Đặc biệt thông tin chi phí do kế toán quản trị cung cấp chủ yếu phục vụ cho yêu cầu quản lý của doanh nghiệp, nó điều khiển toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là cơ
Trang 1Người hướng dẫn: GS.TS ĐẶNG THỊ LOAN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Dưới sự hướng dẫn của GS.TS Đặng Thị Loan, các nội dung nghiên cứu và kết quả của đề
Trang 2tài này là trung thực và chưa từng được công bố Những số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau và có chú dẫn trong phần tài liệu tham khảo Nếu phát hiện bất kỳ sự gian lận hoặc thiếu trung thực nào trong nội dung bài viết thì tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ cũng như kết quả luận văn của mình
Bình Định, ngày… tháng… năm 2019
Tác giả
Nguyễn Thị Vinh
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU 2
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ 4
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài 5
7 Bố cục đề tài 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 6
1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 6
1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị chi phí 6
1.1.2 Bản chất của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp 8
1.1.3 Nhiệm vụ của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp 10
1.1.4 Vai trò của kế toán quản trị chi phí trong quản trị doanh nghiệp 11
1.2 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 12
1.2.1 Phân loại và nhận diện chi phí 12
1.2.2 Xây dựng định mức và lập dự toán chi phí 20
1.2.3 Xác định chi phí theo các đối tượng chịu phí 26
1.2.4 Phân tích thông tin chi phí cho việc ra quyết định kinh doanh 27
Trang 4KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NƯỚC KHOÁNG QUY NHƠN 32
2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN NƯỚC KHOÁNG QUY NHƠN 32 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Nước khoáng Quy Nhơn 32
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty Cổ phần Nước khoáng Quy Nhơn 33 2.1.3 Đặc điểm hoạt động kinh doanh, tổ chức sản xuất của Công ty 33
2.1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần Nước khoáng Quy Nhơn 34
2.1.5 Đặc điểm tổ chức kế toán tại Công ty 37
2.2 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NƯỚC KHOÁNG QUY NHƠN 39
2.2.1 Phân loại chi phí tại Công ty Cổ phần Nước khoáng Quy Nhơn 39
2.2.2 Xây dựng định mức và lập dự toán chi phí tại Công ty 41
2.2.3 Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Công ty Cổ phần Nước khoáng Quy Nhơn 50
2.2.4 Phân tích thông tin về chi phí cho ra quyết định tại Công ty Cổ phần Nước Khoáng Quy Nhơn 60
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NƯỚC KHOÁNG QUY NHƠN 65
2.3.1 Những kết quả đạt được 65
2.3.2 Một số tồn tại và nguyên nhân 66
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 69
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NƯỚC KHOÁNG QUY NHƠN 70
Trang 53.1 SỰ CẦN THIẾT VÀ YÊU CẦU HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NƯỚC KHOÁNG QUY NHƠN 70 3.1.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện kế toán quản trị chi phí 70 3.1.2 Yêu cầu của việc hoàn thiện kế toán quản trị chi phí 71 3.2 NỘI DUNG HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NƯỚC KHOÁNG QUY NHƠN 72 3.2.1 Hoàn thiện phân loại chi phí phục vụ cho kế toán quản trị 72 3.2.2 Hoàn thiện xây dựng hệ thống định mức chi phí và dự toán chi phí 77 3.2.3 Hoàn thiện phương pháp xác định chi phí và tính giá thành tại Công ty 79 3.2.4 Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí và phân tích chi phí phục vụ kiểm soát chi phí tại Công ty 85 3.2.5 Hoàn thiện cơ cấu bộ máy kế toán phục vụ kế toán quản trị chi phí 93
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 96 KẾT LUẬN 97 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2 1: Bảng định mức chi phí nguyên vật liệu chính 41
Bảng 2.2: Dự toán chi phí nguyên vật liệu 42
Bảng 2.3: Bảng dự toán chi phí nguyên vật liệu chính của Công ty 43
Bảng 2.4: Bảng dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 44
Bảng 2.5: Định mức chi phí nhân công trực tiếp theo quy trình 45
Bảng 2.6: Bảng dự toán chi phí nhân công trực tiếp 46
Bảng 2.7: Bảng dự toán chi phí lương nhân viên quản lý phân xưởng năm 2018 46
Bảng 2.8: Bảng dự toán chi phí sản xuất chung Năm 2018 47
Bảng 2.9: Bảng dự toán tỷ lệ phân bổ chi phí sản xuất chung 48
Bảng 2.10: Phân bổ chi phí sản xuất chung 48
Bảng 2.11: Bảng dự toán chi phí sản xuất 49
Bảng 2.12: Bảng chi tiết chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 50
Bảng 2.13: Bảng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho từng sản phẩm 51
Bảng 2.14: Sổ chi tiết chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 52
Bảng 2.15: Bảng tính lương nhân công trực tiếp 54
Bảng 2.16: Sổ chi tiết chi phí nhân công trực tiếp 55
Bảng 2.17: Bảng phân bổ chi phí sản xuất chung 56
Bảng 2.18: Bảng tính chi phí 57
Bảng 2.19: Theo Biên bản kiểm kê ngày 31/12/2018 do Công ty tổ chức có 58 Bảng 2.20: Bảng tính giá thành sản phẩm 59
Bảng 2.21: Phân tích tình hình thực hiện chi phí sản xuất 60
Bảng 2.22: Báo cáo tình hình thực hiện chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 61
Bảng 2.23: Báo cáo tình hình thực hiện chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 62
Bảng 2.24: Báo cáo tình hình thực hiện chi phí nhân công trực tiếp 63
Bảng 2.25: Bảng báo cáo tình hình thực hiện chi phí sản xuất chung 64
Trang 8Bảng 3.1: Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí 74
Bảng 3.2: Tổng hợp định phí và biến phí quý 4/2018 75
Bảng 3.3: Tổng hợp định phí và biến phí SX - Quý 4/2018 76
Bảng 3.4: Bảng tổng hợp chi phí theo ứng xử chi phí 81
Bảng 3.5: Bảng tính giá thành theo phương trực tiếp 82
Bảng 3 8: Báo cáo giá thành sản phẩm Nước khoáng The Life - Qúy IV/2018 86
Bảng 3.10: Phân tích biến động NCTT của Nước khoáng The Life - Quý IV/2018 91
Bảng 3.11: Phân tích biến động SXC của Nước khoáng The Life - Quý IV/2018 92
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Đồ thị minh họa các loại biến phí 14
Sơ đồ 1.2 Đồ thị minh họa các loại định phí 15
Sơ đồ 1.3 Đồ thị minh họa chi phí hỗn hợp 16
Sơ đồ 1.4 Định mức chi phí sản xuất tại đơn vị 21
Sơ đồ 2.1 Tổ chức quản lý kinh doanh tại Công ty Cổ phần Nước khoáng 34
Sơ đồ 2.2 Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty Công ty Cổ phần Nước khoáng Quy Nhơn 37
Sơ đồ 3.1: Tổ chức bộ máy kế toán Công ty sau khi áp dụng giải pháp 95
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, góp phần không nhỏ vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước Với việc Việt Nam trở thành thành viên của WTO, đã tạo ra nhiều
cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng hoạt động kinh doanh ở những thị trường mới, đồng thời các doanh nghiệp cũng đứng trước những thách thức
và sự cạnh tranh vô cùng khốc liệt Vì vậy, trong quá trình hội nhập và xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới hiện nay các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần phải có đầy đủ thông tin liên quan đến hoạt động kinh doanh của mình
và những thông tin đó phải đầy đủ, kịp thời, chính xác để có thể chớp lấy thời cơ
và đưa ra những quyết định sản xuất kinh doanh đúng đắn
Kế toán với chức năng thông tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế tài chính của một đơn vị, một tổ chức ngày càng giữ vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế của các đơn vị điều này
có ý nghĩa quan trọng cho mọi đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin tuỳ theo mục đích khác nhau
Để đáp ứng được yêu cầu này hệ thống kế toán được chia thành kế toán tài chính và kế toán quản trị Kế toán tài chính chủ yếu cung cấp cho các đối tượng bên ngoài đơn vị sử dụng để ra các quyết định hữu ích tuỳ từng đối tượng Trong khi, kế toán quản trị có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin phục vụ cho quản trị doanh nghiệp Đặc biệt thông tin chi phí do
kế toán quản trị cung cấp chủ yếu phục vụ cho yêu cầu quản lý của doanh nghiệp, nó điều khiển toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là cơ sở để nhà quản trị đưa ra các quyết định kinh doanh hợp lý, nhằm tối đa hoá lợi nhuận, tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Ở Việt Nam, hiện nay kế toán quản trị còn khá mới mẻ, các doanh nghiệp mới chỉ có hệ thống kế toán tài chính hoàn chỉnh, việc vận dụng hệ
Trang 11thống kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí nói riêng trong các doanh nghiệp chưa được quan tâm đúng mức Hơn nữa, về mặt luật pháp, Nhà nước ta mới chỉ ban hành những văn bản pháp quy, chế độ hướng dẫn về
hệ thống kế toán tài chính áp dụng bắt buộc cho các doanh nghiệp, còn kế toán quản trị mới chỉ được đề cập và vận dụng không bắt buộc đối với các doanh nghiệp Do đó, việc tổ chức kế toán quản trị chi phí là rất cần thiết để giúp lãnh đạo xem xét, đánh giá các hoạt động của tổ chức nhằm đưa ra các quyết định đúng đắn và hiệu quả nhất
Ngành sản xuất công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Việc triển khai và ứng dụng kế toán quản trị vào công tác quản lý tại các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp sản xuất, thương mại
và dịch vụ nói riêng chưa được quan tâm đúng mức Qua quá trình nghiên cứu thực tế cho thấy Công ty Cổ phần Nước khoáng Quy Nhơn cũng không ngoại
lệ và công tác kế toán quản trị cũng còn bộc lộ những mặt hạn chế nhất định cần phải hoàn thiện Kế toán chi phí của Công ty chủ yếu là công tác kế toán tài chính, phục vụ lập các báo cáo tài chính Hệ thống kế toán chi phí của Công ty chưa thực hiện phân loại theo mức độ hoạt động, chưa tính giá thành theo phương pháp trực tiếp Với hệ thống kế toán chi phí này, thông tin chi phí của Công ty khó có thể phù hợp, kịp thời và tin cậy cho việc ra quyết định kinh doanh của các nhà quản trị, làm giảm sức cạnh tranh của Công ty Trong môi trường kinh doanh cạnh tranh khốc liệt hiện nay, Công ty Cổ phần Nước khoáng Quy Nhơn cần tổ chức xây dựng hệ thống kế toán quản trị chi phí để
phục vụ cho việc quản lý Đó là lý do tác giả chọn đề tài luận văn nghiên cứu:
“Hoàn thiện Kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Nước khoáng Quy Nhơn”
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu
Ở nước ta kế toán quản trị còn khá mới mẻ và đa số các doanh nghiệp chưa phát huy hết tính năng của nó Vì vậy, đã có nhiều tài liệu viết về kế
Trang 12toán quản trị và cũng có rất nhiều đề tài nghiên cứu về kế toán quản trị mà đặc biệt là kế toán quản trị chi phí
Về mặt thực tiễn, đã có một số nghiên cứu liên quan đến quản trị chi phí, trong đó có thể kể là nghiên cứu của tác giả Phạm Văn Dược (năm 1997) với
đề tài “Phương hướng xây dựng nội dung và tổ chức vận dụng kế toán quản trị vào các doanh nghiệp Việt Nam” đã trình bày phương hướng và giải pháp xây dựng hệ thống kế toán tài chính và kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên những nghiên cứu này còn mang tính chất chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, trong khi tính linh hoạt của kế toán quản trị lại rất cao, phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động kinh doanh của từng ngành
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Kim Cường “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ Phần VINACONEX 25” năm 2010 đã trình bày nghiên cứu cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây dựng dân dụng [6] Tác giả đã đi sâu nghiên cứu thực trạng tổ chức kế toán quản trị chi phí tại doanh nghiệp và đánh giá những ưu điểm, nhược điểm cần hoàn thiện và đưa ra những giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ Phần VINACONEX 25
Luận văn thạc sĩ của tác giả Vũ Tiến Đông “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ Phần Cơ Điện và Xây Dựng Quảng Nam” năm 2011 tác giả đã trình bày hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây lắp điện, phân tích thực trạng kế toán quản trị chi phí tại doanh nghiệp và đề xuất những giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ Phần Cơ Điện và Xây Dựng Quảng Nam[12]
Luận văn thạc sĩ của tác giả Đinh Tuyết Diệu (2011) nghiên cứu về “Kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần thực phẩm xuất nhập khẩu Lam Sơn”[4] Trong đề tài này tác giả tiến hành phân tích đánh giá công tác kế toán
Trang 13quản trị chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Lam Sơn, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của hệ thống kế toán quản trị tại đây Đồng thời đưa ra các giải pháp để hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty
Thông qua những tài liệu và đề tài nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí
đã nêu trên đã khẳng định được tầm quan trọng của thông tin kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp Tổ chức tốt công tác kế toán quản trị chi phí tại doanh nghiệp sẽ giúp cho việc kiểm soát chi phí, cung cấp thông tin kịp thời, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và giúp cho nhà quản trị đưa ra những quyết định đúng đắn dựa trên những thông tin của kế toán quản trị Tuy nhiên các nghiên cứu trên chỉ tập trung vào các ngành như xây dựng, xây lắp điện và thủy sản, mà chưa có đề tài nào nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí sản xuất sản phẩm Nước khoáng Trong khi ngành sản xuất Nước khoáng là một trong ngành mũi nhọn đặc biệt quan trọng của khu vực miền Trung và Tây Nguyên, chính vì lý do đó tác giả chọn đề tài nghiên cứu tại Công ty Cổ phần Nước khoáng Quy Nhơn với hy vọng đề tài có thể đóng góp cho việc nghiên cứu và hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp sản xuất Nước khoáng
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Luận văn sẽ phân tích, đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Nước khoáng Quy Nhơn từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị chi phí, tăng cường kiểm soát chi phí, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và có thể cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà quản trị trong việc ra các quyết định kinh doanh trong môi trường cạnh tranh gay gắt
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Nước khoáng Quy Nhơn
Trang 14Phạm vi nghiên cứu: Luận văn đi sâu nghiên cứu và hoàn thiện kế toán quản trị chi phí năm 2018 tại Công ty Cổ phần Nước khoáng Quy Nhơn
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp, phỏng vấn, so sánh… Tác giả đã tiến hành nghiên cứu trực tiếp tại Công ty Cổ phần Nước khoáng Quy Nhơn theo phương pháp phỏng vấn và đối tượng được phỏng vấn: giám đốc, kế toán trưởng, các nhân viên kế toán Dữ liệu sử dụng chủ yếu trong luận văn là dữ liệu thứ cấp tại đơn vị kết hợp với các quy định, hệ thống văn bản hướng dẫn của Công ty về tài chính - kế toán
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện Kế toán quản trị chi phí tại Công
ty Cổ phần Nước khoáng Quy Nhơn” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, cụ thể
7 Bố cục đề tài
Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Nước khoáng Quy Nhơn
Chương 3: Các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Nước khoáng Quy Nhơn
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị chi phí
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, kế toán góp phần rất quan trọng trong công tác quản lý các hoạt động kinh tế, tài chính Việc thu nhận, xử lý và cung các thông tin về tình hình thu nhập, chi phí,
so sánh thu nhập với chi phí để xác định kết quả là một trong những yêu cầu của KTTC Nhưng đối với những doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm, kinh doanh nhiều loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau, muốn biết chi phí, thu nhập
và kết quả của từng loại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ nhằm tổng hợp lại trong một cơ cấu hệ thống kế toán phục vụ cho yêu cầu của quản trị doanh nghiệp thì KTTC không đáp ứng được yêu cầu này Do đó, các doanh nghiệp tổ chức hệ thống KTQT để xây dựng các dự toán chi phí, dự toán thu nhập và kết quả của từng loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Sau đó phải tiến hành theo dõi, kiểm tra suốt quá trình chi phí sản xuất, mua bán hàng hóa dịch vụ, tính toán giá thành sản phẩm, giá vốn hàng hóa, hàng bán, doanh thu và hiệu quả của từng loại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ để đáp ứng yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để đạt được mục tiêu cuối cùng là thu được lợi nhuận tối đa trên mỗi sản phẩm, dịch vụ, doanh nghiệp cần phải nắm rõ sản xuất, kinh doanh mặt hàng nào, sản phẩm nào có lãi, mặt hàng nào, sản phẩm nào sẽ bị lỗ bằng cách tính toán, phân tích, tổng hợp từng yếu
tố chi phí để so sánh với doanh thu của từng nhóm sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp đang sản xuất, kinh doanh Điều này đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp phải được cung cấp những thông tin đặc biệt khác nhau từ kế toán quản trị
Trang 16Xuất phát điểm của kế toán quản trị là kế toán chi phí, nghiên cứu chủ yếu về quá trình tính toán giá phí sản phẩm như giá phí tiếp liệu, giá phí sản xuất; nhằm đề ra các quyết định cho phù hợp, xác định giá trị hàng tồn kho và kết quả kinh doanh theo từng hoạt động Cho đến nay, khi bàn về bản chất của
kế toán quản trị có nhiều quan điểm khác nhau, chẳng hạn như:
Theo định nghĩa của Hội hiệp kế toán quốc gia (Mỹ) – National Asociation of Accountants (NAA) – văn kiện số 1A tháng 3/1984 thì: “Kế toán quản trị là quá trình cung cấp thông tin cho nhà quản lý doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch, kiểm soát, điều hành các hoạt động của doanh nghiệp Quy trình kế toán quản trị bao gồm các công việc xác định, cân, đong,
đo, đếm, thu thập, tích lũy, phân tích, chuẩn bị thông tin, giải thích và cung cấp thông tin cho các nhà quản lý để các nhà quản lý xử lý các thông tin này theo hướng có lợi nhất cho doanh nghiệp”
Theo định nghĩa của Viện kế toán viên quản trị Hoa Kỳ thì: “Kế toán quản trị là quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, soạn thảo, diễn giải và truyền đạt thông tin được quản trị sử dụng để lập kế hoạch, đánh giá
và kiểm tra trong nội bộ tổ chức, và để đảm bảo việc sử dụng hợp lý và có trách nhiệm đối với các nguồn lực của tổ chức đó”
Theo Điều 4 Luật Kế toán Việt Nam năm 2003: "Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán"[8]
Như vậy, có rất nhiều quan niệm và định nghĩa về kế toán quản trị nhưng đứng trên góc độ sử dụng thông tin kế toán phục vụ cho chức năng quản lý của các nhà quản trị doanh nghiệp, từ những quan điểm trên có thể rút ra khái niệm chung về kế toán quản trị như sau: KTQT là một bộ phận quan trọng của
hệ thống thông tin quản lý doanh nghiệp và có quan hệ chặt chẽ với KTTC, KTQT được hình thành và thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế thị trường,
Trang 17có nhiệm vụ cung cấp thông tin kế toán cho các nhà quản trị doanh nghiệp KTQT về cơ bản dựa trên những nội dung cơ bản của kế toán, ngoài ra còn đi sâu, nghiên cứu mối quan hệ giữa chi phí, sản lượng và lợi nhuận để phục vụ tốt cho hoạt động điều hành sản xuất kinh doanh của nhà quản trị Vai trò của KTQT ngày càng được khẳng định và nó được xem là một trong những công
cụ phục vụ hữu hiệu nhất cho quản lý nội bộ doanh nghiệp
Như vậy, bộ phận kế toán chi phí trong hệ thống kế toán quản trị được gọi
là kế toán quản trị chi phí Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống
kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin về chi phí để mỗi tổ chức thực hiện chức năng quản trị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp lý
1.1.2 Bản chất của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
Các tổ chức trong xã hội dù thuộc nhóm nào cũng đều cần thông tin kế toán Doanh nghiệp cần thông tin kế toán để theo dõi chi phí và kết quả kinh doanh trong từng kỳ kế toán; Tổ chức nhà nước cần thông tin kế toán để đánh giá mức độ cung cấp các dịch vụ phục vụ công cộng; tổ chức phi lợi nhuận cần thông tin kế toán để theo dõi hoạt động của tổ chức, xác định mức độ phục vụ xã hội Như vậy đối với bất kỳ một tổ chức nào thì thông tin kế toán đều có vai trò quan trọng, không thể thiếu đối với hoạt động của tổ chức
đó và chính thông tin kế toán lại có ảnh hưởng quyết định đến mức độ đạt được các mục tiêu
Có hai loại đối tượng sử dụng thông tin kế toán là bên ngoài tổ chức và nội bộ tổ chức Đối tượng sử dụng thông tin kế toán bên ngoài tổ chức là các
cổ đông, ngân hàng, nhà cung cấp, khách hàng, cơ quan thuế Đối tượng sử dụng thông tin kế toán trong nội bộ tổ chức là các nhà quản lý các cấp (ban giám đốc và lãnh đạo các bộ phận) trong tổ chức Mặc dù cần đến thông tin về cùng một tổ chức, nhưng hai loại đối tượng này cần những thông tin với các
Trang 18tính chất khác nhau Bên ngoài tổ chức cần thông tin tổng quát về tình hình tài chính và kết quả hoạt động của tổ chức Các nhà quản lý nội bộ trong tổ chức cần thông tin chi tiết theo từng mặt hoạt động nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động và thiết lập kế hoạch trong tương lai cho tổ chức
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chi phí phát sinh ở tất cả các giai đoạn, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp Vì vậy, thông tin chi phí giữ vai trò quan trọng trong hệ thống thông tin hoạt động của doanh nghiệp Dưới góc độ kế toán tà i chính, bộ phận kế toán chi phí có chức năng tính toán, đo lường chi phí phát sinh trong tổ chức theo đúng nguyên tắc kế toán để cung cấp thông tin về giá trị thành phẩm, giá vốn hàng bán, các chi phí hoạt động trên các báo cáo kế toán Dưới góc độ kế toán quản trị, bộ phận kế toán chi phí có chức năng đo lường, phân tích về tình hình chi phí và khả năng sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ; các hoạt động và các bộ phận của tổ chức phục
vụ cho các quyết định quản trị sản xuất, định hướng kinh doanh, thương lượng với khách hàng, điều chỉnh tình hình sản xuất theo thị trường; phục
vụ tốt hơn quá trình kiểm soát chi phí, đảm bảo tính tiết kiệm, hiệu quả và gia tăng năng lực cạnh tranh
Như vậy kế toán chi phí vừa có trong hệ thống kế toán tài chính vừa có trong hệ thống kế toán quản trị, trong đó bộ phận kế toán chi phí trong hệ thống
kế toán quản trị được gọi là kế toán quản trị chi phí Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán, chính vì vậy xét một cách tổng quát, kế toán quản trị chi phí có bản chất là một bộ phận của hoạt động quản lý và nội dung của kế toán quản trị chi phí là quá trình định dạng, đo lường, ghi chép và cung cấp các thông tin về chi phí hoạt động kinh doanh của một tổ chức
Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin về chi phí phục vụ chức năng quản trị yếu tố nguồn
Trang 19lực tiêu dùng cho các họat động, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp lý
1.1.3 Nhiệm vụ của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
Việc tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị chi phí không bắt buộc phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc kế toán và có thể được thực hiện theo những quy định nội bộ của doanh nghiệp - nhằm tạo lập hệ thống thông tin quản lý thích hợp theo yêu cầu quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp
Nhiệm vụ cụ thể của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp bao gồm[1]:
1.1.3.1 Thu thập, xử lý thông tin, số liệu về chi phí theo phạm vi, nội dung
kế toán quản trị chi phí của đơn vị xác định theo từng thời kỳ
Đối tượng nhận thông tin kế toán quản trị chi phí là ban lãnh đạo doanh nghiệp và những người trực tiếp tham gia quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp không bắt buộc phải công khai các thông tin về kế toán quản trị chi phí cho các đối tượng ở bên ngoài doanh nghiệp Phạm vi kế toán quản trị chi phí không bị giới hạn và được quyết định bởi nhu cầu thông tin về kế toán quản trị chi phí của doanh nghiệp
- trong tất cả các khâu của quá trình tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh, lập
kế hoạch, kiểm tra, điều hành, ra quyết định,… Kỳ kế toán quản trị chi phí thường là tháng, quý, năm như kỳ kế toán tài chính Doanh nghiệp được quyết định kỳ kế toán quản trị chi phí khác - theo yêu cầu của mình - có thể là ngày, tuần hoặc bất kỳ thời gian nào
1.1.3.2 Kiểm tra, giám sát các định mức, tiêu chuẩn, dự toán
Kế toán quản trị chi phí là phương tiện để ban giám đốc kiểm soát một cách có hiệu quả chi phí nói riêng và hoạt động của doanh nghiệp nói chung Chính vì vậy, kế toán quản trị chi phí phải biết xây dựng các định mức kinh tế
- kỹ thuật, biết lập dự toán chi phí, tiên liệu kết quả và kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện các định mức, tiêu chuẩn, dự toán đã đề ra
Trang 201.1.3.3 Cung cấp thông tin theo yêu cầu quản trị nội bộ của đơn vị bằng báo cáo kế toán quản trị chi phí
Doanh nghiệp được toàn quyền quyết định việc vận dụng các chứng từ kế toán, tổ chức hệ thống sổ kế toán, vận dụng và chi tiết hoá các tài khoản kế toán, thiết kế các mẫu báo cáo kế toán quản trị cần thiết phục vụ cho kế toán quản trị chi phí của bản thân doanh nghiệp Doanh nghiệp được sử dụng mọi thông tin, số liệu của phần kế toán tài chính, để phối hợp và phục vụ cho kế toán quản trị chi phí
1.1.3.4 Tổ chức phân tích thông tin phục vụ cho yêu cầu lập kế hoạch và
ra quyết định của ban lãnh đạo doanh nghiệp
Ban lãnh đạo doanh nghiệp phải lập kế hoạch và ra quyết định đối với toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Theo đó kế toán quản trị chi phải thu thập, xử lý, phân tích thông tin trong suốt quá trình từ lúc mua hàng hoá, nguyên liệu; xác định được chi phí sản xuất và tính giá thành cho từng loại sản phẩm, từng ngành hoạt động, từng loại dịch vụ,… từ đó tập hợp được các dữ kiện cần thiết để phục vụ cho việc ra các quyết định kinh doanh cũng như dự kiến được phương hướng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp
1.1.4 Vai trò của kế toán quản trị chi phí trong quản trị doanh nghiệp
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải lập cả kế hoạch ngắn hạn và dài hạn Từ kế hoạch chung của doanh nghiệp các bộ phận triển khai thành kế hoạch riêng của bộ phận, đơn vị mình Để thực hiện vai trò của mình, kế toán quản trị chi phí tiến hành lập dự toán chi phí để trợ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng lập kế hoạch Ngoài ra, trong quá trình thực hiện các mục tiêu mà kế hoạch đã đề ra, kế toán quản trị chi phí
đã cung cấp thông tin cho việc quản lý đến từng công việc cụ thể, như: quản
lý sản xuất tác nghiệp, quản lý tồn kho, quản lý chi phí, Kế toán quản trị chi phí còn được coi là công cụ để đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu kế hoạch
- thông qua việc phân tích các chi phí, từ đó có những quyết định hợp lý để hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng đạt hiệu quả cao hơn
Trang 21Ngoài ra, kế toán quản trị chi phí giúp thực hiện chức năng kiểm tra của quản lý một cách rất hiệu quả thông qua việc thu thập và cung cấp các thông tin chi tiết về tình hình thực hiện kế hoạch, phát hiện các khoản chênh lệch so với kế hoạch và các nguyên nhân dẫn đến tình hình đó, giúp nhà quản lý nắm bắt hoạt động nào đem lại lợi ích, hoạt động nào đang duy trì lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp,… Với khả năng cung cấp thông tin về chi phí và lợi nhuận thu được từ từng loại sản phẩm, dịch vụ, từng lĩnh vực hoạt động, từng
bộ phận,… kế toán quản trị chi phí sẽ rất hữu ích trong việc kiểm soát chi phí sản xuất và vòng đời của sản phẩm cũng như hiệu quả của từng hoạt động
Có thể nói, kế toán quản trị chi phí đóng vai trò kiểm soát toàn bộ các khâu của hoạt động kinh doanh một cách rất cụ thể, chi tiết và thường xuyên Ngoài
ra, trong một số tình huống đặc biệt, các thông tin về chi phí đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định giá bán sản phẩm, nhất là trong các trường hợp sản xuất theo yêu cầu của khách hàng mà chưa có giá trên thị trường
1.2 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 1.2.1 Phân loại và nhận diện chi phí
1.2.1.1 Khái niệm về chi phí
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động thuật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc một chu kỳ nhất định (tháng, quý, năm) thực chất chi phí bằng sự chuyển dịch vốn, giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tượng tính giá như sản phẩm, lao vụ, dịch vụ
1.2.1.2 Phân loại chi phí trong doanh nghiệp
a) Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí
Cách “ứng xử” của chi phí là thuật ngữ để biểu thị sự thay đổi của chi phí tương ứng với các mức độ hoạt động đạt được Trong doanh nghiệp sản
Trang 22xuất, các chỉ tiêu thể hiện mức độ hoạt động như: khối lượng công việc đã thực hiện, khối lượng sản phẩm sản xuất, số giờ máy hoạt động, Xét theo cách ứng xử, chi phí của doanh nghiệp được chia thành 3 loại: biến phí (chi phí khả biến), định phí (chi phí bất biến) và chi phí hỗn hợp
Biến phí (chi phí khả biến/chi phí biến đổi)
Biến phí là những chi phí xét về mặt tổng số sẽ thay đổi tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động của doanh nghiệp trong phạm vi hoạt động Mức độ hoạt động có thể là số lượng sản phẩm sản xuất, số lượng sản phẩm tiêu thụ, số giờ máy hoạt động, doanh thu bán hàng thực hiện
Biến phí thường có các đặc điểm sau:
- Biến phí đơn vị thường không thay đổi Dựa vào đặc điểm này các nhà
quản trị xây dựng định mức biến phí góp phần kiểm soát các khoản chi phí
- Xét về tổng số biến phí thay đổi tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động Trong
trường hợp doanh nghiệp không hoạt động thì biến phí không phát sinh
- Biến phí của doanh nghiệp gồm nhiều loại khác nhau, có thể chia biến
phí thành 2 loại cơ bản: biến phí tỷ lệ và biến phí cấp bậc
Biến phí tỷ lệ là loại biến phí mà tổng của nó biến động theo tỉ lệ thuận với biến động của mức độ hoạt động Biến phí tỷ lệ gồm các khoản chi phí như chi phí NVLTT, chi phí NCTT, hoa hồng bán hàng
Biến phí cấp bậc là loại biến phí mà tổng của nó chỉ biến động khi mức độ hoạt động biến động nhiều và rõ ràng Biến phí cấp bậc không đổi khi mức độ hoạt động thay đổi ít Biến phí cấp bậc gồm những khoản chi phí như chi phí nhân công gián tiếp, chi phí bảo trì máy móc
Trang 23vị hoạt động cơ sở thì định phí thay đổi
Định phí thường có đặc điểm sau:
- Trong giới hạn của quy mô hoạt động, tổng định phí thường không thay đổi và định phí trên một đơn vị mức độ hoạt động thì thay đổi tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động Doanh nghiệp có hoạt động hay không thì định phí vẫn tồn tại Do vậy, các nhà quản trị muốn cho định phí đơn vị sản phẩm thấp cần khai thác tối đa công suất của các tài sản đã tạo ra các định phí đó
- Định phí trong doanh nghiệp cũng đa dạng và phong phú Xét ở khía cạnh quản lý chi phí, định phí được chia thành 2 loại: định phí bắt buộc và định phí tùy ý
+ Định phí bắt buộc là những định phí không thể thay đổi một cách nhanh chóng, chúng thường liên quan đến năng lực sản xuất hay cấu trúc tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các định phí bắt buộc gắn liền với các mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp và không thể cắt giảm hết trong thời gian ngắn Để quản lý loại chi phí này cần thận trọng khi quyết định đầu
Biến phí cấp bậc
Mức độ hoạt động
Chi phí Chi phí
Mức độ hoạt động Biến phí
tỷ lệ
Trang 24tư và nâng cao hiệu suất sử dụng các yếu tố vật chất và nhân lực cơ bản của doanh nghiệp
+ Định phí tùy ý là các định phí có thể được thay đổi nhanh chóng bằng các quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp Chúng thường được kiểm soát theo các kế hoạch ngắn hạn và phụ thuộc nhiều vào chính sách quản lý hàng năm của các nhà quản trị, có thể cắt giảm khi cần thiết Do vậy, loại chi phí này còn được gọi là chi phí bất biến tuỳ ý hay chi phí bất biến quản trị
Sơ đồ 1.2 Đồ thị minh họa các loại định phí
Chi phí hỗn hợp
Chi phí hỗn hợp là loại chi phí mà bản thân nó bao gồm cả các yếu tố của định phí và biến phí Ở một mức độ hoạt động nào đó, chi phí hỗn hợp mang đặc điểm của chi phí bất biến, và khi mức độ hoạt động tăng lên, chi phí hỗn hợp sẽ biến đổi như đặc điểm của chi phí khả biến Hiểu theo một cách khác, phần bất biến trong chi phí hỗn hợp thường là bộ phận chi phí cơ bản để duy trì các hoạt động ở mức độ tối thiểu, còn phần khả biến là bộ phận chi phí
sẽ phát sinh tỉ lệ với mức độ hoạt động tăng thêm Trong các doanh nghiệp sản xuất, chi phí hỗn hợp cũng chiếm một tỉ lệ khá cao trong các loại chi phí, chẳng hạn như chi phí điện thoại, chi phí bảo trì máy móc thiết bị,
Gọi: y – chi phí hỗn hợp
a – biến phí tính cho 1 đơn vị khối lượng hoạt động
Mức độ hoạt động
Chi phí Chi phí
Mức độ hoạt động Định phí bắt buộc
Định phí tùy ý
Trang 25b – định phí trong chi phí hỗn hợp
x – mức độ hay khối lượng hoạt động
Ta có phương trình biểu diễn chi phí hỗn hợp: y = ax + b
Sơ đồ 1.3 Đồ thị minh họa chi phí hỗn hợp
Để xác định các thành phần biến phí và định phí trong chi phí hỗn hợp theo từng phạm vi hoạt động, có thể dùng mô hình toán học để kiểm định, phân tích hoặc thực nghiệm theo các phương pháp cơ bản thường được sử dụng: Phương pháp cực đại - cực tiểu, phương pháp bình phương bé nhất và phương pháp đồ thị phân tán
Với cách phân loại này giúp cho công tác phân tích, đánh giá chính xác tính hợp lý của chi phí sản xuất chi ra, mặt đó là cơ sở quan trọng để xác định điểm hòa vốn và xây dựng chính sách giá cả hợp lý linh hoạt phù hợp với cơ chế thị trường
b) Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
Chi phí phát sinh trong các doanh nghiệp sản xuất, xét theo từng hoạt động có chức năng khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh mà chúng phục vụ, được chia thành hai loại: chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất
y = ax + b
Trang 26- Chi phí NVLTT là giá trị chi phí của những nguyên vật liệu cấu thành thực thể của sản phẩm Đặc điểm của chi phí NVLTT có thể tập hợp thẳng cho các đối tượng chịu chi phí, chiếm tỷ trọng khá cao trong chỉ tiêu giá thành sản phẩm Thông thường chi phí NVLTT có thể định mức cho một đơn vị sản phẩm vừa là cơ sở xây dựng dự toán, vừa là cơ sở kiểm soát chi phí
- Chi phí NCTT là chi phí về tiền lương, phụ cấp, các khoản trích theo lương, tiền ăn ca của những lao động trực tiếp chế tạo sản phẩm Chi phí NCTT có thể tập hợp thẳng cho đối tượng chịu chi phí Khoản mục chi phí này thường mang tính chất biến phí, thường xây dựng định mức cho một đơn vị sản phẩm nhằm góp phần kiểm soát chi phí, xây dựng hệ thống dự toán chi phí
- Chi phí SXC là các chi phí phát sinh trong phạm vi các phân xưởng để phục vụ hoặc quản lý quá trình sản xuất sản phẩm Chi phí SXC bao gồm các yếu tố sau:chi phí nhân viên phân xưởng,chi phí vật liệu phục vụ cho phân xưởng,chi phí CCDC phục vụ cho phân xưởng, chi phí khấu hao TSCĐ phục
vụ cho quá trình sản xuất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền
Chi phí SXC bao gồm nhiều yếu tố chi phí, có yếu tố mang tính chất định phí, có yếu tố mang tính chất biến phí, có yếu tố hỗn hợp mang cả tính chất định phí và biến phí Do vậy, các nhà quản trị muốn kiểm soát được các yếu tố trong khoản mục chi phí này cần phải tách các yếu tố thành hai bộ phận định phí và biến phí
Chi phí ngoài sản xuất
Chi phí ngoài sản xuất là các chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất sản phẩm liên quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ công tác quản lý chung toàn doanh nghiệp Thuộc loại chi phí này gồm có hai khoản mục chi phí:
- Chi phí bán hàng bao gồm các chi phí phát sinh phục vụ cho khâu tiêu thụ sản phẩm, có thể kể đến các chi phí như chi phí vận chuyển, bốc dỡ thành
Trang 27phẩm đi tiêu thụ, chi phí bao bì, khấu hao các phương tiện vận chuyển, tiền lương nhân viên bán hàng, hoa hồng bán hàng, chi phí tiếp thị quảng cáo,
- Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm tất cả các chi phí phục vụ cho công tác tổ chức và quản lý quá trình sản xuất kinh doanh nói chung trên góc
độ toàn doanh nghiệp, bao gồm các chi phí như: chi phí văn phòng phẩm, tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý doanh nghiệp, khấu hao TSCĐ của doanh nghiệp, các chi phí dịch vụ mua ngoài khác,
- Việc phân loại chi phí theo chức năng hoạt động nhằm phục vụ cho nhu cầu quản lý chi phí theo định mức, cung cấp số liệu cho việc tính giá thành sản phẩm, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm, làm tài liệu tham khảo để lập định mức chi phí sản xuất và lập kế hoạch giá thành cho kỳ sau
c) Phân loại chi phí theo mối quan hệ của chi phí với các khoản mục trên báo cáo tài chính
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ
Chi phí sản phẩm
Chi phí sản phẩm là toàn bộ chi phí liên quan đến quá trình sản xuất sản phẩm hay quá trình mua hàng hoá để bán Đối với doanh nghiệp sản xuất chi phí sản phẩm bao gồm: chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SXC Thực chất chi phí sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất là chi phí sản xuất tính cho sản phẩm của doanh nghiệp, đó là sản phẩm dở dang khi sản phẩm chưa hoàn thành, là giá thành sản xuất của sản phẩm hoàn thành và trở thành giá vốn hàng bán khi sản phẩm đã tiêu thụ Đối với doanh nghiệp kinh doanh thương mại thì chi phí sản phẩm là giá vốn của hàng mua và trở thành giá vốn hàng bán khi hàng hoá đã được bán
Khi sản phẩm hàng hoá chưa được bán thì chi phí sản phẩm là giá trị hàng tồn kho và được kế toán ghi nhận ở chỉ tiêu hàng tồn kho trong Bảng cân đối kế toán Khi sản phẩm, hàng hoá đã được bán, chi phí sản phẩm là giá
Trang 28vốn hàng bán và được ghi nhận ở chỉ tiêu "Giá vốn hàng bán" trong báo cáo kết quả kinh doanh
Chi phí thời kỳ
Chi phí thời kỳ là các chi phí phát sinh trong một thời kỳ, không tạo nên giá trị hàng tồn kho – tài sản, nên chúng không được ghi nhận trên Bảng cân đối kế toán, mà được tính hết thành phí tổn trong kỳ để xác định kết quả kinh doanh Chi phí thời kỳ bao gồm: chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp Các chi phí này được ghi nhận ở chi tiêu "Chi phí bán hàng" và "Chi phí quản lý doanh nghiệp" trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
d) Các tiêu thức phân loại chi phí khác
Căn cứ vào mối quan hệ của chi phí với đối tượng chịu chi phí, chi phí chia thành hai loại:
- Chi phí trực tiếp là các khoản chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí (như từng loại sản phẩm, công việc, hoạt động, đơn đặt hàng…) Chi phí trực tiếp gắn liền với đối tượng tập hợp chi phí, phát sinh, tồn tại, phát triển và mất đi cùng với sự phát sinh, tồn tại, phát triển và mất đi của đối tượng tập hợp chi phí
- Chi phí gián tiếp là các khoản chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng
kế toán tập hợp chi phí nên không thể tập hợp thẳng cho từng đối tượng chịu chi phí mà phải tập hợp theo từng nơi phát sinh chi phí, sau đó phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí theo tiêu thức phân bổ phù hợp Chi phí gián tiếp
là những khoản chi phí gắn liền với hoạt động phục vụ, hỗ trợ cho sự phát sinh, tồn tại, phát triển của nhiều đối tượng tập hợp chi phí, do đó không thể tính toàn bộ cho bất kỳ đối tượng tập hợp chi phí cá biệt nào Độ chính xác của chi phí gián tiếp cần phân bổ còn phụ thuộc vào tiêu thức phân bổ Tiêu thức phân bổ phải lựa chọn phù hợp và thường dựa vào những căn cứ khoa học như: có tính đại diện cao cho chi phí gián tiếp cần phân bổ, thuận tiện cho việc tính toán, thống nhất cả kỳ hạch toán
Trang 29 Căn cứ vào mối quan hệ của chi phí với mức độ kiểm soát của nhà quản trị, chi phí được chia thành:
- Chi phí kiểm soát được là những khoản chi phí mà ở một cấp quản lý nào đó nhà quản trị xác định được chính xác sự phát sinh của nó, đồng thời, nhà quản trị cũng có thẩm quyền quyết định về sự phát sinh của nó
- Chi phí không kiểm soát được là những khoản chi phí mà nhà quản trị không thể dự đoán chính xác sự phát sinh của nó hoặc không có thẩm quyền
ra quyết định về loại chi phí đó
Căn cứ vào mối quan hệ của chi phí với các quyết định kinh doanh, chi phí chia thành:
- Chi phí cơ hội là một khoản lợi nhuận tiềm tàng bị mất hoặc phải hy
sinh để lựa chọn phương án (hoặc hành động) này thay vì chọn phương án (hoặc hành động) khác Chi phí cơ hội không thể hiện trên bất cứ sổ sách kế toán nào nhưng lại là cơ sở rất cần thiết để lựa chọn phương án kinh doanh
- Chi phí chênh lệch là những chi phí hiện diện, xuất hiện trong các
phương án sản xuất kinh doanh này mà chỉ xuất hiện một phần hoặc không xuất hiện trong phương án sản xuất kinh doanh khác Đây là một khái niệm rộng về chi phí dùng để nhận thức, so sánh chi phí lựa chọn các phương án kinh doanh
- Chi phí chìm là loại chi phí mà doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu, bất kể
đã lựa chọn phương án hoặc hành động nào Chi phí chìm được xem như là khoản chi phí không thể tránh được cho dù người quản lý quyết định lựa chọn thực hiện theo phương án nào Vì vậy, chi phí chìm là loại chi phí không thích hợp cho việc xem xét, ra quyết định của người quản lý
1.2.2 Xây dựng định mức và lập dự toán chi phí
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn hoạt động hiệu quả đều phải có một
dự toán cụ thể Dự toán càng chính xác bao nhiêu thì việc tiến hành thực hiện công việc càng hiệu quả bấy nhiêu
Trang 30Định hướng cho việc đầu tư Trước khi đi vào lập dự toán, cần xây
dựng định mức cho từng khoản mục chi phí
1.2.2.1 Xây dựng định mức
Chi phí định mức là chi phí ước tính để sản xuất một sản phẩm hàng hóa
hay thực hiện một dịch vụ cho khách hàng, được xây dựng để làm tiêu chuẩn
cho từng yếu tố chi phí, căn cứ trên giá tiêu chuẩn và mức sử dụng tiêu chuẩn
về nguồn lực Chi phí định mức được xác định từ trước theo điều kiện sản
xuất bình thường nhằm đánh giá thành tích hoạt động của doanh nghiệp trong
một thời kỳ nhất định
Chi phí định mức được sử dụng như là thước đo trong hệ thống dự toán
của doanh nghiệp Một doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm, kế toán
quản trị sẽ sử dụng chi phí định mức để xác định tổng chi phí dự toán để sản
xuất sản phẩm Sau khi quá trình sản xuất được tiến hành, kế toán quản trị sẽ
so sánh giữa chi phí thực tế và dự toán để xác định sự biến động về chi phí
Đây chính là cơ sở để kiểm soát chi phí
Xây dựng định mức chi phí sản xuất tại đơn vị được tóm lược theo sơ
Định mức về giá Định mức về lượng
Định mức chi phí sản xuất chung
Trang 31Dự toán chi phí sản xuất bao gồm dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp, dự toán chi phí sản xuất chung, dự toán chi phí bán hàng, dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí tài chính Các dự toán chi phí này đều được lập trên cơ sở dự toán tiêu thụ và sản xuất trong kỳ
Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Dự toán chi phí NVLTT căn cứ vào nhu cầu sản xuất trong kỳ để tính nhu cầu NVLTT kế hoạch Nhu cầu NVLTT kế hoạch phải thỏa mãn nhu cầu NVLTT đáp ứng mức sản xuất dự toán và nhu cầu NVLTT dự trữ Công thức tính:
𝐵𝑀 = 𝑄 × 𝑀 × 𝑃𝑀
Trang 32Trong đó: BM : Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp dự toán
Q : Số lượng sản phẩm sản xuất kế hoạch
M : Định mức lượng nguyên vật liệu/sản phẩm
PM : Đơn giá nguyên vật liệu Mức dự toán chi phí NVLTT phụ thuộc vào dự toán sản lượng sản phẩm sản xuất, định mức nguyên vật liệu, đơn giá nguyên vật liệu Đơn giá nguyên vật liệu này không chỉ giá mua trên hóa đơn mà bao gồm cả chi phí phát sinh trong quá trình thu mua trừ chiết khấu thương mại, các khoản giảm trừ khác Mức giá này do bộ phận thu mua dự kiến hợp lý
Bên cạnh việc lập dự toán nhu cầu NVLTT, doanh nghiệp còn phải lên lịch thanh toán dự kiến cho nhà cung cấp NVLTT Lịch thanh toán dự kiến phản ánh các dòng tiền chi theo thời gian, là căn cứ để lập dự toán tiền mặt
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán NCTT là việc dự kiến tổng số lượng thời gian lao động cần thiết
để hoàn thành khối lượng sản phẩm sản xuất và đơn giá thời gian lao động trực tiếp Dự toán NCTT có tác dụng giúp doanh nghiệp chủ động về lao động, không bị tình trạng thừa hoặc thiếu lao động, đồng thời sử dụng lao động hiệu quả nhất Dự toán NCTT được xác định theo công thức:
𝐵𝐿 = 𝑄 × 𝐿 × 𝑃𝐿 Trong đó: BL : Chi phí nhân công trực tiếp dự toán
Q :Số lượng sản phẩm sản xuất kế hoạch
L :Định mức thời gian lao động/1 sản phẩm
PL :Đơn giá tiền lương/giờ lao động Đơn giá tiền lương được quyết định bởi nhà quản lý hoặc hợp đồng lao động nhưng việc xác định mức đơn giá tiền lương tiêu chuẩn cho một sản phẩm để lập dự toán cũng rất khó khăn vì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như ngành nghề, tay nghề lao động Để xác định đơn giá tiền lương tiêu chuẩn ta
Trang 33tính bình quân mức lương trả cho lao động trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm
Dự toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung bao gồm cả yếu tố biến phí và định phí, nên dự toán chi phí sản xuất chung phải tính đến cách ứng xử của chi phí để xây dựng định mức phí dự toán hợp lý trong kỳ
- Dự toán biến phí sản xuất chung:
Trường hợp biến phí sản xuất chung được xây dựng theo từng yếu tố chi phí (chi phí vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp…) theo mỗi đơn vị hoạt động thì quá trình lập dự toán biến phí sản xuất chung được thực hiện tương tự như dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán biến phí
sản xuất chung =
Dự toán lượng sản phẩm sản xuất x
Dự toán biến phí đơn vị SXC Trường hợp biến phí sản xuất chung được xác định bằng một tỷ lệ trên biến phí trực tiếp thì dựa vào dự toán biến phí trực tiếp, tỷ lệ biến phí sản xuất
để lập dự toán biến phí sản xuất chung
- Dự toán định phí sản xuất chung:
Đối với các yếu tố định phí sản xuất chung bắt buộc, căn cứ vào định phí sản xuất chung hàng năm chia đều cho 4 quý để xác định phí SXC hàng quý Đối với các yếu tố định phí sản xuất chung tùy ý, căn cứ vào hành động nhà quản trị xác định thời điểm chi tiêu để tính vào chi phí cho kỳ dự toán thích hợp
Dự toán định phí
sản xuất chung =
Định phí SXC thực tế kỳ trước x
Tỷ lệ % tăng/(giảm) định phí SXC theo dự kiến
Trang 34Căn cứ vào dự toán biến phí và dự toán định phí sản xuất chung tổng hợp thành chi phí sản xuất chung:
+
Dự toán định phí sản xuất chung
1.2.2.3 Lập dự toán giá thành sản phẩm
Công tác dự toán giá thành sản phẩm là một trong những nội dung chủ yếu của KTQT chi phí Dự toán giá thành có thể lập theo các phương pháp sau:
- Lập dự toán giá thành theo phương pháp toàn bộ:
Phương pháp tính giá thành toàn bộ là phương pháp mà toàn bộ chi phí liên quan đến quá trình sản xuất sản phẩm tại nơi sản xuất được tính vào giá thành của sản phẩm hoàn thành Áp dụng phương pháp tính giá toàn bộ có thể vận dụng theo các trường hợp:
- Tính giá thành giản đơn
- Tính giá thành theo công việc (theo đơn đặt hàng)
- Tính giá thành theo quá trình sản xuất (phương pháp công phí)
Theo phương pháp này giá thành sản phẩm được tính theo công thức:
- Lập dự toán giá thành theo phương pháp trực tiếp
Tính giá thành theo phương pháp trực tiếp là phương pháp mà theo đó chỉ
có chi phí sản xuất biến đổi liên quan đến sản xuất sản phẩm tại phân xưởng, tại nơi sản xuất được tính vào giá thành sản phẩm hoàn thành Phần chi phí sản xuất chung cố định không được tính vào giá thành sản phẩm hoàn thành
Theo phương pháp này, chi phí sản xuất khi phát sinh cần phân loại theo cách ứng xử chi phí Các chi phí sản xuất biến đổi sẽ tập hợp theo từng đối tượng tập hợp chi phí, phân định phí SXC sẽ tập hợp riêng Các nhà quản trị
Giá thành sản phẩm hoàn thành
Chi phí NVLTT
Chi phí NCTT
SXC
Trang 35quan niệm rằng, định phí sản xuất chung là chi phí thời kỳ, nghĩa là doanh nghiệp luôn phát sinh chi phí này để duy trì và điều hành hoạt động sản xuất cho dù có sự tăng giảm sản lượng trong kỳ giới hạn quy mô nhà xưởng Định phí SXC gần như ít thay đổi qua các năm, trước khi có sự thay đổi quy mô đầu tư Do vậy, sẽ bất hợp lý khi tính chi phí SXC cố định cho sản phẩm hoàn thành vì định phí này không gắn liền với hoạt động sản xuất như các chi phí biến đổi khác Cách nhìn nhận định phí SXC là chi phí thời kỳ cũng đồng nghĩa không xem chi phí này là chi phí sản phẩm, khi đó định phí là yếu tố cần giảm trừ để báo cáo sự thật về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Trường hợp không thể phân loại ngay thành biến phí và định phí thì chi phí này sẽ được theo dõi, đến cuối kỳ sẽ phân tích thành biến phí và định phí
Kế toán sẽ tổng hợp toàn bộ biến phí để tính giá thành Lúc này, giá thành đơn vị được xác định:
Phương pháp trực tiếp đã loại trừ được hạn chế của phương pháp toàn bộ trong việc phân bổ các chi phí chung cho đơn vị sản phẩm, phương pháp này được sử dụng nhiều trong KTQT như : Định giá sản phẩm, lập dự toán linh hoạt, lập báo cáo thu nhập theo số dư đảm phí, ứng dụng trong phân tích mối quan hệ chi phí, khối lượng và lợi nhuận, xác định sản lượng hòa vốn… Phương pháp tính giá thành theo phương pháp trực tiếp được sử dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp sản xuất
1.2.3 Xác định chi phí theo các đối tượng chịu phí
1.2.3.1 Phương pháp tập hợp chi phí
Doanh nghiệp cần lựa chọn các phương pháp tập hợp chi phí phí phù hợp từng loại chi phí:
Giá thành đơn vị sản phẩm
Tổng biến phí sản xuất
= Sản lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ
Trang 36- Phương pháp trực tiếp: áp dụng cho trường hợp chi phí phát sinh liên quan đến một đối tượng chịu chi phí Theo phương pháp này thì chi phí của đối tượng nào thì tập hợp trực tiếp cho đối tượng đó
- Phương pháp phân bổ: áp dụng cho trường hợp chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí
1.2.3.2 Phương pháp xác định chi phí
Phương pháp xác định chi phí là phương pháp tổng hợp các chi phí có liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Mục đích của việc tổng hợp chi phí nhằm cung cấp thông tin về chi phí đơn vị cần thiết cho nhà quản trị
để điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh và là cơ sở để nhà quản trị lập các dự toán chi phí ở các mức độ khác nhau, đồng thời là căn cứ để kiểm tra, đánh giá các chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh
1.2.4 Phân tích thông tin chi phí cho việc ra quyết định kinh doanh
1.2.4.1 Phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận
Mục tiêu của KTQT là cung cấp thông tin cần thiết cho nhà quản trị
ra quyết định kinh doanh Doanh nghiệp phải sản xuất bao nhiêu sản phẩm mỗi năm để có thể hòa vốn? Lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng thế nào nếu tăng sản lượng, giảm giá bán? Nỗ lực cắt giảm chi phí sản xuất của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng như thế nào đến giá bán, doanh thu và lợi nhuận? Nhân viên kế toán quản trị sẽ sử dụng “phân tích mối quan hệ giữa chi phí - sản lượng - lợi nhuận” để trả lời các câu hỏi trên
Phân tích CVP là xem xét mối quan hệ nội tại trong doanh nghiệp khi thay đổi sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận như thế nào như: chi phí, giá bán, sản lượng, kết cấu mặt hàng,… để tìm ra một sự kết hợp hiệu quả nhất giữa các nhân tố nhằm tối đa hóa mục tiêu của đơn vị Nghiên cứu mối quan hệ
C-V-P có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc khai thác khả năng tiềm
Trang 37tàng của doanh nghiệp, là cơ sở để đưa ra các quyết định như: chọn phương
án sản xuất, định giá bán sản phẩm, chiến lược bán hàng,
Để phân tích CPV, KTQT thường sử dụng các công cụ phân tích như:
- Số dư đảm phí là chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí khả biến Nó là một chỉ tiêu đo lường khả năng trang trải các chi phí cố định và tạo
ra lợi nhuận cho doanh nghiệp Số dư đảm phí khi đã bù đắp được chi phí bất biến, phần dôi ra chính là lợi nhuận Số dư đảm phí có thể tính cho tất cả các loại sản phẩm, một loại sản phẩm và cho một đơn vị sản phẩm
- Số dư đảm phí đơn vị là số dư đảm phí tính cho một đơn vị, được tính bằng giá bán trừ cho chi phí biến đổi đơn vị hoặc tổng số dư đảm phí chia cho số lượng đơn vị sản phẩm Khi đạt mức sản lượng trên điểm hòa vốn, doanh thu tăng lên, lợi nhuận sẽ tăng một mức bằng tỷ lệ số dư đảm phí với doanh thu
- Kết cấu chi phí
- Đòn bẩy kinh tế
- Điểm hoà vốn (sản lượng, doanh thu, công suất, thời gian hoà vốn,…)
Để có thể sử dụng các công cụ này vào phân tích mối quan hệ CPV cần thỏa mãn các điều kiện sau:
- Giá bán sản phẩm không đổi;
- Tồn kho không thay đổi, có nghĩa là lượng sản xuất bằng lượng bán ra;
- Tất cả các chi phí phải phân loại thành định phí và biến phí;
- Năng lực sản xuất máy móc thiết bị, công nhân không thay đổi trong phạm vi hoạt động;
1.2.4.2 Phân tích thông tin thích hợp để ra các quyết định kinh doanh
Để đưa ra những quyết định chính xác nhất, nhà quản trị doanh nghiệp thường kết hợp phương pháp CPV với các phương pháp khác, một trong những phương pháp KTQT thường hay sử dụng kết hợp đó là: phân
Trang 38tích thông tin thích hợp nhằm thiết lập thông tin cơ sở cho các quyết định kinh doanh hữu ích hơn
a) Thông tin thích hợp và thông tin không thích hợp
Trong doanh nghiệp, trước khi quyết định một vấn đề nào đó nhà quản trị thường đứng trước nhiều phương án lựa chọn Lựa chọn phương án chính là quyết định xử lý tình huống Tiêu chuẩn thường áp dụng để lựa chọn phương án là xem xét hiệu quả của phương án thông qua mức lãi dự kiến đạt được Về ý nghĩa kinh tế, phương án chọn phải là phương án có mức lãi cao nhất (hoặc mức lỗ thấp nhất) Mỗi phương án tập hợp rất nhiều thông tin, trong đó có những thông tin giống nhau và những thông tin khác nhau giữa các phương án Các thông tin này chia thành hai nhóm: một nhóm thích hợp cho quá trình phân tích, đánh giá để lựa chọn phương án, gọi là thông tin thích hợp; nhóm còn lại không được sử dụng để phân tích, đánh giá gọi là thông tin không thích hợp
Thông tin thích hợp cho việc ra quyết định phải đạt hai yêu cầu sau:
- Thông tin đó phải liên quan đến tương lai
- Thông tin đó phải có sự khác biệt giữa các phương án đang xem xét và lựa chọn
Những thông tin không đạt một trong hai yêu cầu trên hoặc không đạt
cả hai yêu cầu trên được gọi là những thông tin không thích hợp cho quá trình
ra quyết định
b) Quá trình phân tích thông tin thích hợp
Quá trình phân tích thông tin thích hợp gồm 4 bước cơ bản như sau:
- Tập hợp tất cả thông tin về các khoản thu nhập và chi phí có liên quan với các phương án được xem xét
- Loại bỏ khoản chi phí chìm Chi phí chìm là những khoản chi phí đã chi
ra trong quá khứ, nó có mặt ở tất cả các phương án đang được xem xét Do đó
Trang 39cần thiết phải loại bỏ
- Loại bỏ các khoản thu nhập và chi phí giống nhau ở các phương án
đang xem xét Đây là những thông tin thừa, không thích hợp cho quá trình phân tích
- Những thông tin còn lại sau khi thực hiện bước 2 và bước 3 là những thông tin thích hợp cho việc xem xét, lựa chọn phương án tối ưu
Có thể những thông tin thích hợp trong việc quyết định tình huống này không nhất thiết sẽ thích hợp trong tình huống khác Vì có những quan điểm, những mục đích nghiên cứu khác nhau cần có những thông tin khác nhau
Ngoài ra, căn cứ vào yêu cầu quản lý, điều hành của từng giai đoạn cụ thể, doanh nghiệp có thể lập các báo cáo kế toán quản trị khác
Trang 40KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về chi phí để mỗi tổ chức thực hiện chức năng quản trị các nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp lý
Kế toán quản trị chi phí cung cấp thông tin cho các nhà quản trị doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các chức năng quản lý Nội dung chương 1 của luận văn đi sâu nghiên cứu bản chất, vai trò và chức năng của kế toán quản trị Bên cạnh đó luận văn cũng khái quát các loại chi phí sản xuất,xây dựng định mức chi phí sản xuất và lập dự toán chi phísản xuất; phương pháp xác định giá thành sản phẩm; phân tích biến động chi phísản xuất nhằm tăng cường kiểm soát chi phísản xuất và phân tích thông tin kế toán quản trị phục
vụ cho việc ra quyết định
Đây là những tiền đề làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng công tác
kế toán quản trị chi phí sản xuất cũng như định hướng nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Nước khoáng Quy Nhơn