TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘIKHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH TIỂU LUẬN HỌC PHẦN QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG TÊN ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ GÂY RA HIỆU ỨNG BULLWHIP TRONG CHUỖI CUNG ỨNG TẠI CÔNG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG
TÊN ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ GÂY RA HIỆU ỨNG BULLWHIP TRONG CHUỖI CUNG ỨNG TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN HABECO HẢI PHÒNG
Họ và tên sinh viên : Đỗ Thu Hương
Giảng viên hướng dấn : Lê Thị Hải Hà
Trang 2Chương 1: Cơ sở lý thuyết về hiệu ứng Bullwhip 2
1.1 Tổng quan về chuỗi cung ứng 2
1.1.1 Khái niệm chuỗi cung ứng 2
1.1.2 Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng 2
1.2 Nội dung lý thuyết về hiệu ứng Bullwhip (Hiệu ứng cái roi da) 2
1.2.1 Khái niệm và hệ quả của hiệu ứng Bullwhip 2
1.2.2 Nguyên nhân và giải pháp 3
Chương 2: Thực trạng các nhân tố gây ra hiệu ứng Bullwhip trong chuỗi cung ứng tại công ty cổ phần Habeco Hải Phòng 6
2.1 Giới thiệu chung về công ty cổ phần Habeco Hải Phòng 6
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 6
2.1.2 Ngành nghề kinh doanh 6
2.1.3 Sơ đồ cơ cấu tổ chức 7
2.1.4 Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 8
2.2 Thực trạng các nhân tố gây ra hiệu ứng Bullwhip trong chuỗi cung ứng tại công ty cổ phần Habeco Hải Phòng 8
2.2.1 Nguyên nhân gây ra hiệu ứng Bullwhip trong chuỗi cung ứng tại công ty cổ phần Habeco Hải Phòng 8
2.2.2 Đánh giá tác động của hiệu ứng Bullwhip lên chuỗi cung ứng của công ty 10
Chương 3: Một số giải pháp kiến nghị 11
KẾT LUẬN 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3MỞ ĐẦU
Là một nhà quản trị trong tương lai, được học tập nghiên cứu ngành Quản trị kinh doanh tại giảng đường hẳn là trong môn học Quản trị chuỗi cung ứng mỗi chúng ta hẳn đều đã được giải thích và nghiên cứu về hiệu ứng Bullwhip Effect – hiệu ứng cái roi da Đây là một hiện tượng quan trọng, mang tính chất quyết định trong các quyết định cung ứng của nhà quản trị Hiệu ứng Bullwhip được phát hiện đầu tiên bởi tiến sỹ Ray Forrester (MIT) vào năm 1961 trong nghiên cứu có tên Industrial Dynamics và do đó còn được gọi là hiệu ứng Forrester (TS Forrester sau này rất nổi tiếng với mô hình System Dynamics được ứng dụng rộng rãi trong phân tích và hoạch định kinh doanh, chiến lược kinh doanh Tuy nhiên, Bullwhip Effect chỉ được phát triển một cách toàn diện và gắn với chuỗi cung ứng bởi GS Hau Lee trong bài báo “The Bullwhip Effect in Supply Chain” trên tạp chí MIT Sloan Management Review năm 1997 Từ đó người ta mới thực sự nhìn nhận vai trò và tác động của hiệu ứng này
Bullwhip là sự nhiễu động thông tin trong chuỗi cung ứng, điều này làm ảnh hưởng đến các doanh nghiệp trong một chuỗi cung ứng Khi thông tin nhu cầu không chính xác chuyển tải từ một thành phần trong chuỗi cung ứng đến một thành phần khác có thể dẫn tới lãng phí to lớn: mức độ dự trữ lớn quá mức, dịch vụ khách hàng tồi, mất doanh
số, kế hoạch sản xuất không chính xác, vận tải không hiệu quả Thông tin méo mó đã dẫn dắt các thành phần trong chuỗi cung ứng (kho của nhà máy, kho thành phẩm của nhà sản xuất, kho trung tâm của nhà phân phối, kho vùng của nhà phân phối, kho của nhà bán lẻ) phải dự trữ hàng bởi vì mức độ biến động và không chắc chắn của nhu cầu Nhà máy sản xuất có lúc vượt quá công suất nhưng có khi lại tồn quá nhiều hàng hóa, nguyên vật liệu; nhà phân phối bị ứ động vốn do quá nhiều hàng tồn kho; nhà bán lẻ huỷ bỏ các đơn hàng Tất cả đều bị tổn thất nặng nề bởi tác động của hiệu ứng “Cái roi da”
Vậy điều gì đã làm các đơn hàng nhảy múa loạn xạ như vậy? Có cách nào các doanh nghiệp giảm thiểu chuyện ấy? Hiểu rõ các nguyên nhân và giải pháp đối phó với hiệu ứng Bullwhip sẽ giúp các nhà quản lý đưa ra các chiến lược kinh doanh sắc bén và chính xác hơn Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về hiệu ứng Bullwhip em đã lựa chọn đề
tài “Phân tích các nhân tố gây ra hiệu ứng Bullwhip trong chuỗi cung ứng tại công ty
cổ phần Habeco Hải Phòng” để làm bài tiểu luận này.
Trang 4Chương 1: Cơ sở lý thuyết về hiệu ứng Bullwhip 1.1 Tổng quan về chuỗi cung ứng
1.1.1 Khái niệm chuỗi cung ứng
“Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan trực tiếp hay gián tiếp, đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và khách hàng”
Supply Chain Management: strategy, planning and operation of Chopra Sunil
and Peter Meindl
“Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thánh bán sản phẩm, thành phẩm và phân phối chúng cho khách hàng”
An introduction to supply chain management – Ganesham, Ran and
Terry P.Harrision
Theo quan điểm theo chức năng hoạt động: “Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thánh bán sản phẩm, thành phẩm và phân phối chúng cho khách hàng”
1.1.2 Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng
Quản trị chuỗi cung ứng là hoạch định, thiết kế và kiểm soát luồng thông tin và nguyên vật liệu theo chuỗi cung ứng nhằm đạt được các yêu cầu của khách hàng một cách hiệu quả ở thời điểm hiện tại và trong tương lai Quản trị chuỗi cung ứng tập hợp những phương thức sử dụng một cách tích hợp và hiệu quả nhà cung cấp, người sản xuất, hệ thống kho bãi và các cửa hàng nhằm phân phối hàng hóa được sản xuất đến khách hàng với mục đích giảm thiểu chi phí mà vẫn thỏa mãn những yêu cầu đặt ra
Tất cả các sản phẩm đến tay người tiêu dùng thông qua một vài hình thức của chuỗi cung ứng Trong chuỗi cung ứng, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng nguồn tạo ra lợi nhuận duy nhất cho toàn chuỗi đó là khách hàng cuối cùng Khi các doanh nghiệp riêng lẻ trong chuỗi cung ứng ra các quyết định kinh doanh mà không quan tâm đến các thành viên khác trong chuỗi, điều này dẫn đến giá bán cho khách hàng cuối cùng là rất cao, mức phục vụ chuỗi cung ứng thấp và làm cho nhu cầu khách hàng tiêu dùng cuối cùng trở nên thấp
1.2 Nội dung lý thuyết về hiệu ứng Bullwhip (Hiệu ứng cái roi da)
Trang 51.2.1 Khái niệm và hệ quả của hiệu ứng Bullwhip
Khái niệm: Hiệu ứng Bullwhip là sự gia tăng tính biến động của mỗi giai đoạn
trong chuỗi cung ứng (Tính biến động trong các đơn hàng từ nhà bán lẻ đến nhà phân phối rồi đến nhà sản xuất – thổi phồng nhu cầu thị trường)
Bullwhip thể hiện sự thay đổi nhu cầu trong toàn hệ thống (theo hướng gia tăng) theo thông tin nhu cầu từ đầu chuỗi (đại lý) đi ngược vào chuỗi đến các nhà SX
và nhà cung cấp
Nhà kho / Nhà phân phối Nhà sản xuất
Hệ quả: Một trong những tác động phổ biến nhất trong chuỗi cung ứng là hiện
tượng có tên gọi “Roi da” Khi có thay đổi nhỏ về nhu cầu sản phẩm từ khách hàng, điều này sẽ chuyển thành những thay đổi lớn hơn về nhu cầu từ các công ty trong chuỗi cung ứng Các công ty ở những giai đoạn khác nhau trong chuỗi đều có cái nhìn khác nhau về toàn cảnh nhu cầu thị trường, kết quả là sự phối hợp trong chuỗi cung ứng bị chia nhỏ Công ty thực hiện nhiều cách khác nhau do thiếu hụt sản phẩm ngắn hạn và sẽ dẫn đến sự thiếu hụt trong toàn chuỗi cung ứng
Bullwhip effect ảnh hưởng đến nhiều ngành công nghiệp khi nhu cầu đột biến tăng nhanh Tác động bắt đầu khi nhu cầu thị trường lớn mạnh tạo ra sự thiếu hụt sản phẩm Các nhà sản xuất và phân phối gia tăng sản xuất và mức tồn kho để đáp ứng nhu cầu Nhà sản xuất và phân phối không nhận ra việc cung cấp đang lớn hơn nhu cầu nên tiếp tục thiết lập việc cung ứng sản phẩm Và kết quả là lượng sản phẩm dư thừa quá lớn trước khi công ty nhận ra điều này Nhà sản xuất sẽ ngưng hoạt động máy móc và cắt giảm nhân viên Nhà phân phối gặp khó khăn trong hàng tồn kho, và làm giảm giá trị sản phẩm trên thị trường
1.2.2 Nguyên nhân và giải pháp
a) Nguyên nhân dẫn đến hiệu ứng Bullwhip
Trang 6Việc cập nhật dự báo nhu cầu: Mỗi công ty trong chuỗi cung ứng thường thực hiện
việc dự báo sản phẩm nhằm giúp việc lên kế hoạch sản xuất, hoạch định nguồn lực, kiểm soát tồn kho và hoạch định nguyên vật liệu Dự báo thường dựa trên dữ liệu lịch sử đơn hàng của khách hàng trực tiếp Mỗi khi có đơn hàng từ đối tác như nhà bán lẻ, bán sỉ, sản xuất… thì các nhà quản lý như nhà bán sỉ, sản xuất, cung cấp, sẽ coi thông tin đó như là tín hiệu về nhu cầu tương lai Dựa trên tín hiệu ấy, nhà quản lý sẽ điều chỉnh dự báo nhu cầu của mình, tiếp theo họ dùng thông tin ấy để đặt hàng cho nhà cung cấp Chính việc xử
lý thông tin/tín hiệu nhu cầu chính là yếu tố chủ chốt gây ra hiệu ứng bullwhip
Đặt hàng theo lô: Trong chuỗi cung ứng, mỗi công ty khi đặt hàng với đối tác đều sử
dụng một vài mô hình kiểm soát tồn kho Khi nhu cầu đến, tồn kho sẽ giảm nhưng công
ty có thể không đặt hàng với nhà cung cấp ngay lập tức, mà họ thường gộp hoặc gom các nhu cầu lại rồi mới đặt hàng Có hai hình thức đặt hàng theo gói: đặt hàng định kỳ và đặt hàng theo hình thức đẩy Thay vì đặt hàng liên tục thường xuyên, các công ty đặt hàng theo tuần/hoặc hai tuần thậm chí hàng tháng Có nhiều lý do phổ biến để giải thích cho
mô hình dự trữ dựa trên đặt hàng theo chu kỳ Thường thì nhà cung cấp không thể xử lý các đơn hàng liên tục thường xuyên, vì yếu tố thời gian và chi phí xử lý đơn hàng kiểu ấy quá lớn Nhiều nhà sản xuất đặt hàng với nhà cung cấp khi họ chạy các hệ thống MRP, hệ thống MRP thường chạy hàng tháng và cho ra kết quả đặt hàng hàng tháng Một công ty
có những sản phẩm ít bán chạy sẽ thường đặt hàng theo tháng hơn Trường hợp công ty đặt hàng mỗi tháng cho nhà cung cấp của mình, nhà cung cấp này sẽ gặp tình trạng đơn hàng thất thường Vì đơn hàng có thể rất cao vào một thời điểm trong tháng, trong khi cả tháng lại không có đơn hàng Điều này cũng góp phần gây ra hiệu ứng Bullwhip
Một trở ngại lớn và phổ biến khác đối với một công ty muốn đặt hàng thường xuyên chính là tính kinh tế của vận tải Rõ ràng có sự khác biệt giữa một FTL (Full Truck Load)
và LTL (Less Truck Load) Trong mô hình đặt hàng đẩy (push order), một công ty có thể trải qua tình trạng thường xuyên tăng nhu cầu đột biến Công ty này có những đơn hàng
“đẩy” định kỳ từ khách hàng, bởi vì người bán hàng thường được cấp trên đánh giá định
kỳ theo quý hoặc năm làm phát sinh tình trạng đơn hàng tăng đột biến cuối tháng hoặc cuối năm Khi một công ty đối diện với các đơn hàng định kỳ từ khách hàng thì cũng là lúc hiệu ứng bullwhip xuất hiện Nếu tất cả các chu kỳ đơn hàng được phân bổ đều trong suốt một tuần thì hiệu ứng Bullwhip sẽ được giảm thiểu
Biến động về giá cả: Theo ước tính, 80% các giao dịch giữa nhà sản xuất và nhà phân
phối trong ngành tạp hóa (bán lẻ) được thực hiện dưới hình thức mua kỳ hạn, theo đó các sản phẩm được mua trước khi có nhu cầu, thường do mức giá hấp dẫn của nhà cung cấp chào bán Các hợp đồng “forward buy” chiếm từ 75 tỷ đến 100 tỷ USD tồn kho của ngành
Trang 7bán lẻ Mua kỳ hạn thường do sự biến động giá cả trên thị trường Nhà sản xuất và phân phối định kỳ có chương trình khuyến mãi đặc biệt như chiết khấu giá, chiết khấu theo số lượng,v.v Tất cả chương trình khuyến mại này đều dẫn tới sự biến động giá cả Hơn nữa, nhà sản xuất thường chào mời những hợp đồng thương mại hấp dẫn như ưu đãi giá, ưu đãi thanh toán cho nhà phân phối và bán sỉ Hậu quả là sau đó, khách hàng chỉ mua hàng khi họ giải quyết hết lượng tồn kho của mình Tức là việc mua hàng của họ không phản ánh thực nhu cầu tiêu thụ, mức biến động trong mua hàng theo số lượng lớn sẽ lớn hơn nhiều so với biến động tiêu thụ Vậy là hiệu ứng Bullwhip lại xuất hiện
Thời gian đáp ứng đơn hàng: Khi nhu cầu vượt quá khả năng cung cấp, nghĩa là nhà
sản xuất đang hạn chế sản phẩm của mình đến khách hàng Theo nghĩa đó, nhà sản xuất
sẽ phân bổ số lượng tỷ lệ theo số lượng đã đặt hàng Ví dụ, nếu tổng cung chỉ bằng 50% tổng cầu, thì khách hàng chỉ nhận được 50% số lượng mà họ đã đặt hàng Điều này ảnh hưởng và gây chậm chễ đến thời gian đáp ứng đơn hàng của nhà cung cấp Khi thời gian giao hàng bị chậm trễ, khách hàng sẽ đặt hàng gấp đôi với nhiều nhà cung cấp khác nhau
Nó làm cho đơn hàng tăng vọt, nhưng không phải do tiêu thụ tăng mà do dự đoán Và sau
đó, khách hàng chỉ chính thức mua từ nhà cung cấp đầu tiên có thể giao hàng, sau đó hủy
bỏ các đơn hàng trùng lắp còn lại
b Cách khắc phục hiệu ứng Bullwhip
Hiểu được bản chất nguyên nhân của hiệu ứng bullwhip có thể giúp các nhà quản lý tìm
ra phương cách giảm thiểu nó Thực tế nhiều công ty đã bắt đầu ứng dụng các chương trình đổi mới giúp giải quyết vấn đề này
Tập trung thông tin nhu cầu: Hệ thống công khai thông tin nhu cầu tại mỗi “mắt
xích” trong chuỗi giúp giảm thông tin nhiễu Ngoài ra cần giảm biến đổi trong công tác
dự báo nhu cầu, thu thập dữ liệu hiệu quả cho dự báo, giảm bất ổn của đơn đặt hàng
Giảm thời gian cung ứng: Giảm thời gian đặt hàng; Tăng tốc độ xử lý đơn đặt hàng,
hỗ trợ bằng máy tính và inetrnet và công nghệ thông tin Tập trung vào người dùng cuối nhu cầu thông qua các point-of-sale(POS) dữ liệu thu nhập, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI),
và nhà cung cấp, quản lý hàng tồn kho (VMI) để giảm bớt sai lệch trong giao tiếp hạ lưu
Duy trì ổn định giá cho sản phẩm: Giá biến động khuyến khích khách hàng mua khi
giá thấp và cắt giảm đơn đặt hàng khi giá đang cao, dẫn đến nhu cầu biến động lớn Phân
bổ nhu cầu giữa các khách hàng dựa trên đơn đặt hàng, qua đơn đặt hàng không hiện diện
để giảm hành vi tích trữ khi xảy ra tình trạng thiếu
Trang 8Khuyến khích và chia sẻ thông tin: Hiệu ứng Bullwhip ảnh hưởng đến vận hành của
toàn hệ thống vì vậy chia sẻ thông tin trong hệ thống là thực sự cần thiết Tích hợp nguồn lực trong toàn hệ thống Thông tin trong hệ thống được chuyển đi nhanh và chính xác đến đúng phòng ban chức năng
Chương 2: Thực trạng các nhân tố gây ra hiệu ứng Bullwhip trong chuỗi cung ứng
tại công ty cổ phần Habeco Hải Phòng 2.1 Giới thiệu chung về công ty cổ phần Habeco Hải Phòng
- Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN HABECO – HẢI PHÒNG
- Tên tiếng anh: HABECO – HAIPHONG JOINT STOCK COMPANY
- Vốn điều lệ: 160.000.000.000 đồng ( Một trăm sáu mươi tỷ đồng )
- Địa chỉ: Thị trấn Trường Sơn, Huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
- Số điện thoại: 0225.3667.163
- Số fax: 0225.3667.189
- Website: www.habecohaiphong.com.vn
- Mã chứng khoán: HBH
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Công ty cổ phần Habeco-Hải Phòng được thành lập theo quyết định số 227/BB-HABECO ngày 04/08/2007 của Tổng công ty Bia – Rượu – Nước giải khát Hà Nội và hoạt động theo Giấy đăng ký kinh doanh số 0203003491 do Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hải Phòng cấp, đăng kí đầu tiên ngày 24/09/2007 với vốn điều lệ ban đầu là 90.000.000.000 đồng Giấy đăng ký kinh doanh được thay đổi lần thứ nhất ngày 26/04/2013 với vốn điều lệ tăng lên 160.000.000.000 đồng, thay đổi lần thứ ba ngày 13/06/2019
Ngày 21/12/2009 Công ty cổ phần Habeco-Hải Phòng với tư cách là chủ đầu tư của dự
án “ Đầu tư xây dựng nhà máy bia Hà Nội tại Hải Phòng công suất 25 triệu lít/năm (giai đoạn 1), mở rộng công suất 50 triệu lít/năm (giai đoạn 2)” đã chính thức làm lễ khởi công xây dựng Nhà máy bia Hà Nội tại thị trấn Trường Sơn, Huyện An Lão, thành phố Hải Phòng Năng lực sản xuất của công ty hiện nay đạt hơn 30 triệu lít, máy móc hoạt động ổn định liên tục
2.1.2 Ngành nghề kinh doanh
Ngành nghề kinh doanh chính: Sản xuất các sản phẩm bia, rượu, đồ uống không cồn
Trang 9Với năng lực và uy tín lâu đời của một thương hiệu có mặt trên thị trường gần 15 năm qua, Habeco phát triển không ngừng trong thị trường nội địa và xuất khẩu Sản phẩm của Habeco xuất hiện tại 64 tỉnh thành trong cả nước, với hàng trăm đại lý hơn
2.1.3 Sơ đồ cơ cấu tổ chức
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức
Hôi đông Quản tri: Họp thảo luận các vấn đề liên quan đến chiến lược phát triển cua công ty, kế hoạch sản xuất kinh doanh, chính sách chi trả cổ tức và các vấn đề doanh
nghiêp quan trọng khác.
Giám đốc điều hành có nhiêm vụ triển khai, thực thi các nghi quyết cua Hôi đông Quản tri đã được thông qua Chiu trách nhiêm về các hoạt đông cua chính công ty, đông thời thực hiên viêc giám sát hoạt đông cua những công ty thành viên trong công ty
Ban kiểm soát: Thực hiện việc giám sát các hoạt động của các phòng ban trong việc thực hiện các quy chế, nội quy khác của Công ty Bảo vệ lợi ích của Công ty, đảm bảo sự đoàn kết nội bộ, cân bằng lợi ích giữa các bộ phận trong Công ty
Phòng tổng hợp: Tuyển dụng nhân sự Kiến nghị với ban giám đốc về số lượng nhân viên các phòng ban trong công ty
Phân xưởng sản xuất: Chịu trách nhiệm việc quản lý, vận hành quy trình sản
Trang 10Phòng tài chính - kế toán: Tổng hợp, ghi chép lại các số liệu, tình hình tài chính của công ty; báo cáo trực tiếp lên tổng giám đốc; thông qua tình hình tài chính giúp tổng giám đốc chỉ đạo các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Đề xuất những biện pháp điều chỉnh, xử lý kịp thời những sai lầm trong kinh doanh và quản lý tài chính Phân tích tình hình tài chính , tham mưu những biện pháp kế hoạch tài chính cho ban giám đốc
Phòng kỹ thuật KCS: Chịu trách nhiệm quản lý chất lượng sản phẩm đầu vào và đầu
ra theo các tiêu chuẩn ISO Kiểm tra chất lượng nguồn hàng nguyên liệu, vật tư đầu vào của nhà máy - phân loại những nguyên liệu không đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng để làm việc lại với nhà cung cấp Theo dõi, ghi chép số liệu từng lô hàng nhập
2.1.4 Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Bảng 2.1 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty giai đoạn 2018 – 2020
ĐVT: Triệu đồng
Dựa vào bảng 2.1 ta có thể thấy, năm 2020 doanh nghiệp hoạt động chưa được tốt,
và bị ảnh hưởng nhiều bởi dịch bệnh Các chỉ tiêu của công ty trong năm 2020 đều giảm
so với năm 2019 Doanh thu thuần giảm 6,03%, LN thuần từ hoạt động kinh doanh năm
2020 giảm 25,09% và LNST 12,098 triệu đồng, giảm 39% so với năm 2019
Có thể thấy được hoạt động kinh doanh của công ty đang bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Tuy nhiên, để có thể duy trì hoạt động của doanh nghiệp đứng vững giữa đại dịch là
sự nỗ lực không ngừng của toàn thể cán bộ, công nhân viên của doanh nghiệp đã không ngừng cố gắng
2.2 Thực trạng các nhân tố gây ra hiệu ứng Bullwhip trong chuỗi cung ứng tại
công ty cổ phần Habeco Hải Phòng
2.2.1 Nguyên nhân gây ra hiệu ứng Bullwhip trong chuỗi cung ứng tại công ty cổ
phần Habeco Hải Phòng
Cách thức dự báo nhu cầu: Dòng thông tin dự báo của doanh nghiệp đi từ người
tiêu dùng đến đại lý bán lẻ, các cấp sẽ nhận thông tin từ đại lý kế mình trong chuỗi cung ứng thông qua đơn đặt hàng Do nhu cầu của người tiêu dùng mỗi thời kỳ có nhiều biến động và chịu sự ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài như thu nhập, trào lưu,… nên các