Đường tiêu hóa của con người bao gồm thực quản , dạ dày và ruột, được chia thành đường tiêu hóa trên và dưới.. Khái niệm tổng quan Rối loạn tiêu hóa là một hội chứng được tạo ra bởi sự
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TPHCM
Viện Công nghệ sinh học và Thực phẩm
MÔN: DINH DƯỠNG LÂM SÀNG
BỆNH RỐI LOẠN TIÊU HÓA
Giảng viên: LÂM KHẮC KỶ
Thành viên: CHÂU THỊ KHẢ TÚ NGUYỄN THỊ KIM PHỤNG
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 20
Trang 2MỤC LỤC NỘI DUNG
I GIỚI THIỆU: 5
II GIẢI PHẪU VÀ CHỨC NĂNG SINH LÝ: 5
1 Định nghĩa và vai trò đường tiêu hóa 5
1.1 Sự phân bố vi sinh vật ở đường tiêu hóa: 6
2 Các cơ quan trong đường tiêu hóa và chức năng sinh lý: 7
2.1 Thực quản 7
2.2 Túi mật 7
2.3 Gan 7
2.4 Dạ dày 7
2.5 Ruột non 8
2.6 Ruột già 9
III CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ CHUNG CỦA BỆNH RỐI LOẠN TIÊU HÓA 10
3.1 Khái niệm tổng quan 10
3.2 Dấu hiệu nhận biết thường gặp 10
3.3 Nguyên nhân 11
IV CÁC BỆNH LÝ VỀ RỐI LOẠN TIÊU HÓA 13
1 Bệnh trào ngược dạ dày thực quản 13
1.1 Các nguyên nhân chính gây ra trào ngược là: 13
1.2 Triệu chứng lâm sàng 14
1.3 Liệu pháp dinh dưỡng 16
1.4 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng 16
1.5 Chẩn đoán dinh dưỡng 16
1.6 Can thiệp dinh dưỡng 16
2 Bệnh lý dạ dày – tá tràng 18
Trang 32.1 Nguyên nhân gây loét dạ dày-tá tràng 19
2.2 Mục đích của chế độ ăn 19
2.3 Nguyên tắc xây dựng chế độ ăn 19
2.4 Thức ăn nên dùng 20
2.5 Thức ăn không nên dùng 21
3 Viêm dạ dày mãn tính 21
3.1 Triệu chứng 22
3.2 Nguyên nhân 22
3.3 Chế độ dinh dưỡng 22
3.3.1 Những điều cần tránh 22
3.3.2 Những thực phẩm khuyến nghị 23
3.4 Phương pháp điều trị thay thế cho bệnh viêm dạ dày mãn tính 23
4 Bệnh tiêu chảy 23
4.1 Nguyên nhân gây tiêu chảy: 23
4.2 Điều trị 24
4.3 Liệu pháp dinh dưỡng cho tiêu chảy 24
4.4 Đánh giá dinh dưỡng ở bệnh nhân tiêu chảy 24
4.5 Chẩn đoán dinh dưỡng 25
4.6 Can thiệp dinh dưỡng 25
5 Chế độ ăn trong viêm loét đại tràng mạn tính 28
5.1 Đặc điểm lâm sàng : 28
5.2 Chế độ ăn: 29
6 Chế độ ăn trong bệnh Crohn 29
6.1 Liệu pháp dinh dưỡng 30
V KẾT LUẬN: 31
Trang 4TÀI LIỆU THAM KHẢO: 32
Trang 5I GIỚI THIỆU:
Theo thống kê của tổ chức Ung thư toàn cầu (GLOBOCAN) ước tính tại Việt Nam năm 2018 có 14.000 người mắc mới ung thư đại trực tràng và hơn 7.000 trường hợp tử vong vì căn bệnh này Những bệnh lý này ngày càng gia tăng và có xu hướng trẻ hóa, phần lớn chỉ được phát hiện khi đã ở giai đoạn muộn Theo thống kê, Việt Nam mỗi ngày có hơn 100 người mắc mới các loại ung thư đường tiêu hóa và con số này vẫn liên tục tăng lên mỗi năm Từ các con số thống kê ở trên có thể thấy các bệnh về đường tiêu hóa đang
có xu hướng gia tăng báo động đe dọa ảnh hưởng trực tiếp đến với sức khỏe của người dân Việt Nam
Thống kê của Viện Dinh Dưỡng 2021 rối loạn tiêu hoá là tình trạng thường gặp ở trẻ
sơ sinh và trẻ nhỏ, tỷ lệ bé có biểu hiện rối loạn tiêu hóa chiếm tới 47% trong tổng số bé tới tư vấn và khám bệnh tại đây Tại Bệnh viện Nhi Trung ương, tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi bị rối loạn tiêu hóa lên đến 59,2%, từ 1 đến 2 tuổi là 39,9%
II GIẢI PHẪU VÀ CHỨC NĂNG SINH LÝ:
1 Định nghĩa và vai trò đường tiêu hóa
Đường tiêu hóa là đường từ miệng đến hậu môn mà bao gồm tất cả các bộ phận của hệ tiêu hóa ở người và các động vật Thức ăn đưa vào miệng sẽ được tiêu hóa để lấy chất dinh dưỡng và hấp thụ năng lượng, và chất thải được thải ra ngoài dưới dạng phân Các miệng , thực quản , dạ dày và ruột đều là một phần của đường tiêu hóa Tiêu hóa là một tính từ có nghĩa liên quan đến dạ dày và ruột Đường là một tập hợp các cấu trúc giải phẫu liên quan hoặc một loạt các cơ quan cơ thể kết nối với nhau
Đường tiêu hóa của con người bao gồm thực quản , dạ dày và ruột, được chia thành đường tiêu hóa trên và dưới Đường tiêu hóa bao gồm tất cả các cấu trúc giữa miệng và hậu môn, tạo thành một lối đi liên tục bao gồm các cơ quan chính của quá trình tiêu hóa, đó
là dạ dày, ruột non và ruột già Tuy nhiên, hệ thống tiêu hóa hoàn chỉnh của con người được tạo thành từ đường tiêu hóa cộng với các cơ quan phụ của quá trình tiêu hóa
Trang 6(lưỡi, tuyến nước bọt, tuyến tụy, gan và túi mật) Đường này cũng có thể được chia thành đường trước, đường giữa và đường sau Toàn bộ đường tiêu hóa của con người dài khoảng 9m Nó ngắn hơn đáng kể trong cơ thể sống bởi vì ruột là các ống mô cơ trơn, duy trì trương lực cơ liên tục ở trạng thái căng nửa chừng nhưng có thể giãn ra ở các điểm làm chướng bụng cục bộ và nhu động
Đường tiêu hóa chứa hàng nghìn tỷ vi khuẩn với 4.000 chủng vi khuẩn khác nhau có vai trò khác nhau trong duy trì sức khỏe miễn dịch và trao đổi chất, bao gồm vi sinh vật có lợi (chiếm 85%) và vi sinh vật gây bệnh (chiếm 15%) Nhờ cơ chế điều hòa miễn dịch tại ruột,
dù có sự góp mặt của vi khuẩn gây bệnh nhưng cơ thể vẫn ở trạng thái khỏe mạnh vì hệ vi sinh cân bằng
Các tế bào của đường tiêu hóa giải phóng hormone để giúp điều chỉnh quá trình tiêu hóa, các hoocmon tiêu hóa này bao gồm gastrin, secrettin, cholecystokinin và ghrelin, được trung gian thông qua nội tiết hoặc tự nội tiết các cơ chế, chỉ ra rằng các tế bào giải phóng các hormone này là cấu trúc được bảo tồn trong suốt quá trình tiến hóa
1.1 Sự phân bố vi sinh vật ở đường tiêu hóa:
Vi sinh vật ở miệng: Miệng có chứa một lượng lớn vi sinh vật vì có điều kiện tốt cho chúng phát triển (nhiệt độ phù hợp, bã thức ăn và pH nước bọt có độ kiềm nhẹ) Các loại
vi sinh vật thường tồn tại ở miệng là: liên cầu (S sanguis, S salivarius, S mitis, S Mutans),
tụ cầu (S Epidermidis), song cầu gram âm (Moraxella catarrhalis, Neisseria), Lactobacillus, Các vi sinh vật ít gặp hơn gồm C Albicans, S aureus, Enterococcus;
Vi sinh vật trong dạ dày: pH axit của dạ dày giữ lượng vi sinh vật ở mức tối thiểu là 103
vi sinh vật/gram thức ăn Các loại vi khuẩn có thể sống được trong dạ dày gồm: Vi khuẩn lao, vi khuẩn H pylori Trên thế giới hiện có khoảng 30 - 50% dân số mang vi khuẩn H Pylori trong dạ dày Không quá 20% trong số nhóm này phát triển thành bệnh loét dạ dày
- tá tràng do nhiễm H Pylori;
Trang 7Vi sinh vật ở ruột: Số lượng vi sinh vật ở ruột non rất ít, tăng dần khi đi xuống dưới Các
vi sinh vật thường tồn tại ở ruột non gồm Lactobacillus, Enterococcus, Candida albicans Các vi sinh vật tồn tại trong đại tràng chủ yếu là vi khuẩn kỵ khí như Bacteroides, Lactobacillus, Clostridium, Peptococcus Các vi khuẩn ưa khí và kỵ khí tùy ngộ có số lượng
ít hơn, thường gồm: E Coli, Enterobacter, Proteus, Klebsiella, Pseudomonas, Lactobacillus, B cereus, Enterococcus, Candida spp,
2 Các cơ quan trong đường tiêu hóa và chức năng sinh lý:
2.1 Thực quản
Là một ống cơ có chiều dài trung bình 25cm ở người trưởng thành, được lót bằng biểu
mô vảy không sừng hóa và các tuyến dưới niêm mạc tiết ra dịch nhầy (mucin), bicarbonat, yếu tố tăng trưởng biểu bì và tuyến tiền liệt bảo vệ niêm mạc khỏi acid dạ dày Khi thức ăn được di chuyển từ miệng đến hầu họng qua cơ thắt thực quản trên, thức ăn di chuyển vào thực quản và nhờ co bóp nhu động đưa thức ăn xuống thực quản, cơ thắt thực quản dưới tiếp nhận cho phép thức ăn đi vào dạ dày Có chức năng quan trọng là truyền chất rắn và lỏng từ miệng đến dạ dày
2.2 Túi mật
Đây là một túi nhỏ, nằm sát gan, có chiều dài khoảng 80 - 100mm Túi mật có tác dụng
co bóp đẩy dịch mật vào ống mật chủ, từ đó vào tá tràng và xuống ruột non, giúp tiêu hóa các chất béo Túi mật có vai trò quan trọng trong hệ tiêu hóa của cơ thể
2.3 Gan
Gan có vai trò quan trọng trong hệ tiêu hóa, giúp tổng hợp protein huyết tương, dự trữ glycogenvà thải độc Đây được ví như nhà máy hóa chất của cơ thể, điều hòa các phản ứng hóa sinh
2.4 Dạ dày
Trang 8Dạ dày là cơ quan quan trọng, nó được cấu tạo dạng một cái túi gồm rất nhiều cơ Khi tiếp nhận thức ăn từ thực quản xuống, acid và enzyme sẽ được tiết ra, trộn lẫn với thức ăn
để thủy phân các protein và dưỡng chất cần thiết
Ban đầu, thức ăn di chuyển tương đối nhanh qua hệ thống tiêu hóa Trong vòng 6 đến 8 giờ, thức ăn đã di chuyển qua dạ dày, ruột non và ruột già.Khi đã ở trong ruột già, thức ăn được tiêu hóa trong bữa ăn có thể nằm tại đây hơn một ngày và tiếp tục được hấp thu, phân giải
Phạm vi bình thường cho thời gian vận chuyển đi qua toàn bộ ruột như sau: đi qua dạ dày (2 đến 5 giờ), quá trình đi ruột non (2 đến 6 giờ), đi đến qua đại tràng (10 đến 59 giờ)
và vận chuyển toàn bộ ruột (10 đến 73 giờ)
Tốc độ tiêu hóa cũng phụ thuộc vào bản chất của thức ăn Thịt và cá có thể mất tới 2 ngày để tiêu hóa hoàn toàn Các protein và chất béo có trong các loại thực phẩm này là các phân tử phức tạp nên mất nhiều thời gian hơn để cơ thể phân giải
Thể tích dạ dày xấp xỉ 50ml khi rỗng nhưng có thể mở rộng đến khoảng 4 lít Tế bào thành dạ dày tạo ra 1,5 đến 2 lít acid mỗi ngày nên độ pH dao động từ 1-2
2.5 Ruột non
Các ruột non bắt đầu ở tá tràng và là một cấu trúc hình ống, thường là từ 6 đến 7m Diện tích niêm mạc ở người trưởng thành là khoảng 30m2 Sự kết hợp của các nếp gấp tròn, nhung mao và vi nhung mao làm tăng diện tích hấp thụ của niêm mạc lên khoảng 600 lần, tạo nên tổng diện tích khoảng 250m2 cho toàn bộ ruột non Chức năng chính của nó là hấp thụ các sản phẩm của quá trình tiêu hóa vào máu Có ba bộ phận chính:
Tá tràng : Một cấu trúc ngắn (dài khoảng 20–25 cm) nhận chyme từ dạ dày, cùng với dịch tụy chứa các enzyme tiêu hóa và mật từ túi mật Các enzyme tiêu hóa phân hủy protein
và mật nhũ hóa chất béo thành các mixen Các tá tràng chứa tuyến Brunner của sản xuất một bài tiết chất nhầy có chứa bicarbonat Những chất tiết này, kết hợp với bicarbonate từ tuyến tụy, sẽ trung hòa axit dạ dày có trong chyme
Trang 9Hỗng tràng : Đây là phần giữa của ruột non, nối tá tràng với hồi tràng Nó dài khoảng 2,5m và có các nếp gấp hình tròn và các nhung mao làm tăng diện tích bề mặt Các sản phẩm của quá trình tiêu hóa (đường, axit amin và axit béo) được hấp thụ vào máu ở đây Hồi tràng : Đoạn cuối cùng của ruột non Nó dài khoảng 3m và chứa các nhung mao tương tự như hỗng tràng, hấp thụ chủ yếu vitamin B12, axit mật và chất dinh dưỡng còn lại
2.6 Ruột già
Ruột già hay còn gọi là đại tràng, bao gồm các cecum, trực tràng và ống hậu môn Nó cũng bao gồm ruột thừa, được gắn với manh tràng:
Manh tràng (phần đầu tiên của ruột kết) và ruột thừa
Đại tràng tăng dần (đi lên ở thành sau của bụng)
Co thắt đại tràng phải (phần uốn cong của đại tràng lên và đại tràng ngang với gan) Đại tràng ngang (đi qua bên dưới cơ hoành)
Sự uốn cong đau bụng trái (phần uốn cong của đại tràng ngang và đi xuống rõ ràng cho
lá lách )
Đại tràng giảm dần (đi xuống phía bên trái của bụng)
Đại tràng sigma (một vòng của đại tràng gần trực tràng nhất)
Trực tràng: Trực tràng nằm ngay dưới đại tràng, có chiều dài khoảng 20cm Khi phân được di chuyển xuống đây, các dây thần kinh đặc biệt sẽ bị kích thích, sau đó truyền tín hiệu đến vỏ đại não cho biết bạn cần đi đại tiện
Hậu môn: Hậu môn là cơ quan cuối cùng của hệ tiêu hóa, được cấu tạo từ cơ sàn chậu
và cơ thắt hậu môn Chức năng của cơ quan này là lưu trữ và đào thải phân Khi đi vệ sinh, hậu môn sẽ tiết dịch nhầy bôi trơn để phân có thể di chuyển dễ dàng khỏi cơ thể
Trang 10Chức năng chính của ruột già là hấp thụ nước Diện tích niêm mạc ruột già của một người trưởng thành khoảng 2m2
III CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ CHUNG CỦA BỆNH RỐI LOẠN TIÊU HÓA
3.1 Khái niệm tổng quan
Rối loạn tiêu hóa là một hội chứng được tạo ra bởi sự co thắt bất thường của các cơ vòng trong hệ tiêu hóa làm cơ thể đau bụng và thay đổi vấn đề đại tiện Tuy nhiên, khi bị rối loạn tiêu hóa, người bệnh sẽ gặp những bất tiện trong sinh hoạt do bị thay đổi về chuyện đại tiện, bị đầy hơi hoặc đau bụng Đây là một hội chứng rất thông thường mà gần như ai cũng
có thể bị Rối loạn tiêu hóa bao gồm nhiều loại bệnh khác nhau từ nhẹ đến nặng Rối loạn tiêu hóa thường gặp bao gồm bệnh trào ngược dạ dày thực quản, ung thư, hội chứng ruột kích thích, không dung nạp lactose và thoát vị gián đoạn
Rối loạn tiêu hóa là một bệnh lý có tác nhân gây cản trở quá trình hoạt động của tiêu hóa dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng về việc cung cấp chất dinh dưỡng cho cơ thể Theo những nghiên cứu gần đây, người ta nhận thấy rối loạn tiêu hóa có thể gây ra bởi nhiều nguyên nhân, trong đó sự bài tiết của chất serotonin - nơi tiết hợp thần kinh chạy dọc theo hệ thống tiêu hóa có thể đóng một vai trò chính
3.2 Dấu hiệu nhận biết thường gặp
Đầy hơi: là triệu chứng rất dễ nhận biết, người mắc triệu chứng này luôn cảm thấy căng bụng, khó chịu Ngoài ra, còn có dấu hiệu ợ hơi
Đau bụng: cơn đau có thể dữ dội hoặc đau âm ỉ, thường đau vùng bụng dưới và có thể đau ở nhiều chỗ khác nhau
Ợ nóng: là cảm giác nóng rát ở cổ họng và vùng bụng, đây cũng là dấu hiệu của triệu chứng rối loạn tiêu hóa Thường xuất hiện sau khi ăn đồ cay nóng hoặc chất béo
Tiêu chảy: đi ngoài ra phân lỏng, số lần đi nhiều hơn so với ngày thường
Táo bón: thường đi ngoài ít hơn so với ngày thường
Trang 11Nhiều yếu tố khác nhau gây ra các bệnh về tiêu hóa Một số nguyên nhân phổ biến là nhiễm vi khuẩn, nhiễm virus, thiếu men lactase, khó tiêu hóa một số loại thực phẩm, lưu thông kém đến ruột hoặc các cơ quan khác, các cơ quan bị vỡ hoặc thủng, rối loạn chức năng cơ, sỏi mật, căng thẳng và tác dụng phụ của thuốc chống viêm
Chế độ ăn uống bao gồm ăn quá nhiều chất béo, không cung cấp đủ chất xơ và nước Sử dụng chất kích thích cũng có thể gây ra một số bệnh tiêu hóa, bao gồm viêm loét và trào ngược axit dạ dày Nguyên nhân và yếu tố gây ra rối loạn là trong trường hợp loét dạ dày
do vi khuẩn helicobacter pylori gây ra, những cơn đau do loét dạ dày có thể trở nên tồi tệ hơn khi ăn thức ăn cay và sử dụng rượu bia
Dị ứng thực phẩm và không dung nạp thực phẩm, một số loại thực phẩm có thể gây ra phản ứng dị ứng, bao gồm sưng môi, miệng, phía sau cổ họng Có thể dẫn đến buồn nôn
và nôn, nhưng điều này sẽ mất nhiều thời gian hơn để phát triển Đau bụng cũng có thể do không dung nạp thức ăn
Chế độ ăn uống nghèo nàn: Chế độ ăn uống nhiều chất béo, đồ chiên rán, nhiều đường
và ít chất xơ có thể khiến phân di chuyển chậm hơn qua ruột kết Uống không đủ nước cũng có thể dẫn đến táo bón và điều này có thể gây ra nhiều chứng rối loạn tiêu hóa khác
Trang 12Nhiễm virus hoặc vi khuẩn: Vi khuẩn, virus có thể xâm nhập vào hệ tiêu hóa bằng cách tiếp xúc với bề mặt bị ô nhiễm hoặc tiếp xúc với phân bị nhiễm bệnh và sau đó ăn thức ăn nhiễm phải vi trùng hoặc do ăn thức ăn bị nhiễm bệnh hoặc uống nước bị nhiễm vi khuẩn.Salmonella, Escherischia coli, bệnh tả và virus rota
Bệnh cúm dạ dày: thực chất là bệnh viêm dạ dày ruột, có thể do vi khuẩn và virus gây
ra Triệu chứng phổ biến nhất của tất cả những trường hợp này là tiêu chảy cấp Thuốc kháng sinh có thể được sử dụng để điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn Mất nước là mối nguy hiểm lớn nhất của bệnh tiêu chảy cấp, đặc biệt là ở trẻ nhỏ
Viêm và các bệnh tự miễn dịch: những rối loạn này, trong đó hệ thống miễn dịch tấn công và gây hại cho chính các mô của cơ thể, có thể liên quan đến bất kỳ bộ phận nào của
hệ tiêu hóa.Các bệnh tự miễn dịch ảnh hưởng đến đường tiêu hóa bao gồm lupus ban đỏ, viêm khớp dạng thấp
Nguyên nhân về cấu trúc: một bất thường về cấu trúc trong hệ thống tiêu hóa (chẳng hạn như các túi phát triển trong ruột của người bị bệnh diverticulosis) có thể cản trở hoạt động của hệ tiêu hóa Một vết loét trong niêm mạc dạ dày hoặc ruột sẽ là một ví dụ khác cũng như một khối u ung thư
Nguyên nhân do di truyền: chúng bao gồm ung thư ruột kết, bệnh Crohn, bệnh tiểu đường loại 1, ung thư tuyến tụy, suy giáp, xơ nang, bệnh celiac và một số bệnh về gan Vì
hệ tiêu hóa bao gồm rất nhiều bộ phận khác nhau, chỉ những bộ phận phổ biến nhất được liệt kê ở đây
Tác dụng phụ của thuốc: nhiều loại thuốc, chẳng hạn như một số loại thuốc kháng sinh
và thuốc chống viêm không steroid và một số loại thuốc tiểu đường, có thể kể đến một số tác dụng phụ liên quan đến hệ tiêu hóa
Ảnh hưởng sau phẫu thuật: phẫu thuật thay đổi phần lớn thời gian giải phẫu của đường tiêu hóa Các vấn đề bao gồm tiêu chảy mãn tính sau khi phẫu thuật túi mật hoặc cắt bỏ một phần ruột, đau hoặc thậm chí tắc nghẽn ruột, kém hấp thu (tức là thiếu vitamin B12
Trang 13trong phẫu thuật bệnh Crohn, hoặc thiếu sắt sau khi cắt bỏ dạ dày, v.v.) và bệnh tiểu đường sau đó cắt bỏ tuyến tụy
Các vấn đề về chức năng: nhiều bệnh nhân gặp các triệu chứng liên quan đến hệ thống
dạ dày-ruột, nhưng tất cả các xét nghiệm đều bình thường Điều này có thể gây khó chịu cho cả bệnh nhân và bác sĩ vì nó khó điều trị Hội chứng ruột kích thích là một trong những rối loạn chức năng Các xét nghiệm thường loại trừ các bệnh nghiêm trọng khác như ung thư, nhưng các triệu chứng thường ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Lão hóa: hệ tiêu hóa già đi cùng với cơ thể chúng ta Tuyến nước bọt giảm hoạt động,
vị giác bị ảnh hưởng, trào ngược trở nên tồi tệ hơn, bệnh túi thừa phát triển Cũng nên biết rằng nguy cơ mắc một số bệnh ung thư cũng tăng lên Do đó không nên bỏ qua sự khởi phát của các triệu chứng mới
Các bệnh hệ thống: nhiều bệnh hệ thống ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa, chẳng hạn như bệnh
tự miễn dịch (tức là bệnh xơ cứng bì ảnh hưởng đến nhu động của ruột), suy tim (tắc nghẽn mãn tính có thể gây ra xơ gan), bệnh di truyền, HIV và tiểu đường
IV CÁC BỆNH LÝ VỀ RỐI LOẠN TIÊU HÓA
1 Bệnh trào ngược dạ dày thực quản
Bao gồm các triệu chứng ợ nóng (cảm giác đau đớn, nóng rát lan tỏa ra sau xương ức trong thời gian ngắn) và trào ngược hoặc cả hai, ít nhất xảy ra trong tuần một lần do trào ngược các chất trong dạ dày lên thực quản hoặc cả khoan miệng (bao gồm thanh quản), phổi
1.1 Các nguyên nhân chính gây ra trào ngược là:
Cơ thắt dưới thực quản là cơ thấp nhất của thực quản nối với dạ dày Bình thường cơ thắt dưới thực quản chỉ giãn mở ra khi nuốt, sau đó sẽ co thắt và đóng kín ngăn không cho dịch dạ dày trào ngược lên thực quản Tuy nhiên, vẫn có lúc trương lực cơ bị giảm và dịch
dạ dày trào ngược lên thực quản Khi có sự trào ngược của dịch dạ dày lên thực quản, dịch nhày thực quản với bicarbonat và nước bọt do có tính kiềm sẽ trung hòa axit của dịch vị
Trang 14làm giảm hoặc mất sự kích thích của dịch vị lên niêm mạc thực quản Nhu động của thực quản sẽ đẩy dịch trào ngược trở xuống dạ dày Khi bị suy cơ thắt dưới thực quản sẽ dẫn đến bệnh trào ngược dạ dày
Ứ đọng lại thức ăn tại dạ dày: viêm dạ dày, ung thư dạ dày, hẹp môn vị… làm cho các chất trong dạ dày chậm lưu thông xuống ruột từ đó làm tăng áp lực trong dạ dày
Áp lực ổ bụng tăng đột ngột: khi ho, hắt hơi hoặc gắng sức cũng có thể là nguyên nhân trào ngược dạ dày thực quản
Stress làm tăng tiết cortisol: cortisol làm tăng axit trong dạ dày, làm tăng trương lực co bóp của dạ dày, đẩy dịch dạ dày trào ngược lên thực quản Stress làm rối loạn nhu động thực quản khiến cho cơ thắt thực quản trở nên nhạy cảm, việc giãn mở cơ xảy ra thường xuyên và kéo dài làm dịch vị trào ngược lên thực quản
Thói quen ăn uống không lành mạnh: ăn quá no, ăn đêm, ăn hoa quả có tính axit (cam, chanh…) khi đói, ăn đồ ăn nhanh, chiên rán… gây áp lực cho trương lực của cơ thắt thực quản, dẫn đến cơ này bị yếu, đóng mở bất thường, gây chứng trào ngược
Những yếu tố bẩm sinh: cơ thắt thực quản dưới yếu, bệnh nhân bị sa dạ dày, hay có thoát
vị cơ hoành, chấn thương tai nạn… Ở trẻ nhỏ, trào ngược dạ dày thường được cho là sinh
lý bình thường với triệu chứng điển hình là nôn trớ Triệu chứng này sẽ giảm dần khi trẻ lớn hơn và sẽ mất hẳn khi trưởng thành
Béo phì: cân nặng gây áp lực lên dạ dày và cơ thắt thực quản dưới khiến trương lực yếu
đi, vì thế acid dạ dày và các chất dễ trào ngược hơn
Trang 15+ Ợ chua xảy ra nhiều nhất vào buổi sáng khi đánh răng Ợ chua, ợ nóng cũng hay đi kèm với nhau Bệnh nhân có cảm giác ợ lên, kèm theo vị chua trong miệng
=> Các triệu chứng ợ nói trên có thể sẽ tăng lên khi ăn no, khi uống nước, khi đang đầy bụng khó tiêu hoặc khi bạn cúi gập người về phía trước, nằm nghỉ hoặc ngủ vào ban đêm Buồn nôn, nôn: triệu chứng này thường xuất hiện khi ăn quá no hoặc nằm ngay sau khi
ăn Người bệnh dễ bị nôn, buồn nôn hoặc có cảm giác mắc nghẹn thức ăn Người bệnh cũng dễ bị nôn hơn khi bị say tàu xe, ốm nghén, hay dùng một số loại thuốc…
Đau, tức ngực: người bệnh có cảm giác bị đè ép, thắt ở ngực, xuyên ra lưng và cánh tay Triệu chứng này là nguyên nhân khiến bệnh trào ngược dạ dày – thực quản dễ bị nhầm lẫn với các bệnh tim mạch Cảm giác đau này ở đoạn thực quản phần chạy qua ngực Acid trào ngược lên kích thích vào đầu mút các sợi thần kinh trên bề mặt niêm mạc thực quản, gây
ra cảm giác đau giống như đau ở ngực
Khó nuốt: bệnh trào ngược dạ dày thực quản khi trở nặng khiến axit dạ dày trào ngược lên với tần suất lớn Điều này sẽ gây phù nề, sưng tấy niêm mạc thực quản Vì thế bệnh nhân có cảm giác khó nuốt, vướng ở cổ
Khàn giọng và ho: người bị trào ngược dạ dày thực quản có thể bị khản giọng và ho liên tục Hiện tượng này là do dây thanh quản khi tiếp xúc với axit dạ dày làm cho sưng tấy Miệng tiết ra nhiều nước bọt: đây là phản xạ tự nhiên khi miệng gặp acid chua trào lên sau khi ợ chua Nước bọt sẽ tiết ra nhiều hơn bình thường để trung hòa axit
Đắng miệng: khi dịch vị trào lên có kèm theo dịch mật khiến người bệnh cảm thấy đắng miệng Đây là biểu hiện của sự rối loạn thần kinh dạ dày, khiến cơ thể mở quá mức van môn vị và dịch mật trào ra
Ngoài ra người bệnh có thể chán ăn, sụt cân, bị thiếu máu, hoặc chảy máu ở đường tiêu hóa
Trang 161.3 Liệu pháp dinh dưỡng
Hầu hết bệnh nhân đều nhận biết được thực phẩm nào gây triệu chứng trào ngược trầm trọng hơn , do đó , bệnh nhân sẽ chủ động giảm sử dụng thực phẩm đó Trong tình trạng này , hạn chế các nhóm thực phẩm có thể dẫn tới giảm cân và thiếu hụt chất dinh dưỡng Liệu pháp dinh dưỡng có thể hỗ trợ không chỉ giải quyết vấn đề dinh dưỡng này mà còn làm giảm các hội chứng mà bệnh nhân mắc phải Dùng thuốc điều trị GERD kéo dài có thể làm giảm hấp thu calci , sắt và vitamin B12
1.4 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Với bệnh nhân trào ngược dạ dày- thực quản , hỏi ghi khẩu phần ăn 24 giờ , tiền sử ăn uống hoặc thực phẩm ăn hàng ngày nên được ghi để tập trung vào những thực phẩm gây giảm trương lực cơ thắt tâm vị , tăng dịch vị dạ dày hoặc thực phẩm bệnh nhân không hấp thu được Thêm vào đó , yếu tố lối sống như hút thuốc và hoạt động thể chất cũng quan trọng ảnh hưởng đến trương lực cơ thắt tâm vị
1.5 Chẩn đoán dinh dưỡng
Chẩn đoán dinh dưỡng liên quan đến GERD bao gồm thức ăn và đồ uống không đầy đủ , tiêu thụ quá mức chất béo , thực phẩm khó tiêu hóa , tương tác giữa thuốc và thực phẩm , thừa cân – béo phì , khẩu phần ăn thiếu sắt , thiếu calci , giảm thực phẩm ăn vào , thực phẩm và những kiến thức liên quan đến thiếu hụt dinh dưỡng , những hiểu biết về lựa chọn thực phẩm
1.6 Can thiệp dinh dưỡng
Mục tiêu của can thiệp dinh dưỡng được cân nhắc ưu tiên trước mục tiêu sử dụng thuốc Mục tiêu này làm giảm tiết dịch vị và thử nghiệm hạn chế các thực phẩm gây giảm trương lực cơ thắt tâm vị Để giảm dịch acid dạ dày , hạt tiêu , cà phê , rượu nên được hạn chế Những yếu tố này được xác định gây ra tăng sản xuất dịch vị dạ dày Ngoài ra , bữa ăn số lượng lớn cũng gây tăng sản xuất acid , làm chậm rỗng dạ dày và tăng nguy cơ trào ngược Do đó , ăn nhiều bữa với số lượng ít có thể giúp điều trị Thực phẩm được xác định là có