NHỮNG NGUYÊN LÝ CHUNG TRONG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP ÁP DỤNG CHO NGÂN HÀNG Đôi khi chúng ta được chứng kiến một số nhà quản trị và phân tích ngân hàng cho rằng, ngân hàng là loạ
Trang 1THE SYSTEM OF INDICATORS TO MEASURE AND EVALUATE
THE BANK PERFORMANCE
HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG
Trang 2CHƯƠNG 11
HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG
1 NHỮNG NGUYÊN LÝ CHUNG TRONG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP ÁP DỤNG CHO NGÂN HÀNG
Đôi khi chúng ta được chứng kiến một số nhà quản trị và phân tích ngân hàng cho rằng, ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, nên những nguyên
lý áp dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp không phù hợp với ngân hàng Ý kiến này là không chắc chắn và không có cơ sở
Mặc dù ở chừng mực nào đó thì ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc thù, nhưng trên thực tế thì những nguyên lý chung trong phân tích tài chính doanh nghiệp đều có thể áp dụng vào phân tích hoạt động kinh doanh ngân hàng Do đó, trước khi đi vào phân tích hoạt động ngân hàng chúng ta điểm lại những nguyên lý chung trong phân tích tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở đó, vận dụng chúng vào phân tích hoạt động ngân hàng
1.1 MỤC TIÊU CƠ BẢN CỦA DOANH NGHIỆP
Nội dung hoạt động của một doanh nghiệp có thể được biểu diễn bằng thuật ngữ hoạt động hay thuật ngữ tài chính Bằng thuật ngữ hoạt động, doanh nghiệp mua nguyên liệu và phối hợp các nguyên liệu này cùng với vốn (capital)
và lao động để sản xuất ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ Những hàng hoá và dịch này được bán cho các doanh nghiệp khác tại mức giá sao cho có thu nhập trên mức chi phí bù đắp cho nguyên liệu vốn và lao động Bằng các thuật ngữ tài chính, doanh nghiệp tạo vốn kinh doanh từ các chủ sở hữu và các chủ nợ, chi tiêu các nguồn vốn này cho nguyên liệu, lao động và vốn; và hy vọng
nguồn tiền thu về sẽ lớn hơn những gì đã chi tiêu
Theo lý thuyết tài chính, mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp là tối đa giá trị đầu tư của chủ sở hữu vào doanh nghiệp Đối với những doanh nghiệp có cổ phiếu được giao dịch tích cực trên thị trường chứng khoán thì mục tiêu này chính là mục tiêu tối đa thị giá cổ phiếu Như vậy mục tiêu tối đa thị giá cổ phiếu trở nên khó quan sát đối với những công ty (thường nhỏ) không có cổ phiếu giao dịch tích cực trên thị trường chứng khoán Tuy nhiên, nhà quản trị doanh nghiệp có thể tối đa giá trị đầu tư của chủ sở hữu thông qua hệ thống
chỉ tiêu sinh lời tốt nhất trong mối tương quan với mức độ rủi ro mà các chủ sở hữu cho là thích hợp
Trang 3Cho dù tối đa giá trị đầu tư của chủ sở hữu luôn là mục tiêu cơ bản của ngân hàng, nhưng nhà quản trị ngân hàng còn phải đáp ứng được những đòi hỏi của các bên liên quan khác như những người gửi tiền, những người đi vay và nhà quản lý (NHTW) Trong khi mối quan hệ giữa một doanh nghiệp và các bên có liên quan hầu như có thể thoả thuận, nhưng đối với ngân hàng thì không thể như vậy, đặc biệt là từ phía nhà quản lý, điều này nói lên vị trí đặc biệt của ngân hàng trong nền kinh tế và xã hội Do đó, mục tiêu cơ bản của ngân hàng
có thể được phát biểu như sau: Tối đa giá trị đầu tư của cổ đông, nhưng phải
phù hợp với lợi ích của các bên liên quan (chủ yếu là NHTW).
1.2 NHỮNG CHỈ TIÊU SINH LỜI CỦA DOANH NGHIỆP
Các bên có liên quan thường quan tâm đến các chỉ tiêu sinh lời và chỉ tiêu rủi ro để đánh giá mức độ thành công của những nhà quản trị điều hành công ty Hầu hết các chỉ tiêu này đều có thể tính được trực tiếp từ các báo cáo tài chính của công ty Để hình dung được một cách trực quan, chúng ta xây dựng tình hình tài chính của công ty (ABC) như sau :
Bảng 11.1: Tình hình tài chính của Công ty ABC (đơn vị: $)
Bảng cân đối tài sản 30/12/19XX
Tiền mặt 500 000 Vốn lưu động 3 000 000
Tài khoản phải thu 3 000 000 Nợ dài hạn 2 000 000
Tồn kho 2 000 000 Cổ phiếu thường 1 000 000
Tài sản cố định 4 500 000 Lãi giữ lại 4 000 000
Trang 4Thuế 50% 800 000
Lợi nhuận sau thuế (lãi ròng) 800 000
Phân tích khả năng sinh lời:
1 Chỉ tiêu “thu nhập gộp/ doanh thu”:
Thu nhập gộp 5 000 000 Doanh thu
Trang 5Vốn chủ sở hữu 5 000 000
Bảng 11.1 bao gồm bảng cân đối tài sản, báo cáo kết quả kinh doanh và các chỉ tiêu sinh lời chủ yếu của công ty ABC Trên bảng cân đối bao gồm những tài sản đặc trưng nhất, như tiền mặt, tài khoản phải thu, tồn kho và tài sản cố định Những tài sản này được tài trợ bởi vế nợ là vốn lưu động (vốn ngắn hạn), vay dài hạn, cổ phiếu thường và lãi giữ lại Doanh thu, chi phí hoạt động và kết quả kinh doanh được thể hiện trên báo cáo kết quả kinh doanh Hệ thống chỉ tiêu sinh lời phản ánh mô hình “sinh lời của vốn chủ sở hữu – ROE” được mô tả bằng sơ đồ 11.1 dưới đây :
Mô hình sinh lời của vốn được phát triển lần đầu tại Mỹ bởi công ty DuPont, chính vì thế mà nó có tên gọi là phương pháp phân tích DuPont
Phương pháp DuPont đã phân tích chỉ tiêu ROE thành các thành phần cơ bản, trên cơ sở đó chúng ta có thể phân tích để định hướng cải thiện từng thành phần cấu thành ROE
Trang 6Sơ đồ 11.1: Mô hình chỉ tiêu sinh lời của vốn (ROE) –
Phương pháp Dupont
ROE
Lãi ròng Vốn chủ sở hữu
ROR
Lãi ròng Doanh thu
Vòng quay vốn
Doanh thu Tài sản
Lãi ròng
Lãi trước thuế
Lãi trước thuế Doanh thu
Trang 71.3 TÍNH TƯƠNG ĐỒNG GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ NGÂN HÀNG
Giống như các doanh nghiệp (phi tài chính), ngân hàng huy động vốn
từ các cổ đông và người cho vay; chi tiêu các nguồn vốn này để mua nguyên liệu, lao động và vốn chủ sở hữu; và hy vọng doanh thu sẽ vượt trội chi phí
để có lãi. Đối với ngân hàng, mua nguyên liệu ở đây chính là huy động vốn Cũng giống như các doanh nghiệp, mục tiêu hoạt động chính của ngân hàng
là tối đa giá trị đầu tư của cổ đông
Sau đây là ví dụ mô phỏng giản đơn hình thành mục tiêu chính của ngân hàng XYZ để so sánh với doanh nghiệp
Bảng 11.2: Ngân hàng XYZ (đơn vị: $)
Bảng cân đối tài sản 30/12/19XX
Tiền mặt 8 000 000 Vốn ngắn hạn 70 000 000
Tín dụng và CK ngắn hạn 60 000 000 Vốn dài hạn 23 000 000
Tín dụng và CK dài hạn 30 000 000 Cổ phiếu thường 1 000 000
Tài sản cố định 2 000 000 Lãi giữ lại 6 000 000
Lợi nhuận trước thuế (lãi ròng trước thuế) 2 000 000
Lợi nhuận sau thuế (lãi ròng) 1 000 000
Phân tích khả năng sinh lời:
1 Chỉ tiêu “thu nhập lãi ròng/ tài sản sinh lời”:
Trang 8Thu nhập lãi ròng 5 000 000 Tài sản sinh lời
3 Chỉ tiêu “Thu nhập lãi / Tài sản có”:
Thu nhập lãi 15 00 000 Tài sản có = 100 000 000 = 15%
4 Chỉ tiêu “Lãi ròng /tài sản có”:
Vốn chủ sở hữu = 7 000 000
= 14.3%%
Bảng 11.2 mô tả những điểm tương đồng giữa ngân hàng và doanh nghiệp Giống như công ty ABC, ngân hàng XYZ cũng có: (i) tài sản có ngắn hạn và dài hạn; (ii) tài sản nợ bao gồm vốn ngắn hạn, dài hạn, cổ phiếu thường
và lợi nhuận giữ lại Tuy nhiên, kết cấu tài sản có, tài sản nợ và vốn chủ sở hữu (tỷ trọng của các tài sản có và các tài sản nợ) là khác nhau giữa ngân hàng và doanh nghiệp
Trang 9Cụ thể là, đối với ngân hàng thì tỷ trọng tài sản cố định và vốn chủ
sở hữu là thấp; ngược lại, tài sản có và tài sản nợ ngắn hạn có xu hướng tăng mạnh
Về báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng XYZ bao gồm những khoản thu và chi là tương tự với công ty ABC Về cơ bản, phương pháp phân tích khả năng sinh lời của Công ty cũng có thể áp dụng được cho ngân hàng
2 HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG
2.1 KHUNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG - CAMELS
Đọc hiểu các bản báo cáo tài chính ngân hàng là yếu tố không thể thiếu được trong quá trình phân tích đánh giá hoạt động kinh doanh ngân hàng Không giống các loại hình kinh doanh khác, các báo cáo tài chính của ngân hàng thừơng được tiêu chuẩn hoá, tuy nhiên giữa các nước vẫn còn sự khác biệt nhất định trong khâu kế toán và mức độ công khai
Ở Mỹ, các báo cáo tài chính ngân hàng được công bố trong một tài liệu chuẩn, gọi là báo cáo hoạt động ngân hàng chuẩn - Uniform Bank Performance Report Cho dù các ngân hàng hoạt động ở các nước khác nhau,
nhưng chúng ta có thể sắp xếp các hạng mục trên các bản báo cáo tài chính theo một chuẩn mực nhất định nhằm thuận lợi trong việc phân tích và so sánh hoạt động giữa các ngân hàng Phân tích hoạt động ngân hàng có thể được tiến hành theo một khung mục tiêu, được Tổ chức đánh giá chỉ tiêu tín nhiệm quốc
tế Moody tổng kết bằng các chữ cái đầu là CAMEL như sau:
Capital - Assets - Management - Earnings - Liquidity
(Vốn chủ sở hữu - Tài sản có - Quản trị – Lợi nhuận - Thanh khoản)
Phương pháp tiếp cận CAMEL nhấn mạnh những khía cạnh cơ bản khi đánh giá tính ổn định của ngân hàng Mặc dù có xu hướng cho rằng các chỉ tiêu của CAMEL là độc lập với nhau (ví dụ, chỉ tiêu an toàn vốn chủ sở hữu của ngân hàng C là bảo đảm, nhưng chỉ tiêu chất lượng tài sản có A có thể là thấp); nhìn chung, chúng ta phải đặt các chỉ tiêu này trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau trong quá trình phân tích hoạt động kinh doanh của một ngân hàng
Trong các chương trước, chúng ta đã nghiên cứu một cách tương đối toàn diện các chỉ tiêu này, ví dụ: vốn chủ sở hữu được nghiên cứu ở chương 9, chất lượng tài sản có (tín dụng) ở chương 5, v.v Tuy nhiên, để có được cách
Trang 10nhìn tổng hợp hơn, sau đây chúng ta sẽ điểm qua những nội dung cơ bản của các chỉ tiêu này
2.1.1 VỐN CHỦ SỞ HỮU (VỐN TỰ CÓ HAY VỐN CỔ PHẦN) - CAPLTAL (C) :
Trong chương trước, chúng ta đã nghiên cứu vai trò của vốn chủ sở hữu trong việc phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngân hàng Sau đây chúng ta sẽ điểm qua những nội dung quan trọng đối với chỉ tiêu C
Vốn chủ sở hữu là thước đo khả năng hấp thụ những tổn thất cuối cùng tại thời điểm thanh lý ngân hàng Vốn chủ sở hữu lớn sẽ giúp cho ngân
hàng dễ vượt qua những tổn thất nghiêm trọng và cho phép ngân hàng áp dụng chiến lược kinh doanh mạo hiểm, tức chấp nhận rủi ro cao hơn nhưng khả năng sinh lời cũng cao hơn; trong khi đó, nếu vốn chủ sở hữu thấp sẽ làm giảm tính năng động của ngân hàng
Tỷ lệ an toàn vốn còn quan trọng ở chỗ, nó là thước đo cơ bản để nhà quản lý (NHTW) đánh giá sự lành mạnh về tài chính của ngân hàng Nếu một ngân hàng bị NHTW cho là không bảo đảm vốn chủ sở hữu, thì ngân hàng này xem như không còn khả năng hoạt động bình thường và buộc phải đóng cửa
2.1.2 TÀI SẢN CÓ - ASSETS (A)
Chất lượng tài sản có trong kinh doanh ngân hàng là yếu tố quan trọng hàng đầu và cũng là yếu tố phức tạp nhất khi phân tích hoạt động ngân hàng; ngoài ra, khi đánh giá chất lượng tài sản có thường chứa đựng yếu tố chủ quan
Nhiều ngân hàng sụp đổ là do nhóm “tài sản có chịu rủi ro” có chất lượng thấp Các ngân hàng thường không sẵn sàng thừa nhận, đôi khi còn che giấu những vấn đề (cho dù là nghiêm trọng) về chất lượng tài sản có Nhìn chung, nếu chỉ căn cứ vào bảng cân đối tài sản thì khó mà phát hiện được những vấn đề về chất lượng tài sản có, chính vì vậy, những vấn đề về chất l-ượng tài sản có được tích tụ dần dần, hậu quả cuối cùng là làm cho ngân hàng
đi đến sụp đổ
Vấn đề phức tạp nhất trong khâu đánh giá chất lượng tài sản có của ngân hàng là yếu tố chủ quan, đặc biệt là khâu đánh giá chất lượng tín dụng, bởi vì chất lượng tín dụng có thể là tốt tại thời điểm phân tích, nhưng sau đó có thể trở nên xấu đi
Trang 11Ngoài ra, việc phân bổ những khoản dự phòng rủi ro tín dụng thường
dựa theo “kinh nghiệm” gắn liền với nhận thức chủ quan của nhà quản trị, chính vì vậy, khoản dự phòng rủi ro tín dụng thường không cân xứng với rủi
ro tín dụng tiềm ẩn Do đó, việc đánh giá chất lượng tài sản có của ngân hàng
dựa trên các báo cáo tài chính phần nào cũng chứa đựng yếu tố chủ quan Như vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để đánh giá chính xác chất lượng tài sản của ngân hàng?
Những biểu hiện về chất lượng của nhóm “tài sản chịu rủi ro” có thể thu thập thông qua: (i) Hệ thống quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng; (ii)
Đánh giá tổng hợp chất lượng tín dụng
Chất lượng quản trị rủi ro tín dụng phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống giám sát rủi ro tín dụng của các công ty, các ngành sản xuất kinh doanh và của các quốc gia Khi phân tích cần chú ý xem xét:
- Ngân hàng có áp dụng hệ thống xếp hạng độ tín nhiệm đối với các công ty hay không ?
- Hệ thống xếp hạng độ tín nhiệm này có được coi là điều kiện cấu thành trong quá trình cho vay hay không ?
- Hệ thống xếp hạng đã hoạt động hiệu quả như thế nào trong quá trình quản trị rủi ro tín dụng trong quá khứ ?
Những thông tin này không bao gồm trong bảng cân đối tài sản, do đó khi phân tích ta cần thu thập các thông tin này từ khâu quản trị điều hành ngân hàng
Đánh giá tổng hợp chất lượng tín dụng thường chứa đựng yếu tố chủ quan Tuy nhiên, những kết quả phân tích trước đây, đặc biệt là những thông số
đã được lượng hoá là rất quan trọng Hiện tượng tập trung thái quá tín dụng
vào một lĩnh vực nào đó thường là nhân tố đứng sau những vấn đề gay cấn của ngân hàng trong những năm ngần đây Những ngân hàng thận trọng quá
mức chỉ tập trung cho vay một số ngành sản xuất kinh doanh hay một số địa phương nhất định thường dễ bị tổn thương khi điều kiện kinh tế chung thay đổi
Biểu hiện tiếp theo là tập trung tăng trưởng tín dụng thái quá Một ngân hàng có mức tăng trưởng tín dụng thái quá thường phải đối mặt với rủi ro tín dụng lớn hơn Ví dụ, vào những năm đầu 1980, trong một nổ lực trở thành một trong 10 ngân hàng đứng dầu của Mỹ, ngân hàng Continental Illinois đã áp dụng chương trình mở rộng tín dụng thái quá từ nguồn vốn huy động trên thị trường tiền tệ bán buôn, những khoản tín dụng này được tập trung đầu tư vào các ngành công nghiệp hoá dầu và khí đốt ở Oklahoma
Trang 12Khi ngành công nghiệp dầu khí bị đình đốn, giá dầu giảm mạnh trong một thời gian dài, kết quả là ngân hàng gặp khủng hoảng trong khâu thanh khoản và đi đến sụp đổ
Tăng trưởng tín dụng cần được xem xét không những trong mối liên
hệ với tốc độ tăng trưởng trong quá khứ, mà còn phải trong môi trường cạnh tranh chung, nếu tốc độ tăng trưởng tín dụng của một ngân hàng là nhanh hơn các đối thủ cạnh tranh thì nhà quản trị hay nhà phân tích cần trả lời câu hỏi tại sao lại như vậy ?
Biểu hiện tiếp theo về chất lượng tín dụng là khoản dự phòng rủi ro tín
dụng là như thế nào Thống kê những tổn thất tín dụng trong quá khứ là cực
kỳ có ý nghĩa Một tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng thất thường chứa đựng
tiềm tàng bất ổn trong tương lai
Cuối cùng, các hoạt động ngoại bảng cũng phải được phân tích một cách thích hợp Trong khi các hoạt động ngoại bảng mang lại nguồn thu phí và hoa hồng hấp dẫn, nhưng chúng lại không được thể hiện trên bảng cân đối tài sản. Chúng ta cần nhận thức đầy đủ rằng một khi ngân hàng phải thực hiện các cam kết ngoại bảng thay cho khách hàng sẽ làm cho chất lượng tài sản có của ngân hàng bị giảm sút
2.1.3 QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG - MANAGEMENT (M)
Vấn đề sống còn tiếp theo là đánh giá khâu quản trị điều hành Có một
số tiêu chuẩn nhất định để đánh giá hiệu suất trong khâu quản trị điều hành thông qua phương thức mặt đối mặt trực tiếp Các tiêu chuẩn này có thể là: (i)
quan điểm trong việc cấp tín dụng, (ii) mức độ thông tin có sẵn để ra các quyết định, (iii) chính sách phân bổ dự phòng tổn thất tín dụng, và (iv) những bằng chứng về sự thành công của khâu quản trị điều hành trong quá khứ
Việc ra quyết định và quá trình kiểm tra là rất quan trọng, bởi vì hầu hết
các cuộc đổ vỡ ngân hàng đều là hậu quả của những quyết định thiếu sót được tích tụ dần sau một thời gian dài Chúng ta cần phải biết được người ra
quyết định cấp tín dụng là ai và họ quyết định như thế nào:
- Các cá nhân có thể quyết định những khoản tín dụng lớn?
- Hệ thống kiểm soát nội bộ là như thế nào?
- Tín dụng được cấp trên cơ sở cảm tính trước khi các chứng từ
Trang 13pháp lý được hoàn thành?
- Hệ thống hạn mức tín dụng đối với từng khách hàng ?
- Quy trình tín dụng ?
- Hội đồng tín dụng ?
2.1.4 LỢI NHUẬN - EARNINGS (E)
Lợi nhuận hay khả năng sinh lời là thước đo cuối cùng trong quá trình đánh giá hoạt động của một ngân hàng Lợi nhuận là thước đo khả năng tạo giá trị cho các cổ đông, tạo vốn kinh doanh bổ sung và duy trì hay cải tiến thanh danh cho ngân hàng
Lợi nhuận cũng là thước đo lượng hoá năng lực của khâu quản trị điều hành trong mối tương quan với số lượng và chất lượng của tài sản có, tài sản nợ của ngân hàng
Trong quá trình phân tích khả năng sinh lời, sẽ là không đầy đủ nếu chúng ta chỉ so sánh chỉ tiêu này với các chỉ số thực hiện trong quá khứ, mà còn phải đề cập đến chất lượng của các khoản thu Trong quá trình phân tích chúng ta cần làm sáng tỏ xem nguồn thu có được đa dạng hoá hay không, hay
là nguồn thu chỉ dựa trên một số hoạt động có tính đặc trưng
2.1.5 THANH KHOẢN- LIQUIDITY (L)
Thanh khoản, hay còn gọi là “quản trị bảng cân đối - balance sheet management”, hay quản trị tài sản nợ và tài sản có "asset – liability management” là một bộ phận quan trọng trong quá trình đánh giá tính ổn định
trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
Biểu hiện không thanh khoản thường là nhân tố châm ngòi nổ cho
sự đổ vỡ ngân hàng, trong khi đó tính thanh khoản cao có thể giúp cho ngân
hàng vượt qua được những thời kỳ khó khăn Thanh khoản là quan trọng, đặc
biệt là đối với những ngân hàng nhỏ, hay những ngân hàng có nguồn vốn không dựa trên nền tảng đội ngũ khách hàng gửi tiền mà chủ yếu là huy động trên thị trường liên ngân hàng Trong quá trình phân tích thanh khoản,
chúng ta cần đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh khoản của ngân hàng trong các tình huống căng thẳng
Trang 14Nguyên tắc chung để bảo đảm tính thanh khoản cho ngân hàng là,
tài sản chính (core assets) phải được tài trợ bằng tài sản nợ chính (core
liabilities) Điều này có nghĩa là, chúng ta cần tính tới mối tương quan giữa cấu
trúc tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng
2.2 CÁC BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG
Trước khi đi vào phân tích chi tiết, chúng ta cần sắp xếp các hạng mục
trong các báo cáo tài chính theo một tiêu chuẩn nhất định Các bản báo cáo sau
khi được sắp xếp lại gọi là các báo cáo tài chính dưới dạng phân tích
(spreadsheets) như sau:
Bảng 11.3: Bảng cân đối tài sản tổng hợp của ngân hàng XZY tại 31/12 ($)
THỨ 1
NĂM THỨ 2
NĂM THỨ 3
NĂM THỨ 4
1 Tiền mặt và số dư không kỳ hạn ở ngân
hàng (Cash & due from banks)
7 824 7 402 8 656 7 596
2 Số dư không kỳ hạn ở ngân hàng nước
ngoài (Due from foreign banks)
3 Chứng khoán chính phủ ngắn hạn
(Short – Term Government securities)
4 Khác – Others
5 Tài sản chịu rủi ro thấp nhất –
(Minimum risk assets – Total)
8 Tiền gửi tại các ngân hàng và mua kỳ
phiếu ngân hàng – (Deposits with banks
and bank CD’s purchased)
12 Tín dụng/ứng trước trên 1 năm
( Loans/advances over 1 YR)
Trang 15Less: Allowance for Loans Losses
17 Tổng tài sản chịu rủi ro thông thường
Normal risk assets
19 422 25 279 29 353 35 315
18 Tài sản cố định và máy móc thiết bị
(Premises & equipment)
19 Đầu tư/ ứng trước cho các công ty trực
thuộc – (Investment/ Advances to
subsidiary firms)
20 Tài sản vô hình – Intangibles
22 Tổng tài sản có – Total Assets 30 991 36 725 42 599 47 685
THỨ 1
NĂM THỨ 2
NĂM THỨ 3
NĂM THƯ 4
23 Tài khoản tiền gửi thị trường tiền tệ –
(Money market deposit accounts)
6 642 7 468 9 150 9 200
24 Tài khoản NOW – (Negotiable Order of
Withdrawal)
25
26 Tiền gửi không kỳ hạn không có lãi
(Noninterest – bearing demand deposits)
2 135 4 002 4 380 4 139
27 Tiền gửi kỳ hạn – (Time deposits) 7 009 7 713 8 183 9 756
28 Tiền gửi tiết kiệm – Savings deposits
29
30 Tổng tiền gửi – Total Deposits 15 786 19 183 21 713 23 095
31 Tiền đi vay – (Borrowed money) 10 761 12 231 15 165 17 513
32 Chấp nhận thương phiếu cho khách hàng
42 Tiền vay lâu dài và chỉ hoàn trả sau tất
cả những khoản tiền gửi khác –
(Subordinated debt)
43
Trang 1646
47 Lợi nhuận giữ lại – (Retained earnings) 521 656 810 990
48 Tài sản ròng (vốn chủ sở hữu) – Net
Bảng 11.4: Báo cáo thu nhập của ngân hàng XZY tại 31/12
BÁO CÁO THU NHẬP – INCOME
STATEMENT
NĂM THỨ 1
NĂM THỨ 2
NĂM THỨ 3
NĂM THỨ 4
50 Thu nhập lãi – Interest income 1 980 3 168 4 473 5 964
51 Chi phí lãi – Interest expense (1 527) (2 594) (3 742) (5 158)
52 Thu nhập lãi ròng – Net Interest Income 453 574 731 806
53 Phí và hoa hồng – Fees and commissions
54 Thu nhập thương mại – Trading income
55 Thu nhập đầu tư – Invesment income
67 Lợi nhuận sau thuế – Profit After Tax 168 195 225 255
68 Dự phòng sau thuế- Post – tax provisions
69
Báo cáo cân đối tài sản và báo cáo thu nhập ở dạng phân tích nêu trên
cung cấp một khuôn mẫu trực quan hữu ích có thể áp dụng được cho các ngân
hàng truyền thống cũng như các ngân hàng chuyên doanh Các thông số trên
bảng cung cấp những thông tin cần thiết để tính các chỉ tiêu tài chính đối với
ngân hàng
Trang 17Để có sự nhất quán, trước khi đi vào phân tích chúng ta cần giải thích nội dung các hạng mục trên bảng
2.2.1 BẢNG CÂN ĐỐI TÀI SẢN – BALANCE SHEET
Bảng cân đối tài sản của một ngân hàng phản ánh điều kiện tài chính của ngân hàng này tại một thời điểm nhất định Như vậy, về mặt nguyên tắc, bảng báo cáo tài sản có thể được lập tại bất cứ điểm nào, tuy nhiên, thời điểm báo cáo quan trọng nhất thường là 31/12 hàng năm Các số liệu trên bảng cân đối tài sản phản ánh số dư, nên chúng thay đổi từ thời điểm này qua thời điểm khác Vì bảng cân đối tài sản là bản chụp ví như bức tranh trưng bày về tình hình tài chính tại thời điểm cuối năm, trên cơ sở đó ta tính được các chỉ tiêu tài chính, do đó nó trở thành công cụ tốt để so sánh các chỉ tiêu tài chính giữa các thời kỳ khác nhau, đồng thời tạo cách nhìn tổng quát về cơ cấu và sự biến đổi trong bảng cân đối
Bảng cân đối tài sán phản ánh một cách tóm tắt về tài sản có, tài sản nợ (bao gồm cả vốn chủ sở hữu) Trong đó, tài sản có thể hiện những gì ngân hàng đang sở hữu, mà chủ yếu là những khoản tín dụng và đầu tư; tài sản
nợ là những tài sản ngân hàng phải thanh toán, mà chủ yếu là tiền gửi của khách hàng và vốn chủ sở hữu
Rõ ràng là, bảng cân đối tài sản phải thoả mãn điều kiện:
Tài sản có = Tài sản nợ = Vốn huy động + Vốn chủ sở hữu
2.2.2 TÀI SẢN CÓ
Theo truyền thống, khi phân tích tài chính ngân hàng người ta tập trung vào hai hạng mục bao quát của tài sản có là:
- Tài sản có có mức rủi ro tối thiểu và thanh khoản
- Tài sản có chịu rủi ro và ít thanh khoản
Rõ ràng là, cách phân loại tài sản có theo hai tiêu chí "thanh khoản" và
"rủi ro" có những hạn chế nhất định, bởi vì hai tiêu chí này độc lập tương đối
với nhau Tiêu chí “rủi ro" liên quan đến khả năng của khách hàng trong việc hoàn trả các khoản vay xét về số lượng và thời hạn; còn tiêu chí "thanh
Trang 18khoản" lại liên quan đến khả năng ăn khớp về số lượng và kỳ hạn giữa các
hạng mục bên tài sản có và bên tài sản nợ
Ví dụ, các khoản nợ của chính phủ tuy có mức rủi ro tối thiểu nhưng lại được xếp vào nhóm có rủi ro ở mức độ thấp bởi vì chúng không thanh khoản; trong khi đó các chứng khoán có khả năng chuyển nhượng cao vẫn không được xếp vào nhóm có tính thanh khoản cao nhất bởi vì chúng có bộc
lộ rủi ro
Sau đây là phần giải thích tóm tắt nội dung các hạng mục
1 Tiền mặt và số dư trên tài khoản các ngân hàng đại ly : Hạng mục
này bao gồm tiền trong két, số dư trên tài khoản của các ngân hàng đại lý nội địa và ở nước ngoài, những khoản tiền gửi có thể rút trong một thời gian ngắn sau khi có thông báo và tiền gửi tại NHTW
Nếu hạng mục này chiếm tỷ trọng lớn (không bình thường) trên tổng tài sản, thì cần phải cân nhắc xem xét những hạng mục không thanh
khoản có bị xếp nhầm vào hạng mục này hay không, ví dụ, hạng mục tiền gửi
kỳ hạn tại các ngân hàng thường bị xếp nhầm vào đây Nếu điều này xảy ra, thì chúng ta cần chuyển hạng mục không thanh khoản xuống phía dưới cùng với nhóm “tài sản chịu rủi ro thấp”
2 Số dư trên tài khoản các ngân hàng đại lý nước ngoài :
Trong một số trường hợp, nếu số dư trên tài khoản các ngân hàng đại lý
nước ngoài tương đối lớn, thì chúng ta cần để riêng hạng mục này thành một dòng riêng độc lập để phản ánh mức độ rủi ro cao hơn một chút so với số dư tại các ngân hàng đại lý nội địa
3 Các chứng khoán chính phủ ngắn hạn :
Bao gồm các khoản nợ ngắn hạn của chính phủ, các trái phiếu và tín phiếu kho bạc Những hạng mục này không phải lúc nào cũng được coi là có tính thanh khoản cao Ở một số quốc gia, các ngân hàng phải duy trì thường xuyên một số dư nhất định các chứng khoán chính phủ, do đó, các chứng khoán này đã trở thành đặc điểm lâu dài gắn liền với bảng cân đối tài sản,
Trang 19cho nên không thể coi chúng là thanh khoản được Nếu trường hợp này xảy
ra, thì chúng ta xếp “số dư chứng khoán chính phủ thường xuyên" vào hạng
mục “tài sản chịu rủi ro thấp"
4 Tài sản khác chịu rủi ro tối thiểu:
Những hối phiếu đã chiết khấu và những giấy tờ có giá thích hợp có
thể tái chiết khấu tại NHTW
5 Tài sản chịu rủi ro tối thiểu : Tổng các dòng từ 1 đến 4
Một cách chính xác, những tài sản chịu rủi ro tối thiểu là những tài sản
tương đối thanh khoản và dễ chuyển nhượng trên thị trường, rõ ràng là, các ngân hàng kinh doanh chủ yếu là đi vay để cho vay lại, do đó chúng ta dễ nhận
ra rằng nhóm tài sản chịu rủi ro tối thiểu hiếm khi có số dư lớn trên bảng cân đối tài sản Nếu có số dư lớn thì đây chỉ là dấu hiệu tạm thời chờ cơ hội cho vay và dầu tư
1 Tiền mặt và số dư trên tài khoản
các ngân hàng đại lý
7 824 7 402 8 656 7 596
2 Số dư trên tài khoản các ngân
hàng đại lý nước ngoài
3 Chứng khoán chính phủ ngắn
hạn
596 815 998 811
4 Tài sản khác – Others
5 Tài sản chịu rủi ro thấp nhất 8 420 8 217 9 654 8 407
NHÓM TÀI SẢN CÓ CHỊU RỦI RO THẤP - LOW RISK ASSETS
6.Chứng khoán dễ chuyển nhượng: Những chứng khoán được đăng ký
trên sở giao dịch và những chứng khoán không được đăng ký trên sở giao dịch nhưng phải có tính chuyển nhượng cao Những khoản dầu tư được giao dịch qua quầy (OTC), những khoản đầu tư cho các công ty thành viên và các chi nhánh không bao gồm trong hạng mục này
7 Những khoản nợ của chính phu : Bao gồm những khoản tín dụng
cho chính phủ và tín dụng cho các công ty có bảo lãnh của chính phủ, cộng với
Trang 20trái phiếu chính phủ không thể chuyển nhượng ngay lập tức Đặc trưng của hạng mục này là mức độ rủi ro thấp nhưng không thanh khoản
8 Tiền gửi tại các ngân hàng và mua kỳ phiếu ngân hàng: Nhìn chung hạng mục này có kỳ hạn ngắn và có mức rủi ro thấp, nên được xếp vào nhóm tài sản chịu rủi ro thấp Trong một số trường hợp, các hoạt động tiền gửi và mua các kỳ phiếu ngân hàng mang tính “hỗ trợ” cho ngân hàng khác, nếu như vậy thì chúng ta xếp các hoạt động này vào hạng mục “tài sản khác” và cần có giải thích
10 Tổng tài sản chịu rủi ro thấp : Tổng các hạng mục từ 6 đến 9
Các tài sản chịu rủi ro thấp phản ánh những tài sản ngân hàng đang nắm giữ nhưng không phục vụ cho mục đích hoạt động chính (hoạt động cho vay)
Vì là tài sản nên chúng cần được phân bố sao cho có mức sinh lãi thích hợp Tuy nhiên, các tài sản này thường được đầu tư vào các công cụ có mức rủi ro thấp hơn so với nhóm tài sản hoạt động chính của ngân hàng (xem nhóm tài sản chịu rủi ro thông thường dưới đây)
6 Chứng khoán dễ chuyển nhượng
8 Tiền gửi tại các ngân hàng và
mua kỳ phiếu ngân hàng
9 Tài sản khác – Others
10 Tài sản có chịu rủi ro thấp 1 578 1 411 1 508 1 358
NHÓM TÀI SẢN CHỊU RỦI RO THÔNG THƯỜNG –
NORMAL RISK ASSETS