Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và quá trình vận dụng của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước .... Truyền thống đoàn kết của dân tộc ta trong thời kỳ dựng n
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Những vấn đề lý luận đại đoàn kết dân tộc 2
1.1 Truyền thống đoàn kết dân tộc của Việt Nam 2
1.1.1 Truyền thống đoàn kết của dân tộc ta trong thời kỳ dựng nước 2
1.1.2 Truyền thống đoàn kết của dân tộc ta trong thời kỳ giữ nước 2
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và quá trình vận dụng của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước 3
1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc 3
1.2.2 Quá trình vận dụng khối đại đoàn kết dân tộc của Đảng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước 4
2 Thực trạng về đại đoàn kết dân tộc của nước Việt Nam 5
2.1 Những thành tựu đạt được 5
2.2 Những hạn chế cần khắc phục 7
2.3 Giải pháp cho những hạn chế 8
3 Liên hệ bản thân 9
KẾT LUẬN 11 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AFTA: Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN
APEC: Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEM: Hội nghị thượng đỉnh Á - Âu
CIP: Cước và bảo hiểm trả tới điểm đến hay Cước phí và phí bảo hiểm trả
tới (Carriage and Insurance Paid to)
HĐBALHQ: Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
UNIDO: Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hiệp quốc
WTO: Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 1.1: xe tăng Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập, trưa 30/4/1975 3 Hình 2.1: Thứ hạng Năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 của các nước ASEAN 5 Hình 2.2: Các tổ chức, cá nhân đang tích cực hưởng ứng ủng hộ Quỹ vaccine phòng COVID-19 7 Hình 2.3: Quan tâm đầu tư vùng đồng bằng dân tộc thiểu số và miền núi 8
Trang 41
LỜI MỞ ĐẦU
“Quan điểm “Lấy dân làm gốc” là một trong những bài học quan trọng, góp phần làm nên những thành tựu to lớn, xuyên suốt chiều dài lịch sử, nhằm phát huy vai trò làm chủ, sức sáng tạo và nguồn lực của Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ đất nước.” “Từ khi được thành lập cho đến nay, Đảng luôn xác định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.”
Có Đảng mở đường, lãnh đạo thì cách mạng mới thành công.” Nhưng chính nhân dân và chỉ có nhân dân mới là người hiện thực hóa được mục tiêu, lý tưởng mà Đảng đề ra “”
“Nhận thức sâu sắc chân lý ấy, Đảng ta đã dày công tuyên truyền, giác ngộ, vận động quần chúng Nhân dân ủng hộ cách mạng, tham gia cách mạng; qua đó, phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc làm nên những chiến công vĩ đại, làm rạng danh non sông, đất nước ta “Đó là chiến thắng của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945; là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ vang dội, kết thúc 9 năm kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược” Và sau đó, cũng tinh thần ấy, khí phách ấy, Nhân dân ta lại “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”1, thu giang sơn về một mối Bao chiến thắng vang dội đó là chiến thắng của nhân nghĩa, của khát vọng hòa bình và cũng chính là chiến thắng của lòng dân, sức dân, của sự đoàn kết toàn dân Tuy nhiên, trong thời đại mới ngày nay đứng trước những thủ đoạn chống phá về tư tưởng của chiến lược “diễn biến hòa bình”, sự suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống, chúng ta cần nhìn lại ý nghĩa của bài học kinh nghiệm về đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước
Từ cơ sở đó, một lần nữa đặt niềm tin trọn vẹn vào con đường mà Đảng dẫn dắt
và trên vai trò là một thanh niên Việt Nam đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ mới
1 Trích Bài thơ chúc tết năm 1969 của Bác Hồ
Trang 52
1 Những vấn đề lý luận đại đoàn kết dân tộc
1.1 Truyền thống đoàn kết dân tộc của Việt Nam
Trong quá trình hình thành và phát triển của lịch sử dân tộc đã hình thành
và phát triển khối đại đoàn kết dân tộc “Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh rằng, đoàn kết là một giá trị văn hóa truyền thống tạo nên sức mạnh vô địch, đưa nước
ta, dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích vẻ vang.”
1.1.1 Truyền thống đoàn kết của dân tộc ta trong thời kỳ dựng nước
Trở về thời đại các vua Hùng dựng nước, việc người Việt cổ biết trồng trọt, chăn nuôi, biết dùng súc vật để kéo cày, làm thủy lợi… văn hóa phát triển sẽ hình thành những giá trị văn hóa mới, trong đó đoàn kết là một giá trị văn hóa được hình thành trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta
“Tới thời kỳ An Dương Vương dựng nước Âu Lạc và lập đô tại Cổ Loa có bước tiến mới trong kỹ thuật quốc phòng, người Âu Lạc đã chế tạo được loại nỏ bắn nhiều phát một lần, với mũi tên bằng đồng có ba cạnh sắc.” “Nhà Tần và sau
đó Triệu Đà đã nhiều lần đưa quân đánh phá Âu Lạc nhưng đều thất bại Điều đó chứng tỏ tinh thần đoàn kết, ý thức tự chủ của cư dân Âu Lạc đã phát triển trên cơ
sở nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ.”
“Có thể nói, sức mạnh của nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc với cơ sở đoàn kết đã tạo cho cộng đồng người Việt có sức mạnh để chiến thắng giặc ngoại xâm
và chinh phục thiên nhiên suốt quá trình dựng nước và giữ nước trong buổi bình minh lịch sử.”
1.1.2 Truyền thống đoàn kết của dân tộc ta trong thời kỳ giữ nước
Để nói về truyền thống đoàn kết của dân tộc ta trong thời kỳ giữ nước, không thể không nói đến việc dù bị phong kiến phương Bắc thống trị và âm mưu đồng hóa trên một ngàn năm, nhưng nhân dân ta đã vùng lên và giành lại được quyền độc lập, tự chủ
Trang 63
Trong kháng chiến chống
Pháp, với ý chí quyết tâm sắt đá và sự
đồng lòng của toàn dân tộc: “Bất kỳ
đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già,
người trẻ, không chia tôn giáo, đảng
phái, dân tộc Hễ là người Việt Nam
thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp
để cứu Tổ quốc…”2 “đã phát huy cao
độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
vừa kháng chiến, vừa kiến quốc trong suốt 9 năm chống thực dân Pháp lâu dài, gian khổ, để cuối cùng làm nên chiến thắng” Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”
Đặc biệt trong công cuộc chống Mỹ cứu nước trường kỳ, gian khổ, với khát vọng cháy bỏng của toàn thể dân tộc Việt Nam: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công” “đã được phát huy, lôi cuốn đông đảo mọi tầng lớp nhân dân hăng hái thi đua vừa chiến đấu vừa lao động sản xuất.” Nhờ đó, dân tộc Việt Nam đã huy động cao độ sức mạnh chính trị, tinh thần, nhân lực, vật lực để “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, “và cuối cùng với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 thắng lợi, đã kết thúc vẻ vang sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta.”
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và quá trình vận
dụng của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
“Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh là một hệ thống những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp giáo dục, tập hợp và tổ chức cách mạng và tiến bộ, nhằm phát huy đến mức cao nhất sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại
2 Trích “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn ngày 19/12/1946
Hình 1.1: xe tăng Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập, trưa
30/4/1975
Trang 74
trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.” Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc như sau:
− Đoàn kết là một truyền thống quý báu của nhân dân tộc Việt Nam
− Đại đoàn kết là tập hợp sức mạnh của toàn dân tộc, trong đó liên minh giữa nông dân, công nhân và trí thức là nòng cốt
− Đại đoàn kết là một chiến lược quan trọng của cách mạng, là nhân tố quyết định mọi thành công
− Đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức mạnh vật chất có tổ chức là Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng
1.2.2 Quá trình vận dụng khối đại đoàn kết dân tộc của Đảng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và trong hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, “Đảng ta luôn xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược,
là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc đã được phát huy cao độ với quyết tâm” “dù có hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng kiên quyết giành cho được độc lập”, “hơn 20 triệu người dân Việt Nam đã nhất tề đứng dậy giành chính quyền làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vĩ đại, đem lại nền độc lập cho dân tộc và quyền tự do cho nhân dân.”
“Trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là từ khi đổi mới đến nay, tinh thần đoàn kết của dân tộc ta tiếp tục được phát huy với nhiều hình thức
tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đoàn kết cùng nhau giải quyết những khó khăn về đời sống, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, bảo đảm quốc phòng - an ninh, khơi dậy khát vọng phát triển, phát huy ý chí, sức mạnh văn hóa và con người Việt Nam.” “Đảng ta đã lãnh đạo cả
hệ thống chính trị tập trung tuyên truyền, vận động, tập hợp rộng rãi các tầng lớp
Trang 85
nhân dân, tạo sự thống nhất và đồng thuận trong xã hội; triển khai sâu rộng và nâng cao chất lượng các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, phát huy tinh thần thi đua sáng tạo và huy động các nguồn lực trong xã hội, tham gia thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.”
2 Thực trạng về đại đoàn kết dân tộc của nước Việt Nam
2.1 Những thành tựu đạt được
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, Việt Nam đã đạt được một số thành tựu nhờ vào khối đại đoàn kết dân tộc như sau:
Về kinh tế, sau 35 năm đổi mới,
Việt Nam từ một trong những quốc gia
nghèo nhất thế giới trở thành quốc gia
có thu nhập thấp và đang tiến dần và hội
nhập sâu rộng với khu vực và thế giới
Năng lực cạnh tranh toàn cầu (CIP) của
Việt Nam đang thuộc vào nhóm các
quốc gia trung bình cao với vị trí thứ 44
trên thế giới (2018) theo đánh giá của UNIDO Cụ thể, giai đoạn 1990-2018 Việt Nam đã tăng 50 bậc và giai đoạn 2010-2018 tăng 23 bậc nhanh nhất trong các nước thuộc khu vực ASEAN.3 Công nghiệp trở thành ngành xuất khẩu chủ lực của đất nước khi đóng góp xấp xỉ 30% GDP và đưa Việt Nam vào vị trí thứ 22 quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới (2018)4 Theo đó, công nghiệp tiếp tục duy trì là ngành có năng suất lao động cao nhất trong các ngành kinh tế quốc dân với GDP tăng từ 26,63% (2011) lên 27,81% (2015) và 28,55% (2019) Hơn nữa, trong tương lai Việt Nam đưa ra mục tiêu đặt một số ngành công nghiệp có sức cạnh
3 Theo Những thành tựu nổi bật trong phát triển công nghiệp góp phần quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, Bộ Công thương Việt Nam, 10/09/2020
4 Theo Báo điện tử Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Hình 2.1: Thứ hạng Năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 của các
nước ASEAN
Trang 96
tranh quốc tế và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu đến năm 2030 và trở thành nước công nghiệp phát triển, có thu nhập cao đến năm 2045
Về đối ngoại, “Việt Nam đã tham gia Hiệp định thương mại tự do ASEAN (AFTA) và ký Hiệp định thương mại song phương với Mỹ năm 2001, gia nhập một loạt các cơ chế đa phương quan trọng như Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM) năm 1996, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) năm
1998, Tổ chức Thương mại Thế giới” (WTO) năm 2007 Việt Nam đã đăng cai các hội nghị cấp cao của Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp (1997), ASEAN (1998), ASEM (2005), APEC (2006), là Ủy viên không thường trực của HÐBALHQ các nhiệm kỳ 2008 - 2009 và 2020 - 2021, Chủ tịch ASEAN vào các năm 1998, 2010 và 2020…
Không chỉ thể hiện qua sự phát triển ở khía cạnh kinh tế và đối ngoại, sức mạnh của khối đoàn kể dân tộc còn được thể hiện rõ nét qua công cuộc chống dịch COVID-19 (từ giai đoạn cuối năm 2019 đến giữa năm 2021) và sống chung với dịch, phát triển nền kinh tế trong thời kỳ mới Từ những ngày đầu với sự diễn biến phức tạp của dịch bệnh nhưng với sự nỗ lực kiểm soát của tuyến đầu và sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước chống dịch, Việt Nam vẫn là nước có công tác chống dịch thành công nhất đến giai đoạn mới như hiện nay, giai đoạn “sống chung với dịch”, “bình thường mới”, Việt Nam vẫn đang ngày ngày thực hiện tốt các biện pháp phòng dịch trong sự đồng lòng của nhân dân đúng với lời kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đoàn kết chống dịch Covid-19 của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng 5
5 Lời kêu gọi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gửi đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước
ngoài, ngày 29/07/2021
Trang 107
Với phương châm “không
ai bị bỏ lại trong cuộc chiến chống
COVID-19”, Việt Nam đã thực
hiện rõ nét tinh thần đoàn kết dân
tộc với những hành động cụ thể
như: đưa đón kiều bào nước ngoài
về Việt Nam, thực hiện chi ngân
sách hỗ trợ cho những lao động bị
mất việc do ảnh hưởng của đại
dịch,… hay những hành động
“tương thân tương ác” từ những cá nhân hay doanh nghiệp cụ thể như anh Hoàng Tuấn Anh và bác sĩ Trần Anh Tú là cha đẻ của các máy ATM gạo; hay việc nhà
xe Phương Trang hỗ trợ đưa đón người dân từ vùng dịch về quê miễn phí,…Hơn nữa, mỗi người dân Việt Nam đều đồng lòng góp vào Quỹ Vaccine của Việt Nam – đây là một hành động vô cùng quý giá tạo nên sức mạnh đoàn kết dân tộc
2.2 Những hạn chế cần khắc phục
Dù cho có nhiều thành tựu nổi bật nhờ vào sức mạnh đoàn kết dân tộc, tuy nhiên nước ta cũng còn nhiều những hạn chế cần khắc phục như “những năm qua,
sự xuyên tạc đường lối đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước còn nhằm vào chia rẽ
và phá hoại quan hệ gắn bó máu thịt giữa 54 dân tộc anh em, chia rẽ dân tộc Kinh với các dân tộc thiểu số, giữa các dân tộc thiểu số với nhau, phủ nhận chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước; mọi thế lực thù địch muốn phá hoại sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc ta luôn luôn nhằm vào tiêu điểm là phủ nhận, xuyên tạc, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của nhân dân ta.”
Trong công tác phòng chống dịch vẫn còn gặp nhiều khó khăn, xuất hiện nhiều thông tin sai sự thật như bùng dịch không thể kiểm soát, thiếu lương thực trầm trọng gây hoang mang dư luận nhằm chống phá công tác chống dịch của nước ta, gây nhiễu loạn thông tin và mục đích giảm lòng tin của nhân dân ta vào
sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Một bộ phận người dân chưa có ý thức tốt,
Hình 2.2: Các tổ chức, cá nhân đang tích cực hưởng ứng ủng hộ Quỹ
vaccine phòng COVID-19
Trang 118
thiếu sự hợp tác trong khai báo y tế và cách ly gây ra rất nhiều khó khăn cho công tác phòng chống lây lan dịch bệnh, điển hình như vụ việc BN176 và BN13427,… Những hạn chế này chính là cơ hội giúp chúng ta nhìn thấy được những cái chưa tốt, chưa hoàn thiện để từ đó tạo động lực khắc phục những mặt còn hạn chế và rút ra bài học kinh nghiệm làm tiền đề để củng cố sức mạnh đoàn kết của nhân dân Việt Nam
2.3 Giải pháp cho những hạn chế
Bác Hồ đã từng nói: “Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc
và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”8, vì thế nên mỗi người cần trang bị cho mình một hệ tư tưởng thật tốt, luôn quán triệt quan điểm nổ lực nâng cao tinh thần đoàn kết dân tộc ở gia đình, trường học và địa phương mình
Để phòng ngừa các thế lựa phản động, chống phá gây chia rẻ khối đại đoàn kết dân tộc, chúng ta cần thực hiện đồng bộ các chủ trương, giải pháp, trong đó chú trọng thực hiện tốt một số nội dung sau:
Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng
cao nhận thức cho đồng bào các dân tộc về âm mưu,
thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch
Hai là, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội,
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân,
chú trọng địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc
thiểu số
“ Ba là, phối hợp chặt chẽ giữa Mặt trận Tổ quốc với Bộ Tư lệnh Bộ đội
Biên phòng và các tổ chức đoàn thể trong công tác tuyên truyền, vận động thực hiện phong trào toàn dân bảo vệ chủ quyền quốc gia, lãnh thổ.”
6 “Bệnh nhân 17”- ca Covid-19 đầu tiên ở Hà Nội được phát hiện như thế nào? Link báo:
https://bitly.com.vn/1fq5uo
7 Vi phạm nghiêm trọng của BN1342: Trách nhiệm của các bên Link báo: https://bitly.com.vn/5zzy0h
8 Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 9, Nxb CTQG, H 2011, tr 244
Hình 2.3: Quan tâm đầu tư vùng đồng bằng dân tộc thiểu số và miền núi.