Công trình nghiên cứu này đã nêu ra định nghĩa có tính phổ quát về nhân cách: “Nhân cách là các phẩm chất và năng lực của con người được biểu hiện và thể hiện trong một hệ thống ứng xử n
Trang 6Phát triển con người là mục tiêu cao cả nhất của toàn nhân loại Kinh tế tri thức đang đưa nhân loại tới một
kỷ nguyên mới, mở ra bao khả năng để họ tìm ra những con đường đi tới tương lai Mỗi dân tộc chọn cho mình một con đường để phát triển đất nước Việt Nam đã chọn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Tuy nhiên, đất nước
có thực sự phát triển mạnh hay không lại tùy thuộc vào việc giáo dục và phát triển con người Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam giáo dục con người Việt Nam theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm cơ sở nền tảng cho định hướng phát triển và hình thành nhân cách con người Việt Nam mới.
Trên cơ sở vận dụng khoa học và sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về con người, Đảng ta đã đề ra
và thông qua nghị quyết về việc phát triển con người Việt Nam toàn diện với tư cách là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Đó là con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức.
Phát triển con người Việt Nam toàn diện cũng chính là động lực, là mục tiêu nhân đạo của sự nghiệp
Trang 7công nghiệp hóa, hiện đại hóa Bởi lẽ, người lao động nước ta ngày càng đóng vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và trong sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì chất lượng người lao động về trí lực và văn hóa đạo đức là nhân tố quyết định Thực tiễn đã chứng minh rằng, không có nguồn lao động chất lượng cao thì chúng ta không thể phát triển kinh tế, đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu Để tạo đà cho bước phát triển tiếp theo của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đòi hỏi Việt Nam phải xây dựng một chính sách phát triển con người bền vững,
có nâng cao dần chất lượng của người lao động Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề con người, đặc biệt là vấn đề con người trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
xuất bản cuốn sách Nhân cách con người Việt Nam
và sự phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay do TS Bùi Xuân Dũng
chủ biên.
Cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu về nhân cách và chiến lược phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc
Tháng 6 năm 2021
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
Trang 81 Những quan điểm về nhân cách
Nhân cách là một khái niệm được đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau Theo nghĩa Hán Việt: Nhân cách được ghép bởi hai từ trong đó:
nhân là người, cách là tính cách Nhân cách là
tính cách hay bản chất của một người cụ thể nào đấy Song dưới góc độ khoa học, việc nghiên cứu nhân cách đã được nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trong nước và ngoài nước quan tâm với những định nghĩa, lý thuyết, quan điểm tiếp cận khác nhau Ở Việt Nam có hai công trình nghiên cứu chuyên sâu luận bàn về nhân
cách: cuốn Nghiên cứu giá trị nhân cách theo
Trang 9phương pháp NEO PI-R cải biên1 do Phạm Minh Hạc chủ biên, chủ trương xác định những giá trị
cơ bản của nhân cách, chính là tìm ra cái cốt lõi của nhân cách, có ý nghĩa, có giá trị sống còn đối
với mỗi con người Trong cuốn Xây dựng nhân cách văn hóa những bài học kinh nghiệm trong lịch sử Việt Nam của nhóm tác giả Hoàng Tuấn
Anh, Nguyễn Chí Bền, Từ Thị Loan, Vũ Anh Tú, chủ trương tiếp cận nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam trong một bối cảnh rộng của lịch đại lẫn đồng đại, từ đó “có thể rút ra những bài học kinh nghiệm thiết thực cho việc xây dựng nhân cách văn hóa cho con người Việt Nam hiện nay” Công trình nghiên cứu này đã nêu ra định nghĩa có tính phổ quát về nhân cách: “Nhân cách
là các phẩm chất và năng lực của con người được biểu hiện và thể hiện trong một hệ thống ứng xử nhất định đối với thế giới xung quanh và ngay với chính bản thân mình”2
1 Phạm Minh Hạc (chủ biên): Nghiên cứu giá trị nhân cách theo phương pháp NEO PI-R cải biên, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007.
2 Hoàng Tuấn Anh, Nguyễn Chí Bền, Từ Thị Loan,
Vũ Anh Tú: Xây dựng nhân cách văn hóa - những bài học kinh nghiệm trong lịch sử Việt Nam, Nxb Văn hóa -
Thông tin, Hà Nội, 2012, tr 300.
Trang 10Học giả Đào Duy Anh, tác giả cuốn Hán Việt từ điển, xuất bản năm 1950 đã giải thích:
Nhân cách: Phẩm cách của con người; cái tính cách riêng của một người; cái tư cách tự chủ độc lập của người ta ở trên pháp luật Cuốn sách này cũng giải thích: “Tư cách: Thân phận người
ta ở trên xã hội; tài khí và trình độ của người vừa đúng theo một việc gì, cũng gọi là tư cách”
Cuốn Từ điển Tiếng Việt do Văn Tân chủ biên,
xuất bản năm 1967 cũng giải nghĩa: Nhân cách: Phẩm chất con người
Nhân cách không phải là tất cả các đặc điểm
cá thể của con người mà chỉ bao hàm những đặc điểm quy định con người như là một thành viên của xã hội, nói lên bộ mặt tâm lý xã hội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi cá nhân Tuy nhiên, nhân cách không phải là một nét, một phẩm chất tâm lý riêng lẻ mà là một cấu tạo tâm lý mới
Do đó không phải con người sinh ra đã có nhân cách Ngoài ra, nhân cách còn quy định bản sắc, cái riêng của cá nhân trong sự thống nhất biện chứng với cái chung, cái phổ biển của cộng đồng
mà cá nhân đó là đại biểu Ví dụ: mỗi sinh viên Việt Nam đều là nhân cách duy nhất với tất cả những đặc điểm riêng biệt của mình, song đều
Trang 11có cái chung của con người Việt Nam là tình yêu làng xóm, yêu quê hương, đất nước.
Nhân cách là hệ thống những phẩm giá của một người được đánh giá từ mối quan hệ qua lại của người đó với những người khác, với tập thể, với
xã hội và cả với thế giới tự nhiên xung quanh trong mọi cái nhìn xuyên suốt quá khứ, hiện tại và tương lai Nhân cách là một thứ giá trị được xây dựng và hình thành trong toàn bộ thời gian con người tồn tại trong xã hội, nó đặc trưng cho mỗi con người, thể hiện những phẩm chất bên trong con người nhưng lại mang tính xã hội sâu sắc
Như vậy, nhân cách hiểu theo nghĩa phổ thông là phẩm cách hay phẩm chất của con người Ở đó thể hiện được giá trị đạo đức, giá trị năng lực và giá trị chung sống đối với xã hội qua
hệ thống ứng xử đối với thế giới xung quanh và với chính bản thân mình
2 Các thành tố cơ bản để hình thành nhân cách
2.1 Yếu tố môi trường
Môi trường là hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài các điều kiện tự nhiên và xã hội xung quanh
Trang 12cần thiết cho hoạt động sống và phát triển của con người Môi trường chia thành 2 loại: Môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.
2.1.1 Môi trường tự nhiên gắn với yếu tố bẩm sinh - di truyền có vai trò là cơ sở, tạo tiền đề vật chất cho sự hình thành và phát triển nhân cách
Không thể có nhân cách trừu tượng ở bên ngoài một con người bằng xương bằng thịt mà nhân cách của một con người cụ thể sống trong
xã hội cụ thể Theo sinh vật học hiện đại, di truyền là mối liên hệ kế thừa của cơ thể sống bảo đảm sự tái tạo ở thế hệ mới những nét giống nhau về mặt sinh vật đối với thế hệ trước và bảo đảm năng lực đáp ứng những đòi hỏi của hoàn cảnh theo một cơ chế đã định sẵn
Trong khi đó những đặc điểm giải phẫu sinh
lý của cá thể ngoài những yếu tố do di truyền tạo nên, còn có những yếu tố riêng tự tạo do sự vận động và phát triển của cá thể Những yếu tố
đó đối với con người có ngay từ trong môi trường bào thai của người mẹ Chính vì vậy, một cá thể vừa mang đặc điểm giải phẫu sinh lý của cha mẹ vừa có những đặc điểm riêng của nó
Bẩm sinh - di truyền là những đặc điểm giải phẫu sinh lý của hệ thần kinh và các cơ quan
Trang 13cảm giác, vận động Đối với mỗi cá thể khi ra đời
đã nhận được một số đặc điểm về cấu tạo và chức năng của cơ thể từ các thế hệ trước theo con đường
di truyền, trong đó có những đặc điểm về cấu tạo
và các chức năng của các giác quan và não
Để hình thành nên nhân cách của con người thì trước tiên vẫn phải trải qua các yếu tố của hoàn cảnh tự nhiên, nó như là cái nền vốn có quy định ít nhiều tính cách của con người
Mỗi dân tộc sống trên một vùng lãnh thổ nhất định, có cái độc đáo của hoàn cảnh địa lý: núi sông, trời biển, mưa gió, cây cỏ, tài nguyên, môi trường Những yếu tố này quy định về đặc điểm của các dạng, các ngành sản xuất, đặc tính của nghề nghiệp (tức là phương thức hoạt động của con người trong tự nhiên) và một số nét riêng trong phạm vi sáng tạo nghệ thuật Qua đó, quy định các giá trị vật chất và tinh thần ở một mức
độ nhất định Có thể nói rằng, tâm lý dân tộc mang dấu ấn của hoàn cảnh tự nhiên thông qua khâu trung gian là phương thức sống
Xét cho cùng, nhiều phong tục tập quán đều
có nguồn gốc điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh sống tự nhiên Một số nét tâm lý nào đó của
Trang 14bản địa, của nghề nghiệp cũng có thể được hiểu theo lôgic ấy Nhân cách như là một thành viên
xã hội, chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên thông qua những giá trị vật chất và tinh thần, qua phong tục tập quán của dân tộc, của địa phương, của nghề nghiệp - những cái vốn có liên
hệ với điều kiện tự nhiên ấy và qua phương thức sống của chính bản thân nó
2.1.2 Môi trường xã hội có vai trò quan trọng trong sự phát triển tâm lý nhân cách
Con người mang một bản chất xã hội nhất định; bản chất ấy có cơ sở vật chất - sinh học của
nó, bởi con người trước hết là một thực thể sinh vật Nhân cách của nó không tách rời mà trái lại gắn liền với những cội rễ của di truyền sinh vật mà nó thừa hưởng từ những thế hệ trước để lại Song, trong sự hình thành bản chất xã hội của từng cá thể, cá nhân thì tính ưu trội và vai trò quyết định lại thuộc về cơ sở xã hội - lịch sử
và văn hóa, thuộc về thực thể xã hội Con người mang bản chất xã hội và hình thành nhân cách của mình từ sự tổng hoà các quan hệ xã hội, từ hoàn cảnh xã hội mà trong đó nó tồn tại, nó thực hiện hoạt động sống của mình C Mác
Trang 15đã vạch ra những luận đề nổi tiếng về những đặc trưng xã hội và quy luật xã hội tác động tới
sự hình thành bản chất người, nhân cách người
Đó là:
Nếu không có sự tiếp xúc, trao đổi với người xung quanh hoặc trong một xã hội quá đơn điệu thì cơ thể sẽ lớn lên và phát triển trong trạng thái của động vật hoặc sẽ nghèo nàn về tâm
lý, kém sự linh động Chẳng hạn, bác sĩ Sing (người Ấn Độ) có kể về trường hợp cô Kamala được chó sói nuôi trong rừng từ nhỏ Khi được đưa ra khỏi rừng, cô đã 12 tuổi Bình thường,
cô ngủ trong xó nhà, đêm đến thì tỉnh táo và đôi khi sủa lên như tiếng chó sói Cô đi bằng 2 chi nhưng khi bị đuổi thì chạy bằng 4 chi khá nhanh Người ta dạy Kamala tập nói trong 4 năm nhưng cô chỉ nói được 2 từ Cô không thể thành con người thực sự Đến năm 18 tuổi thì
cô qua đời Sự thực đó đã khẳng định tính đúng đắn trong nhận xét của C Mác: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”1 hay “hoàn cảnh đã
1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, t 3, tr 11.
Trang 16sáng tạo ra con người, trong chừng mực mà con người đã sang tạo ra hoàn cảnh”1.
Như vậy, nhân cách là một sản phẩm của
xã hội Đứa trẻ muốn có nhân cách phải có sự tiếp xúc với người lớn để nắm vững tri thức, kinh nghiệm lịch sử xã hội, để được chuẩn bị bước vào cuộc sống và lao động trong văn hóa của thời đại
2.1.3 Yếu tố giáo dục - thông qua giáo dục nhân cách được hình thành và phát triển một cách đúng đắn, có hệ thống
Giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người Giáo dục có tính tiên tiến và có thể đi trước vạch đường cho nhân cách, do vậy nếu được giáo dục tốt ngay từ trong nhà trường sẽ giúp cho thế hệ trẻ có những định hướng giá trị nhân cách đúng đắn, có nhận thức và thái độ hành vi hợp lý
Giáo dục không chỉ thích ứng mà còn có thể
đi trước hiện thực và thúc đẩy nó phát triển Giáo dục có giá trị định hướng sự hình thành phát triển
1 Nguyễn Xuân Thức (chủ biên): Giáo trình tâm
lý học đại cương, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2008.
Trang 17nhân cách Giáo dục thúc đẩy sức mạnh bên trong khi trẻ nắm bắt được nhu cầu, động cơ, hứng thú và nó phù hợp với quy luật phát triển bên trong của cá nhân Thực tế, sự phát triển nhân cách của trẻ em chỉ có thể diễn ra một cách tốt đẹp trong những điều kiện của việc giáo dục Điều này được chứng minh bằng cả lịch sử phát triển của loài người: Trên thế giới chưa từng có nhà bác học, danh nhân, thiên tài nào lại chưa hề qua giáo dục của nhà trường cả Giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triển nhân cách, song không nên tuyệt đối hóa vai trò của giáo dục Giáo dục không phải là vạn năng, bởi vì giáo dục cũng chỉ vạch ra phương hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh và thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển theo hướng đó.
Như vậy, giáo dục một mặt cung cấp cho con người những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, mặt khác hình thành trong nhân cách học những phẩm chất tâm lý cần thiết theo yêu cầu của sự phát triển xã hội
Sự phối hợp đồng bộ các lực lượng giáo dục cũng như sự thống nhất giữa mục tiêu và
Trang 18phương pháp giáo dục trở nên hết sức cần thiết
Nó tạo ra những tác động tích cực cùng chiều tới sự hình thành nhân cách của thế hệ trẻ Muốn vậy, phải khai thác tối đa sức mạnh của giáo dục truyền thống lịch sử dân tộc, truyền thống cách mạng; kết hợp giáo dục khoa học
để rèn luyện phương pháp tư duy sáng tạo
và phát triển trí tuệ với giáo dục đạo đức và trau dồi sự tinh tế trong cảm thụ nghệ thuật, nâng cao khiếu thẩm mỹ để làm phong phú thế giới tinh thần của họ Đó là những lực đẩy cần thiết giúp con người phát triển và hoàn thiện nhân cách Nó còn cần thiết để thức tỉnh những người đã bị lệch lạc về nhân cách, thậm chí đánh mất nhân cách của mình mà trong hoàn cảnh và ở thời điểm nào đó, họ có thể hoàn lương và hướng thiện
Bên cạnh đó, giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt đối với những người khuyết tật, nó có thể bù đắp những thiếu hụt do bệnh tật gây
ra cho con người Giáo dục còn có thể uốn nắn những phẩm chất tâm lý xấu và làm cho nó phát triển theo chiều hướng mong muốn của
xã hội
Trang 19Giáo dục có thể bù đắp những thiếu hụt do khuyết tật bẩm sinh hoặc bệnh tật đem lại cho con người như trường hợp của thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký tuy không còn đôi tay nhưng vẫn trở thành giáo viên, hay như nghệ sĩ ghi ta tài năng Văn Vượng bị mù từ bé nhưng nhờ có phương pháp giáo dục đúng đắn mà trở thành tài năng
âm nhạc Đây là cơ sở để tổ chức các trường dạy trẻ em khuyết tật, trẻ em thiệt thòi Ngoài
ra giáo dục còn giúp các em có tư chất tốt phát triển, như các trường năng khiếu, trường đào tạo chất lượng cao Giáo dục là sự tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch nhằm thực hiện có hiệu quả các mục đích đã đề ra Giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự hình thành
và phát triển nhân cách Giáo dục có thể mang lại những tiến bộ mà các nhân tố khác như bẩm sinh - di truyền hoặc môi trường, hoàn cảnh không thể có được
2.1.4 Hoạt động thực tiễn là nhân tố tác động quan trọng tới sự phát triển nhân cách mỗi
cá nhân trong xã hội
Con đường tác động có mục đích, tự giác của
xã hội bằng giáo dục đến thế hệ trẻ sẽ trở nên
Trang 20không có hiệu quả nếu như bản thân cá nhân học sinh không tiếp nhận, không hưởng ứng những tác động đó nhằm phát triển tâm lý, hình thành nhân cách Bởi vậy, hoạt động thực tiễn của mỗi
cá nhân mới là nhân tố tác động quyết định trực tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cá nhân Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật về sự tự vận động, về động lực bên trong của sự phát triển nói chung Chừng nào cá nhân nhận thức được ý nghĩa của hoạt động cá nhân trong sự phát triển, hoàn thiện bản thân mình thì hoạt động của cá nhân sẽ trở thành hoạt động
tự giác giáo dục Hoạt động thực tiễn của chính bản thân mỗi cá nhân sẽ để lại dấu ấn của mình lên chính bản thân con người Tâm lý không chỉ được thể hiện mà còn được hình thành trong hoạt động thực tiễn
Thông qua hoạt động thực tiễn của mỗi người để cải tạo môi trường xã hội cũng là nhân tố tác động quan trọng tới sự phát triển nhân cách của chính
họ Tính xã hội là một trong những đặc trưng cơ bản nhất trong các hoạt động thực tiễn của con người Trong quá trình hoạt động thực tiễn, con người phải trao đổi với nhau bằng ngôn ngữ,
Trang 21phải sử dụng một khối lượng lớn văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của nhân loại Trong các hoạt động của mình, con người cần thiết phải hợp tác với những người xung quanh Họ phải tồn tại và phát triển trong các mối quan hệ xã hội, nếu tách khỏi các mối quan hệ đó con người không bao giờ
có thể phát triển được Trong quá trình ấy, mỗi cá nhân phản ứng trước sự tác động của môi trường
xã hội một cách khác nhau, thể hiện trong bản thân mình nét này hoặc nét khác của môi trường
xã hội tạo nên sự phong phú, đa dạng của nhân cách con người Có thể nói, thông qua hoạt động thực tiễn, con người biểu hiện các năng lực và phẩm chất nhân cách của mình
Chính quá trình tự giáo dục nhân cách của con người được hình thành: con người trở lên can đảm, quả quyết, cứng rắn Hãy quan sát những người xung quanh, bạn sẽ thấy hoạt động nghề nghiệp làm thay đổi vẻ ngoài và thế giới tinh thần của họ như thế nào? Đồng thời, qua cách cư xử, lời
ăn tiếng nói của họ, ta cũng biết họ làm nghề
gì Chúng ta đã biết, thông qua hoạt động, lao động là phương thức tồn tại của con người Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích,
Trang 22mang tính xã hội, cộng đồng, được thực hiện bằng những thao tác nhất định với những công cụ nhất định Vì vậy, mỗi loại hoạt động có những yêu cầu nhất định và đòi hỏi ở con người những phẩm chất tâm lý nhất định Qua đó, nhân cách được hình thành và phát triển Như vậy, giáo dục không thể tách rời tự giáo dục, tự rèn luyện, tự hoàn thiện nhân cách ở mỗi cá nhân.
2.1.4 Nhân cách cá nhân - là khả năng tự
ý thức, tự điều chỉnh của mỗi người làm cho ta khác người khác
Nếu con người là sản phẩm của hoàn cảnh thì vấn đề là ở chỗ, phải tạo ra hoàn cảnh có tính người Đó là nhân tính, là những sức mạnh (lực lượng) bản chất người của con người Đó là con đường phát triển theo xu hướng nhân đạo hóa hoàn cảnh để hình thành nên nhân cách mỗi người với tư cách là nhân cách chung của xã hội.Nhân cách của mỗi cá nhân được hình thành trong các mối liên hệ xã hội, trong các quan hệ liên nhân cách Song mỗi cá nhân là một chủ thể mang nhân cách của mình, đồng thời là đối tượng; khách thể được đánh giá về nhân cách bởi một chủ thể khác, bởi cộng đồng xã hội
Trang 23Nhân cách được biểu thị qua cách sống, cách ứng xử văn hóa, tập luyện hành vi, thói quen tốt cho từng cá nhân theo những chuẩn
mà xã hội đó đề ra Từ đó làm cho từng cá nhân nảy nở và phát triển nhân cách đẹp để tạo nên những thuộc tính giá trị cho cộng đồng
và cộng đồng cảm thấy những nhân cách đó cần được phát huy và hòa hợp với cộng đồng
Đó là sự hòa hợp giữa nhân cách cá nhân và nhân cách xã hội trong một hoàn cảnh lịch sử
cụ thể nhất định
Hoàn cảnh tạo ra con người trong chừng mực mà con người tác động cải biến trở lại đối với hoàn cảnh Con vật là một tồn tại bản năng trong khi con người là một thực thể xã hội có hoạt động sống sáng tạo dựa trên tiền đề tồn tại
Sự phong phú của mỗi cá nhân tuỳ thuộc vào sự phong phú của những mối liên hệ, những quan
hệ xã hội của nó Con người trở thành thực thể
và chủ thể xã hội bằng hoạt động của nó từ cá thể đến loài, từ bản chất loài, tộc loại tiến đến bản chất xã hội Đó là cả lịch sử của nó - lịch sử sáng tạo ra một tự nhiên thứ hai như là sáng tạo ra tác phẩm nghệ thuật của chính mình Con người
Trang 24sáng tạo ra xã hội con người theo quy luật của xã hội Điều đó chứng tỏ rằng, con người sáng tạo ra nhân cách xã hội và nhân cách cá nhân trong xã hội lại sáng tạo ra con người ở phương diện làm cho con người hoàn thiện, hoàn mỹ
Nhân cách cá nhân là nhân cách của từng người, trong tính cá thể sinh động của nó, trong
sự tự biểu hiện và tự khẳng định chất lượng phát triển người của nó với tư cách một cá nhân, một chủ thể mang nhân cách Đây là sự phát triển đặc trưng của cái riêng, của từng cái riêng một trong mối liên hệ mật thiết về bản chất với cái chung Mỗi cái riêng đó là một con người cá thể, cá nhân mà nhân cách của nó phản ánh nhân cách xã hội, là sản phẩm của sự phát triển
xã hội trong những điều kiện lịch sử nhất định Mỗi một cái tôi nhân cách đều mang dấu ấn của nhân cách xã hội, chịu ảnh hưởng và tác động của hoàn cảnh xã hội, điều kiện sống, truyền thống lịch sử, văn hóa cũng như trình độ và tính chất phát triển của xã hội đương thời Cái chung của nhân cách xã hội chi phối nhân cách cá nhân thông qua hệ giá trị và chuẩn mực của nó, biểu hiện thành thế giới quan và
Trang 25nhân sinh quan, thành tư tưởng và đạo đức, tình cảm và niềm tin, thành hành vi trong hoạt động
và ứng xử của con người trong cộng đồng xã hội
Do đó, mỗi cá nhân mang cái tôi nhân cách như một hình ảnh thu nhỏ của nhân cách xã hội Đời sống hiện thực, hằng ngày của nó diễn ra trong môi trường xã hội, giữa những người khác, trong công việc, trong giao tiếp và ứng xử Môi trường xã hội, hoạt động của con người và những quan hệ xã hội của nó là những nhân tố trực tiếp nhất tham gia vào sự hình thành và thực hiện nhân cách của mỗi cá nhân Tính hiện thực này của nhân cách xác định hình thức biểu hiện của nhân cách ở lẽ sống, lối sống và nếp sống Lẽ sống biểu đạt một quan niệm sống, một thái độ lựa chọn và định hướng giá trị cuộc sống của bản thân, chứa đựng trong đó cả mục đích, động cơ, nhu cầu và lý tưởng xã hội mà cá nhân hướng tới Nó đo lường trình độ trưởng thành xã hội của cá nhân về mặt nhận thức, lý trí, tình cảm
ý thức và tự ý thức về mình - cải tạo thành bản ngã, hay ý thức về cái tôi cá thể và chủ thể, trước hết được định hình ở lẽ sống Nó như một triết lý
về con người và cuộc sống
Trang 26II- CÁC QUAN ĐIỂM VỀ SỰ HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH
CỦA CON NGƯỜI
1 Sự hình thành nhân cách theo quan điểm phương Đông
Từ thời cổ đại, các nhà triết học phương
Đông đều đã tìm cách lý giải vấn đề bản chất con người, về yếu tố quyết định hình thành nhân cách con người và mối quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh
Nho gia thể hiện quan điểm về hình thành
nhân cách của con người thông qua học thuyết
“chính danh” - mỗi người trong xã hội đều mang một danh nhất định, tuỳ vào mối quan hệ mà trong xã hội có vô số các cặp danh khác nhau, tương ứng với từng danh, từng cặp danh là một
hệ thống những yêu cầu mà con người phải thực hiện Học thuyết chính danh là cách con người thể hiện nhân cách của mình thông qua các mối quan hệ đó và cũng là cách giáo dục nhân cách con người theo yêu cầu chung nhất và cũng là những yêu cầu cơ bản nhất của danh “người”
(nhân) là ngũ thường, gồm nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; trong đó nhân là gốc và lễ là phương tiện
Trang 27để thực hiện và thể hiện nhân Khái niệm nhân
là hạt nhân trong triết học Khổng Tử, trung
tâm của học thuyết Khổng Tử Trong Luận ngữ,
Khổng Tử có 58 chỗ đề cập quan niệm chữ nhân với 105 chữ, nhưng không chỗ nào giống nhau
cả Khi Nhan Uyên, học trò ưu tú của Khổng Tử, hỏi ông về nhân, Khổng Tử đáp: “Khắc phục ham muốn của mình, nói và làm phù hợp với lễ Một ngày làm được như thế người trong thiên hạ sẽ cùng về đức nhân Thực hiện đức nhân hoàn toàn
ở mình, không lẽ dựa vào người khác hay sao?”1 Nhan Uyên hỏi chi tiết điều mục chữ nhân, Khổng Tử giải thích: “Cái gì không hợp lễ thì mắt đừng nhìn, cái gì không hợp lễ thì tai đừng nghe, cái gì không hợp lễ thì miệng đừng nói, cái
gì không hợp lễ thì thân đừng làm”2 Theo ông, người có nhân là người làm được năm điều trong thiên hạ: cung, khoan, tín, mẫn, huệ Nhân còn
là biết “yêu người” và biết “ghét người” Người có đức nhân, phải là người “Trước làm những điều khó, sau đó mới nghĩ tới thu hoạch kết quả”3
1, 2, 3 Dương Hồng, Vương Thành Trung, Nhiệm Đại Viện, Lưu Phong (chú dịch) - Trần Trọng Sâm, Kiều
Bách Vũ Thuận (biên dịch): Tứ thư, Nxb Hội Nhà văn,
Hà Nội, 2006, tr 342, 342, 223.
Trang 28Người có đức nhân không xa rời “nhân” dù chỉ trước sau một bữa ăn, vì nhân đâu phải xa, bởi bản tính của con người là thiện Nhưng vì con người quen thói đời, mê vật dục, nên thấy nhân
xa mình đó thôi: “Không lẽ điều nhân xa chúng
ta như vậy? Ta nghĩ muốn đạt được điều nhân thì điều nhân sẽ đến”1 Nho gia xây dựng mẫu người quân tử, là hình tượng con người sống theo đạo nhân, nghĩa, lễ, trí, dũng, cuộc sống của họ là cuộc sống tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ để giúp đời Nho gia cho rằng, nhân cách con người
là do thiên mệnh chi phối và quyết định, “đức nhân” chính là giá trị cao nhất của con người, đặc
biệt là người quân tử Nhân là trung thứ, thương
người, hết lòng với người khác Bản tính này được bộc lộ “tiềm ẩn” trong các quan hệ xã hội giữa người với người Cốt lõi của nó là “trung thứ” Khổng Tử nói: “Đạo ta là một lẽ mà thông suốt tất
cả chỉ gom vào một chữ trung thứ”; “Chuẩn tắc trung thứ rất gần đạo, không trái đạo Phàm cái
gì làm cho mình mà mình không thích thì cũng đừng đem áp dụng vào người khác”2 Điều đó
1, 2 Dương Hồng, Vương Thành Trung, Nhiệm Đại Viện, Lưu Phong (chú dịch) - Trần Trọng Sâm, Kiều
Bách Vũ Thuận (biên dịch): Tứ thư, Sđd, tr 253, 169.
Trang 29có nghĩa là, mình muốn đứng vững, mình muốn công việc của mình thành đạt thì cũng làm cho công việc của người khác thành đạt Con người phải hết lòng, hết dạ, thành tâm, thành ý sống theo nguyên tắc ấy Ở đây, “Trung” không chỉ yêu người (ái nhân), mà còn phải giúp đỡ, tạo lập cho người thành đạt “Thứ” là suy mình ra người, cái gì không có lợi cho mình, mình không muốn, mình ghét thì đừng đem cái đó cho người khác Qua đây ta thấy, quan niệm “trung thứ” biểu hiện tính nhân văn sâu sắc, một lẽ sống, sống sao cho ra người Vì thế, nhân là đức tính hoàn thiện, là cái gốc đạo đức của con người Đó
là đạo làm người mà cốt lõi là vừa yêu thương, vừa phải giúp đỡ lẫn nhau để tạo dựng cuộc sống cộng đồng hòa bình, hạnh phúc
Nhân của Nho giáo còn gồm nhiều tiêu chuẩn khác nữa như: trung, hiếu, cung, kính, khoan, hòa, cần, mẫn, chính đáng, thật thà, khiêm tốn, dũng cảm, học gắn với hành, tự trách mình hơn trách người, thận trọng, biết yêu người đáng yêu, biết ghét người đáng ghét Giết một người
để cứu muôn người là nhân Do quan niệm về nhân bao quát nhiều tiêu chuẩn đạo đức như vậy,
Trang 30nên người thiếu những tiêu chuẩn đó không phải
sự ràng buộc của lợi ích giai cấp, ông lại khẳng định rằng, đức nhân chỉ có thể có được ở người quân tử, Khổng Tử luôn luôn phân biệt rõ sự đối lập giữa hai hạng người trong xã hội: quân tử và tiểu nhân “Người nhân dùng của cải của mình
để hoàn thiện phẩm đức Kẻ bất nhân dùng sinh mệnh của mình để vơ vét của cải”1 Ông khẳng định rằng: “Người quân tử chẳng may lỡ làm việc bất nhân là có Nhưng chưa có kẻ tiểu nhân nào
mà làm được một việc có nhân”2 Đây là điểm hạn chế lớn về thế giới quan cũng như nhân sinh quan của Khổng Tử
1, 2 Dương Hồng, Vương Thành Trung, Nhiệm Đại Viện, Lưu Phong (chú dịch) - Trần Trọng Sâm, Kiều
Bách Vũ Thuận (biên dịch): Tứ thư, Sđd, tr 53, 397.
Trang 31Pháp gia cho rằng bản tính con người là ác,
vì con người sinh ra đã có lòng tham, có sự đố kỵ ganh ghét lẫn nhau Bởi người theo Hàn Phi Tử - học trò của Tuân Tử, quan niệm “tính con người
ta vốn ác”1 của Tuân Tử và bổ sung, phát triển
nó bằng những nội dung mới Những nội dung
về vấn đề con người trong triết thuyết của ông khá “tàn nhẫn” và thể hiện một sự “công phá”
từ bên trong khi ông nhận ra bản chất đích thực của con người lại thường bị che giấu bởi những giá trị “không thật” Ông chấp nhận con người với đầy đủ bản năng sinh tồn để đấu tranh cho
sự tồn tại của chính bản thân mình như một lẽ
tự nhiên Với xuất phát điểm đó, Hàn Phi Tử đã
đi thẳng vào khía cạnh lợi ích cá nhân - chủ yếu
là lợi ích về mặt vật chất, để khẳng định cơ sở sự tồn tại của con người và bản tính vốn hám lợi, sợ hãi của mọi cá thể Bản chất này được bộc lộ qua
vô số các hiện tượng khác nhau như: người đóng quan tài thì mong cho người ta chết, người làm cỗ
xe thì mong cho người ta được sang, thầy thuốc thì mong người ta bị bệnh nhiều, trong quan hệ
1 Nguyễn Hiến Lê - Giản Chi: Tuân Tử, Nxb
Văn hóa, Hà Nội, 1994, tr 50.
Trang 32vua tôi: “làm hại đến thân mình mà có lợi cho nước, bầy tôi không làm tình cảm của bề tôi là không thấy cái lợi ở chỗ mình bị thiệt hại”1 Cho nên với Hàn Phi Tử, các quan hệ giữa người với người đều bị quyết định bởi cái lợi ích thiết thân Cái lợi ở đâu thì người ta theo đó mà làm, cái hại đến thân ở đâu thì người ta theo đó mà tránh, mọi giá trị nhân, nghĩa đều chỉ là giả dối.
Thẳng thắn nhìn vào con người với tư cách
là một sinh vật mang bản chất hám lợi và ích
kỷ, Hàn Phi Tử chấp nhận sự tồn tại phổ biến của dạng người này một cách tự nhiên như nó vốn tồn tại, một sản phẩm tất yếu của quá trình phát triển Theo ông, đã có thời kỳ lịch sử con người không đặt cái lợi ích lên hàng đầu đó là thời thượng cổ Lúc đó “đàn ông không cày vì các sản phẩm của cây, cỏ đủ để ăn; đàn bà không dệt
vì da của chim muông đủ để mặc; không phải vất vả mà việc nuôi dưỡng có đủ, số người thì
ít mà tài sản thì có thừa Vì vậy cho nên nhân dân không phải tranh giành Bởi vậy không cần thưởng hậu, không phải dùng hình phạt nặng
1 Phan Ngọc (dịch): Hàn Phi Tử, Nxb Văn học,
Hà Nội, 2005, tr 167.
Trang 33mà nhân dân tự nhiên trị an”1 Nhưng về sau, khi con người đông lên, của cải ít đi, mặc dù đã
cố gắng vất vả làm việc nhưng họ vẫn không
đủ sống Lúc này xã hội bắt đầu nảy sinh tranh giành của cải, cướp bóc lẫn nhau và xã hội vì thế
mà loạn Ông đã giải thích mâu thuẫn xã hội bắt đầu từ lợi ích kinh tế trên cơ sở phân tích sự biến đổi của điều kiện dân số, tình trạng dân cư, trình
độ của công cụ lao động Có thể thấy, khi khẳng định ảnh hưởng mang tính quyết định của yếu tố kinh tế đối với mỗi cá nhân và từng xã hội, Hàn Phi Tử thực sự đã động chạm đến gốc rễ của vấn
đề, cái gốc rễ mà nhiều người đương thời phải che đậy, không dám thẳng thắn thừa nhận nó Cao hơn, Hàn Phi Tử còn nhận ra tác dụng hai chiều của yếu tố kinh tế đối với con người Một mặt, cái lợi là yếu tố căn bản thúc đẩy con người hành động tranh giành của cải và là nguyên nhân gây
ra mâu thuẫn, nhưng mặt khác, nó cũng là yếu
tố liên kết con người với nhau Theo đó, hành động vì cái lợi là lẽ bình thường chỉ cần đặt cái lợi riêng trong cái lợi chung, không vì cái lợi riêng
mà đi ngược lại cái lợi chung Đây là tư tưởng biện
1 Phan Ngọc (dịch): Hàn Phi Tử, Sđd, tr 540.
Trang 34chứng khá sâu sắc của Hàn Phi Tử Ông đã đánh giá xã hội đương thời và phê phán chế độ quân chủ một cách sắc bén và thẳng thắn Như một bản cáo trạng đối với chế độ quân chủ, trong hệ thống triết học - chính trị của Hàn Phi Tử, mỗi con người, với tư cách là cá nhân đều bị lột trần cái vỏ bọc bề ngoài để hiện ra với nguyên nghĩa
cá thể cần những giá trị căn bản bên trong như nhau để tồn tại Bản chất hám danh, hám lợi ấy của con người, đối với Hàn Phi Tử là cái không thể che giấu, sửa đổi nhưng nếu biết sử dụng nó cho hợp lý trong các mối quan hệ giữa người với người thì nó đem lại hiệu quả nhất định Do vậy,
cần phải giáo dục nhân cách của họ bằng pháp, thế, thuật để họ biết sợ mà qua đó nhân cách con
người được thay đổi Trong khi xác nhận những
yếu tố hợp lý, đúng đắn của các quan điểm pháp, thế, thuật, Hàn Phi Tử cũng chỉ ra những hạn
chế cụ thể của họ Phê phán quan điểm phiến diện của cả ba phái, ông đã nêu rõ tính tất yếu phải hợp nhất chúng lại vì theo ông chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau trong sự thống nhất không thể tách rời Trước đây, Thân Bất Hại mới chỉ dừng lại ở việc lý giải thuật là gì và nhấn mạnh
Trang 35yêu cầu nhà vua cần phải sử dụng thuật để trị nước Tiếp thu tư tưởng của Thân Bất Hại, Hàn Phi Tử đã chỉ rõ nhà vua cần phải sử dụng thuật như thế nào và có những thuật gì Ông đã đi vào ngõ ngách của từng vấn đề để phân tích cho nhà vua thấy sự cần thiết phải có thuật và đề xuất một loạt các biện pháp để bổ sung tư tưởng đó, như: thuyết “hình danh”, hệ thống các thủ đoạn thống trị trong việc bổ nhiệm, miễn trừ, soát xét, thưởng phạt quan lại Ông đã kế thừa, phát triển cả về bề rộng lẫn bề sâu, tạo cho “thuật” có một nội dung mới, phong phú, hoàn chỉnh và sắc thái riêng Từ Thân Bất Hại đi lên, nhưng Hàn Phi Tử đã vượt lên người đi trước về phương diện thủ thuật chính trị Tư tưởng về “thế” do Thận Đáo xác lập được Hàn Phi tiếp thu và làm phong phú, sâu sắc hơn với những dẫn chứng lịch sử
và so sánh trong thực tiễn xã hội Trên cơ sở gắn thế với vai trò người đứng đầu của một quốc gia, quyền lực chính trị của nhà cầm quyền; Do đó,
“thế” qua sự trình bày của Hàn Phi Tử có nội dung đầy đủ và rõ nét hơn, trở thành một yếu tố không thể thiếu được trong phương pháp trị nước của pháp gia Bên cạnh đó, những quan điểm
Trang 36đề cao vai trò của pháp luật, chủ trương “thời biến, pháp biến”, giữ “tín” và coi trọng thưởng phạt trong thi hành pháp luật của Thương Ưởng
đã được Hàn Phi Tử tiếp thu, phát triển thành một hệ thống quan điểm, nguyên tắc tương đối hoàn chỉnh, chặt chẽ, giá trị lâu dài và trở thành đỉnh cao của lý luận pháp luật phương Đông cổ đại Là tập đại thành của học thuyết pháp trị, tư tưởng của các pháp gia đi trước trở thành tiền
đề tư tưởng, chất liệu và nền tảng quan trọng để Hàn Phi Tử kế thừa, nâng lên một trình độ mới
và phát triển thành học thuyết pháp trị
Đạo gia cho rằng, con người sinh ra từ “Đạo”
vì vậy con người phải sống “vô vi” theo lẽ tự nhiên thuần phát, không hành động gò ép, giả tạo trái lẽ
tự nhiên Cứ làm theo cái tự nhiên đó là cái đạo và
đó cũng là cái “vô vi” Chỉ có thực hiện được vô vi con người mới thể hiện đúng nhân cách của mình
“Vô vi” là một học thuyết triết học của người Trung Hoa cổ đại đã được Lão Tử nâng lên thành học thuyết về nghệ thuật sống của con người trong sự hòa nhập với tự nhiên “Vô vi” theo nghĩa thông thường là “không làm gì” Nhưng thực chất, theo Lão Tử, danh từ “vô vi” không có nghĩa là
Trang 37không làm gì mà là hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không có tính chất giả tạo, gò ép, trái với bản tính tự nhiên của mình; không làm trái với quy luật tự nhiên, không can thiệp vào guồng máy của tự nhiên Lão Tử viết: “Đạo thường không làm gì mà không gì không làm Vua chúa nếu giữ được đạo, muôn vật sẽ tự mình chuyển hóa Không ham muốn để được yên
lặng, thiên hạ sẽ tự yên” (Đạo đức kinh, Chương
37)1 Như vậy, “vô vi” không có nghĩa là không làm gì cả mà là phương thức hành động của con người đã ngộ được “đạo”, ngộ được quy luật tự nhiên để không can thiệp (hữu vi) vào tiến trình phát triển của bản thân giới tự nhiên Ông cho rằng: “ Đạo đức là cái luật tự nhiên, không cần tranh mà thắng, không cần nói mà ứng nghiệm, không cần mời mà các vật vẫn theo về, lờ mờ mà
hay mưu tính” (Đạo đức kinh, Chương 42)2 Nếu không thuận theo đạo tự nhiên, đem ý chí và dục vọng của con người cưỡng ép vạn vật là trái với
“đạo vô vi”, tất nhiên sẽ thất bại Lão Tử nói:
“Nếu trời không trong sẽ vỡ Đất không yên sẽ
1, 2 Xem Lão Tử: Đạo đức kinh (Khải K Phạm biên
dịch), Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2008.
Trang 38lở Hang không đầy sẽ cạn Vạn vật không sống
sẽ dứt” (Đạo đức kinh, Chương 39)1 “Lấy thiên
hạ thường ở sự vô, nếu mà hữu sự không đủ lấy
thiên hạ” (Đạo đức kinh, Chương 48)2 Lão Tử viết: “Đạo sinh ra vạn vật, Đức bao bọc vật chất khiến cho mỗi vật thành hình, hoàn cảnh hoàn thành mỗi vật Đạo và Đức không can thiệp chi
phối vạn vật mà để vật tự nhiên phát triển” (Đạo đức kinh, Chương 51)3 Với quan niệm “vô vi”, ông chủ trương không can thiệp vào tiến trình phát triển tự nhiên của vạn vật Theo Lão Tử, chính con người cũng thống nhất với “đạo”, tức
đó con người mới giữ được “đạo” và tuân theo
1, 2, 3 Xem Lão Tử: Đạo đức kinh (Khải K Phạm biên dịch), Sđd.
Trang 39“đạo” Triết lý “vô vi” của Lão Tử còn thể hiện
ở sự nhận thức các quy luật của tự nhiên, và
từ đó làm theo các quy luật của tự nhiên Theo Lão Tử, toàn thể vũ trụ bị chi phối bởi hai quy luật phổ biến và cơ bản nhất là luật quân bình
và luật phản phục
Phật giáo cho rằng, con người được kết hợp
giữa hai yếu tố là danh và sắc (vật chất và tinh thần), đời sống của con người trên trần thế chỉ
là hư vô, ảo giác, vì vậy cuộc đời con người sống chỉ là sống gửi, tạm bợ Cuộc sống vĩnh cửu phải hướng tới niết bàn, nơi tinh thần con người được giải phóng, thoát khỏi ngọn lửa tham, sân, si
và trở thành bất diệt Trong quá trình tồn tại, người nào cũng có nhân cách trần tục tính và phật tính Trần tục tính là tính tham, sân, si;
là vô minh, ái dục Phật tính là tính giác ngộ
về cõi niết bàn, về cõi chân như Quan niệm về
nhân cách của con người được Phật giáo thể hiện bằng cách đem tình yêu thương đến với mọi người Từ bi là phạm trù thuộc tứ vô lượng tâm, bao gồm: từ, bi, hỷ, xả Tâm từ là tình thương bao la, không giới hạn; đem lại hạnh phúc cho mọi người, mọi loài, cứu khổ, cứu nạn cho
Trang 40chúng sinh mà quên đi những lợi ích của bản thân Tâm bi là thương xót vô lượng, vô biên nhưng không bi lụy, vì thế trở thành động lực cho việc cứu khổ, cứu nạn Đây cũng là đức tính giúp cho con người sống cao thượng hơn, gần gũi hơn Tâm hỷ là sống vui vẻ, bất kể thất bại, nghịch cảnh, vui với thành công của người khác
là vô lượng vô biên Tâm xả là đem hết sức mình
để cứu người, giúp người không mong bù đắp, là tinh thần hy sinh vì tha nhân Tâm từ và tâm
bi là tiền đề, khởi đầu cho tâm hỷ, tâm xả Sự rung động, lòng trắc ẩn, cao thượng hướng về nỗi đau của người khác sẽ định hướng cho con người trong lý trí, hành động, sẵn sàng quên
mình vì mọi người Xây dựng tứ vô lượng tâm,
Phật giáo muốn nhấn mạnh vào cái tâm của con người, đó là đạo đức, lòng người, trí tuệ
Cái tâm của con người nằm trong mối quan
hệ biện chứng với xã hội Do đó, nói đến nhân cách của con người của Phật giáo, người ta thường nói đến từ, bi, hỷ, xả, vô ngã, vị tha, cho nên tứ vô lượng tâm vừa là cái thiện hoàn chỉnh, vừa là lòng khoan dung rộng lớn của Phật giáo Phật giáo nói đạo lý vô ngã là muốn con người