1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

18 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 381,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Chủ nghĩa duy vật quan niệm: bản chất của thế giới, thực thể của thế giới là vật chất – cái tồn tại vĩnh viễn, tạo nên mọi sự vật, hiện tượng cùng với những thuộc tính của chúng.. Song

Trang 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 9/2018

Nhóm: 1 Lớp học phần: POLI100108

ĐỀ TÀI:

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG

GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

TIỂU LUẬN MÔN:

NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA TIẾNG NHẬT - oOo -

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA TIẾNG NHẬT -oOo -

TIỂU LUẬN MÔN:

NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

ĐỀ TÀI:

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG

GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

Giảng viên hướng dẫn : ThS Đỗ Thị Thúy Yến

Sinh viên thực hiện : Phan Hải Hà – 44.01.755.067

Phùng Trí Đạt – 44.01.755.064

Nguyễn Thị Hiền Duyên – 44.01.755.007

Nguyễn Thị Trà My – 44.01.755.016

Nguyễn Thị Hiền – 44.01.755.010

Nguyễn Xuân Trúc – 44.01.755.034

Đỗ Nguyễn Phương Trinh – 44.01.755.033

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 9/2018

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 4 NỘI DUNG

I LÝ THUYẾT 5

Trang 3

1 Vật chất 5a)

Phạm trù vật chất 5

b) Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất 7

c) Tính thống nhất vật chất của thế giới 8

2 Ý thức 9a) Nguồn gốc của ý thức 9

b) Bản chất và kết cấu của ý thức 11

3 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 12

a) Vai trò của vật chất đối với ý thức 12

b) Vai trò của ý thức đối với vật chất 134 Ý nghĩa phương pháp luận 14

KẾT LUẬN 16

II LIÊN HỆ THỰC TẾ 17

1 Cuộc sống 17

2 Học tập 18

III BÀI TẬP 20

1 Trắc nghiệm 20

2 Tự luận 21DA NH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

LỜI MỞ ĐẦU

Tìm hiểu về lịch sử triết học, ta có thể thấy hai phạm trù lớn của triết học là vật chất và ý thức luôn là đề tài gây tranh cãi giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Bấy giờ, đã có nhiều quan niệm về vật chất và ý thức, cũng như mối quan hệ giữa vật chất và ý thức ra đời, song, quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng được xem là đầy đủ và hợp lý hơn cả Vật chất, theo Lênin, “là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho

Trang 4

con người trong cảm giác” Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào

bộ óc người; là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

là mối quan hệ biện chứng Trong mối quan hệ này, vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức, song, ý thức không hoàn toàn thụ động mà nó có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người

Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, sự ra đời và phát triển của kinh tế tri thức, cùng với sự chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường đòi hỏi nền giáo dục Việt Nam nói chung và giáo dục đại học nói riêng phải đào tạo được đội ngũ những công chức, những nhà khoa học, những kĩ sư, bác sĩ… giỏi về chuyên môn, có khả năng vận dụng tri thức khoa học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn một cách hiệu quả nhất Để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, cụ thể là không chỉ trang bị cho sinh viên tri thức khoa học, mà cả năng lực kết hợp lý luận với thực tiễn, gắn học với hành, cần phải có nhiều biện pháp tích cực và đồng bộ,

đặc biệt là việc bồi dưỡng cho họ năng lực tư duy biện chứng duy vật Ngay từ khi bước vào bậc

đại học, sinh viên phải được rèn luyện và nâng cao năng lực tư duy biện chứng để việc học tập, tiếp thu và tích lũy tri thức có hiệu quả; đồng thời có khả năng nhận thức, phân tích và giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra Chính vì lý do đó, nhóm chúng em chọn đề tài “phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức” để nghiên cứu và đúc kết được phương pháp học tập hiệu quả cho sinh viên thời đại công nghệ 4.0

I LÝ THUYẾT

1 Vật chất

a) Phạm trù vật chất

Vật chất với tư cách là phạm trù triết học đã có lịch sử phát triển trên 2500 năm

Từ thời cổ đại, xung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộc đấu trang không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

+ Chủ nghĩa duy tâm quan niệm: bản chất của thế giới, cơ sở đầu tiên của mọi tồn tại là một bản nguyên tinh thần và vật chất là sản phẩm của bản nguyên tinh thần ấy

+ Chủ nghĩa duy vật quan niệm: bản chất của thế giới, thực thể của thế giới là vật chất – cái tồn tại vĩnh viễn, tạo nên mọi sự vật, hiện tượng cùng với những thuộc tính của chúng Các quan điểm về vật chất trước Mác:

+ Phái ngũ hành ở Trung Quốc quan niệm: vật chất là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ

+ Ở Hy Lạp, phái Milet quan niệm là nước hay không khí

+ Hecralit quan niệm là lửa

+ Đêmôcrít khẳng định là nguyên tử

+ Ở Ấn Độ, phái Sàmkhya cho rằng là Pràkriti – vật chất ở dạng tinh tế, tiềm ẩn, chứa đựng năng lực vận động hay Pradhana

Trang 5

Nhìn chung, các nhà triết học duy vật quan niệm vật chất là một hay một số chất tự có, đầu tiên, là những chất “giới hạn tột cùng” đóng vai trò cơ sở sản sinh ra toàn bộ thế giới

Ưu điểm của những quan niệm các nhà triết học trước Mác: xuất phát từ tự nhi ên để giải thích về tự nhiên, việc giải thích không hề hướng đến một thế lực siêu nhiên hay tối cao nào như thượng đế hay thần linh

Song, những quan điểm này còn bộc lộ nhiều hạn chế:

+ Đồng nhất vật chất với vật thể, không hiểu rõ bản chất của ý thức cũ ng như mối quan

hệ của ý thức và vật thể

+ Không có cơ sở để xác định biểu hiện của vật chất trong đời sống xã hội nên cũng không

có cơ sở đứng trên quan niệm duy vật để giải quyết các vấn đề xã hội

Như vậy, khi đối diện với những hiện tượng đời sống phức tạp, họ không có cơ sở khoa học

để giải thích Và theo Lenin, đó là hậu quả tất yếu dẫn đến quan điểm duy vật không triệt để Cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, những phát minh “thế kỉ” ra đời:

+ 1895, Rơnghen phát hiện ra tia X

+ 1896, Béccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ

+ 1897, Tômxơn phát hiện ra điện tử

Những phát minh này ra đời đồng thời cũng đã bác bỏ quan điểm vật chất là “giới hạn tột cùng”, các nhà vật lí cũ với lập trường duy vật tự phát và siêu hình không thể giải thích được những phát hiện mới của vật lí học hiện đại, thậm chí cho rằng vật chất đã “biến mất”, đã “tiêu tan” Do đó chủ nghĩa duy vật và khoa học tự nhiên rơi vào tình trạng khủng hoảng

Những người theo chủ nghĩa duy tâm đã lợi dụng cơ hội này để khẳng định bản chất của thế giới là tinh thần, và lực lượng siêu nhiên là lực lượng sáng tạo ra thế giới

Để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật, đồng thời chống lại những thế lực xuyên tạc, công kích, Lênin đã tổng hợp những thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất là lĩnh vực vật lí học, kế

thừa những tư tưởng của C.Mác và Ph Ăngghen, Lenin đưa ra định nghĩa về vật chất: “Vật chất

là một phạm trù triết học dung để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cả m giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác.”

Định nghĩa của V.I.Lenin cho thấy:

+ Cần phân biệt khái niệm vật chất với tư cách là phạm trù triết học (tức là vật chất nói chung, không ai sinh ra và tiêu diệt được nó, vô cùng, vô tận) và khái niệm vật chất sử dụng trong các khoa học chuyên ngành (như hóa học, vật lí,… có giới hạn, được sinh ra và mất đi)

+ Thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi dạng vật chất là thuộc tính tồn tại khách quan

Trang 6

+ Vật chất, cái có thể gây nên cảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến các giác quan của con người; ý thức là sự phản ánh đối với vật chất; vật chất là cái được ý thức phản ánh

Ý nghĩa rút ra trong định nghĩa vật chất của Lenin:

+ Phân biệt sự khác nhau giữa vật chất và vật thể, khắc phục được hạn chế về quan niệm vật chất trong chủ nghĩa duy vật cũ; cung cấp căn cứ khoa học để xác định cái gì thuộc về vật chất; tạo lập cơ sở lí luận cho việc xây dựng quan điểm duy vật về lịch s ử, khắc phục những hạn chế duy tâm trong quan niệm về lịch sử của các nhà triết học trước Mác

+ Lenin khẳng định tính thứ nhất của vật chất, tính thứ hai của ý thức, vật chất quyết định

ý thức; con người có khả năng nhận thức được thế giới

b) Phương thức và hình thức tồn tại của thế giới

Vận động: Phương thức tồn tại của vật chất

Không gian, thời gian: Hình thức tồn tại của vật chất

- Vận động là phương thức tồn tại của vật chất

Ph.Ăngghen định nghĩa: “Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, - tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, một thuộc tính cố hữu của vật chất – bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”1 Theo Ăngghen, vận động không chỉ thuần túy là sự thay đổi mà là “mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ” Vật chất luôn gắn liền với vận động Vận động trở thành phương thức tồn tại của vật chất Vật chất tồn tại khách quan nên vận động cũng tồn tại khách quan và vận động của vật chất là tự thân vận động

Có 5 hình thức cơ bản:

+ Cơ học (chuyển động của các vật trong không gian)

+ Vật lý (chuyển động của các hạt phân tử, nguyên tử, )

+ Hóa học (từ chất này biến đổi thành chất khác)

+ Sinh học (sự phát triển của các cơ thể sống, thay đổi cấu trúc gene)

+ Xã hội (sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, )

Sắp xếp theo trình độ từ thấp tới cao Khác nhau nhưng không tồn tại biệt lập mà còn quan hệ mật thiết với nhau Trong cái cao bao hàm cái thấp hơn, cái cao được hình thành dựa trên cơ sở cái thấp, đơn giản, cơ bản Giống nhau là vậy, song mỗi vật chất được đặc trưng bởi hình thức vận động cao nhất mà nó có

1 C.Má c và Ph.Ăngghen: Toà n tậ p, NXB Chính trị quốc gia , Hà Nội, 1994, t 20, tr 519

Trang 7

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định vận động là tuyệt đối, là cố hữu, vĩnh viễn Điều này không có nghĩa là phủ nhận đứng im, song đứng im là “trạng thái đặc biệt của vận động, vận động trong thế cân bằng và đứng im là hiện tượng tương đối, tạm thời”

Vận động trong thế cân bằng: chưa làm thay đổi cơ bản về vị trí, hình dạng, kết cấu, chất của

sự vật Đứng im: Tương đối vì chỉ xảy ra trong một số hình thức vận động và một số quan hệ nhất định Tạm thời vì chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định

- Không gian, thời gian là hình thức tồn tại của vật chất

Không gian = quãng tính (l, w, h) + mối tương quan nhất định (trước/sau, trên/dưới, trái/phải, )

Thời gian: quá trình biến đổi (nhanh/chậm, kế tiếp, chuyển hóa, )

Vật chất, không gian, thời gian không tách rời nhau

Tính chất của không gian và thời gian:

+ Tính khách quan: Không gian, thời gian là thuộc tính của vật chất tồn tại gắn liền với nhau và gắn liền với vật chất Vật chất tồn tại khách quan, do đó không gian và thời gian cũng tồn tại khách quan

+ Tính vĩnh cửu và vô tận: Theo Ph.Ăngghen, vật chất vĩnh cửu và vô tận trong không gian và trong thời gian Những thành tựu của vật lý học vi mô cũng như những thành tựu của vũ trụ học ngày càng xác nhận tính vĩnh cửu và vô tận của không gian và thời gian

+ Tính ba chiều của không gian và tính một chiều của thế giới:

Không gian: ba chiều (l, w, h)

Thời gian: một chiều (quá khứ tương lai)

c) Tính thống nhất vật chất của thế giới

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định bản chất của thế giới là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất Theo quan điểm đó:

+ Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất Vật chất có trước, tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người

+ Thế giới tồn tại vĩnh viễn, vô tận, không mất đi

+ Mọi tồn tại của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất với nhau (dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật chất, có nguồn gốc vật chất, do vật chất sinh ra và cùng chịu

sự chi phối của những quy luật khách quan, phổ biến của thế giới vật chất)

+ Trong thế giới vật chất không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang biến đổi

và chuyển hóa lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân và kết quả của nhau

2 Ý thức

Trang 8

a) Nguồn gốc của ý thức

Trên cơ sở khái quát thành tựu của khoa học, của thực tiễn xã hội, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định nguồn gốc vật chất, bản chất phản ánh vật chất của ý thức để rút ra vai trò của

ý thức trong mối quan hệ với vật chất

Quan điểm duy tâm khách quan cho rằng nguồn gốc của ý thức từ một lực lượng siêu tự nhiên (Ý niệm, Brahman, Thượng đế, Trời, v.v.)

Quan điểm duy tâm chủ quan cho rằng ý thức là cái vốn có của con người, không do thần thánh ban cho, cũng không phải là sự phản ánh thế giới bên ngoài

Quan điểm duy vật siêu hình coi ý thức là một dạng vật chất; “óc tiết ra ý thức cũng như gan tiết ra mật”

Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng ý thức ra đời là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên và xã hội Ý thức có hai nguồn gốc là nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội

- Nguồn gốc tự nhiên của ý thức: thể hiện qua sự hình thành của bộ óc con người và hoạt

động của bộ óc đó cùng mối quan hệ của con người với thế giới khách quan tạo ra hiện tượng phản ánh năng động, sáng tạo

Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, ý thức là một thuộc tính của vật chất, nhưng không phải là của mọi dạng vật chất, mà chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người Bộ óc người là cơ quan vật chất của ý thức Ý thức là chức năng của bộ óc con người

Ý thức phụ thuộc vào hoạt động bộ óc người, do đó khi bộ óc bị tổn thươn thì hoạt động của ý thức sẽ không bình thường Vì vậy, không thể tách ý thức ra khỏi hoạt động của bộ óc Ý thức không thể diễn ra, tách rời hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người

Ngày nay sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – kỹ thuật hiện đại đã tạo ra những máy móc thay thế cho một phần lao động trí óc của con người Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là máy móc có ý thức như con người Máy móc là một kết cấu kỹ thuật do con người tạo ra, còn con người là một thực thể xã hội Máy không thể thay thế cho hoạt động trí tuệ của con người, không thể sáng tạo lại hiện thực dưới dạng tinh thần trong bản thân nó như con người Do đó chỉ có con người với bộ óc của nó mới có ý thức

Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc không thôi mà không có sự tác động của thế giới bên ngoài để

bộ óc phản ánh lại sự tác động đó thì cũng không thể có ý thức

Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất khác khác trong quá trình tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng

Phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của mọi đối tượng vật chất Thuộc tính phản ánh của vật chất có quá trình phát triển lâu dài từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Trong giới tự nhiên vô sinh, chỉ có những phản ánh vật lý, hóa học Trong giới tự nhiên hữu sinh, sự phản ánh

đã phát triển lên một trình độ cao hơn là phản ánh sinh học Hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực chính là phản ánh năng động, sáng tạo Nó chỉ được thực hiện ở dạng vật chất phát triển cao nhất, có tổ chức cao nhất là bộ óc người Phản ánh năng động, sáng tạo được thực hiện qua quá trình hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não người khi thế giới khách quan tác động lên các giác quan của con người Đây là sự phản ánh có tính chủ động lựa chọn thông ti n, để tạo

Trang 9

ra những thông tin mới, phát hiện ý nghĩa của thông tin Sự phản ánh năng động, sáng tạo này được gọi là ý thức

- Nguồn gốc xã hội của ý thức

Có nhiều yếu tố cấu thành nguồn gốc xã hội của ý thức; trong đó, cơ bản nhất và trực tiếp nhất là lao động và ngôn ngữ

Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra sản

phẩm phục vụ cho nhu cầu tồn tại và phát triển của mình; là quá trình trong đó bản thân con người đóng góp vai trò môi giới, điều tiết và giám sát sự trao đổi vật chất giữa người và tự nhiên Trong quá trình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan, làm cho thế giới khách quan bộc lộ ra những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của nó biểu hiện thành những hiện tượng nhất định mà con người có thể quan sát được Những hiện tượng ấy thông qua hoạt động của các giác quan, tác động vào bộ óc con người, tạo ra khả năng hình thành những tri thức nói riêng và ý thức nói chung

Lao động còn là quá trình phát triển bản thân con người, biến vượn thành người Trong lao động con người phải suy nghĩ, tính toán đề ra mục đích, tìm kiếm phương pháp và phương tiện thực hiện mục đích, đúc rút kinh nghiệm thành công và thất bại Đó chính là phương thức phát triển của ý thức

Như vậy, sự ra đời của ý thức chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách quan thông qua quá trình lao động

Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung ý thức Không có

ngôn ngữ, ý thức không thể tồn tại và thể hiện

Sự ra đời của ngôn ngữ gắn liền với lao động Mối quan hệ giữa các thành viên trong quá trình lao động làm nảy sinh nhu cầu phải có phương tiện để biểu đạt, nhu cầu này làm ngôn ngữ nảy sinh và phát triển ngay trong quá trình lao động Nhờ ngôn ngữ con người đã không chỉ giao tiếp, trao đổi mà còn khái quát, tổng kết đúc kết thực tiễn, truyền đạt kinh nghiệm, truyền đạt tư tưởng từ thế hệ này sang thế hệ khác

Như vậy, nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức

là lao động Sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ; đó là hai chất kích thích chủ yếu làm cho bộ óc vượn dần dần chuyển hóa thành bộ óc người, khiến cho tâm lý động vật dần dần chuyển hóa thành ý thức

b) Bản chất và kết cấu của ý thức

- Bản chất của ý thức:

Ý thức là sự phản ánh năng động sáng tạo thế giới khách quan và bộ óc người là hình ảnh

chủ quan của thế giới khách quan

Tính chất năng động sáng tạo của sự phản ánh được thể hiện ở khả năng hoạt động tâm sinh

lý của con người trong việc tiếp nhận thông tin, chọn lọc thông tin, xử lý thông tin, lưu giữ thông

Trang 10

tin và trên cơ sở đó có thể tạo ra những thông tin mới, phát hiện những ý nghĩa của thông tin được tiếp nhận

Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: Ý thức là hình ảnh về thế giới khách

quan, bị thế giới khách quan quy định cả về nội dung lẫn hình thức biểu hiện nhưng nó không còn y nguyên như thế giới khách quan sẵn có mà nó đã cải biến thông qua lăng kính chủ quan

Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội: Sự ra đời và tồn tại của ý thức gắn

liền với hoạt động thực tiễn chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên và xã hội ý thức đã sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu của thực tiễn xã hội

- Kết cấu của ý thức: Ý thức có kết cấu rất phức tạp nhưng cơ bản nhất là tri thức, tình cảm

và ý chí

Tri thức là toàn bộ những hiểu biết của con người, là kết quả của quá trình nhận thức, là sự

tái tạo lại hình ảnh của đối tượng được nhận thức dưới dạng các loại ngôn ngữ Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức và điều kiện để ý thức phát triển

Tình cảm là những rung động biểu hiện thái độ của con người trong các quan hệ tình cảm,

được hình thành từ sự khái quát những cảm xúc cụ thể của con người khi nhận sự tác động của ngoại cảnh Tình cảm xuất hiện trong mọi lĩnh vực đời sống của con người, là một yếu tố t húc đẩy hoạt động nhận thức và thực tiễn

Ý chí là sự biểu hiện sức mạnh của bản thân mỗi con người vượt qua những cản trở trong quá

trình thực hiện mục đích, ý chí là một biểu hiện của ý thức trong thực tiễn ở đó con người tự ý thức được mục đích của hành động nên tự đấu tranh với mình và ngoại cảnh để thực hiện đến cùng mục đích đã lựa chọn Giá trị chân chính của ý chí không thể hiện ở cường độ mạnh hay yếu mà thể hiện ở nội dung ý nghĩa của mục đích mà ý chí hướng đến

Tất cả các yếu tố tạo thành ý thức có mối quan hệ biện chứng với nhau xong tri thức là yếu

tố quan trọng nhất, là phương thức tồn tại của ý thức, đồng thời là nhân tố định hướng sự phát triển quyết định mức độ biểu hiện của các yếu tố khác

3 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

Trong dòng chảy vô tận của lịch sử loài người, có rất nhiều quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, tuy nhiên chỉ có Mác và Ăngghen mới là những nhà khoa học

đã tìm ra quan niệm đúng đắn và đầy đủ nhất về mối quan hệ của vật chất và ý thức, đó l à: vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, ý thức bắt nguồn từ vật chất, bị vật chất quyết định, song song đó, ý thức cũng có tác động ngược lại đến vật chất thông qua những hoạt động thực tiễn của con người Để làm rõ vấn đề này, chúng ta sẽ tìm hiểu qua hai phần: vai trò của vật chất đối với ý thức và vai trò của ý thức đối với vật chất

a) Vai trò của vật chất đối với ý thức

Trước khi chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời, có rất nhiều những quan niệm khái nhau về vật chất: các nhà triết học duy vật cổ đại thì cho rằng vật chất là bất biến, dù cho trạng thái và thuộc tính của sự vật có thay đổi; Ta-lét thì cho rằng vật chất là nước; Anaximenes lại cho rằng vật chất

là không khí… Tuy nhiên chỉ có quan điểm của Lênin mới là toàn diện và khoa học nhất về phạm trù vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan đem lại cho con

Ngày đăng: 03/04/2022, 13:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Từ ý thức đã có được giúp con người: xác đinh được mục tiêu, mơ hình, phương hướngcho hoạt động thực tiễn, phát huy tính năng động, sáng tạo,…  - Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
th ức đã có được giúp con người: xác đinh được mục tiêu, mơ hình, phương hướngcho hoạt động thực tiễn, phát huy tính năng động, sáng tạo,… (Trang 15)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w