp dưới, nhưng hầu như không có vai trò gìquan trọng trong nền chính trị Mỹ Cuộc ganh đua giữa hai đảng Dân chủ và Cộnghoà là một trong những đặc điểm nổi bật và lâu đời nhất của nền chính trị Mỹ kể từnhững năm1860, phản ánh những đặc trưng về mặt cơ cấu của hệ thống chính trị
Mỹ và sự khác biệt về mặt đảng phái của Mỹ so với các nước khác
Cho dù ĐPCT ở Mỹ có vai trò hạn chế so với nhiều nước khác, nó vẫn lànhân tố quan trọng trong đời sống chính trị Mỹ, từ động viên quần chúng tham giacác sinh hoạt chính trị đến chi phối phần nào đường lối chính sách của Nhà nước,
từ bầu cử đến chi phối nhất định về mặt tổ chức, hoạt động của các cơ quan nhànước, đặc biệt là cơ quan lập pháp
Trong lĩnh vực bầu cử, trước hết ĐPCT cung cấp ứng cử viên cho các cuộc bầu
cử và giúp cho cử tri sự lựa chọn Các đảng tổ chức luân phiên các chương trình nhằmbầu ra ứng cử viên để giúp các cử tri không phải đối mặt với sự lựa chọn giữa rất nhiều
cá nhân mà người nào cũng đảm bảo đưa ra một chương trình tốt nhất Đa số các cử tri
Mỹ là những người không đặc biệt chú ý đến chính trị Chính vì vậy, các đảng đóngvai trò như những tổ chức trung gian trong quá trình bầu cử, bằng cách điều hành đằngsau những vấn đề lớn và sàng lọc các ứng cử viên Bên cạnh đó, các tổ chức đảng cũngkhuyến khích người dân tham gia các chiến dịch vận động tranh cử, đóng góp tiền, haythậm chí cả việc chạy đua vào các chức vụ trong bộ máy nhà nước Nhưng trên thực
tế, rất ít ứng cử viên độc lập được bầu vào các chức vụ cao trong chính quyền, bởi hầuhết những người giành được vị trí của mình
– nhất là các chức vụ đứng đầu chính quyền – đều phải sử dụng bộ máy của đảngtranh cử Ngay cả Jimmy Carter – một người không đảng phái, đã giành được sựchỉ định vào năm 1976 bằng cách đánh bại các lực lượng có tổ chức bên trong đảngDân chủ trong các cuộc bầu cử ứng viên của đảng – cũng chỉ giành được thắng lợikhi ông mang “nhãn mác” của đảng Dân chủ trong cuộc tổng tuyển cử Và trongmột chừng mực nào đó, có thể nói các ĐPCT ở Mỹ đóng vai trò như các tổ chứcquản lý nhân sự, giới thiệu người của mình tham gia các cuộc hành cử và tiến cửngười của mình vào các vị trí trong chính quyền Thông qua vận động tranh cử, cácđảng này còn đóng vai trò xã hội hoá các vấn đề chính trị nữa
Trang 28Trong bộ máy lập pháp, ở cả hai viện của Quốc hội, cơ cấu tổ chức, thủ tụcthông qua các điều luật đều được thực hiện trên cơ sở phân chia về mặt đảng phái Bêncạnh đó, các đảng cũng tạo ra một sự liên kết quan trọng giữa bộ máy hành pháp và lậppháp khi các Tổng thống kêu gọi sự hợp tác của các nhà lãnh đạo đảng của họ tại Quốchội Trong trường hợp đó, các bộ phận của đảng đã tạo nên một chiếc cầu nối liền “tamquyền phân lập” với mục tiêu chung là giành lợi thế về chính trị, chẳng hạn như giànhquyền kiểm soát Nhà Trắng hay Quốc hội Do đó, các đảng đối lập luôn cố gắng chứngminh rằng họ có đủ phẩm chất hơn Chính phủ đương nhiệm trong việc điều hành đấtnước và sẵn sàng gánh vác trách nhiệm ngay khi nào cử tri trao cho họ cơ hội vàthường xuyên chỉ trích chính sách của đảng khác, nhằm nâng cao uy tín của đảng
mình, nhất là trong các kỳ bầu cử Như vậy, các đảng luôn đưa ra các sự lựa chọn
khác nhau và vô hình chung trở thành công cụ sắp xếp nên sự chuyển giao quyền lực nhìn chung thường diễn ra một cách trật tự.
Trong hoạt động lập pháp của Quốc hội, các ĐPCT đóng vai trò quan trọng
Tổ chức và chương trình hành động của các ủy ban trong Quốc hội chịu sự tác độngkhông nhỏ của các ĐPCT Việc phân chia tỷ lệ thành viên trong các uỷ ban và tiểuban của Quốc hội tương ứng với số ghế của đảng đó trong Quốc hội đã hàm chứatính đảng phái trong các hoạt động của uỷ ban và tiểu ban Đảng chiếm đa số trongQuốc hội được quyền chỉ định 2/3 số nhân viên trong các ủy ban và tiểu ban củaQuốc hội Tỷ lệ này làm cho việc thông qua những dự luật phù hợp với chươngtrình hành động của đảng đang nắm đa số tại Quốc hội sẽ dễ dàng hơn Trong nhữngvấn đề mà hai đảng Cộng hoà và Dân chủ có bất đồng, việc bỏ phiếu theo đảng pháiđược thể hiện rất rõ Các nghị sỹ Cộng hoà và Dân chủ cũng thường bị phân liệttrong những vấn đề đang chia rẽ hai bên ở bên ngoài nghị trường Ví dụ trong nhiềunăm, phần lớn các nghị sỹ thuộc đảng Dân chủ tại Hạ viện đã ủng hộ việc Chínhphủ can thiệp vào các hoạt động của nền kinh tế và tăng phúc lợi xã hội, trong khicác nghị sỹ Cộng hoà lại phản đối
Qua khảo sát có thể thấy rằng, cơ chế chính trị bảo vệ hiến pháp không đượcquy định bằng pháp luật như cơ chế nhà nước, mà thường được biểu hiện ở dạng
Trang 29văn hóa, truyền thống chính trị, ở đó diễn ra sự đấu tranh và thỏa hiệp chính trị (vậnđộng bầu cử, vận động hành lang, thương lượng), điều này được thực hiện trongkhuôn khổ Hiến pháp và cũng là cách để đảm bảo sự trật tự trong đời sống chính trị,
tổ chức quyền lực nhà nước, góp phần duy trì sự ổn định, phát triển của xã hội Đó
là biểu hiện và là tác dụng của cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng chính trị
1.2.3 Những dạng thức vi phạm Hiến pháp ở nước ta thời gian qua
Theo số liệu được công bố trên trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp, từnăm 2003 đến hết tháng 3/2013, trên tổng số các văn bản đã tiếp nhận, các bộ,ngành (bao gồm cả Bộ Tư pháp) và địa phương đã kiểm tra được 2.353.490 vănbản; trong đó, các bộ, ngành kiểm tra được 43.262 văn bản Qua công tác kiểm travăn bản theo thẩm quyền do Bộ Tư pháp tiến hành, toàn ngành đã phát hiện được63.277 văn bản có dấu hiệu vi phạm các điều kiện về tính hợp pháp của văn bản,chiếm 62,3% số văn bản đã kiểm tra Số văn bản vi phạm các điều kiện về tính hợppháp của văn bản chiếm 20,8% tổng số văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) đãkiểm tra, còn lại là các văn bản QPPL có dấu hiệu vi phạm về căn cứ pháp lý; thẩmquyền ban hành; trình tự, thủ tục ban hành; thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản.Báo cáo của Bộ Tư pháp cho thấy trong năm 2014, số lượng văn bản quy phạmpháp luật có dấu hiệu trái pháp luật vẫn gia tăng
Trong 10 tháng đầu năm 2014, các Bộ, cơ quan, địa phương đã kiểm tra vàphát hiện 9.017 văn bản có dấu hiệu vi phạm các điều kiện về tính hợp hiến, hợppháp của văn bản (chiếm tỷ lệ 22%) Trong số đó có hơn 1.500 văn bản QPPL códấu hiệu vi phạm về thẩm quyền ban hành, nội dung văn bản
Năm 2014, Bộ Tư pháp cũng đã phát hiện 885 văn bản có dấu hiệu vi phạmcác điều kiện về tính hợp hiến, hợp pháp Tình trạng trên cho thấy sự hạn chế vềchất lượng trong xây dựng và ban hành văn bản QPPL của các cơ quan hành chínhnhà nước thời gian qua và bê cạnh đó sự không chấp hành hoặc chấp hành chưađúng hiến pháp, luật còn thể hiện ở tất cả các nhánh quyền lực ở các dạng khác nhaukhông chỉ dưới góc độ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật vi hiến hoặckhông đúng quy định của luật Sự vi hiến còn ở những hành động không tuân thủhiến pháp hoặc không hành động theo yêu cầu của Hiến pháp
Trang 30Vi hiến trong hoạt động lập pháp
Theo Hiến pháp 2013, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân,
cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đềquan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước (Điều69) Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn:
- Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật;
- Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghịquyết của Quốc hội; xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốchội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu
cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;
- Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;
- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịchQuốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hộiđồng Dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh
án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịchHội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước, người đứng đầu cơ quankhác do Quốc hội thành lập; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chứcPhó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, Thẩmphán Tòa án nhân dân tối cao; phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng quốcphòng và an ninh, Hội đồng bầu cử quốc gia
Sau khi được bầu, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ,Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải tuyên thệ trung thành với Tổ quốc, Nhândân và Hiến pháp;
- Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;
- Bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chínhphủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao tráivới Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;
- Quyết định trưng cầu ý dân (Điều 70)
Trang 31Căn cứ Hiến pháp 2013, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội 2003, LuậtHoạt động Quốc hội và hội đồng nhân dân 2015 đã quy định nội dung giám sát Hiếnpháp của cơ quan lập pháp và dân cử là rất quan trọng Trong đó, các văn bản luậtđều yêu cầu cơ quan lập pháp, cơ quan dân cử có trách nhiệm giám sát Hiến pháp(giám sát việc thực hiện, thi hành Hiến pháp, luật) của các tổ chức cá nhân Cơ quanlập pháp có trách nhiệm làm luật, sửa đổi luật và ngăn chặn các văn bản vi hiến, tráiluật Việc làm luật nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, tạo hành lang pháp
lý cần thiết để các quy định của Hiến pháp đi vào thực tế, đặc biệt là hiện thực hóacác quyền tự do dân chủ của công dân, quyền con người (Điều 69, 70 Hiến pháp
2013, Điều 5 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015).Nhưng thực tế, không phải lúc nào cơ quan lập pháp cũng thực hiện đầy đủ quyền
và đồng thời là nghĩa vụ của mình Việc không thực hiện các quyền và nghĩa vụHiến định bởi nó trực tiếp hạn chế các quyền tự do cơ bản của công dân, hạn chế sựphát triển các mặt của đất nước, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của các nhánhquyền lực khác Thời gian vừa qua, khi Hiến pháp 2013 đã có hiệu lực, nhiều nộidung trong đó chưa được cụ thể hóa bằng luật và dẫn đến việc áp dụng pháp luậttùy tiện để hạn chế các quyền tự do của nhân dân Ví dụ Luật biểu tình - cụ thể hóaquyền dân sự biểu đạt ý kiến đúng pháp luật của công dân được nêu ra từ Hiến pháp
1946 nhưng vẫn bị trì hoãn trình Quốc hội Việc trì hoãn của Bộ công an, Bộ quốcphòng diễn ra trong nhiều năm nhưng Quốc hội cũng chỉ tác động có tính hình thứcdưới dạng yêu cầu mà chưa có biện pháp mạnh trong phạm vi quyền lực được giaonhư đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm người chịu trách nhiệm trình dự án luật Luật tổchức tòa án nhân dân chậm thông qua đã tác động tiêu cực đến tổ chức và hoạt đôngcủa toàn bộ ngành tòa án, các thẩm phán hết nhiệm kỳ chậm tái bổ nhiệm trong thờigián rất dài, tâm lý cán bộ tòa án xáo trộn đợi chờ quyết định chính thức việc lậpcác tòa án mới…) Việc Quốc hội không hành động, không thực hiện đúng và đầy
đủ quyền làm luật của mình chính là sự vi hiến Thực tế, nhiều nghành lĩnh vựctrong tổ chức và hoạt động có sự vi phạm các quy định của hiến pháp, luật nhưngQuốc hội không thực hiện đúng chức trách được giao khi thực hiện chức năng giám
Trang 32sát việc tuân thủ hiến pháp, luật Thiếu tính kiên quyết hoặc không giải thích Hiến phápkịp thời dẫn đến sự lạm quyền trong thực hiện công việc ở một số nhánh quyền lực Với các cá nhân là lãnh đạo do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn để xảy ra tình trạng vihiến trong lĩnh vực ngành mình phụ trách cũng chưa một ai bị Quốc hội bỏ phiếu tínnhiễm hoặc bãi miễn như một chế tài mà Hiến pháp trao quyền thực hiện Tình trạng
nể nang, dĩ hòa vi quý dẫn đến tính giám sát tối cao của Quốc hội bị hạn chế Trongban hành luật, Quốc hội cũng có sự vi hiến khi có những điều luật
vi phạm các quyền cơ bản của công dân, ví dụ điều 292 Bộ luật hình sự 2015 Quy
định tội Cung cấp trái phép dịch vụ mạng máy tính mạng viễn thông đã vi phạm điều 33
Hiến pháp 2013 về Quyền tự do kinh doanh và đây cũng chỉ là một lỗi trong số hơn 90lỗi dẫn đến Bộ luật này phải chỉnh sửa, lùi thời hạn có hiệu lực Đây có thể nói là sự viHiến ở mức cao nhất của cơ quan lập pháp
Vi hiến trong hoạt động hành pháp
Hiến pháp 2013 có quy định quyền hành pháp thuộc về Chính phủ Hoạtđộng hành pháp là hoạt động của chính phủ và các thành viên chính phủ để thựchiện chức năng, nhiệm vụ quyền hạn hiến định và luật định của mình cũng như hoạtđộng của các cơ quan, cá nhân thuộc bộ máy hành chính nhà nước để thực hiệnquyền hành pháp Như vậy, theo Hiến pháp 2013 sự vi hiến của hành pháp xảy rakhi tập thể cơ quan hành pháp hoặc thành viên chính phủ như Thủ tướng, các PhóThủ tướng, các Bộ trưởng thực hiện nhiệm vụ quyền hạn được quy định trongHiến pháp, Luật tổ chức Chính phủ; của các cơ quan, cá nhân thuộc bộ máy hànhchính nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của cácvăn bản quy phạm pháp luật có liên quan Sự vi phạm Hiến pháp trong hoạt độnghành pháp bao gồm:
- Soạn thảo các dự luật có quy định trái Hiến pháp, không đúng trình tự thủtục Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật có nội dung và quy trình,thủ tụctrái với các quy định của Hiến pháp; ban hành các văn bản dưới luật dễ gây lạm quyềnkhi thi hành công vụ Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ 2011 - 216 của Chính phủ cho thấy,mặc dù vẫn đề cao và tổng kết những kết quả đạt được trong
Trang 33việc thi hành Hiến pháp như hoạt động chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc tổ chức thi hànhHiến pháp hay tích cực triển khai kế hoạch thực hiện và đề xuất 82 dự án luật, pháplệnh cần sửa đổi hoặc xây dựng mới để thi hành Hiến pháp 2013, v.v Nhưng thực
tế phản ánh cho thấy kết quả đạt được chưa thực sự có hiệu quả Điều 5 Luật Banhành văn bản quy phạm pháp luật quy định tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhấtcủa các văn bản quy phạm pháp luật trong phải thể hiện khi xây dựng và ban hành(tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức trình tự, thủ tục xây dựng ban hành văn bảnquy phạm pháp luật) Điều này đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp và các luật khácphải phù hợp với Hiến pháp Nhưng tính tối cao của Hiến pháp với các văn bản quyphạm pháp luật thực chất vẫn còn bị cơ quan hành pháp vi phạm các yêu cầu phùhợp với Hiến pháp ngay từ khâu soạn thảo và khi đi vào cuộc sống Cụ thể là sự thểhiện các văn bản nghị định, thông tư hạn chế, xâm phạm đến các quyền tự do hiếnđịnh của công dân Ví dụ: quyền sở hữu, quyền kinh doanh, hạn chế sở hữu xe theothông tư 02/2003/TT-BCA dẫn đến nhiều cá nhân phải bỏ thêm chi phí để được sởhữu xe máy hay Nghị định 60/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định các doanhnghiệp in không được phép hợp tác với các cơ sở in khác dẫn đến doanh nghiệpkhông thể hoàn thành hợp đồng vì họ chỉ có thể làm được một khâu trong côngđoạn sản xuất hoặc ở mức độ Bộ luật cao hơn, điều 320 Bộ luật dân sự 2005 chophép công dân dùng tài sản là bất động sản để đảm bảo nghĩa vụ quy định tại Điều
318 nhưng thực tế Luật Đất đai lại chỉ cho phép dưới hình thức thế chấp Như vậy
để tiện quản lý của mình, cơ quan hành pháp đã đẩy khó khăn cho người dân vàkhông lường hết những phiền toái, khó khăn, thiệt mà người dân gặp phải; vi phạmtrực tiếp các quyền hiến định của công dân Trong quá trình xây dựng pháp luật của
ác bộ ngành vẫn có tình trạng xây dựng văn bản với các điều khoản trái Hiến pháp
và luật (Ví dụ các bộ ngành vẫn xây dựng và ban hành các điều kiện đầu tư kinhdoanh mới trái với sự kiểm soát của Luật Đầu tư với các điều kiện đầu tư kinhdoanh)
- Ngăn cản hoặc hạn chế, xâm phạm các quyền tự do hợp pháp của conngười, của công dân theo quy định của Hiến pháp Trong bản Hiến pháp 2013,
Trang 34quyền con người và quyền công dân được đề cao và đưa lên chương 2 nhằm thể hiệntầm quan trọng của nó Nhà nước có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ, và bảo đảm quyền conngười (điều 3,4 Hiến pháp 2013) đồng thời Điều 94 và 96 ấn định nhiệm vụ mới củaChính phủ là bảo vệ quyền con người và quyền công dân Như vậy, đây là nhiệm vụhiến định cho cơ quan hành pháp phải phát hiện đánh giá và xử lý những hành vi xâmphạm quyền con người, quyền công dân Tuy vậy, trong thực tiễn hoạt động hành pháplại có trường hợp không tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân.Chính trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, điều 19, khi cho phépChính phủ ban hành nghị định thay thế luật, pháp lệnh khi chưa có điều kiện xây dựngluật lại tạo lỗ hổng để chính phủ dùng nghị định hạn chế các quyền Hiến định và luậtđịnh đối với quyền con người, quyền công dân Ví dụ: quyền biểu tình được các Hiếnpháp 1992, 2013 ghi nhận nhưng đến nay vẫn chưa được cụ thể hóa bằng luật Chínhphủ vẫn áp dụng nghị định 38/2005/NĐ-CP để hạn chế quyền hiến định của người dân,quy kết hành vi đó là tụ tập đông người trái pháp luật Như vậy, khi chưa có Luật vềbiểu tình thì có sự tự áp đặt thế nào là biểu tình trái luật Bên cạnh đó, có các văn bảnquy phạm pháp luật của chính phủ quy định sự can thiệp thô bạo vào quyền con ngườiquyền công dân Ví dụ, Hiến pháp quy định cụ thể về quyền bất khả xâm phạm về thânthể, pháp luật bảo hộ sức khỏe nhân phẩm, danh dự của con người; hay không ai bắt
mà thiếu các trình tự tố tụng luật định… nhưng thực tế, bằng hệ thống pháp luật hànhchính các cơ quan hành chính nhà nước lại thực hiện việc bắt người nghiện giam giữtập trung dưới hình thức cai nghiện trái ý muốn của họ hay trước đây các cô gái bị đưavào trại phục hồi nhân phẩm, nguyên cái tên nơi giữ họ đã xâm phạm tới danh dự nhânphẩm của họ Những trường hợp này đều bị cách ly giam giữ không hề có bản án,quyết định nào của cơ quan tư pháp phù hợp với quy định của pháp luật Có những vănbản luật có nội dung tác động trực tiếp đến quyền công dân dẫn đến lạm quyền Ví dụ:thông tư số 10/2016/TT-BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chếquản lý học sinh sinh viên, quy định một số điều cấm xâm phạm đến quyền tự do ngônluận của sinh viên - công dân, hay thông tư số 01/2016/TT-BCA của Bộ
Trang 35công an cho phép Cảnh sát giao thông trưng dụng tài sản của công dân trái với quyđịnh của Luật trưng mua, trưng dụng xâm phạm quyền sở hữu của công dân đượchiến định.
- Ban hành các văn bản pháp luật trực tiếp hạn chế quyền con người, quyềncông dân Chính phủ không được phép ban hành văn bản hạn chế quyền con ngườiquyền công dân Việc hạn chế này chỉ được thực hiện bằng luật Ví dụ nghị định số38/2005/NĐ-CP, Bộ Công an cấm tụ tập đông người Việc coi yếu tố “pháp luật quyđịnh” không phải là rào cản các quyền con người mà không phải hiểu theo nghĩa là chỉkhi có luật thì quyền này mới được thực hiện
- Người thừa hành công vụ có hành vi vi phạm hiến pháp cũng là nhữngbiểu hiện vi hiến có tính phổ biến bên cạnh việc vi hiến trong ban hành các văn bản quyphạm pháp luật Người thi hành công vụ nhiều lúc đã có hành vi lạm quyền xâm phạmđến các quyền tự do dân chủ Hiến định của công dân Sự lạm quyền có thể do năng lựcyếu kếm nhưng phần lớn là do yếu tố tư lợi cá nhân hay để thoản mãn “yếu tố cá nhânkhác” Ví dụ: Theo báo điện tử PLO thành phố Hồ Chí Minh
đưa tin ngày 11/4/2016 vào tháng 4/2016 vừa qua tại Hà nội, cảnh sát khu vực đãđòi vào kiểm tra nhà dân khi đêm khuya và có hành vi xúc phạm công dân Việc lợidụng thông tư 35/2014/TT-BCA để công an vào kiểm tra nơi ở của công dân dướihình thức kiểm tra nhân khẩu là hành vi trái với Điều 22 Hiến pháp 2013 và công ankhông được phép tiến hành trừ trường hợp ngoại lệ là khám xét thì phải tuân theocác quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Nếu cố ý tiến hành kiểm tra cư trú đóchính là xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân Sự nhũngnhiễu, vòi vĩnh, vi phạm trắng trợn các quyền công dân xảy ra ở tất cả các ngànhlĩnh vực mà ở đó có yếu tố “xin - cho”, nơi mà người dân cần sự chấp thuận về mặtthủ tục hành chính và như vậy các quyền như tự do kinh doanh, tự do cư trú…màHiến pháp quy định đều có thể bị người có trách nhiệm thi hành công vụ vi phạmmột cách trực tiếp hoặc gián tiếp
- Sự vi phạm Hiến pháp có thể diễn ra ở cả “hành động” và “không hànhđộng” Tình trạng các văn bản quy phạm pháp luật không được ban hành đúng tiến
Trang 36độ là rất phổ biến đã trực tiếp hạn chế các quyền công dân bởi lý do Việt Namkhông có tập quán áp dụng trực tiếp Hiến pháp Theo báo cáo của Chính phủ, đếncuối năm 2015, số văn bản chưa ban hành là 57/167 văn bản (nghị định, thông tư,thông tư liên tịch) để hướng dẫn các luật đã được ban hành; 16 ngành nghề trong
267 ngành nghề kinh doanh chưa được các Bộ Y tế, Công an, Giao thông vận tải,Thông tin và truyền thông ban hành điều kiện kinh doanh… vô hình chung việc mởrộng tạo môi trường kinh doanh cho người dân trở nên vô nghĩa bởi nút thắt cácvăn bản dưới luật Theo nghĩa vụ Hiến định việc ban hành các văn bản hướng dẫnluật của cơ quan hành pháp đã bị vi phạm nghiêm trọng Đối với các dự án luật,pháp lệnh, Chính phủ chậm trễ đưa ra trình Quốc hội xem xét thông qua là phổ biến
và việc xin rút là không hiếm gặp, sự trì hoãn có thể kéo dài từ năm này sang nămkhác đặc biệt là các dự luật cụ thể hóa quyền con người, quyền công dân, ví dụ dự
án Luật Biểu tình, Luật về hội Luật biểu tình đã được nêu ra trong nghị quyết số 48của Bộ Chính trị từ năm 2005 nhưng đến nay vẫn bị xin lùi
Tóm lại sự vi hiến trong hành pháp thể hiện ở nhiều yếu tố như các dự luậttrái hiến pháp, sự lạm quyền, vượt quá thẩm quyền hiến định, không thực hiện hoặcthực hiện không đầy đủ kịp thời các nghĩa vụ Hiến pháp quy định… dù thể hiệndưới hình thức nào thì sự vi phạm của hành pháp cũng tác động đến hiệu lực củahiến pháp, đến các quyền tự do dân chủ của công dân
Vi hiến trong hoạt động tư pháp
Từ năm 1946, Hiến pháp đầu tiên đã xác định quyền tư pháp Đến năm Hiếnpháp 2013 quyền này lại được xác định cụ thể và rành mạch: Tòa án nhân dân là cơquan xét xử của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt nam, thực hiện quyền tư
pháp là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Việc xác định các dạng vi hiến trong hoạt động tư pháp sẽ căn cứ vào nội
hàm của khái niệm thực hiện quyền tư pháp Từ đó có thể nhận diện các dạng vihiến trong hoạt động tư pháp bao gồm:
- Vi phạm hiến pháp trong hoạt động xét xử thường biểu hiện vi phạm
nguyên tắc khi xét xử tòa án, thẩm phán độc lập chỉ tuân theo pháp luật Hiến pháp
Trang 372013 đã quy định nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống tòa án khi thực hiệnquyền tư pháp Trong xét xử, các nguyên tắc thẩm phán, hội thẩm nhân dân độc lậpchỉ tuân theo pháp luật; nguyên tắc tranh tụng; nguyên tắc xét xử công khai….phảiđược đảm bảo Các nghị quyết của đảng cũng định hướng cho việc nâng cao chất
lượng công tác xét xử nhằm đảm bảo phán quyết của tòa án phải dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa…để ra bản án, quyết định đúng pháp luật,
có sức thuyết phục (Nghị quyết số 08/NQ-TW năm 2002) Nghị quyết số
49/NQ-TW năm 2005 về cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng đề ra phương hướng nângcao chất lượng tranh tụng, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng …coi đây làbước đột phá của hoạt động tư pháp Trong nội bộ nghành tòa án cũng đặt ranguyên tắc không cho phép lợi dụng vị trí quản lí, việc trao đổi nghiệp vụ, chuyênmôn để hình thành cơ chế duyệt án, áp đặt quan điểm cá nhân trái nguyên tắc độclập xét xử chỉ tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án (chỉ thị01/2007/CT-CA của TANDTC triển khai nhiệm vụ trọng tâm công tác nghành tòaán) Từ nội dung trong tâm nêu trên cho thấy vấn đề vi hiến trong công tác xét xử đã
và đang là mối quan tâm hàng đầu của các cấp các nghành và toàn xã hội Sự viphạm thể hiện dưới dạng “duyệt án”; báo cáo án, án bỏ túi hay họp ba nghành công
an - tòa án - kiểm sát để “duyệt án” thể hiện sự thống nhất án hay chấp nhận sự canthiệp của các nhánh quyền lực khác của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành
tố tụng mà bỏ qua một cách tùy tiện nguyên tắc Hiến định về độc lập tuân theo phápluật làm thay đổi bản chất của vụ án Hậu quả của việc không tôn trọng Hiến pháp là
án oan sai ngày càng bị phát hiện nhiều, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bịxâm phạm nghiêm trọng; vị thế của luật sư trong tranh tụng mờ nhạt, uy tín nghành
Trang 38đẳng trong các quan hệ tố tụng, tránh phiến diện một chiều áp đặt quyền lực trái với
sự thật làm méo mó công lý, tạo cơ chế để người dân có điều kiện bảo vệ và thểhiện các quyền hiến định trong các giai đoạn tố tụng Việc vi hiến trong hoạt độngtranh tụng thể hiện ở một số hành vi như không tạo điều kiện cho người tham gia tốtụng được tự do trình bày quan điểm, ý kiến; áp đặt quan điểm phiến diện, thiếukhách quan khi tranh luận về vấn đề đánh giá chứng cứ; quan tâm xem xét đến cácluận điểm của người tham gia tố tụng mà chỉ xem xét một chiều ý kiến của ngườitiến hành tố tụng; bản án quyết định đưa ra không dựa trên kết quả hoạt động tranhtụng Tất yếu những vi phạm đó là án oan sai xảy ra ở rất nhiều tòa án, nhiều cấp xétxử; thể hiện sự bất bình đẳng giữa cơ quan tư pháp và công dân; chứng cứ bị đánhgiá không khách quan làm sai lệch kết quả vụ án Xu hướng bắt giữ nghi phạmtrước khi tập hợp đầy đủ chứng cứ nhằm gây sức ép, dùng lời khai của nghi phạmchứng minh chứng cứ nhằm rút ngắn công sức điều tra cũng đang là vấn đề gâynhiều án oan sai
- Hành vi vi phạm Hiến pháp trong hoạt động tư pháp còn thể hiện khi cơquan có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hoặc có tính chất hướngdẫn luật hoặc làm cho người thừa hành hiểu sai, thực hiện trái nguyên tắc hiến định hoặc
áp dụng pháp luật không đúng với quy định của hiến pháp và chính các đạo luật Điểnhình trong hệ thống tòa án có văn bản Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhândân Tối cao (TANDTC), nghị quyết này có tổng kết các vụ án được coi là điển hình đểcác tòa án áp dụng tham khảo khi xét xử như các án lệ Đồng thời các nghị quyết này còn
có nội dung hướng dẫn thi hành các điều luật hoặc quy định cụ thể khoản điểm áp dụngchi tiết đến các mức án trong hình sự hoặc cách giải quyết sự việc trong vụ án dân sự Cóthể cho rằng, TANDTC đã trong nhiều trường hợp đã ban hành lại luật bởi trong các đạoluật không hề có các quy định đó Đây là sự vi hiến nghiêm trọng xâm phạm đến tính tônnghiêm của Hiến pháp, các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của công dân, trái thẩm quyềnhiến định của cơ quan tư pháp khi Tòa án không phải là cơ quan lập pháp hay có quyềngiải thích luật Phần lớn các văn bản có tính quy phạm pháp luật như Nghị quyết, Côngvăn của TANDTC có hình thức như một thông tư nhưng cũng không hề ban
Trang 39hành đúng thủ tục (không lấy ý kiến các nghành liên quan, không đăng tải trênphương tiện thông tin đại chúng…).[3] Trong ngành tư pháp thậm chí ban hành vănbản vi phạm các nguyên tắc độc lập tuân theo pháp luật của tòa án Ví dụ, Chánh ántòa án Hà nội ban hành văn bản yêu cầu các thẩm phán phải báo cáo án trước khixét xử hoặc lãnh đạo tòa án cấp trên can thiệp trực tiếp vào vụ án chuẩn bị được xét
xử như ở Hà Tĩnh và nhiều vụ việc khác Đây là dạng vi hiến khá phổ biến tronglĩnh vực tư pháp
- Dạng vi phạm phổ biến trong lĩnh vực tư pháp còn thể hiện ở việc khôngban hành các văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hóa Hiến pháp hoặc không ban hànhcác văn bản quy phạm pháp luật mà theo quy định phải ban hành
Sự vi hiến trong hoạt động tư pháp xuất phát từ rất nhiều yếu tố chủ quan vàkhách quan Xuất phát từ sự không phân công rõ ràng giữa các nhánh quyền lực,viện kiểm sát không thuộc hành pháp để bảo vệ trật tự trị an, phòng chống tội phạmvốn là chức năng của hành pháp Bên cạnh đó do không thực hiện chế ước kiểmsoát lẫn nhau nên tính độc lập của tòa án chưa được tuân thủ, tòa án có sự phụthuộc nhất định về tổ chức và hoạt động vào các cơ quan khác nên thường bị canthiệp vào công tác tổ chức và cả hoạt động xét xử Một tòa án độc lập nhưng kinhphí hoạt động, cơ sở vật chất lại phụ thuộc vào cấp trên hay cơ quan nhà nước khácthì cũng không thể đảm bảo sự độc lập nên một cách tự nhiên hoạt động hành pháp
sẽ có hành vi vi hiến Vì thế, rất cần sự nhận thức đúng về vai trò duy nhất của tòa
án là bảo vệ công lý, công bằng thì mới hạn chế được các hành vi vi hiến trong hoạtđộng tư pháp và cả các hoạt động của các nhánh quyền lực khác
1.3 CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾN PHÁP BẰNG PHÁP LUẬT
1.3.1 Khái niệm cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật
Trong hệ thống pháp luật mỗi quốc gia, Hiến pháp là văn kiện chính trị pháp lý giữa vai trò là nền tảng và vị trí tối thượng Vì thế mà việc bảo vệ Hiếnpháp cũng không kém phần quan trọng như việc xây dựng, ban hành Hiến pháp.Một trong những biện pháp bảo vệ Hiến pháp hiệu quả nhất là thiết lập hệ thốngpháp quy phạm pháp luật về bảo hiến, cũng với đó là xác lập các thiết chế, phươngthức vận hành của các yếu tố này, tạo thành một cơ chế bảo vệ Hiến pháp
Trang 40-Ở đây, khái niệm cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật không phải là kháiniệm mới, mà là một cách tiếp cận khác của khái niệm cơ chế bảo hiến mà theo đó chútrọng tới tính pháp lý của cơ chế bảo hiến Trên thực tế, cơ chế bảo hiến nào cũng phảiđược vận hành trên một nền tảng pháp lý được nhà nước đó thừa nhận ngay trong Hiếnpháp, hoặc/và được cụ thể hóa bằng các đạo luật riêng Tuy nhiên, tùy thuộc đó là cơ chếnhà nước hay cơ chế xã hội bảo vệ Hiến pháp mà tính pháp lý của chúng không giốngnhau Tính pháp lý được hiểu là, hậu quả của hoạt động bảo vệ Hiến pháp có giá trị pháp
lý, khiến cho hành vi vi bị coi là vi hiến sẽ bị suy xét, đánh giá và kết luận theo trình tự,thủ tục luật định, và chủ thể bảo hiến trực tiếp quyết định áp dụng biện pháp trừng phạtđối với chủ thể vi hiến Đây cũng là điểm đặc thù riêng có của cơ chế nhà nước bảo vệHiến pháp Để thực hiện được điều này, trước tiên nhà nước đó phải xây dựng đượcmột hệ thống quy phạm pháp luật, mà đúng đầu là Hiến pháp, về bảo vệ Hiến pháp để tạohành lang pháp lý, các điều kiện đảm bảo cho việc bảo hiến
Ở khía cạnh khác, cơ chế xã hội bảo vệ Hiến pháp chủ yếu mang tính phảnánh xã hội, có tác dụng tạo nên sự thống nhất trong nhận thức của nhiều chủ thể trong xãhội (nhóm xã hội, giai tầng trong xã hội,…), để thúc giục các chủ thể có thẩm quyền đưa
ra các quyết định để bảo vệ Hiến pháp trước nguy cơ mà họ cho rằng đó là vi hiến Cơchế tác động bảo hiến ở đây mang tính gián tiếp, không trực tiếp có hiệu quả pháp lý đốivới chủ thể có hành vi vi hiến
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm như sau: Cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật xác định hệ thống các chủ thể (cơ quan nhà nước, cá nhân) được Hiến pháp quy định (trực tiếp hoặc gián tiếp) nhiệm vụ và quyền hạn tiến hành các hoạt động bảo vệ hiến pháp, cùng với phương thức vận hành, các điều kiện đảm bảo hoạt động cho hệ thống đó để tiến hành hoạt động bảo vệ hiến pháp, nhằm bảo đảm sự tôn trọng, giữ gìn hiến pháp, ngăn ngừa và chống lại mọi hành vi vi phạm hiến pháp.
Theo cách tiếp cận cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật, vẫn nhìn nhậndưới góc độ cấu trúc cơ chế bảo hiến, gồm: thể chế bảo hiến – là quy phạm pháp