Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và phát triển của phép biện chứng duy vật và sự vận dụng hai nguyên lý đó ở hồ chí minh trong cách mạng việt nam Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và phát triển của phép biện chứng duy vật và sự vận dụng hai nguyên lý đó ở hồ chí minh trong cách mạng việt nam Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và phát triển của phép biện chứng duy vật và sự vận dụng hai nguyên lý đó ở hồ chí minh trong cách mạng việt nam
Trang 1ĐẠI HỌC QU ỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA H C XÃ H Ọ ỘI VÀ NH ÂN V ĂN
- o0o -
NGUYỄN NGỌC DIỆP
NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀ SỰ VẬN DỤNG HAI NGUYÊN LÝ ĐÓ Ở HỒ CHÍ MINH TRONG
CÁCH MẠNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN TH ẠC Ỹ S TRI ẾT ỌC H
HÀ N ỘI – 2007
Trang 2MỤC LỤC
Trang
1.2.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 13
1.2.2 Nguyên lý về sự phát triển 19 1.3 Nguyên tắc phương pháp luận rút ra từ nguyên lý về mối liên hệ
1.3.1 Quan điểm toàn diện 25
1.3.2 Quan điểm lịch sử cụ thể- 27
1.3.3 Quan điểm phát triển 27
VÀ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN Ở HỒ CHÍ MINH TRONG CÁCH MẠNG VIỆT
NAM
31
HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 63 3.1 Khái quát một số nét cơ bản về tình hình thế giới và Việt Nam
3.1.2 Thực trạng đất nước sau 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội đại
3.2 Quán triệt quan điểm biện chứng duy vật của Hồ Chí Minh trong
Trang 33.2.1 Quan điểm toàn diện
Trang 4Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
đó viết:
“Chỉ cú ớt nhõn vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại
ngay khi cũn sống, và rừ ràng Hồ Chớ Minh là một trong số đú Người sẽ được
ghi nhớ khụng phải chỉ là người giải phúng cho Tổ quốc và nhõn dõn bị đụ hộ,
mà cũn là một nhà hiền triết hiện đại đó mang lại một viễn cảnh mới và hy
vọng mới cho những người đang đấu tranh khụng khoan nhượng để loại bỏ bất
cụng, bất bỡnh đẳng trờn trỏi đất này” [37, 37]
Việt Nam, gúp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhõn loại vỡ
lớn ấy, năm 1990 Người đó được tụn vinh là Anh hựng giải phúng dõn tộc,
Danh nhõn văn hoỏ thế giới
T- t- ởng Hồ Chí Minh là một hệ thống lí luận bao gồm nhiều lĩnh vực
rộng lớn và vô cùng phong phú Trong đó, sự vận dụng và phát triển sáng tạo
Nam ở Hồ Chí Minh đ- ợc xem là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ di sản
vô giá mà Ng- ời đã để lại cho dân tộc và nhân loại
nào chỳng ta nắm vững lớ luận phộp biện chứng duy vật, biết vận dụng một
Trang 5cỏch sỏng tạo cỏc nguyờn tắc, phương phỏp của phộp biện chứng vào hoàn cảnh
cụ thể của đất nước, biết lấy “cỏi bất biến” ứng vào “cỏi vạn biến” theo tư
trong lónh đạo cỏch mạng Việt Nam vào cụng cuộc đổi mới, cụng nghiệp hoỏ,
chủ nghĩa xó hội, chủ tịch Hồ Chớ Minh đó vượt lờn trờn nhiều người đương thời, biết vận dụng một cỏch sỏng tạo những nguyờn lý cơ bản của phộp biện
Việt Nam, chốo lỏi con thuyền cỏch mạng Việt Nam cập bến bờ thắng lợi
“đầy biến cố phức tạp” Vỡ thế, “khám phá phép biện chứng Hồ Chí Minh là
những biến đổi to lớn của bối cảnh trong nước và quốc tế, một yờu cầu khỏch
phổ biến và phỏt triển của phộp biện chứng duy vật và sự vận dụng hai nguyờn
lý đú ở Hồ Chớ Minh trong cỏch mạng Việt Nam” cho luận văn của mỡnh
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trang 6Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm g- ơng cách mạng tuyệt vời Người
nhân loại Những quan điểm lí luận và giá trị t- t- ởng ở nhiều ph- ơng diện cựng những phẩm chất cao quý, khí phách anh hùng của Ng- ời đã trở thành tài
t- ởng Hồ Chí Minh, con ng- ời, nhân cách Hồ Chí Minh đã trở thành đối t- ợng
nghiờn cứu tư tưởng Hồ Chớ Minh ngày càng được đẩy mạnh và bước đầu đó
cú được những thành quả nhất định Tỡm hiểu và vận dụng tư tưởng Hồ Chớ
Cho đến nay đã có hàng nghìn công trình, bài viết về chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đú cú cả cụng trỡnh cấp nhà nước KX.02 Cụng trỡnh này đó huy động đụng đảo cỏc nhà khoa học nhiều chuyờn ngành khỏc nhau tham gia nghiờn cứu một cỏch trực tiếp, cơ bản và cú hệ thống về tư tưởng Hồ Chớ Minh Tuy nhiờn,
xứng với giỏ trị và ý nghĩa của sự nghiệp Hồ Chớ Minh, tư tưởng Hồ Chớ Minh
t- ởng triết học hay triết lý của Hồ Chí Minh, t- t- ởng biện chứng của Hồ Chí
ỏi Núi như Lê Hữu Nghĩa, đây là một khu vực còn nhiều chỗ trống trải trong
Bảo cũng nhấn mạnh: các công trình nghiên cứu về t- t- ởng triết học Hồ Chí Minh, t- t- ởng biện chứng Hồ Chí Minh còn ít ng- ời bàn đến
Viết về vấn đề này, thực tế cho đến nay đã có các công trình nghiên cứu sau:
Trang 7 T- t- ởng biện chứng Hồ Chí Minh, (2005), Nguyễn Đức Đạt, NXB Chính
T- t- ởng triết học Hồ Chí Minh, (2000), Lê Hữu Nghĩa (chủ biên), NXB
Lao động, Hà Nội
Góp phần tìm hiểu đặc sắc t- duy triết học Hồ Chí Minh, (2002), Hồ
Kiếm Việt, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
tưởng biện chứng Hồ Chớ Minh Về cơ sở thực tiễn: đú là thực tiễn cuộc đấu
tranh của nhõn dõn ta chống ỏch đụ hộ của thực dõn Phỏp cuối thế kỷ XIX, đầu
thế kỷ XX; đú là thực tiễn cuộc đấu tranh cỏch mạng của nhõn dõn ta và nhõn
Những thực tiễn này được gắn kết với lý luận Mỏc – Lờnin, với truyền thống
Thứ hai là: Trờn cơ sở lớ luận và thực tiễn đú, tỏc giả đó đi sõu phõn tớch
Minh, xuyờn suốt là cỏc quan điểm: quan điểm thực tiễn, quan điểm toàn diện,
dõn tộc gắn liền với chủ nghĩa xó hội
Thứ ba: Tỏc giả đó đi vào phõn tớch và chỉ ra: Trong quỏ trỡnh lónh đạo
cỏch mạng Việt Nam, đặc biệt là trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước,
Trang 8vạn biến” Nhờ thế, Đảng ta đó xỏc định đỳng trọng tõm, trọng điểm, đỏp ứng
đạt được những thành tựu to lớn Đặc biệt, nhận thức về chủ nghĩa xó hội và
Trong Tạp chớ triết học số 4 thỏng 7 năm 2001, Nguyễn Đức Đạt cũng
đó khỏi quỏt và trỡnh bày một số cỏc quan điểm biện chứng Hồ Chớ Minh Tỏc
quan điểm biện chứng Hồ Chớ Minh là cỏi đó sắp sẵn cho mọi lời giải đỏp mà
thực sống động
Trong cuốn “Góp phần tìm hiểu đặc sắc t- duy triết học Hồ Chí Minh"
của Hồ Kiếm Việt, tỏc giả đó tập trung nghiờn cứu một cỏch cú hệ thống về tư
hội, giỏo hoỏ con người, vỡ con người và phỏt huy nhõn tố con người Vỡ thế, nú
Hồ Chớ Minh trong thực tiễn cỏch mạng Việt Nam
Trang 9Trong cuốn “Tư tưởng triết học Hồ Chớ Minh”, Lờ Hữu Nghĩa đó trỡnh
luận khoa học để Hồ Chớ Minh xem xột và giải quyết những vấn đề cỏch mạng
nhuyễn trong lý luận và trong nghệ thuật lónh đạo cỏch mạng Việt Nam Vỡ thế,
cũng đó trỡnh bày một cỏch ngắn gọn một số tư tưởng cơ bản của Hồ Chớ Minh
quan điểm kế thừa và nghệ thuật phõn tớch mõu thuẫn
Cú thể núi, việc khỏm phỏ chiều sõu tư tưởng biện chứng Hồ Chớ Minh
3 Mục đớch và nhiệm vụ của luận văn
biện chứng duy vật ở Hồ Chí Minh trong Cách mạng Việt Nam, từ đó thấy đ- ợc
ý nghĩa của vấn đề này trong cụng cuộc đổi mới đất nước hiện nay
- Nhiệm vụ:
+ Phân tích hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật
Chí Minh trong cách mạng Việt Nam
+ Nêu lên bài học vận dụng quan điểm biện chứng duy vật của Hồ Chí
Minh trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Trang 10- Luận v n nghiờn c nguyờn lý v mă ứu ề ối liờn hệ phổ biến và về sự phỏt
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
5 Cơ sở lớ luận và phương phỏp nghiờn cứu
- Cơ sở lớ luận: Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về
ng- ời đi tr- ớc
thống
mạng Việt Nam, từ đó thấy đ- ợc ý nghĩa to lớn của nó đối với sự nghiệp đổi mới đất n- ớc trong giai đoạn hiện nay
* í nghĩa lý luận: Luận văn làm sáng tỏ quan điểm biện chứng duy vật
trong cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh, góp phần vào việc định h- ớng
đúng đắn về chủ tr- ơng, đ- ờng lối xây dựng đất n- ớc trong công cuộc đổi mới
ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
giảng dạy môn t- t- ởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là t- t- ởng triết học Hồ Chí Minh, giúp cho bản thân có cách nhìn nhận, đánh giá đúng đắn sự vật, hiện t- ợng, đạt hiệu quả cao trong hành động
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
Trang 11Chương 1
PHẫP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1 1 Phộp biện chứng duy vật
Từ x- a đến nay, trong mọi lĩnh vực hoạt động của con ng- ời, vấn đề
ph- ơng pháp luôn đ- ợc đặt ra để lựa chọn, sử dụng nhằm thực hiện một cách có
hiệu quả những mục tiêu ã định đ
lại đ- a ra một nhận định: Thiếu ph- ơng pháp thì ng- ời tài cũng có thể mắc lỗi,
có ph- ơng pháp thì ng- ời tầm th- ờng cũng làm đ- ợc việc phi th- ờng
Cùng với quá trình con ng- ời nhận thức, cải tạo, biến đổi tự nhiên và xã
hội, ph- ơng pháp trong hoạt động nhận thức và trong cải tạo hiện thực cũng
ph- ơng pháp sai lầm
Trong lịch sử phát triển triết học có hai ph- ơng pháp đối lập nhau:
biện chứng đ- ợc xem là ph- ơng pháp khoa học, là công cụ để nhận thức thế
giới ngày càng đúng đắn, sâu sắc hơn, để cải tạo thế giới ngày càng hiệu quả
hơn, theo những quy luật khách quan của nó
ở trạng thái vận động, biến đổi, nằm trong khuynh h- ớng chung là phát triển
Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện t- ợng mà nguồn gốc của
Trang 12sự thay đổi ấy là do sự đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng
Ph- ơng pháp biện chứng thể hiện t- duy mềm dẻo, linh hoạt Nó thừa
có c° c²i “vụa l¯…vừa là…”; nó thừa nhận một chỉnh thể trong cùng một lúc vừa là nó lại vừa không phải là nó; thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định, vừa loại trừ nhau đồng thời lại vừa gắn bó với nhau
Ph- ơng pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng nh- nó tồn tại Nhờ vậy, ph- ơng pháp t- duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con ng- ời nhận thức và cải tạo thế giới
Cùng với sự phát triển của t- duy con ng- ời, ph- ơng pháp biện chứng trải
của phép biện chứng: phép biện chứng tự phát ngây thơ thời kì cổ đại, phép biện
Ăngghen xây dựng, sau đó đ- ợc V.I Lênin phát triển)
*Phộp biện chứng tự phỏt, ngõy thơ thời kỳ cổ đại
Ngay từ thời cổ đại, những yếu tố biện chứng tự phỏt đầu tiờn đó bắt đầu xuất hiện Chỳng gắn liền với những kiến giải theo quan điểm duy vật Khi xem xột thế giới, người ta đó nhận thấy một bức tranh tổng quỏt, trong đú, cỏc sự vật, hiện tượng cú mối liờn hệ chằng chịt với nhau, tỏc động lẫn nhau, khụng cú cỏi gỡ đứng im mà tất cả đều vận động, biến hoỏ Những yếu tố biện chứng ấy
đó núi lờn sức mạnh nhận thức của con người, đó gúp phần làm phong phỳ tri
chỉ là những yếu tố biện chứng mang tớnh tự phỏt, ngõy thơ Bởi vỡ, nú chưa dựa trờn những thành quả khoa học mà mới chỉ dựa vào sự quan sỏt trực quan, mang tớnh chất phỏng đoỏn về bức tranh chung của thế giới Do đú, sau này nú
đó bị phộp siờu hỡnh (xuất hiện từ nửa cuối thế kỷ XV) thay thế
* Phộp biện chứng duy tõm
Trang 13Phép biện chứng duy tâm xuất hiện trong triết học cổ điển Đức ở cuối thế
kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Các đại biểu của triết học cổ điển Đức là Căng, Phích – tơ, Selinh và đặc biệt là Hêghen đã đóng một vai trò to lớn trong việc phê phán những quan điểm siêu hình và chuẩn bị về mặt lí luận cho việc xây dựng phương pháp biện chứng Có thể nói, trước Hêghen, trong triết học của
sáng Pháp cũng đã có nhiều yếu tố của phép biện chứng Song, chỉ đến Hêghen, phép biện chứng mới được nêu lên thành một học thuyết, mới được hình thành với tính cách là một bộ phận của triết học Với một hệ thống khái niệm, phạm trù và các quy luật cơ bản, Hêghen đã trở thành người đầu tiên xây dựng hoàn chỉnh phép biện chứng Tuy nhiên, đó lại là phép biện chứng duy tâm, trong đó,
“ý niệm tuyệt đối” được xem là cái có trước, tha hoá thành giới tự nhiên và xã hội; biện chứng của ý niệm sản sinh ra biện chứng của sự vật
* Phép biện chứng duy vật
Kế thừa một cách có chọn lọc và phát triển những thành quả của các nhà triết học trước đó, đồng thời dựa trên cơ sở khái quát những thành tựu to lớn của khoa học hiện đại, thực tiễn lịch sử loài người, đặc biệt là thực tiễn xã hội giữa thế kỷ XIX, C Mác và Ph Ăng ghen đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật
Hêghen đối với cuộc đấu tranh chống phương pháp siêu hình song C Mác, Ph
tâm, phản động của Hêghen Các ông đã cải tạo triệt để phép biện chứng của
chứng của Hêghen đi bằng “chân” chứ không phải đi bằng “đầu” Trong tác
khác về căn bản với phương pháp biện chứng của Hê ghen mà còn đối lập với phương pháp đó Đối với Hê ghen, quá trình của tư duy mà ông đã đặt cho cái tên là ý niệm, là đấng sáng tạo ra hiện thực, còn hiện thực chỉ là biểu hiện bề
Trang 14ngoài của ý niệm mà thụi Đối với tụi thỡ trỏi lại, sự vận động của tư duy chỉ là phản ỏnh của sự vận động hiện thực, di chuyển và biến hỡnh vào trong đầu úc con người” [57, 35] Cú thể núi, chỉ cú cỏc ụng mới phỏt hiện ra phộp biện chứng thật sự tồn tại trong thế giới khỏch quan, từ đú đưa tri thức của loài người tiến thờm một bước nữa trong quỏ trỡnh nhận thức tự nhiờn Trong triết
được mọi hạn chế trước đõy, cũn phộp biện chứng cũng được trỡnh bày theo
vững chắc của khoa học tự nhiờn Phộp biện chứng duy vật đó trở thành một học thuyết thực sự khoa học, một phương phỏp luận tiờn tiến dựng để nhận thức
và cải tạo thế giới
về phộp biện chứng:
“Phộp biện chứng chẳng qua chỉ là mụn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phỏt triển của tự nhiờn, xó hội loài người và của tư
luật phổ biến của sự vận động, phỏt triển và tỏc động trong cả 3 lĩnh vực: giới
vật, biện chứng của cái khách quan quy định biện chứng của cái chủ quan, t-
dung của nó là một hệ thống các nguyên lý (Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
và nguyên lý về sự phát triển), các quy luật (Quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về l- ợng thành những sự thay đổi về chất và ng- ợc lại, quy luật mâu thuẫn, quy luật phủ định của phủ định - nói lên bản chất, cách thức và xu h- ớng
Trang 15nhất, nguyên nhân - kết quả, bản chất – hiện t- ợng, khả năng - hiện thực, nội dung - hình thức, tất yếu - ngẫu nhiên) Từ những nguyên lý, quy luật, phạm trù
đạo trong nhận thức cũng nh- trong hoạt động thực tiễn Tiêu biểu là quan điểm
các sự vật, hiện t- ợng của thế giới Đó là một thế giới chỉnh thể, vận động và phát triển không ngừng trong mâu thuẫn, bằng mâu thuẫn Đó là một hệ thống
chứ không “tĩnh”
Bắt nguồn từ chớnh hiện thực khỏch quan, phộp biện chứng duy vật đó cho chỳng ta chiếc chỡa khoỏ để giải thớch tớnh chất phức tạp và muụn hỡnh muụn vẻ của thế giới, trang bị cho con người sự hiểu biết về những quy luật chung nhất của tự nhiờn, xó hội và tư duy, từ đú vận dụng vào trong hoạt động thực tiễn của mỡnh
Để nắm được phộp biện chứng duy vật, chỳng ta phải hiểu được hai
của luận văn, tụi chỉ xin đi vào tỡm hiểu hai nguyờn lý của phộp biện chứng duy vật và sự vận dụng hai nguyờn lý đú ở Hồ Chớ Minh trong cỏch mạng Việt Nam
1.2 Nguyờn lý về mối liờn hệ phổ biến và nguyờn lý về sự phỏt triển
Thế giới vật chất rất đa dạng, phong phỳ và muụn hỡnh muụn vẻ Tuy nhiờn, thế giới vẫn thống nhất ở tớnh vật chất của nú Thế giới vật chất tồn tại trong sự vận động vĩnh viễn và tuõn theo những quy luật khỏch quan của bản thõn sự vật, hiện tượng
Song, vấn đề đặt ra là: trong sự thống nhất ấy, cỏc sự vật và hiện tượng
cú mối liờn hệ với nhau hay là tồn tại một cỏch đơn lẻ? Và trong sự vận động vĩnh viễn đú, thế giới đổi mới khụng ngừng hay là đi theo một vũng tuần hoàn khộp kớn, lặp lại cỏi cũ?
Trả lời cõu hỏi này cú hai quan điểm đối lập nhau: quan điểm biện chứng
và quan điểm siờu hỡnh Phộp biện chứng cho rằng: Mọi sự vật, hiện tượng trờn
Trang 16thế giới đều có mối liên hệ hữu cơ với nhau và luôn luôn vận động, phát triển
Trái lại, phép siêu hình lại khẳng định: Mọi sự vật, hiện tượng trên thế giới đều tồn tại độc lập, tách rời nhau, luôn lặp lại cái cũ, không có sự đổi mới và phát
triển
Phép biện chứng duy vật đã giải thích quan điểm của mình một cách hoàn chỉnh trong hai nguyên lý: nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý
1.2.1 Nguyên lý v ề mối liên hệ phổ biến
Khi xem xét và phân tích thế giới khách quan (tự nhiên và xã hội), người
ta đã nhận thấy có một đặc điểm nổi bật là: mọi sự vật và hiện tượng trong thế giới đều liên hệ với nhau, tác động lẫn nhau, hình thành một màng lưới phức tạp, vô cùng vô tận, tuyệt đối không có một sự vật hiện tượng nào tồn tại một cách biệt lập, tách rời nhau Thông qua những mối liên hệ, sự tác động qua lại lẫn nhau ấy, các sự vật hiện tượng mới có thể biểu hiện sự tồn tại của mình, bộc
lộ bản chất và tính quy luật của chúng trong thế giới Phép biện chứng duy vật gọi đó là mối liên hệ phổ biến hợp quy luật của các sự vật và hiện tượng, đồng thời coi việc nghiên cứu, giải thích mối liên hệ phổ biến ấy một cách khoa học
là nhiệm vụ nghiên cứu đầu tiên của mình
Theo quan điểm của phép biện chứng duy vật, mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt trong cùng một sự vật, hiện tượng
trong thế giới
Các nhà triết học duy vật biện chứng đã chỉ ra các tính chất của mối liên
hệ, đó là: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, nhiều vẻ
Tính khách quan
Thế giới là một thể thống nhất trong đó các sự vật và hiện tượng có sự liên hệ và tác động qua lại lẫn nhau Sự liên hệ và tác động qua lại đó là khách
Trang 17quan, là vốn có của bản thân các sự vật, hiện tượng Trong các tác phẩm: Tư bản, Biện chứng của tự nhiên, Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê
vạch rõ bản chất biện chứng của thế giới, đã chứng minh rõ biện chứng là cái
sự cáo chung của triết học cổ điển Đức, Ph Ăngghen khẳng định: ngày nay vấn đề không phải là tưởng tượng ra những mối liên hệ mà là phát hiện ra
nhau, thông qua những mối liên hệ biện chứng Ph.Ăng ghen nhấn mạnh:
39] Điều đó cũng có nghĩa, phép biện chứng với tư cách là học thuyết về sự liên hệ phổ biến, không phải là sự phỏng đoán trực quan (giống như các nhà biện chứng thời cổ đại), mà là học thuyết dựa chắc trên cơ sở khoa học Thế giới là một bức tranh chằng chịt các mối liên hệ và tác động qua lại Bất cứ một
sự vật, hiện tượng nào cũng có mối quan hệ với tất cả các sự vật, hiện tượng khác Nếu như trước kia người ta cho rằng giữa giới vô cơ và giới hữu cơ có một ranh giới tuyệt đối, thì ngay từ đầu thế kỷ XIX, các nhà hoá học đã chứng minh từ chất vô cơ có thể tạo ra được các hợp chất hữu cơ Do đó, lần đầu tiên trong lịch sử nhận thức của nhân loại, cái “hố sâu” ngăn cách giữa tự nhiên vô
cơ và giới hữu cơ bị lấp kín Người ta đã nhận thấy bản thân sinh vật chính là kết quả của vật chất vô cơ, nhưng đồng thời cũng lại là nguyên nhân tác động đến vật chất vô cơ Con người chính là sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên, là một bộ phận của tự nhiên, song, dù muốn hay không, con người vẫn luôn phải chịu sự tác động của các sự vật, hiện tượng khác xung quanh và các yếu tố
Trang 18ngay trong chính bản thân con người Đồng thời, cùng với sự vận động và phát triển của lịch sử nhân loại, để tồn tại, con người cũng có sự tác động trở lại với những sự vật và hiện tượng đó
Tính phổ biến
Khi phân tích thế giới khách quan, phép siêu hình đã tuyệt đối hoá tính độc lập tương đối của sự vật, hiện tượng, coi chúng không có mối liên hệ gì với nhau Nó cô lập sự vật, hiện tượng ra khỏi điều kiện tồn tại của chúng, đồng thời cắt đứt quá trình lịch sử của sự vật và hiện tượng Nhìn vào bức tranh chung của thế giới, phép siêu hình chỉ thấy đươc sự vật cá biệt mà không thấy
giữa các mặt, các bộ phận, các quá trình của sự vật cũng như giữa sự vật này và
sự vật khác lại có những mối liên hệ như vậy mà không phải là mối liên hệ khác; tại sao các hiện tượng xảy ra trong thế giới không phải hoàn toàn là ngẫu nhiên mà lại tuân theo những quy luật nhất định?
Đối lập với quan điểm siêu hình, phép biện chứng duy vật đã chỉ ra rằng:
hệ như thế là phổ biến đối với các sự vật, hiện tượng khác nhau cũng như đối
của sự liên hệ ấy chính là tính thống nhất vật chất của thế giới
Trái với phép siêu hình, phép biện chứng coi thế giới tự nhiên không phải là một sự chồng chất ngẫu nhiên các sự vật và hiện tượng tách rời nhau, cô lập nhau với nhau, không phụ thuộc vào nhau, mà là một khối thống nhất có
nhau và ràng buộc lẫn nhau Ph Ăngghen đã chỉ ra rằng giới tự nhiên chính là
“hòn đá thử vàng” của phép biện chứng Việc phát minh ra tế bào, coi nó là đơn
vị cơ sở đã cho chúng ta thấy toàn bộ cơ thể của thực vật và động vật đều phát
Trang 19triển bằng sự bội gia và sự phân hoá Sự ra đời của học thuyết tiến hoá của Đácuyn đã chỉ rõ: tất cả các giống loài sinh vật (kể cả con người) đều là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài bằng con đường phân ly tính chất Và như vậy cũng có nghĩa: trong thế giới có sự thống nhất và mối liên hệ chặt chẽ giữa khoáng vật, thực vật, động vật và cả loài người Đặc biệt, quy luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng lại thêm một bằng chứng nữa bác bỏ quan điểm siêu hình, chia cắt thế giới thành từng mảnh biệt lập, vạch rõ sự chuyển hoá lẫn
không phải là một khối hỗn độn, trong đó, sự vật, hiện tượng này đặt cạnh sự
khối thống nhất trong sự liên hệ, tác động qua lại, trong quá trình vận động,
trình khác Bởi vì, trong bản thân mỗi sự vật và hiện tượng đã mang sẵn những
định
Trên thực tế, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã từng gọi
hiện tượng nào trong thế giới cũng đều có mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác, không có sự vật và hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ Người
ta nghiên cứu thấy những cánh bướm chập chờn bay ở rừng Amazôn cũng có
sự liên quan đến một cơn bão của Hồng Kông, sự lên xuống của thuỷ triều cũng
có sự liên quan đến mặt trăng, cũng như sự xuất hiện hiện tượng sao chổi cũng
có liên quan đến những sự kiện lớn trên thế giới Con người sống và tồn tại nhờ vào việc khai thác giới tự nhiên, tác động vào giới tự nhiên, song ngược lại, giới tự nhiên với tư cách là môi trường sống của con người, luôn có sự ảnh hưởng lớn đến con người Sự tàn phá, khai thác nhiên một cách bừa bãi của loài người sẽ làm giới tự nhiên trả thù bằng các hiện tượng “sóng thần”, bằng bão
Trang 20lũ, bằng hạn hán, làm cho trái đất nóng lên, đe doạ tới sự sống của con người
và tuổi thọ của trái đất…
Không chỉ có tự nhiên mà cả xã hội loài người cũng vận động theo
con người với con người là tất yếu khách quan Do nhu cầu sống và tồn tại, con
của mối quan hệ ấy là lợi ích)
hữu cơ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Trong đó, các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng, các hình thái ý thức xã hội đồng thời cũng có sự liên hệ với nhau, tác động lẫn nhau Đặc biệt, giữa các hình thái kinh tế xã hội khác nhau cũng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình phát triển
người (vốn là những cái phi vật chất, là thuộc tính của một dạng vật chất cao nhất là bộ óc người) chính là sự phản ánh sự vận động của hiện thực khách quan, “di chuyển” và “biến hình” vào trong đầu óc của con người Ph Ăngghen
thực tại Nói cách khác, biện chứng khách quan quy định biện chứng chủ quan,
Tính đa dạng
Thừa nhận thế giới là một bức tranh chằng chịt các mối liên hệ và tác động qua lại, phép biện chứng duy vật đồng thời cũng chỉ ra tính da dạng, nhiều vẻ của mối liên hệ
Thế giới vật chất là muôn hình muôn vẻ cho nên những mối liên hệ và sự tác động lẫn nhau của các sự vật và hiện tượng trong thế giới cũng vô cùng phong phú và đa dạng Người ta nghiên cứu thấy có các mối liên hệ sau: mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bên ngoài; mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ thứ
Trang 21yếu; mối liên hệ trực tiếp, mối liên hệ gián tiếp; mối liên hệ bản chất, mối liên
hệ không bản chất; mối liên hệ tất yếu, mối liên hệ ngẫu nhiên Trong đó, các loại liên hệ khác nhau có vai trò khác nhau đối vớí sự vận động và phát triển
cứu tất cả các mối liên hệ mà chỉ nghiên cứu những mối liên hệ chung nhất, mối liên hệ vốn có trong cả lĩnh vực vật chất lẫn tinh thần
Mối liên hệ bên trong là mối liên hệ qua lại, sự tác động lẫn nhau giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt khác nhau của một sự vật Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật và hiện tượng này với các
sự vật và hiện tượng khác.Ví dụ như: xét trong đời sống xã hội thì mối liên hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (hợp thành phương thức sản xuất)
là mối liên hệ bên trong, còn mối liên hệ giữa xã hội với hoàn cảnh địa lý tự nhiên được coi là mối liên hệ bên ngoài Trong đó, mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau song
biến hoá vốn có của sự vật và hiện tượng, quyết định mức độ ảnh hưởng của điều kiện bên ngoài đối với sự vật ấy Mối liên hệ bên ngoài, nhìn chung, không giữ vai trò quyết định, thường phải thông qua mối liên hệ bên trong mới
có thể tác động đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật Tuy nhiên, mối liên hệ bên ngoài cũng giữ một vai trò hết sức quan trọng Đặc biệt, trong những điều kiện nhất định, nó có thể giữ vai trò quyết định Chẳng hạn như:
chậm phát triển – trong đó có Việt Nam Đất nước ta có tranh thủ được thời cơ
do cuộc cách mạng đó tạo ra hay không, trước hết và chủ yếu phụ thuộc vào sự
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” nếu không hội nhập quốc tế, không tận
Trang 22dụng được những thành quả của các cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
mà thế giới đã đạt được
Cũng giống như xét quan hệ giữa mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài, người ta nhận thấy các cặp mối liên hệ khác cũng có mối quan hệ biện chứng với nhau Ở mỗi cặp mối liên hệ lại có những đặc trưng riêng Và trong các cặp mối liên hệ ấy, nhìn chung, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ tất nhiên, mối liên hệ chủ yếu thường giữ vai trò quyết định Tuy nhiên, tùy theo những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, cũng có những khi các mối liên hệ tương ứng với chúng lại giữ vai trò quyết định Nói cách khác, sự phân chia các mối
hệ, các loại mối liên hệ có thể chuyển hoá lẫn nhau tuỳ theo phạm vi bao quát của các mối liên hệ hoặc do quá trình vận động và phát triển của bản thân các
sự vật Ví dụ: Cùng là bốn những lĩnh vực: trí dục, đức dục, thể dục, mỹ dục,
cách, xây dựng con người mới) thì lúc này mối liên hệ giữa chúng với nhau lại trở thành mối liên hệ bên trong
Mặc dù sự phân chia các mối liên hệ chỉ mang tính chất tương đối, nhưng mỗi một loại mối liên hệ lại có một vai trò, vị trí khác nhau trong sự vận
sự vật, hiện tượng có thể bao gồm rất nhiều mối liên hệ chứ không phải chỉ có một cặp mối liên hệ xác định, đồng thời các mối liên hệ ấy cũng hết sức phức
phù hợp, mang lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động thực tiễn của mình
1.2.2 Nguy ên lý về sự phát triển
Trang 23Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nói
giới không tách rời sự vận động, biến hoá, phát triển và ngược lại Trong đó, cái này làm tiền đề cho cái kia, bao hàm cái kia Chính vì xuất phát từ việc nhìn nhận thế giới trong sự tách rời, cô lập của các sự vật và hiện tượng cho nên những nhà triết học theo quan điểm siêu hình đã phủ nhận sự vận động, biến đổi và phát triển trong thế giới Ph Ăngghen đã chỉ rõ hạn chế của phương pháp siêu hình: phương pháp siêu hình truyền cho chúng ta một thói quen là
của chúng, ở bên ngoài mối liên hệ to lớn chung, và do đó không xem xét
thái chết” [1; 36] Tuy nhiên, cũng có các nhà triết học siêu hình thừa nhận có
sự vận động, phát triển trong thế giới Bởi trước những sự thật không thể chối cãi được, đặc biệt là trước áp lực của các tài liệu khoa học lúc bấy giờ, các nhà triết học siêu hình cũng khó mà phủ nhận sự phát triển Song, khi nói về sự phát triển, theo họ, nếu có phát triển thì phát triển chỉ là sự tăng hoặc giảm đơn thuần về lượng mà không có sự biến đổi về chất Nó diễn ra theo một vòng tuần hoàn khép kín, không có những bước thăng trầm, quanh co, phức tạp Đặc biệt, trong con mắt của các nhà siêu hình, nguồn gốc, động lực của sự phát triển không phải do mâu thuẫn bên trong của sự vật mà do sự tác động của những lực lượng bên ngoài như thượng đế
Trang 24Trái lại, phép biện chứng duy vật, dựa trên sự khái quát những thành quả của khoa học tự nhiên, đã chỉ ra: thế giới là một bức tranh chằng chịt các mối liên hệ, trong đó mọi sự vật và hiện tượng không phải đứng yên một chỗ mà chúng luôn vận động, phát triển tuân theo những quy luật nhất định
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ
đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật
Thế giới vật chất thật muôn hình muôn vẻ Song, thế giới vẫn thống nhất
ở tính vật chất của nó Thực tiễn cuộc sống, với những phát minh khoa học, đã
nhau, đều nằm trong quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong, đều có quá trình thay thế cái cũ bằng cái mới
Phát triển bao giờ cũng mang tính khách quan Bởi vì, theo quan điểm của các nhà duy vật biện chứng, động lực của mọi sự phát triển không phải do nguyên nhân bên ngoài mà nằm ngay trong bản thân hiện thực khách quan Đó
là do mâu thuẫn nội tại, do sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập: giữa sức hút và sức đẩy trong lực học, giữa âm và dương trong vật lý, giữa
hoá trong sinh vật học, giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị trong xã hội, giữa cái chưa biết và cái đã biết, giữa tính vô hạn của nhận thức loài người với tính có hạn của nhận thức ở từng
như rất giản đơn của các sự vật, hiện tượng lại luôn ẩn giấu những yếu tố trái
liên hệ với nhau, đồng thời chúng lại chuyển hoá, phủ định lẫn nhau, hướng vào nhau và đấu tranh Mặt này chính là cơ sở tồn tại của mặt kia và ngược lại
Nó là động lực thúc đẩy sự vật vận động, biến đổi Nếu không có mâu thuẫn,
Trang 25không có sự khắc phục mâu thuẫn thì sẽ không thể có sự phát triển Đó là quy luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và tư duy, đồng thời cũng là quy luật quan trọng nhất, là hạt nhân, là bản chất của phép biện chứng V.I Lênin đã từng
hay đặc điểm cơ bản, nếu không phải là đặc trưng hay đặc điểm cơ bản nhất
về lượng thành những thay đổi về chất Trong tác phẩm Biện chứng của tự
lấy trăm màu bôi lên mặt giấy là sẽ thành một bức hoạ, không phải cứ đem gạch, ngói, gỗ sắt chất đống lên có thể có được một cái nhà Ví dụ Na – pô – lê – ông nói:
“2 người lính Mameluck thì trội hơn hẳn 3 người lính Pháp
Mameluck
Mameluck” [1, 184]
Trang 26Dựa vào những căn cứ khoa học, các nhà triết học biện chứng duy vật đã chỉ ra: “tiệm tiến” và “bột phát” là quy luật của sự tiến hoá Mọi vật trong tự nhiên đều tiến hoá tuần tự, đến một trình độ, một giai đoạn nhất định sẽ có sự biến hoá “gấp rút” nhảy sang một hình thái mới Ví dụ như: thân cây hoá thạch biến thành than đá, chất quang tuyến biến thành hêlium hay mọi loài thảo mộc
và động vật đều biến hoá bằng những sự thay đổi mang tính đột biến v.v…Song, những sự thay đổi mang tính đột biến ấy lại là những giai đoạn kế tiếp nhau của một lịch trình phát triển, tiến hoá tuần tự của cùng một sự vật Theo quan điểm của các nhà triết học duy vật biện chứng, phát triển là hiện tượng diễn ra không ngừng trong cả giới tự nhiên, trong xã hội và tư duy
quát xu hướng chung của sự vận động đi lên của sự vật mới ra đời thay thế sự
điểm nhất định, có thể có những vận động đi lên, có vận động tuần hoàn, thậm chí có cả vận động đi xuống, song nếu ta xem xét suốt cả quá trình vận động
vật Vì thế, các nhà duy vật biện chứng đã chỉ ra rằng phát triển diễn ra theo
quanh co, phức tạp, sự vật dường như lặp lại cái cũ song lại trên cơ sở mới cao hơn
của sự phát triển thể hiện ở chỗ nó diễn ra trong mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội
Thế giới nằm trong một quá trình vận động, phát triển không ngừng Vật
ngừng bị tiêu vong, cái mới không ngừng xuất hiện Ở đâu trên thế giới cũng diễn ra quá trình chuyển biến của các sự vật, hiện tượng từ trạng thái này sang trạng thái khác, sự thay thế lẫn nhau giữa cái mới và cái cũ, giữa cái tiến bộ và
Trang 27cái lạc hậu, giữa cái đang lên và cái suy tàn Nói như Giô – rét, một lãnh tụ xã hội Pháp:
“Không gì xảo trá hơn câu châm ngôn bi quan và cảm động và phản động của nhà tôn đồ Thánh giáo chán chường: “Không có gì mới lạ dưới ánh sáng mặt trời” Mặt trời xưa kia chính là một sự mới lạ, trái đất là một sự mới
lạ, rồi con người cũng là một sự mới lạ Lịch sử con người chỉ là sự cố gắng không ngừng để phát minh ra những sự mới lạ, và sự tiến hoá không ngừng là một sự sáng tạo không ngừng” [Trích 86, 86]
V.I Lênin đã từng nói: “Cái biện chứng = nắm được những mặt đối lập trong sự thống nhất của chúng”[44, 107] Ở xã hội cũng như trong tự nhiên,
sự vật, hiện tượng đều có các mặt đối lập nhau, cùng thống nhất với nhau, đấu tranh với nhau trong một sự vật tạo thành các mâu thuẫn Khoa học hiện đại ngày càng đi sâu vào bản chất của mâu thuẫn Người ta đã nhận thấy trong ánh sáng có sự thống nhất và đấu tranh giữa tính chất sóng và tính chất hạt, trong sinh vật học có quá trình đồng hoá và dị hoá, có sự mâu thuẫn giữa di truyền và biến dị Trong xã hội có sự đấu tranh giữa giai cấp vô sản và tư sản, giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội Trong tư duy có mâu thuẫn giữa năng lực nhận thức vô hạn của loài người với sự hiểu biết có hạn ở từng con người cụ thể v.v…Do đó, dù con người có muốn hay không - thì các sự vật hiện tượng trong thế giới vẫn luôn vận động, phát triển theo những quy luật nhất định Khoa học đã chứng minh được rằng: trước kia, trái đất vẫn còn là một tinh cầu cháy rực như mặt trời, trên đó chưa hề có sự sống Sau này, các loài sinh vật mới lần lượt kế tiếp nhau mà phát triển, loài sinh sau phức tạp, hoàn bị hơn loài
biết suy nghĩ, đi từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính, từ trực quan sinh
Trang 28động đến tư duy trừu tượng Đó là cả một quá trình lịch sử kéo dài trên mấy vạn năm
Trong con mắt của các nhà siêu hình, trạng thái tự nhiên của vật chất là trạng thái nghỉ ngơi, trạng thái tĩnh Ví dụ như tảng đá, nó có bề mặt, có sức
không có vẻ gì là thay đổi Đặc biệt là bao giờ người ta cũng thấy nó đứng nguyên chỗ cũ Trông vẻ bề ngoài, hòn đá thật là “yên tĩnh”, tưởng chừng như bên trong nó hoàn toàn là một chất “chết” Tuy nhiên, đối với phép biện chứng
cao Khoa học ngày nay đã chỉ cho chúng ta biết: về cấu tạo bên trong hòn đá bao gồm những phần tử nhỏ li ti, đó là nguyên tử Mỗi một nguyên tử là một hệ thống phức tạp bao gồm vô số những điện tử luôn luôn chuyển động, quay
lịch sử xã hội loài người cũng vậy, không có một xã hội nào đứng yên cả, từ tổ chức kinh tế, chính trị đến luân lý, phong tục, mọi thứ đều luôn biến đổi Nó là kết quả của việc giải quyết những mâu thuẫn thông qua cuộc đấu tranh giữa các giai cấp (mà đỉnh cao là các cuộc cách mạng)
Tính đa dạng
chỉ ra tính đa dạng và phong phú của sự phát triển Có thể nói, khuynh hướng chung của mọi sự vật hiện tượng trong thế giới là vận động đi lên Tuy nhiên,
sự phát triển ở mỗi sự vật, hiện tượng khác nhau lại không giống nhau Bởi vìnguyên nhân dẫn đến sự phát triển của sự vật, hiện tưọng là do mâu thuẫn bên trong của bản thân sự vật, hiện tượng ấy Mặt khác, trong quá trình tồn tại và phát triển, các sự vật, hiện tượng còn chịu sự tác động của các sự vật, hiện tượng khác Sự tác động đó có thể thúc đẩy nhưng cũng có thể kìm hãm sự phát
Trang 29triển của sự vật, thậm chí có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật,
đường chủ nghĩa xã hội nhưng tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng nước mà mỗi nước vạch ra các chủ trương, cách thức tiến hành xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa khác nhau Song, các nước đó có đi được đúng hướng chủ nghĩa xã hội hay không còn chịu tác động, ảnh hưởng của những nước bên ngoài, sự chống phá của các lực lượng thù địch
biến và nguyên lý về sự phát triển
C Mác đã từng nói: Các nhà triết học trước kia chỉ giải thích thế giới
nghiên cứu quan điểm duy vật biện chứng về mối liên hệ phổ biến và về sự
cải tạo hiện thực
1.3.1 Quan điểm toàn diện
Theo quan điểm duy vật biện chứng, các sự vật và hiện tượng trong thế giớí không phải tồn tại một cách biệt lập, mà tồn tại và phát triển trong mối liên
hệ, trong sự thống nhất với sự vật và hiện tượng khác Sự liên hệ đó là đặc
biến Vì thế, muốn nhận thức được bản chất của sự vật, hiện tượng chúng ta
sự vật
Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải nhận thức sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt trong bản thân sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật, hiện tượng đó với các
sự vật khác Bởi vì mỗi một mối liên hệ chỉ phản ánh một phần bản chất của sự
Trang 30nhau c nhủa ững ện thực ấy, khái niệm mới được thực hiện” hi [44, 209] Ví dụ như: khi xem xét con sông và những giọt nước của con sống ấy, V.I Lênin đòi hỏi phải nghiên cứu vị trí của mỗi giọt, mối quan hệ của nó với những giọt khác; hướng vận động của nó; tốc độ; con đường vận động (thẳng, cong, tròn…) hướng lên trên, hướng xuống dưới, tổng của vận động Nghĩa là phải nắm được càng nhiều càng tốt những “vòng khâu” của liên hệ, vòng khâu trong
như bản chất của dòng sông được rút ra từ “bản tổng kê” những mặt riêng biệt của vận động, của những “giọt riêng biệt”, của những “luồng riêng biệt” [44, 156] Vì vậy, muốn nhận thức được bản chất của sự vật, chúng ta phải đứng trên quan điểm toàn diện, phải có cái nhìn bao quát, nghiên cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ và khâu trung gian của sự vật đó Các mối liên hệ trong hiện thực vô cùng phong phú song xét về tính chất và ý nghĩa thì chúng không giống
bằng mọi mối liên hệ, không có nghĩa là cứ ghép lại với nhau một cách tuỳ tiện
Toàn diện nhưng mặt khác phải có trọng tâm trọng điểm Vì thế, từ những mối
liên hệ toàn diện, đòi hỏi chúng ta lại phải đi sâu phát hiện những mối liên hệ
bản chất, mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ tất nhiên Trên cơ sở đó cần sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động thực tiễn của bản thân
Trang 31cần phải dùng những biện pháp kh nhau trong t động để có thể được hiệu ác ác
của đất nước và bối cảnh lịch sử quốc tế diễn ra trong thời kỳ đó
1.3.3 Quan điểm phát triển
Quan điểm siêu hình về sự phát triển không thể giải thích được tính chất
nhận thức khoa học, từ đó vạch ra con đường đúng đắn để cải tạo hiện thực
sự đối lập giữa hai quan niệm biện chứng và siêu hình như sau:
nguồn gốc ấy đặt ra bên ngoài - Thượng đế, chủ thể, etc) Với quan niệm thứ
Trang 32hai mới cho ta chìa khoá của “sự t vự ận động” của tất thảy mọi cái đang t ồn
Nhận thức bản chất của sự vật không phải chỉ là nhận thức thông qua những hiện tượng với tính cách là “cái hiện có trực tiếp hay tồn tại trực tiếp”
mà còn phải xem xét, phân tích những hiện tượng với tính cách là những cái
không” [44, 140] Vì thế, khi xem xét các sự vật, hiện tượng, nhận thức bản
cái tồn tại hiện có mà quan trọng hơn là phải biết phát hiện cái chưa có, cái sẽ
có hoặc cái phải có Ví dụ: khi nghiên cứu nền kinh tế của nước ta, không những chúng ta cần phải thấy đặc điểm vốn có của nó mà còn phải thấy được
phải có tầm nhìn xa trông rộng
ta cách xem xét sự vật, hiện tượng một cách khoa học Nó chỉ ra tình trạng không ổn định do những mâu thuẫn bên trong của các sự vật, hiện tượng Nó
chắc), nó chỉ ra sức sống hùng mạnh của cái mới (dù lúc đầu xem ra còn nhỏ yếu) Nó chỉ ra rằng cái mới là không gì thắng nổi, rằng đó là đặc điểm quan
mới không ngừng thì nhiệm vụ của khoa học và sự nhận thức khoa học là: phải nghiên cứu bản thân giới tự nhiên, vật chất trong sự vận động vô tận của nó,
Trang 33nhất để thay đổi những chế độ xã hội mục nát là làm cách mạng chứ không phải cải lương
chúng
ta không chỉ căn cứ vào cái hiện đang tồn tại của sự vật mà cần phải thấy được những khuynh hướng phát triển trong tương lai của chúng, phải thấy được
hướng biến đổi chính của sự vật Quan điểm phát triển còn chỉ ra rằng: cần phải
phương pháp nhận thức và cách tác động phù hợp để hoặc là thúc đẩy sự vật
triển đó có lợi hay có hại đối với đời sống con người) Đồng thời, quan điểm
vì, nếu như chúng ta tuyệt đối hoá một nhận thức nào đó về sự vật trong một hoàn cảnh lịch sử phát triển nhất định, trong một giai đoạn phát triển nhất định,
mà xem nó là nhận thức duy nhất đúng đắn về toàn bộ sự vật trong quá trình phát triển tiếp theo của nó thì chúng ta sẽ mắc phải những sai lầm nghiêm
thể có quan điểm phát triển đúng đắn về sự vật khi chúng ta khái quát và làm sáng tỏ được xu hướng chủ đạo của tất cả những biến đổi khác nhau của sự vật
tạp của quá trình phát triển như là một hiện tượng phổ biến Muốn thúc đẩy sự
Trang 34vật phát triển theo quy luật vốn có của nó đòi hỏi chúng ta phải tìm ra mâu
đường thông qua sự tích luỹ về lượng mà tạo ra sự thay đổi về chất, thông qua
động thực tiễn nhằm cải tạo sự vật, chúng ta phải biết phát huy nỗ lực của mình trong việc hiện thực hoá hai quá trình đó Thiếu quan điểm khoa học đó, người
triển của từng lĩnh vực xã hội, cũng như của cá nhân nói riêng tạm thời gặp khó
* * *
Kết luận chương 1: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về
sự phát triển đã chỉ ra rằng: thế giới là một chỉnh thể, trong đó mọi sự vật, hiện tượng đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau Mối liên hệ đó
là khách quan, tất yếu và phổ biến Các sự vật, hiện tượng trong thế giới đều luôn luôn vận động, phát triển Trong quá trình phát triển, có thể có những
Ý nghĩa quan trọng nhất mà hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật nên lên
điểm đó luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, đan xen vào nhau
Chương 2
SỰ VẬN DỤNG CÁC NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VỀ
SỰ PHÁT TRIỂN Ở HỒ CHÍ MINH TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Sinh thêi, chñ tÞch Hå ChÝ Minh ch- a bao giê tù nhËn m×nh lµ mét nhµ
Trang 35bao giờ viết một tác phẩm chuyên biệt nào về phép biện chứng duy vật Tuy nhiên, trong t- t- ởng Hồ Chí Minh, ng- ời ta luôn tìm thấy những t- t- ởng triết học phong phú, sâu sắc và rất độc đáo
Lênin, nói cách khác là ng- ời theo chủ nghĩa duy vật biện chứng Người cho
coi là nguồn gốc lớ luận trực tiếp và chủ yếu nhất Với vai trũ là người cầm lỏi con thuyền cỏch mạng, chủ tịch Hồ Chớ Minh đó vận dụng một cỏch tài tỡnh,
điểm cam go của cuộc khỏng chiến Sự vận dụng phộp biện chứng duy vật ở Hồ Chớ Minh trong lónh đạo cỏch mạng Việt Nam không phải là sự vận dụng từng nguyên lý, từng quy luật mà là sự vận dụng tổng hợp các nguyên lý, các kinh nghiệm đã đ- ợc đúc kết, tạo thành những quan điểm nhất quán trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, đ- a cách mạng tới thành công Đó là các quan
điểm: quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể, quan điểm phát triển
tới thành công
2.1 Quan điểm toàn diện
Xuất phỏt từ việc nhận thức về tớnh chỉnh thể của thế giới và tính chỉnh thể của mỗi sự vật, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có quan điểm toàn diện khi xem xét và giải quyết các công việc Đó là một ph- ơng pháp khoa học, đi từ
Trang 36toàn cục song lại vừa nắm c²i “cốt yếu”, giỳp cho việc giải quyết các vấn đề cỏch mạng đ- ợc tiến hành từng b- ớc thật vững chắc
rõ ràng Trước hết, nú thể hiện ở cỏch nhỡn nhận, xỏc định lực lượng cỏch mạng
Trong mỗi cuộc khỏng chiến, việc xỏc định lực lượng cỏch mạng luụn được coi là một vấn đề vụ cựng quan trọng, cú ý nghĩa sống cũn đối với thắng lợi của một cuộc cỏch mạng Tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mỏc - Lờnin:
“Cỏch mạng là sự nghiệp của quần chỳng”, đồng thời kế thừa truyền thống đoàn kết của dõn tộc Việt Nam, chủ tịch Hồ Chớ Minh đó nhỡn thấy sức mạnh tổng hợp của toàn dõn Người chỉ rừ: trong cuộc khỏng chiến của dõn tộc, “cỏi sức mạnh vụ địch mà ta cú thể thắng quõn địch, giành độc lập, thống nhất là sự
phải việc của 1, 2 người; muốn tiến hành cỏch mạng giải phúng dõn tộc cần phải cú lực lượng cỏch mạng đủ mạnh Cho nờn, chỳng ta cần phải đoàn kết toàn dõn: sỹ nụng, cụng thương… đều nhất trớ chống lại cường quyền, khụng phõn biệt gỏi trai, già trẻ, lương giỏo…
Đối với chủ tịch Hồ Chớ Minh, cỏch mạng chớnh là sự nghiệp của dõn và
do dõn: Trong bầu trời khụng cú gỡ quý bằng nhõn dõn, trong thế giới khụng cú
gỡ mạnh bằng lực lượng đoàn kết của toàn dõn Bởi vậy, chỳng ta phải biết
đoàn kết dõn chỳng bị ỏp bức để đỏnh đổ cỏc giai cấp ỏp bức mỡnh, chứ khụng
Trong cuộc khỏng chiến chống thực dõn Phỏp, Người đó ra lời kờu gọị
khụng chia tụn giỏo đảng phỏi dõn tộc, hễ là người Việt Nam thỡ phải đứng lờn
Trang 37chống thực dõn Phỏp để cứu Tổ quốc Ai cú sỳng dựng sỳng, ai cú gươm dựng gươm, khụng cú gỡ thỡ dựng cuốc thuổng gậy gộc Ai cũng phải ra sức chống
ngún dài Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay Trong mấy triệu người cũng cú người thế này thế khỏc, nhưng thế này thế khỏc đều là dũng dừi của tổ tiờn ta Vậy nờn ta phải khoan hồng đại độ Ta phải nhận rằng đó là con Lạc chỏu Rồng thỡ ai cũng cú ớt hay nhiều lũng ỏi quốc Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tỡnh thõn ỏi mà cảm hoỏ họ Cú như thế mới thành
Cho nờn, trong suốt quỏ trỡnh lónh đạo cỏch mạng Việt Nam, Người đó dành nhiều tõm lực cho sự nghiệp xõy dựng Mặt trận dõn tộc thống nhất, lấy liờn minh cụng - nụng làm nền tảng, trờn cơ sở đú thu hỳt rộng rói cỏc thành viờn
đ- ợc mọi sức mạnh, mọi tiềm năng của khối cộng đồng dân tộc Trong cuộc
người là Khõm sai, Thượng thư, tổng đốc trong chế độ cũ, hay cỏc điền chủ, thõn hào, trớ thức, nhà khoa học lớn, nhà tu hành v.v… Chớnh họ đó trở thành những người “kề vai sỏt cỏnh” với những người cộng sản, cựng gúp sức để chống giặc ngoại xõm Năm 1947, trong chuyến đi cụng tỏc cỏc tỉnh miền Trung, chứng kiến khớ thế và sức mạnh toàn dõn đoàn kết khỏng chiến, cụ Huỳnh Thỳc Khỏng nhận xột: “Trước kia cỏc nhà cỏch mạng chỉ dựa vào trớ thức, tư sản, ớt để ý đến quần chỳng nhõn dõn cho nờn thất bại Nay thỡ khỏc, toàn dõn khỏng chiến, toàn diện khỏng chiến… sức thực dõn cú mỏy bay, tàu
Trang 38Sau năm 1954, miền Bắc nước ta tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa, chủ tịch
Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ: chế độ chủ nghĩa xã hội là chế độ do nhân dân tự
Người cho rằng sự kết hợp đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, phát huy sức mạnh của dân tộc và thời đại để đánh thắng kẻ thù chung chính là một chân lý
quốc tế là “vòng ngoài” để tạo nên sức mạnh Người khẳng định rất rõ ràng: Dân tộc Việt Nam phải “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” [63, 554] song
“Đảng của chúng tôi cũng hiểu rằng, không thể nào hạn chế những hoạt động hiện nay và tương lai của chúng tôi trong khuôn khổ dân tộc thuần tuý, rằng những hoạt động đó có muôn vàn sợi dây liên hệ với cuộc đấu tranh chung của
những vấn đề chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam không chỉ xuất phát từ tình hình cụ thể của đất nước, mà còn phải biết gắn liền với những biến đổi của thời đại, với điều kiện quốc tế, phải biết tranh thủ những điều kiện khách quan có lợi Trước bối cảnh thế giới chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến giai đoạn tột cùng là chủ nghĩa đế quốc, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh
Người ví: Chủ nghĩa đế quốc giống như một “con đỉa” có hai vòi, một vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc, một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa Nếu người ta muốn giết con vật ấy thì đồng thời phải cắt cả hai cái
Trang 39vòi của nó đi Vì thế, Người coi cách mạng thuộc địa là một trong những cái
của cách mạng thế giới, có liên quan mật thiết với phong trào dân chủ trên thế
Pháp và phe đế quốc, đến phong trào cách mạng thế giới Người nói: “Sự chiến đấu của chúng tôi không nhằm vào nước Pháp, cũng không nhằm đánh vào những người Pháp lương thiện mà chỉ chống lại sự thống trị tàn bạo ở Đông
nhiều lần gởi thư cho chính phủ nhân dân các nước, nhằm tập hợp lực lượng, củng cố quan hệ quốc tế, cô lập kẻ thù Nhờ thế, cuộc kháng chiến của nhân ta
đã giành được sự ủng hộ to lớn của nhân dân thế giới, đặc biệt là cả nhân dân tiến bộ Pháp Đúng như một nhà báo nước ngoài đã từng nói: Không chỉ có thanh niên Việt Nam đứng dưới lá cờ của Hồ Chí Minh mà thanh niên thế giới
và cả thanh niên Mỹ cũng dứng dưới lá cờ của Người Trên tinh thần nêu cao
64], chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc tăng cường đoàn kết, liên minh với
mà còn nghĩa vụ của ta đối với cách mạng thế giới” [70, 15 - 16]
Trang 40Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn: “Mỗi khi giải quyết vấn đề phải
có quan điểm toàn diện, tránh cục bộ địa phương Chúng ta thấy Việt Trì, Phú Thọ…, nhưng cũng phải thấy cả thủ đô Hà Nội, thấy toàn quốc Thấy địa phương phải thấy cả Trung ương…” [24, 60] Cho nên, nói về mối quan hệ
giai đoạn khác, nó kế tiếp giai đoạn khác, gây ra những mầm mống cho giai đoạn sau Vì thế, theo chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta có thể xét tình hình chung mà định ra từng giai đoạn lớn, song không thể tách hẳn từng giai đoạn dứt khoát như người ta cắt cái bánh Bởi mỗi giai đoạn dài hay ngắn phải tuỳ
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí
nhìn nhận các lực lượng cách mạng của cuộc kháng chiến Trên cơ sở đó, Người đã đề ra được những chủ trương, đường lối đúng đắn, tránh tổn thất cho cách mạng
Sau khi giành được độc lập năm 1945, Việt Nam đứng trước những khó khăn rất lớn: thù trong, giặc ngoài Trước tình thế quân Tưởng kéo vào nước ta, Người chủ trương: trước hết cần phải nhận thức về ta (biết mình), về địch (biết
Xét về điều kiện của ta, ta thế nào thì biết rồi, còn kẻ địch, chúng cũng đi “giày cỏ”, “ăn gạo lứt”, cũng luồn rừng lội suối, chịu đựng gian khổ không kém gì ta Nếu chiến tranh xảy ra, có thể trong mấy chục vạn Hoa kiều trên đất nước ta sẽ
có một bộ phận trở thành đội quân thứ 5 của chúng Hơn nữa, xét ở góc độ địa
lý, cộng với kỹ thuật hiện đại, giao thông tiếp tế của họ cũng không phải là khó khăn lắm Điều quan trọng nữa là quân Tưởng vào Việt Nam trên danh nghĩa quân đồng minh cho nên, nếu ta đánh họ, sẽ khó có được sự đồng tình ủng hộ