Ở LVS Ba trong thời gian qua tình trạng hạn hán liên tục xuất hiện và rất khốc liệt, mà nguyên nhân chính là do biến động lượng mưa, sự tác động của BĐKH và đi kèm theo đó là sự bất cập
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nội dung nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
5.1 Quan điểm nghiên cứu 3
5.2 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 6
6.1 Ý nghĩa khoa học 6
6.2 Ý nghĩa thực tiễn 6
7 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
8 Cấu trúc của luận văn 8
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8
1.1 Cơ sở lí luận 9
1.1.1 Hạn hán 9
1.1.2 Biến đổi khí hậu 18
1.1.3 Mối quan hệ giữa biến đổi khí hậu với hạn hán 20
1.1.4 Ngành nông nghiệp 20
1.2 Cơ sở thực tiễn 22
Trang 21.2.2 Khái quát tình hình hạn hán và ảnh hưởng của nó đến sản xuất nông
nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở Việt Nam 23
1.2.3 Khái quát tình hình hạn hán và ảnh hưởng của nó đến sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu trên lưu vực sông Ba phần thuộc tỉnh Gia Lai 26
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA HẠN HÁN ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN LƯU VỰC SÔNG BA, TỈNH GIA LAI 28
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới tình trạng hạn hán trên lưu vực sông Ba, tỉnh Gia Lai 28
2.1.1 Các nhân tố tự nhiên 28
2.1.2 Các nhân tố kinh tế - xã hội 50
2.2 Phân tích, đánh giá tình trạng hạn hán trên lưu vực sông Ba đối với sản xuất nông nghiệp 54
2.2.1 Lựa chọn chỉ số đánh giá hạn 54
2.2.2 Thực trạng hạn hán 54
2.2.3 Nguyên nhân hạn hán 59
2.2.4 Hậu quả và tác động của hạn hán đối với sản xuất nông nghiệp 65
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU THIỆT HẠI VÀ ỨNG PHÓ VỚI HẠN HÁN ĐỐI VỚI SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 72
3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 72
3.1.1 Cơ sở pháp lí 72
3.1.2 Cơ sở thực tiễn 74
Trang 33.2.2 Giải pháp về thủy lợi 76
3.2.3 Giải pháp về sử dụng đất đai nông nghiệp 77
3.2.4 Giải pháp về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ 79
3.2.5 Phát triển nông nghiệp công nghệ cao 80
3.2.6 Giải pháp về lưu trữ, phát triển nguồn nước và bảo vệ rừng đầu nguồn 83 KẾT LUẬN 87
1 Kết quả nghiên cứu 87
2 Hạn chế 88
3 Khuyến nghị 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (Bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hạn hán và hạn hán do biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thiên tai xảy ra phổ biến nhất hiện nay trên Thế giới Thực trạng này gây ra hậu quả hết sức nặng nề đối với các hoạt động kinh tế - xã hội (KT – XH), đặc biệt là với sản xuất nông nghiệp (SXNN) và nó còn trầm trọng hơn khi xuất hiện ở vùng thượng nguồn của các lưu vực sông (LVS)
Nước ta là một nước nhiệt đới, là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH, nền kinh tế với hoạt động SXNN còn chiếm
tỉ trọng lớn và có hơn 60% dân cư tham gia vào hoạt động kinh tế này Cho nên, trong thời gian qua tình trạng hạn hán và hậu quả của hạn hán đã gây ra rất nhiều thiệt hại về sản xuất và khó khăn cho đời sống xã hội của bộ phận rất lớn dân cư SXNN
Sông Ba là một trong những dòng sông lớn, có diện tích lưu vực rộng 13.417 km2 thuộc Tây Nguyên và Nam Trung Bộ của nước ta Đây cũng là dòng sông rất đặc biệt vì có diện tích lưu vực thuộc cả sườn Đông và Tây của dải Trường Sơn, thuộc địa phận của 26 huyện, thị, thành phố của 4 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Phú Yên Ở LVS Ba trong thời gian qua tình trạng hạn hán liên tục xuất hiện và rất khốc liệt, mà nguyên nhân chính là do biến động lượng mưa, sự tác động của BĐKH và đi kèm theo đó là sự bất cập trong quản lí tổng hợp tài nguyên nước thuộc LVS,… đã và đang làm cho điều kiện tự nhiên, môi trường và các hoạt động KT – XH trong lưu vực bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nhất là đối với SXNN
Phần LVS Ba thuộc tỉnh Gia Lai là vùng lưu vực (LV) đầu nguồn và là nơi tập trung đông đồng bào các dân tộc ít người với ngành kinh tế chính là SXNN Vì vậy, khi xảy ra hạn hán sẽ gây ra ảnh hưởng trực tiếp đến ngành kinh tế vốn phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện tự nhiên này Từ thực trạng trên
Trang 5cho thấy cần phải có những nghiên cứu khoa học đầy đủ về tình trạng hạn hán, nguyên nhân và những tác động của nó đến SXNN… từ đó làm cơ sở cho các giải pháp tổng thể, đồng bộ, khoa học, phù hợp với vùng để góp phần
sử dụng hợp lí tài nguyên nước và ứng phó với tình trạng hạn hán trong SXNN
Vì vậy, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu tác động của hạn hán đến
sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu trên lưu vực sông Ba (phần thuộc tỉnh Gia Lai)” là hết sức cần thiết, có ý nghĩa cả về mặt khoa học
và thực tiễn đối với hoạt động SXNN trên LVS Ba Hướng nghiên cứu và nội dung nghiên cứu của đề tài cũng phù hợp với chuyên ngành đào tạo, khả năng nghiên cứu của bản thân
2 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích, đánh giá để làm rõ các tác động của hạn hán đối với SXNN,
từ cơ sở khoa học đó đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu thiệt hại và ứng phó với hạn hán đối với SXNN trong bối cảnh BĐKH trên LVS Ba (phần thuộc tỉnh Gia Lai)
3 Nội dung nghiên cứu
- Tổng quan về cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu
- Làm rõ những nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng hạn hán trên lưu vực; tính toán chỉ số khô hạn K, phân tích chuỗi số liệu khí tượng để làm rõ nguyên nhân cũng như thực trạng hạn hán và tác động của nó đối với SXNN
- Xác định được các giải pháp ứng phó và giảm thiểu thiệt hại của hạn hán đối với SXNN trên LVS
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Hạn hán và các tác động của hạn hán đến SXNN
trên lưu vực sông Ba, tỉnh Gia Lai
Trang 64.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Phân tích, đánh giá thực trạng hạn hán và ảnh hưởng của
nó đến các hoạt động NN (chỉ tập trung nghiên cứu hạn khí tượng đối với ngành trồng trọt)
- Về không gian: Phần LVS Ba thuộc địa phận Gia Lai lấy theo ranh giới hành chính Gồm 10 huyện và 2 thị xã: An Khê, Ayun Pa; huyện K’Bang, Đăk Pơ, Kông Chro, Ia Pa, Kông Pa, Chư Sê, Mang Yang, Đăk Đoa, Chư Pưh, Phú Thiện
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Quan điểm nghiên cứu
5.1.1 Quan điểm hệ thống
Khu vực nghiên cứu không chỉ đơn thuần là một hệ thống địa lý tự nhiên tồn tại tách rời, độc lập mà còn chịu tác động mạnh mẽ của hệ thống
KT - XH trong vùng, có mối quan hệ tương tác lẫn nhau
Hạn hán là hiện tượng tự nhiên chịu tác động rất lớn bởi sự vận động của hoàn lưu khí quyển, BĐKH toàn cầu, hoạt động kinh tế của con người Đứng trên quan điểm hệ thống nhằm đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện mối quan hệ tác động các nhân tố ảnh hưởng, tình trạng hạn hán và đề xuất giải pháp giảm thiểu thiệt hại của hạn hán đến SXNN trên địa bàn nghiên cứu
5.1.2 Quan điểm lãnh thổ
Mỗi không gian lãnh thổ đều có những đặc trưng riêng về tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên và sản xuất và có mối quan hệ với những lãnh thổ khác xung quanh Vì vậy trong nghiên cứu cần căn cứ trên phạm vi đơn vị lãnh thổ để nhận định và đánh giá một cách khách quan các yếu tố gây nên và biểu hiện của hạn hán để từ đó xác định đúng mức độ ảnh hưởng của hạn hán đối với sản xuất nông nghiệp trên LVS Ba
Trang 75.1.3 Quan điểm thực tiễn
Mọi nghiên cứu đều xuất phát từ thực tiễn và có ý nghĩa phục vụ cho thực tiễn Thực tiễn đặt ra ở đây là hạn hán ngày càng diễn biến phức tạp, gây
ra nhiều khó khăn cho sản xuất, đời sống đặc biệt là SXNN, vì vậy đòi hỏi cần phải có những giải pháp kịp thời để ứng phó, hạn chế tác động của hạn hán, góp phần giảm nhẹ thiệt hại thiên tai và phát huy thế mạnh kinh tế địa phương, nâng cao chất lượng đời sống dân cư
5.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Đây là quan điểm chủ đạo trong nghiên cứu nhằm bảo vệ môi trường,
là kim chỉ nan trong mọi định hướng quy hoạch và phát triển Trong nghiên cứu ứng dụng thực tế, cần đứng trên quan điểm này để đề ra các giải pháp phù hợp nhất giúp giảm nhẹ thiệt hại do hạn hán gây ra trong sản xuất và đề ra định hướng dài hạn cho quá trình phát triển kinh tế địa phương đi đôi với đảm bảo môi trường sinh thái và sự cân bằng của hệ thống tự nhiên
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp thu thập, xử lí và phân tích số liệu, tài liệu
Nghiên cứu dựa trên việc thu thập, tổng hợp và phân tích các tư liệu, số liệu, thông tin và bản đồ về các điều kiện tự nhiên, các yếu tố khí tượng thủy văn, ảnh hưởng của hán hán tới SXNN, các thông tin về dân sinh, KT - XH trênđịa bàn nghiên cứu Tất cả các nguồn tư liệu có liên quan đến đối tượng
và lãnh thổ nghiên cứu đã được đề tài tiếp cận và vận dụng có chọn lọc
5.2.2 Phương pháp thực địa
Để bổ sung tài liệu, kiểm chứng và đánh giá một cách khách quan tình trạng hạn hán trên LVS Chúng tôi tiến hành thực hiện xác định tuyến, điểm khảo sát trên bản đồ sau đó tiến hành đi thực địa, khảo sát thực tế tại các huyện, thị xã thuộc địa bàn nghiên cứu gồm thị xã An Khê, thị xã Ayun Pa, huyện Đăk Pơ, Kông Chro
Trang 85.2.3 Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lí (GIS)
Bản đồ vừa là phương tiện khai thác thông tin, vừa là yêu cầu bắt buộc thể hiện kết quả nghiên cứu Vận dụng phương pháp này trong đề tài, tôi khai thác thông tin từ các bản đồ hành chính, bản đồ mạng lưới thuỷ văn, bản đồ thổ như ng, bản đồ phân vùng khí hậu, bản đồ địa hình…đồng thời biên tập lại các bản đồ phù hợp theo đúng địa bàn và phản ánh kết quả nghiên cứu hạn hán thông qua bản đồ chỉ số hạn K
5.2.4 Phương pháp phân tích hệ thống
Quá trình hạn hán chịu sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố tự nhiên
Do đó, để nắm được quy luật, diễn biến và nguyên nhân gây nên hạn hán cần phải xem xét trong mối quan hệ tác động qua lại của một hệ thống Phương pháp phân tích hệ thống được đề tài vận dụng nhằm xác định mối quan hệ nhân quả giữa hạn hán và SXNN Từ đó tìm nguyên nhân, quy luật của hiện tượng và đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm hạn chế những tác động bất lợi do hạn hán gây ra
5.2.5 Phương pháp phân tích chuỗi
Cách tiếp cận cơ bản nhất trong nghiên cứu tình trạng hạn hán là phân tích chuỗi số liệu nhiều năm theo nguyên lý nguyên nhân - kết quả Phương pháp này được đề tài vận dụng vào phân tích chuỗi số liệu về các yếu tố khí tượng được quan trắc tại trạm trên địa bàn tỉnh Gia Lai từ năm 1997 cho đến năm 2018 để xác định diễn biến, xu hướng thay đổi của hạn hán theo thời gian
5.2.6 Phương pháp tham vấn chuyên gia
Trong quá trình tổng hợp, phân tích các tài liệu và nghiên cứu về diễn biến, nguyên nhân và tác động của hạn hán đến SXNN trên địa bàn nghiên cứu, luận văn có tham vấn ý kiến của một số chuyên gia trong các lĩnh vực nông nghiệp, khí hậu,
Trang 96 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa khoa học
- Góp phần bổ sung cơ sở phương pháp luận cho việc đánh giá tác động của hạn hán đối với SXNN trên LVS; làm phong phú thêm hướng nghiên cứu của địa lí ứng dụng phục vụ mục tiêu nâng cao hiệu quả SXNN trên lãnh thổ
- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp cho việc quy hoạch, phát triển KT - XH cũng như quản lí hiệu quả hoạt động SXNN gắn với điều kiện
tự nhiên, đặc biệt là khí hậu và tài nguyên nước trong bối cảnh BĐKH
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Việc đánh giá tác động của hạn hán đối với NN cho thấy rõ mối quan
hệ giữa hai yếu tố này và là cơ sở khoa học cho việc đề xuất một số giải pháp góp phần giảm thiểu thiệt hại do hạn hán gây ra cho người dân trên LVS Ba
- Đề tài cũng là nguồn tư liệu tốt cho những ai quan tâm đến vấn đề SXNN, hạn hán, BĐKH…
7 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hạn hán là một trong những loại thiên tai nguy hiểm mà con người phải đối mặt trong những thập niên gần đây, nhất là trong bối cảnh BĐKH toàn cầu Hạn gây ra những thiệt hại to lớn về môi sinh, phát triển kinh tế và ảnh hưởng đến chất lượng đời sống con người Theo tính toán của Liên Hiệp Quốc, đến năm 2025 sẽ có 2/3 diện tích đất canh tác ở Châu Phi, 1/3 diện tích đất của Châu Á và 1/5 diện tích đất canh tác ở Nam Mỹ không còn sử dụng được nữa và có khoảng 135 triệu người phải rời bỏ nhà cửa đi kiếm sống ở nơi khác do hạn hán [11] Ở nước ta, trong những thập niên gần đây, hạn hán ngày càng diễn biến phức tạp, đã và đang tác động không nhỏ đến môi trường sinh thái, đời sống sản xuất
Trang 10Nhằm mục đích chủ động ứng phó và giảm nhẹ thiệt hại do hạn hán gây ra, ở nước ta đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hạn được tiến hành đến từng vùng khí hậu, tỉnh, địa phương Trong số đó nhiều nhất là các công trình nghiên cứu về hạn hán ở khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên
Đề tài cấp Nhà nước: “Nghiên cứu dự báo hạn hán vùng Nam Trung Bộ và
Tây Nguyên và xây dựng các giải pháp phòng chống”, mã số KC.08.22, thực
hiện năm 2003 – 2005, do Nguyễn Quang Kim, trường Đại học thủy lợi làm chủ nhiệm đã nghiên cứu hiện trạng hạn hán, thiết lập cơ sở khoa học cho quy trình dự báo hạn, cơ sở dữ liệu khu vực nghiên cứu để lập trình các phần mềm tính toán chỉ số hạn và phần mềm dự báo hạn khí tượng và thủy văn Việc dự báo hạn được dựa trên nguyên tắc phân tích mối tương quan giữa các yếu tố khí hậu, các hoạt động ENSO và các điều kiện thực tế vùng nghiên cứu
Đề tài: “Xây dựng bản đồ hạn hán và mức độ thiếu nước sinh hoạt ở
Nam Trung Bộ và Tây Nguyên” của Trần Thục chủ nhiệm, thực hiện từ năm
2005 – 2008, do Viện Khoa học Khí tượng, thủy văn và môi trường thực hiện
Đề tài đã đánh giá được mức độ hạn hán và thiếu nước sinh hoạt ở 9 tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Trên cơ sở đó đã xây dựng được bản đồ hạn hán thiếu nước sinh hoạt vùng nghiên cứu
Ngoài ra còn có một số nghiên cứu khác như:“Ứng dụng tư liệu ảnh vệ
tinh đa thời gian đánh giá nhanh mức độ khô hạn khu vực Tây Nguyên và các tỉnh Nam Trung Bộ”của Bùi Quang Huy và cộng sự (2016); “Hạn hán, hoang mạc hóa lãnh thổ Tây Nguyên gắn với kịch bản biến đổi khí hậu” của Nguyễn
Lập Dân và cộng sự (2013);…
Hầu hết các công trình nghiên cứu trên chủ yếu có phạm vi nghiên cứu rộng, trên phạm vi vùng, mang tính vĩ mô Và các đề tài chú trọng làm rõ tình trạng hạn cũng như dự báo nguy cơ hạn chung mà ít có công trình nghiên cứu cho địa phương cụ thể và phân tích ảnh hưởng của tình trạng hạn hán đến các
Trang 11hoạt động sản xuất và đời sống Tuy các nghiên cứu đã có nhiều thành tựu cả
về nghiên cứu định tính và định lượng nhưng những dự tính tác động chi tiết cho SXNN trên một đơn vị lãnh thổ cụ thể còn ít
Như vậy, các đề tài trên đã nghiên cứu hạn hán trên khá nhiều khía cạnh, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn Tuy nhiên, có rất ít tài liệu đi sâu vào việc nghiên cứu đồng thời tình hình và tác động của hạn đến SXNN trên
địa bàn cấp tỉnh Do vậy, đề tài “Nghiên cứu tác động của hạn hán đến sản
xuất nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở lưu vực sông Ba (phần thuộc tỉnh Gia Lai)” là một đề tài có sự kế thừa kết quả nghiên cứu của các đề
tài trên nhưng vẫn có tính mới, tính sáng tạo, phù hợp với yêu cầu thực tiễn
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
- Chương 2: Thực trạng, nguyên nhân và tác động của hạn hán đến sản xuất nông nghiệp trên lưu vực sông Ba, tỉnh Gia Lai
- Chương 3: Đề xuất các giải pháp giảm thiểu thiệt hại và ứng phó với hạn hán đối với sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Trang 12
Theo Donald A.Wilhite [50] thì “Hạn hán là kết quả của sự thiếu hụt
lượng mưa tự nhiên trong một thời kì dài, thường là một mùa hoặc lâu hơn”
Ông cho rằng mặc dù các nhân tố khí hậu (nhiệt độ cao, gió mạnh, độ ẩm tương đối thấp) thường gắn liền với hạn hán ở nhiều vùng trên thế giới và có thể làm nghiêm trọng thêm mức độ hạn, song lượng mưa vẫn là nhân tố ảnh hưởng chính gây ra hạn hán
Theo Tổ chức khí tượng Mỹ (AMS, 1997) thì “Hạn hán là sự thiếu hụt
lượng mưa gây ra thiếu hụt nước trong một số hoạt động hoặc một nhóm người nhất định”
Trong Hội nghị chống hạn hán và sa mạc hóa của UN (UN Convention
to Combat Drought and Desertification – UN Secretariat General, 1994) cho
rằng “Hạn hán là hiện tượng tự nhiên, xuất hiện khi lượng mưa thấp dưới
mức bình thường một cách đáng kể, gây ra mất cân bằng thủy văn nghiêm trọng, làm ảnh hưởng xấu đến tài nguyên đất”
Xuất phát từ góc độ tác động của hạn hán đến SXNN, Tổ chức Nông
Lương thế giới (FAO, 1983) định nghĩa “Hạn hán là quảng thời gian trong
năm khi năng suất cây trồng bị thiệt hại do thiếu hụt độ ẩm đất”
Trang 13Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) quan niệm như sau: “Hạn hán là
hiện tượng lượng mưa thiếu hụt nghiêm trọng kéo dài, làm giảm hàm lượng
ẩm trong không khí và hàm lượng nước trong đất, làm suy kiệt dòng chảy sông suối, hạ thấp mực nước ao hồ, mực nước trong các tầng chứa nước dưới đất gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng, làm môi trường suy thoái gây đói nghèo, dịch bệnh ” [12]
Có thể có nhiều quan niệm khác nhau về hạn hán, nhưng các quan niệm trên đều nhấn mạnh đến một số đặc điểm nhất định về hạn hán: Đây là hiện tượng thiếu hụt lượng mưa trong một thời gian tương đối dài, cùng với sự tăng cao của nhiệt độ trong thời gian tương ứng, gió mạnh trong khi lớp phủ
bề mặt hạn chế, làm cho quá trình bốc hơi mạnh mẽ, hàm lượng nước trong đất giảm, dòng chảy sông ngòi hạ thấp, gây bất lợi cho đời sống, sức khỏe con người cũng như sự sinh trưởng phát triển của cây trồng, vật nuôi…
Trong các quan niệm trên, quan niệm về hạn hán của WMO là quan niệm phổ biến nhất, cụ thể, chặt chẽ và rõ ràng nhất Quan niệm này cũng được
Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam vận dụng vào các văn bản Vì vậy, trong luận văn này tôi sử dụng quan niệm của WMO khi nói đến hạn hán
1.1.1.2 Phân loại
Hạn hán có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau, nhưng phổ biến nhất là phân thành bốn loại cơ bản:
- Hạn khí tượng: thiếu hụt lượng mưa trong cán cân lượng mưa – bốc hơi
Hạn khí tượng là sự hiếu hụt nước trong cán cân lượng mưa, lượng bốc hơi, nhất là trong trường hợp không mưa kéo dài Ở đây lượng mưa tiêu biểu cho phần thu và lượng bốc hơi tiêu biểu cho phần chi của cán cân nước Do lượng bốc hơi đồng biến với cường độ bức xạ, nhiệt độ, tốc độ gió và nghịch biến với độ ẩm nên hạn hán gia tăng khi nắng nhiều, nhiệt độ cao, gió mạnh, thời tiết khô ráo [19]
Trang 14Loại hạn hán này thể hiện trên cơ sở sự khô hạn (thiếu nước) và khoảng thời gian khô hạn (thiếu nước) Cường độ và khoảng thời gian là hai yếu tố quan trọng nhất trong nghiên cứu loại hạn hán này Hạn khí tượng nên được định nghĩa theo từng khu vực vì điều kiện khí quyển, yếu tố dẫn đến sự thiếu hụt lượng mưa, lại phụ thuộc khí hậu từng vùng
- Hạn nông nghiệp: thiếu hụt nước mưa dẫn tới mất cân bằng giữa
lượng nước thực tế và nhu cầu nước của cây trồng
Là sự mất cân bằng giữa hàm lượng nước thực tế trong đất và nhu cầu nước của cây trồng Hạn NN thực chất là hạn sinh lý được xác định bởi điều kiện nước thích nghi hoặc không thích nghi của cây trồng, của hệ thống canh tác NN, hay của thảm thực vật tự nhiên Ngoài lượng mưa ra, hạn NN liên quan với nhiều điều kiện tự nhiên (như địa hình, thổ như ng,…) và điều kiện
xã hội (điều tiết thủy lợi, chế độ canh tác, ) [19]
Nghiên cứu hạn hán NN thường được tiến hành trên cơ sở khác biệt về
độ nhạy của các loại cây trồng trong các giai đoạn phát triển khác nhau Diện tích đất canh tác NN là rất quan trọng trong nghiên cứu loại hạn hán này vì nó
là khu vực đầu tiên bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi hạn hán
- Hạn thủy văn: dòng chảy sông suối giảm rõ rệt, mực nước trong các
tầng chứa nước dưới đất hạ thấp
Là hiện tượng các dòng chảy sông, suối thấp hơn TBNN rõ rệt và mực nước trong các tầng chứa nước dưới đất hạ thấp Ngoài lượng mưa ra, hạn thuỷ văn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác: dòng chảy mặt, nước ngầm tầng nông, nước ngầm tầng sâu,…
Loại hạn hán này liên quan đến ảnh hưởng của những thời kỳ thiếu hụt lượng mưa trên bề mặt hoặc dưới bề mặt cung cấp nước hơn là thiếu hụt lượng mưa Hạn hán thủy văn thường xảy ra đồng thời hoặc sau hạn hán khí tượng và hạn hán NN Không giống như hai loại hạn hán đã kể trên, hạn hán
Trang 15thủy văn cần nhiều thời gian diễn ra hơn trước khi sự thiếu hụt lượng mưa được nhận diện trong các thành phần khác của hệ thống thủy văn (như hồ chứa và lượng nước ngầm)
- Hạn kinh tế - xã hội: thiếu hụt nguồn nước cấp cho các hoạt động
KT - XH
Là hiện tượng nước không đủ cung cấp cho nhu cầu của các hoạt động
KT - XH Loại hạn hán này liên quan đến nguồn cung và cầu của một số hàng hóa hoặc dịch vụ với các yếu tố của hạn hán khí tượng, hạn hán thủy văn và hạn hán NN
Hạn hán khác với các loại thiên tai khác ở nhiều khía cạnh Đặc điểm đặc trưng nhất là tác động của hạn hán thường tích lũy một cách chậm chạp trong một khoảng thời gian dài và có thể kéo dài trong một giai đoạn nhất định
Hình 1.1 Sơ đồ mô tả mối quan hệ của các loại hạn theo WMO [18]
Theo phân tích sơ đồ trên cho thấy: hạn khí tượng xảy ra trước tiên do không mưa hoặc do mưa không đáng kể trong thời gian đủ dài, đồng thời những yếu tố khí tượng đi kèm với sự thiếu hụt mưa gây bốc thoát hơi nước gia tăng Sự thiếu hụt mưa và gia tăng bốc hơi sẽ dẫn đến sự suy giảm độ ẩm
Trang 16đất – hạn đất và hạn NN ở vùng không được tưới xảy ra Sự suy kiệt độ ẩm đất cũng đồng thời dẫn đến sự suy giảm lượng bổ sung cho nước ngầm làm giảm lưu lượng và hạ thấp mực nước ngầm Sự suy giảm đồng thời cả dòng mặt và dòng ngầm dẫn đến hạn thủy văn
Trong khuôn khổ nội dung nghiên cứu, đề tài tiến hành phân tích, đánh giá tác động của hạn khí tượng đến hoạt động trồng trọt trong NN Đây là hoạt động KT - XH đặc thù ở LVS Ba, đồng thời là hoạt động kinh tế phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện tự nhiên, nhất là khí hậu và nguồn nước
- Thời gian hạn xảy ra dao động trong vài tháng và có thể từ năm này sang năm khác, vùng trung tâm và vùng xung quanh bị ảnh hưởng bởi hạn không cố định mà sẽ thay đổi theo thời gian
- Không có một chỉ số hạn đơn lẻ nào có thể xác định chính xác sự bắt đầu, kết thúc cũng như mức độ khắc nghiệt của đợt hạn cũng như các tác động tiềm năng của nó
- Phạm vi không gian tác động của hạn hán thường lớn hơn nhiều so với một số thảm họa khác Do đó, các ảnh hưởng của hạn có thể trải dài trên nhiều vùng địa lí Tác động tích lũy lại và mức độ ảnh hưởng của nó sẽ mở rộng khi hạn tiếp tục kéo dài từ mùa này sang mùa khác hoặc sang năm khác
Để đánh giá khách quan tình trạng hạn hán trên khu vực nghiên cứu đồng thời nhận xét khách quan về quy luật diễn biến hạn, đề tài sử dụng chuỗi
Trang 17số liệu nghiên cứu trong thời gian khá dài, từ năm 1997 – 2018 Và tập trung vào đánh giá chỉ số khô hạn cán cân nước K theo thời gian
1.1.1.4 Nguyên nhân
Theo Nguyễn Đức Ngữ (2002) [30], hạn hán xảy ra do thời tiết bất thường gây nên lượng mưa thường xuyên ít ỏi hoặc nhất thời thiếu hụt lượng mưa Thường thì hạn hán bắt nguồn từ các nguyên nhân sau:
- Mưa rất ít, lượng mưa không đáng kể trong thời gian dài hầu như quanh năm, đây là tình trạng phổ biến trên các vùng khô hạn và bán khô hạn
- Lượng mưa trong khoảng thời gian dài đáng kể thấp hơn rõ rệt mức trung bình nhiều năm cùng kỳ Tình trạng này có thể xảy ra trên hầu khắp các vùng, kể cả vùng mưa nhiều
- Mưa không ít lắm, nhưng trong một thời gian nhất định trước đó không mưa hoặc mưa chỉ đáp ứng nhu cầu tối thiểu của sản xuất và môi trường xung quanh Đây là tình trạng phổ biến trên các vùng khí hậu gió mùa,
có sự khác biệt rõ rệt về mưa giữa mùa mưa và mùa khô Bản chất và tác động của hạn hán gắn liền với định loại về hạn hán
- Hiện tượng El Nino cũng tác động khá mạnh đến tình trạng hạn hán Năm có hiện tượng El Nino thì lượng mưa giảm, nhiệt độ bức xạ mặt trời tăng lên, bốc hơi tăng mạnh nên dễ gây hạn hán
Ở nước ta, chế độ mưa có sự phân hóa sâu sắc theo mùa Đây là đặc điểm phổ biến trên các vùng khí hậu gió mùa, có sự khác biệt rõ rệt về mùa mưa và mùa khô Trong điều kiện El Nino, nhiệt độ trung bình các tháng ở hầu hết các vùng trong cả nước đều có xu hướng cao hơn TBNN và xuất hiện nhiều hơn các kỷ lục về nắng nóng Đồng thời, lượng mưa nhận được cũng như dòng chảy ở các sông nhỏ hơn TBNN từ 10% trở lên, những năm El Nino hoạt động mạnh có thể thiếu hụt tới 50% - 60%
Trang 18Ngoài ra, một số nguyên nhân do hoạt động của con người cũng có thể gây ra hạn hán Trước hết là do tình trạng phá rừng bừa bãi làm mất nguồn dự trữ nước ngầm; việc trồng cây không phù hợp (vùng ít nước cũng trồng cây cần nhiều nước như lúa) làm cho việc sử dụng nước quá nhiều dẫn đến cạn kiệt nguồn nước Thêm vào đó, công tác quy hoạch sử dụng nước, bố trí công trình thiếu hợp lý, hoặc quy hoạch phát triển không phù hợp với sự phân bổ nguồn nước; thiếu những biện pháp cần thiết để đáp ứng nhu cầu sử dụng nước ngày càng gia tăng do sự phát triển KT - XH ở các khu vực
Tóm lại, hạn hán có thể là do 02 nhóm nguyên nhân chính gây ra:
+ Nguyên nhân trực tiếp: Là không có mưa hoặc ít mưa (do sự phân
hóa khí hậu theo mùa tại địa phương, sự thay đổi hệ thống khí hậu toàn cầu)
+ Nguyên nhân gián tiếp: Là do làm mất cân bằng nước, giảm độ ẩm
trong đất và không khí, thiếu công trình thủy lợi, hoặc do các tác động bất hợp
lý của con người
Hạn hán tác động đến KT - XH như giảm năng suất cây trồng, giảm diện tích gieo trồng, giảm sản lượng cây trồng, chủ yếu là sản lượng cây lương thực (Hằng năm, điều kiện bất lợi của môi trường làm giảm 50% năng suất mùa màng, trong đó chỉ tính riêng hạn hán chiếm tới 15% Thậm chí ở một số nơi có mực nước ngầm thấp, năm hạn nặng có thể giảm 100% năng
Trang 19suất) Từ đó làm tăng chi phí sản xuất, giảm thu nhập của người lao động, tăng giá thành và giá cả các lương thực
Việc thiếu hụt nguồn nước dẫn đến hoạt động sản xuất công nghiệp bị trì trệ, gây gián đoạn dây chuyền sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận doanh thu cũng như công ăn việc làm của người lao động, nhất là đối với những ngành có nhu cầu sử dụng nước lớn, các nhà máy thủy điện
Tác động của hạn hán về mặt xã hội chủ yếu liên quan đến các vấn đề
về sinh kế, về sức khỏe, về an ninh Hạn hán là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, bệnh tật thậm chí là chiến tranh do xung đột nguồn nước
1.1.1.6 Các chỉ tiêu đánh giá hạn
Trên thế giới, chưa có một định nghĩa thống nhất về hạn và các chỉ tiêu xác định hạn do sự xuất hiện hạn ở các nơi trên thế giới rất khác nhau về tính chất hạn và tác động Cho nên hầu như không có một chỉ số nào có ưu điểm vượt trội so với các chỉ số khác trong mọi điều kiện
Trong công tác giám sát, cảnh báo và dự báo hạn hán thường sử dụng các chỉ số hạn Chỉ số hạn được hiểu là một dạng lượng hóa giá trị để biểu diễn trạng thái chung của điều kiện khô/hạn, là hàm của các biến đơn như lượng mưa, nhiệt độ, bốc thoát hơi, dòng chảy,… Việc sử dụng các chỉ số hạn giúp cho việc truyền tải các thông tin về dị thường khí hậu đến người sử dụng
dễ dàng hơn và tạo điều kiện cho các nhà khoa học đánh giá định lượng các dị thường này dưới dạng cường độ (mức độ khắc nghiệt), thời gian, tính lặp lại
và sự lan rộng theo không gian
Ở nước ta, đã có nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng các chỉ số hạn hán khác nhau phục vụ việc đánh giá hiện trạng, biến đổi, giám sát, cảnh báo
và dự báo Nguyễn Đức Ngữ và Nguyễn Trọng Hiệu (Khí hậu và tài nguyên khí hậu Việt Nam - 2004) sử dụng chỉ số khô hạn K trong các nghiên cứu về hạn Trần Thục và nnk (2008) đã sử dụng chỉ số K, SPI, tỷ chuẩn lượng mưa
Trang 20TC, thiếu hụt lượng mưa (D) và chỉ số hạn thực tế (EDI) để đánh giá và xây dựng các bản đồ hạn hán và thiếu nước sinh hoạt trên khu vực Tây Nguyên và Nam Bộ Chỉ số SPI đã được ứng dụng nghiên cứu đánh giá, giám sát, cảnh báo và dự báo hạn hán ở Việt Nam
Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu/chỉ số tính toán khô hạn và các ngƣỡng giá trị của chúng
STT Tên chỉ tiêu tính toán Công thức tính/ Điều kiện khí hậu
1 SI (Severity Index) SI = (R- Rtb)/ R
R : Lượng mưa thời đoạn tính;
R tb : Lượng mưa trung bình thời đoạn tính
2 Chỉ số chuẩn hóa lƣợng mƣa SPI
(Standardized Precipitation Index)
SPI = (R - Rtb)/
R: Lượng mưa thời đoạn tính Rtb : Lượng mưa trung bình thời đoạn tính
: Độ lệch chuẩn lượng mưa thời đoạn tính
4 Chỉ số Sazonov (Sa.I) Sa.I i = ( T i / T i ) - ( R i / R i )
T:Chuẩn sai nhiệt độ thời kỳ i
T: Độ lệch chuẩn nhiệt độ thời kỳ i
R: Chuẩn sai lượng mưa thời kỳ i
R: Độ lệch chuẩn lượng mưa thời kỳ i
Trang 215 Chỉ số cấp nước mặt SWSI
(Surface Water Súpply Index)
SWSI = (aPtuyết + bPmưa + cPdòng chảy + dPdung tích hồ chứa – 50)/12
(tỷ số giữa phần thu chủ yếu và
phần chi chủ yếu của cán cân nước)
BĐKH là sự thay đổi (tăng hoặc giảm) giá trị trung bình của các yếu
tố thời tiết trong một khoảng thời gian dài (thường là 30 năm trở lên) Nói cách khác BĐKH là biến đổi trạng thái của khí hậu so với TBNN [6] Trong đó: Thời tiết là biểu hiện và diễn biến ở ngoài trời của các yếu tố gồm nhiệt
độ, áp suất khí quyển, gió, mưa, mây, độ ẩm tại một địa điểm nhất định vào thời gian nhất định; Khí hậu là trạng thái trung bình của thời tiết, hay nói một cách chính xác hơn là “tổng hợp số liệu thống kê định kỳ của các yếu tố thời tiết trong các khoảng thời gian khác nhau” của một khu vực, vùng, miền nhất định
Trang 221.1.2.2 Biểu hiện
BĐKH biểu hiện thông qua các hiện tượng thời tiết cực đoan, dị thường như nhiệt độ tăng, bão mạnh, mưa lớn, lũ lụt, hạn hán và nước biển dâng cao,… và đang có dấu hiệu trở nên phổ biến hơn trong thời gian gần đây BĐKH và nước biển dâng ảnh hưởng đến các hệ sinh thái tự nhiên, cây trồng, vật nuôi, làm tăng khả năng phát triển sâu bệnh, gia tăng sức ép lên con người, tăng mức độ thiệt hại khi thiên tai xảy ra
Theo Kịch bản BĐKH và nước biển dâng năm 2016 [6] của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì BĐKH ở Việt Nam biểu hiện thông qua những xu thế sau:
- Nhiệt độ có xu thế tăng ở hầu hết các trạm quan trắc, tăng nhanh trong những thập kỷ gần đây Trung bình cả nước, nhiệt độ trung bình năm thời kỳ 1958 - 2014 tăng khoảng 0,62oC, riêng giai đoạn (1985 - 2014) nhiệt
độ tăng khoảng 0,42o
C
- Lượng mưa trung bình năm có xu thế giảm ở hầu hết các trạm phía Bắc; tăng ở hầu hết các trạm phía Nam
- Cực trị nhiệt độ tăng ở hầu hết các vùng, ngoại trừ nhiệt độ tối cao có
xu thế giảm ở một số trạm phía Nam
- Hạn hán xuất hiện thường xuyên hơn trong mùa khô
- Mưa cực đoan giảm đáng kể ở vùng Đồng Bằng Bắc Bộ, tăng mạnh ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên
- Số lượng bão mạnh có xu hướng tăng
- Số ngày rét đậm, rét hại có xu thế giảm nhưng xuất hiện những đợt rét dị thường
- Ảnh hưởng của El Nino và La Nina có xu thế tăng
Trang 231.1.3 Mối quan hệ giữa biến đổi khí hậu với hạn hán
BĐKH ngày nay là hiện tượng mà nhiệt độ tăng cao so với TBNN và ngày càng tăng Khi nhiệt độ tăng sẽ thúc đẩy quá trình bốc hơi, từ đó làm suy giảm độ ẩm gây ra hạn hán BĐKH cũng làm cho lượng mưa biến động theo hướng tăng vào mùa mưa nhưng lại giảm vào mùa khô, mùa mưa kết thúc sớm, đến muộn,… Những biểu hiện này sẽ gây ra hạn WMO công bố báo cáo khẳng định các đợt nắng nóng cực đoan và lượng mưa lớn ngày càng gia tăng trên thế giới là hệ quả của BĐKH BĐKH đang làm thay đổi hệ thống thời tiết – khí hậu đặc trưng, kéo theo những thay đổi phức tạp, đa chiều khác trong hệ thống tự nhiên, gây ra những biến động về tần suất, cường độ và tính cực đoan của hạn hán Và những năm có El Nino đều làm gia tăng mức độ hạn hán trên LV
1.1.4 Ngành nông nghiệp
1.1.4.1 Sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một
số nguyên liệu cho công nghiệp NN là một ngành sản xuất lớn, với nhiều sản phẩm khác nhau, được phân chia theo các chuyên ngành như:
- NN thuần, gồm: Trồng trọt, chăn nuôi;
- Lâm nghiệp, gồm: Trồng rừng, khai thác gỗ, lâm sản ngoài gỗ, dịch
vụ lâm nghiệp Ngành này có chức năng xây dựng, quản lý bảo vệ rừng, khai thác lợi dụng rừng, chế biến lâm sản và chức năng môi trường như: phòng chống thiên tai và hình thành các đặc điểm văn hóa, xã hội của nghề rừng;
- Thủy sản, gồm: Nuôi trồng và phát triển nguồn lợi thủy sản tại các thủy vực biển, sông và hồ chứa [8]
Trang 24Sản xuất nông nghiệp (SXNN) là quá trình tạo ra sản phẩm của ngành
NN thông qua việc sử dụng các tài nguyên đất để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu
1.1.4.2 Đất nông nghiệp
Theo Luật đất đai [25] quy định: Đất nông nghiệp (ký hiệu là NNP) là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác
Phân loại đất nông nghiệp:
a Đất trồng cây hàng năm (CHN): Là đất chuyên trồng các loại cây có
thời gian sinh trưởng từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch không quá một năm,
kể cả đất sử dụng theo chế độ canh tác không thường xuyên, đất cỏ tự nhiên
có cải tạo sử dụng vào mục đích chăn nuôi Loại này bao gồm đất trồng lúa,
đất cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác
b Đất trồng cây lâu năm (CLN): Là đất trồng các loại cây có thời gian
sinh trưởng trên một năm từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch kể cả cây có thời gian sinh trưởng như cây hàng năm nhưng cho thu hoạch trong nhiều năm như thanh long, chuối, dứa, nho; bao gồm đất trồng cây công nghiệp lâu năm,
đất trồng cây ăn quả lâu năm và đất trồng cây lâu năm khác
c Đất lâm nghiệp (LNP): Là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang có
rừng trồng đạt tiêu chuẩn rừng, đất đang khoanh nuôi phục hồi rừng (đất đã
có rừng bị khai thác, chặt phá, hoả hoạn nay được đầu tư để phục hồi rừng), đất để trồng rừng mới (đất có cây rừng mới trồng chưa đạt tiêu chuẩn rừng hoặc đất đã giao để trồng rừng mới); bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng
phòng hộ, đất rừng đặc dụng
Trang 25d Đất nuôi trồng thuỷ sản (NTS): Là đất được sử dụng chuyên vào mục
đích nuôi, trồng thuỷ sản; bao gồm đất nuôi trồng thuỷ sản nước lợ, mặn và
đất chuyên nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt
e Đất nông nghiệp khác (NKH): Là đất tại nông thôn sử dụng để xây
dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống; xây dựng kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp
uy hiếp 250 triệu con người trên Trái Đất, kèm theo đó còn ảnh hưởng tới môi trường khí hậu chung toàn cầu (Yang Youlin – 2007) [12]
Trang 26Hạn hán gây đang ảnh hưởng nghiêm trọng trên diện rộng, tuy ít khi là nguyên nhân trực tiếp gây tổn thất về nhân mạng nhưng thiệt hại do hạn gây
ra rất lớn Theo số liệu của Trung tâm giảm nhẹ hạn hán quốc gia Mỹ [12], hàng năm hạn hán gây thiệt hại cho nền kinh tế Mỹ khoảng 6 - 8 tỉ USD (so với 2,4 tỉ USD do lũ và 1,2 – 4,8 tỉ USD do bão) Đợt hạn hán lịch sử ở Mỹ xảy ra vào năm 1988 – 1989 gây thiệt hại 39 – 40 tỉ USD, lớn hơn nhiều so với thiệt hại kỉ lục của lũ (15 – 27,6 tỉ USD, 1993) và bão (25 – 33,1 tỉ USD, 1992) Hạn cũng gây ra những tổn thất lớn về kinh tế và môi sinh ở nhiều quốc gia khác như Ấn Độ, Pakistan, Australia,… Hạn hán dưới tác động của
El Nino vào năm 1997 – 1998 đã gây cháy rừng trên diện rộng ở Indonesia, không chỉ làm thiệt hại rất lớn về kinh tế của nước này mà còn là một thảm họa môi sinh cho nhiều nước thuộc khu vực Đông Nam Á
Theo tính toán của Liên Hiệp Quốc, đến năm 2025 sẽ có 2/3 diện tích đất canh tác ở Châu Phi, 1/3 diện tích đất canh tác ở châu Á và 1/5 diện tích đất canh tác ở Nam Mĩ không còn sử dụng được Khoảng 135 triệu người có nguy cơ phải rời bỏ nhà cửa đi kiếm sống ở nơi khác do hạn hán
1.2.2 Khái quát tình hình hạn hán và ảnh hưởng của nó đến sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Ở nước ta, hạn hán là một thiên tai thường xuyên xảy ra ở một vài vùng
ít mưa và hay xảy ra vào mùa khô tại nhiều vùng khác nhau Tình trạng hạn hán diễn biến ngày càng phức tạp và gay gắt hơn do tác động của BĐKH
Theo đánh giá, hạn hán là một loại thiên tai phổ biến chỉ đứng thứ 3 sau bão và lũ Hàng năm hạn hán xảy ra ở vùng này hay vùng khác với mức độ và thời gian khác nhau, gây ra những thiệt hại to lớn đối với kinh tế
Theo thống kê của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương trong 40 năm qua [12], ở Bắc Bộ đã xảy ra những năm hạn nặng vào vụ đông xuân: năm 1959, 1961, 1970, 1984, 1986, 1989, 1993, 1998 và vụ mùa 1960,
Trang 271961, 1963, 1964 Trung Bộ và Nam Bộ có hạn nặng trong các năm 1983,
1987, 1988, 1990, 1992, 1998 Đặc biệt là hai đợt hạn nghiêm trọng năm 1992
- 1993, 1997 - 1998 ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước cho sinh hoạt
và SXNN đối với các vùng bị ảnh hưởng
Thiếu hụt nghiêm trọng lượng mưa năm 1992 đã gây hạn hán thiếu nước cho sản xuất và dân sinh trong năm 1993 Năm 1992, lượng mưa hàng năm thiếu hụt tới 30 - 70% Tổng diện tích lúa vụ đông xuân bị hạn ở các vùng trên 176.000 ha, bị chết là trên 22.000 ha Vụ hè thu năm 1993, lượng mưa thiếu hụt nghiêm trọng, nắng nóng gay gắt, bốc hơi nhiều dẫn đến hạn hán rất nghiêm trọng, dự trữ nước trong đất, sông suối và ở các hồ chưa rất ít Mực nước trên các sông lớn đều thấp hơn TBNN từ 0,1 - 0,5m, các hồ chứa vừa và nhỏ đều cạn kiệt Các tỉnh từ Thanh Hóa đến Bình Thuận chịu ảnh hưởng nặng nề nhất (41,2% diện tích gieo trồng bị hạn, trong đó 24.090 ha bị chết, đồng bằng sông Cửu Long hạn hán ít gay gắt hơn, có 8564 ha lúa bị chết)
Năm 1998 xảy ra hạn hán trên toàn quốc là do hiện tượng El Nino kéo dài 15 tháng (từ tháng IV năm 1997 đến tháng VI năm 1998) gây ra Theo các báo cáo, nhiệt độ bề mặt Trái Đất năm 1997 cao hơn TBNN là 0,430C, nhiều đợt nắng nóng gay gắt, kéo dài nhiều ngày với nhiệt độ cao nhất tuyệt đối lên tới 40 - 410
C Bên cạnh đó, lượng mưa rất ít trong các tháng đầu năm, mùa mưa đến muộn, tổng lượng mưa trung bình năm 1998 chỉ bằng 60
- 80% lượng mưa TBNN, ở Bắc Trung Bộ lượng mưa chỉ bằng 60 - 95% lượng mưa TBNN, Nam Trung Bộ, từ tháng I đến tháng VIII (trừ tháng V), lượng mưa thấp hơn TBNN, nhưng các tháng còn lại lượng mưa lại cao hơn bình thường Chính vì vậy, đầu năm hạn hán xảy ra nghiêm trọng, nhưng đến cuối năm lũ lụt xảy ra nghiêm trọng Ở Nam Bộ và Tây Nguyên, lượng mưa đều ít hơn TBNN Hạn hán, thiếu nước mùa khô 1997 - 1998 là nghiêm trọng nhất, gây ra thiệt hại lớn: diện tích lúa bị hạn cả nước lên tới 254.000
Trang 28ha trong đó 30.740 ha bị mất trắng vụ đông xuân; có 435.320 ha bị hạn trong
đó 70.810 ha bị chết vụ hè thu; 153.070 ha trong đó 22.690 ha bị mất trắng trong vụ mùa Ngoài ra hàng chục nghìn hecta cây công nghiệp và cây ăn quả bị hạn, gần 3 triệu người thiếu nước sinh hoạt
Trong những năm gần đây, hạn hán cũng xảy ra trên diện rộng và gây
ra những thiệt hại nghiêm trọng cho người dân ở nhiều tỉnh Theo Báo cáo số 36/BC - TWPCTT ngày 15/04/2016 của Ban chỉ đạo Trung ương về Phòng chống Thiên tai thì từ cuối năm 2014, do ảnh hưởng của El Nino mạnh, kéo dài nhất trong lịch sử, nền nhiệt độ tăng cao, lượng mưa và dòng chảy thiếu hụt đã gây ra hạn hán gay gắt, gây thiệt hại nặng nề tại khu vực Tây Nguyên
và Nam Trung Bộ Từ cuối năm 2015 đến tháng 04/2016, lượng mưa tại khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ thấp, các hồ chứa thủy lợi, thủy điện đạt dung tích thấp so với thiết kế và cùng kỳ nhiều năm, nhiều hồ nhỏ đã cạn nước, các đập dâng phần lớn không còn khả năng cung cấp nước… Hạn hán xảy ra trên diện rộng ở Tây Nguyên (chiếm tới 70% diện tích canh tác khu vực Tây Nguyên), các tỉnh bị hạn hán nghiêm trọng như: Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Ninh Thuận, Bình Thuận,… Thiệt hại bởi hạn hán tại khu vực Tây Nguyên ước tính như sau:
- Số hộ dân bị thiếu nước sinh hoạt: 35.835 hộ;
- Thiệt hại về lúa: 13.271 ha;
- Thiệt hại về hoa màu: 10.133 ha;
- Thiệt hại về cây công nghiệp: 96.097 ha;
- Thiệt hại về thủy sản: 4.641 ha;
Tổng thiệt hại ước tính là 3.096 tỷ đồng
Nhìn chung, hạn hán có sức ảnh hưởng mạnh đến ngành NN Việt Nam, gây thiệt hại về kinh tế lẫn sinh kế của người dân, khiến công tác xóa đói giảm nghèo của đất nước bị gián đoạn, an ninh lương thực khó đảm bảo, làm tăng
Trang 29chi phí vật giá Đặc biệt là khu vực Tây Nguyên, nơi có mức độ khô hạn cao và
có xu hướng gia tăng trong bối cảnh BĐKH, nơi ngành NN chủ đạo là cây công nghiệp, hoa màu… đòi hỏi nhu cầu nước cao thì cần phải có giải pháp căn
cơ, thiết thực nhằm hạn chế tác động ảnh hưởng của hạn hán đến SXNN
1.2.3 Khái quát tình hình hạn hán và ảnh hưởng của nó đến sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu trên lưu vực sông Ba phần thuộc tỉnh Gia Lai
Tình trạng hạn hán liên tục xảy ra ở nhiều nơi và thường tập trung trong mùa khô, trong đó có sự khác biệt giữa bộ phận thuộc Tây và Đông Trường Sơn Ở phần Đông Trường Sơn thường bắt đầu từ tháng I đến tháng VIII, gây ảnh hưởng đến vụ Đông Xuân và vụ mùa Phần Tây Trường Sơn thường bắt đầu từ tháng XII đến tháng IV năm sau làm ảnh hưởng đến năng suất lúa và các loại cây trồng chủ lực của tỉnh như cà phê, hồ tiêu, Tuy nhiên vào những năm gần đây do tác động của BĐKH nên tình trạng hạn hán cùng với nhiều đợt nắng nóng kéo dài liên tục kết hợp không mưa đã làm cho mực nước của các ao hồ, sông suối bị cạn kiệt, dẫn đến tình trạng thiếu hụt nước tưới, các cây trồng bị hạn nặng dẫn đến bị mất trắng, giảm năng suất, sản lượng, chất lượng ngày càng nhiều
Tình trạng hạn hán như trên đã xảy ra nhiều lần, điển hình như vào các năm 1997 – 1998; 2005 – 2006; 2010 – 2011; 2015 – 2016 Theo số liệu thống kê của Sở NN và Phát triển Nông thôn tỉnh Gia Lai, tổng diện tích cây trồng bị khô hạn trong giai đoạn 2005 - 2016 là 127.187 ha Theo
số liệu tại bảng 1.2 cho thấy đợt hán hán năm 2015 – 2016, tỉnh Gia Lai ước tính thiệt hại 373 tỷ đồng Trong đó, diện tích lúa bị thiệt hại là 5621 ha; diện tích hoa màu thiệt hại là 8.793 ha; diện tích cây trồng lâu năm bị thiệt hại là 8.435 ha…
Trang 30Bảng 1.2 Thiệt hại NN do hạn hán tỉnh Gia Lai giai đoạn 2005 - 2016
(ha) Mất trắng (ha) Giảm năng suất
(ha)
Cây CNDN (ha)
Trang 31CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA HẠN HÁN
ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN LƯU VỰC
SÔNG BA, TỈNH GIA LAI
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới tình trạng hạn hán trên LVS Ba, phần
thuộc tỉnh Gia Lai
2.1.1 Các nhân tố tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lí và phạm vi lưu vực
Gia Lai là một tỉnh miền núi nằm ở phía bắc Tây Nguyên trên độ cao trung bình 700 - 800 m so với mực nước biển Có diện tích 15.536,92 km², tỉnh Gia Lai trải dài từ 12°58'20" đến 14°36'30" vĩ bắc, từ 107°27'23" đến 108°54'40" kinh đông Phía bắc Gia Lai giáp tỉnh Kon Tum, phía nam giáp tỉnh Đắk Lắk, phía tây giáp Cam - pu - chia với 90 km là đường biên giới quốc gia, phía đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên
LVS Ba là LVS nội địa lớn thứ hai của lãnh thổ nước ta, với diện tích lưu vực 13.417 km2
, nằm trên 4 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Phú Yên Dòng chính sông Ba dài 396 km, bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Rô, tây bắc tỉnh Kon Tum, từ độ cao 1.549m, chảy theo hướng Bắc – Nam qua các huyện Kon Plong (Kon Tum), K’Bang, An Khê, Đăk Pơ, Kông Chro, Ia Pa, Ayun Pa (Gia Lai), chuyển sang hướng Tây Bắc – Đông Nam qua huyện Krông Pa rồi đi vào địa phận Phú Yên theo hướng Tây – Đông rồi đổ ra biển Đông ở của biển Đà Diễn, phía nam thành phố Tuy Hòa
Đại bộ phận LVS Ba nằm trên địa phận tỉnh Gia Lai, chiếm đến hơn 60% diện tích toàn lưu vực Quan sát hình 2.1 cho thấy LVS Ba trên địa phận tỉnh Gia Lai gồm dòng chính và phụ lưu sông Ayun Dòng chính dài 304 km, chảy qua địa phận các huyện phía Đông của tỉnh, gồm các huyện và thị xã:
Trang 32K’Bang, An Khê, Đăk Pơ, Kông Chro, Ia Pa, Ayun Pa, Krông Pa Phụ lưu sông Ayun chảy qua địa phận các huyện Mang Yang, Đăk Đoa, Chư Sê, Ayun Pa Phụ lưu sông Ayun hợp với dòng chính trên địa phận huyện Ayun Pa
LVS Ba có vị trí địa lí khá đặc biệt, nằm ở cả sườn Đông và Tây của dải Trường Sơn vì vậy chịu sự chi phối của các đặc điểm tự nhiên rất khác biệt của hai khu vực đó Tính chất khác nhau của khí hậu Đông – Tây Trường Sơn cũng làm cho tình trạng hạn hán trở nên phức tạp hơn
2.1.1.2 Địa hình
Nhìn chung dạng địa hình chiếm diện tích lớn trên LV là cao nguyên và các vùng núi bao bọc ở phía Bắc, Đông, Tây và làm thành ranh giới tự nhiên phân chia ảnh hưởng của các khối khí theo mùa trên LV
Nét nổi bật nhất của địa hình khu vực nghiên cứu là tính phân tầng độ cao tạo thành các vành đai liên tục, nhưng cũng bị phức tạp hoá do hoạt động cắt xẻ, mài mòn và phá huỷ cấu trúc ban đầu của hệ thống dòng chảy Mức độ chia cắt sâu mạnh và rất mạnh chiếm diện tích lớn và thuộc về miền núi của lưu vực Mức độ chia cắt sâu trung bình chiếm diện tích hạn chế dưới dạng vùng đồi chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng
Vùng núi chiếm 62% diện tích tự nhiên của lưu vực, cao độ biến đổi từ
600 - 2000 m được bao bọc ở cả ba phía Bắc, Đông, Tây Nam và có xu hướng
mở rộng về phía Tây với các cao nguyên đất đỏ Ba zan rất rộng là cao nguyên Pleiku, Mang Yang, Chư Sê với độ cao 600 – 800 m Do các dãy núi phía Tây Nam của sông Ba bị chia cắt mạnh và không liên tục nên đã hình thành ở trung lưu một vùng máng trũng với các thung lũng độc lập kéo dài từ An Khê đến Phú Túc tương đối bằng phẳng là những cánh đồng lớn nằm dọc hai bên sông Ba và sông Ia Yun với hàng vạn ha đất canh tác thích hợp với các cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày
Trang 33Với địa hình có dạng lòng máng làm gia tăng mức độ tập trung nước về
hạ lưu đồng thời giảm khả năng giữ nguồn nước mặt vào mùa khô Địa hình phức tạp và đa dạng cùng với sự khác biệt về khí hậu đã hình thành trên địa bàn nhiều vùng sinh thái khác nhau, điều kiện để đa dạng hóa NN song cũng đặt ra nhiều vấn đề trong khai thác, bảo vệ tài nguyên đất, hạn chế xói mòn, rửa trôi
Bảng 2.1 Thành tạo địa chất ở lưu vực sông Ba
TT Thành tạo địa chất Phạm vi phân bố
Phần lộ trên mặt Diện tích
(km 2 )
% so với diện tích toàn vùng
3 thượng - Triats hạ Thành tạo Pecmi Chủ yếu ở khu vực Chư Sê
Không lộ trên mặt
4
Thành tạo Triat
trung, hệ tầng Mang
Yang
Khu vực K’Bang, Mang Yang, Kông Chro,
Các dải ven sông Ba ở khu vực Chư Sê,
Trang 34TT Thành tạo địa chất Phạm vi phân bố
Phần lộ trên mặt Diện tích
(km 2 )
% so với diện tích toàn vùng
Chủ yếu ở khu vực thềm sông bậc III dọc
11 Thành tạo Holocen
nhiều nguồn gốc
Các khu vực thung lũng ven sông, lộ ra
LVS Ba cắt qua nhiều loại nham thạch có tuổi và thành phần thạch học
có nguồn gốc khác nhau, song nhìn chung nền móng đều là đá xâm nhập, đá phún xuất, trong đó đá granit là phổ biến hơn cả Đá granit ở đây có độ cứng chắc, cường độ kháng cắt và kháng nén cao, chịu lực tốt, thấm không đáng kể Riêng đối với đá Bazan tươi có khả năng chịu lực tốt nhưng chúng được cấu tạo bởi những lớp xốp, đặc xít xen kẹp một số nơi nứt nẻ nên cần chú ý về thấm Các tầng lớp phủ nhìn chung thấm nước nhiều, thành phần chủ yếu là cát, cuội, sỏi, hoặc trầm tích biến chất phong hoá mạnh
Sự đa dạng về địa hình và đá gốc cũng tạo nên lớp phủ thổ như ng khá
đa dạng, gồm 5 nhóm đất chính Từ bản đồ hình 2.3 có thể thấy được đặc điểm phân bố các nhóm đất như sau:
- Nhóm đất đỏ vàng là nhóm đất có diện tích lớn nhất toàn LV, với 458,5 nghìn ha, chiếm 50,8% diện tích đất tự nhiên trên LV Trong đó, loại đất đỏ vàng trên đá macma axit có diện tích lớn nhất và phân bố chủ yếu ở các huyện K’Bang, Đăk Pơ, Kông Chro, Mang Yang, Krông Pa
Đất mùn vàng đỏ trên đá macma axit tập trung thành vùng lớn tại Ia Pa,
Trang 35Mang Yang; rải rác ở các huyện K’Bang, Kông Chro
Đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và macma bazơ trung bình có diện tích lớn tại các huyện K’Bang, Mang Yang, Chư Sê, Đăk Đoa
Đây là nhóm đất thích hợp cho trồng các cây công nghiệp dài ngày như: cà phê, tiêu, chè, cây ăn quả, cao su,
- Nhóm đất xám: gồm 5 loại khác nhau theo đặc điểm đá mẹ thành tạo
và theo mức độ thoái hoá Nhóm đất này có diện tích khoảng 258,9 nghìn ha, chiếm 28,7% tổng diện tích đất Trong đó nhóm đất xám trên macma axit và
đá cát chiếm diện tích lớn nhất (chiếm 86,2% diện tích nhóm đất xám), phân
bố chủ yếu trên địa bàn các huyện Kông Chro, Krông Pa, Đăk Pơ, Ia Pa và rải rác ở các huyện K’Bang, Ayun Pa, Chư Pưh, Phú Thiện
Đất xám trên phù sa cổ có diện tích khá lớn (chiếm 10,1% diện tích nhóm đất xám), tập trung thành một vùng liên tục ở Phú Thiện và Ia Pa Các loại đất xám khác có diện tích không đáng kể Đây là nhóm đất có thành phần
cơ giới nhẹ, dễ thoát nước, khả năng giữ chất dinh dư ng kém, đất thích hợp cho trồng cây công nghiệp ngắn ngày hoặc trồng rừng để bảo vệ đất
- Nhóm đất mòn trơ sỏi đá chiếm diện tích lớn thứ 3 trên toàn LV, với diện tích 125,2 nghìn ha, chiếm 13,8% tổng diện tích đất trên LV Nhóm đất này phân bố nhiều ở các huyện Krông Pa, Mang Yang, Phú Thiện và gần như phân bố rải rác ở tất cả các huyện còn lại Loại đất này không có khả năng cho sản xuất nông nghiệp nên cần giữ rừng, khoanh nuôi và bảo vệ đất
- Nhóm đất phù sa: có diện tích khoảng 42,4 nghìn ha, chỉ chiếm 4,7% tổng diện tích Đất này phân bố dọc theo thung lũng các sông là chính, trong
đó có diện tích lớn nhất là đất phù sa không được bồi, chua và đất phù sa ngoài suối, có diện tích lớn ở các huyện Krông Pa, K’Bang, Phú Thiện, Mang Yang Loại đất này thích hợp cho trồng lúa nước và hoa màu
- Nhóm đất dốc tụ thung lũng là nhóm được hình thành từ quá trình rửa
Trang 36trôi đất từ sườn xuống các thung lũng Đất dốc tụ rải rác ở các huyện vùng thượng lưu và trung lưu của hệ thống sông Ba như An Khê, K’Bang, Chư sê,
2.1.1.4 Thảm thực vật rừng
Vùng LVS Ba, dưới góc độ địa sinh vật được xem là vùng phân bố tự nhiên có độ đa dạng sinh học cao ở nước ta Do điều kiện địa hình hiểm trở, đặc biệt có dãy Ngọc Linh với độ cao trên 2.000 m là đầu nguồn của các hệ thống sông lớn ở vùng Trung Bộ như sông Vu Gia - Thu Bồn, sông Kôn và sông Ba Cùng với điều kiện địa hình, tính chất thổ như ng và điều kiện khí hậu là điều kiện thuận lợi cho thảm thực vật rừng ở đây phát triển phong phú
Từ bản đồ hình 2.4 có thể rút ra đặc điểm về sự phân bố của các thảm thực vật trên địa bàn nghiên cứu như sau:
- Rừng thưa thường xanh trung bình có diện tích lớn nhất, khoảng 341 nghìn ha, chiếm 50% tổng diện tích rừng và phân bố ở tất cả các huyện, trong
đó tập trung nhiều nhất ở các huyện K’Bang, Krông Pa, Ia Pa, Mang Yang, Kông Chro
- Trảng cỏ, cây bụi có diện tích khá lớn, khoảng 242 nghìn ha, chiếm 35,5% tổng diện tích rừng, bao gồm:
Trảng cây bụi cao từ 2 8 m, là kiểu thảm thực vật đang thời kỳ phục hồi nhanh để có thể sau một thời gian chuyển thành rừng thường xanh cây lá rộng cao từ 8 15 m Thảm rừng này phân bố chủ yếu ở An Khê, Mang Yang, Krông Pa
Trảng cỏ (cao, trung bình và thấp) chiều cao từ 0,5 2 m phân bố khắp mọi nơi trong LVS Ba, chủ yếu ở vùng trung lưu với diện tích tương đối lớn
và ở hạ lưu như huyện Krông Pa nơi có địa hình thấp Ở thượng lưu trảng cỏ phân bố ở dọc theo hai bờ sông Ba
- Rừng khô rụng lá có diện tích khá lớn, khoảng 70 nghìn ha, chiếm 10,4% tổng diện tích rừng và là kiểu rừng đặc trưng cho vùng Tây Nguyên
Trang 37nói chung Kiểu rừng này có diện tích lớn trên địa bàn các huyện Kông Chro,
Ia Pa, Krông Pa
- Rừng trồng (thông, keo lá tràm, keo tai tượng, bạch đàn, bồ đề, m )
có diện tích ít, khoảng 10 nghìn ha, chỉ chiếm 2% tổng diện tích rừng và chủ yếu trồng ở huyện Mang Yang
Trên vùng LVS Ba, có vườn quốc gia Kon Ka Kinh là một trong 4 vườn quốc gia của Việt Nam, đồng thời là một trong 27 vườn của khu vực Đông Nam Á được công nhận là vườn di sản Asean với tính đa dạng sinh học cao Với diện tích 41.80 ha trong đó có 33.565 ha rừng tự nhiên (chiếm 80% tổng diện tích vườn quốc gia) thì bên cạnh ý nghĩa là khu vực có mức độ đa dạng sinh học cao, các thảm thực vật rừng ở đây còn khá nguyên sơ, có giá trị duy trì cân bằng nước đồng thời phòng hộ cho vùng LVS Ba
Từ số liệu thống kê được tổng hợp từ các Báo cáo và bản đồ hiện trạng rừng của Viện điều tra quy hoạch rừng cho thấy vùng nghiên cứu có diện tích rừng 403.531 ha, đạt độ che phủ 40,26%, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 363.345 ha, chiếm 90,04% diện tích rừng toàn LV Tuy nhiên, tài nguyên rừng trên LVS Ba đang bị biến động nhanh chóng theo xu hướng suy giảm rừng tự nhiên, rừng giàu và trung bình, tăng diện tích rừng trồng, rừng nghèo, đất trống Và thực trạng này đang gây ra nhiều hệ lụy đối với môi trường và kéo theo sự bất ổn về KT - XH trong LV
Kết quả nghiên cứu biến động diện tích rừng trên LVS Ba qua 28 năm của giai đoạn từ 1990 – 2017 có thể thấy rõ qua bảng sau:
Bảng 2.2 Biến động tài nguyên rừng LVS Ba thuộc địa phận Gia Lai
Trang 38Từ bảng số liệu trên có thể nhận thấy: Từ năm 1990 đến 2017 thì diện tích rừng giảm 58.944 ha, riêng diện tích rừng tự nhiên giảm 95.439 ha (giảm nhiều hơn so với diện tích rừng nói chung) Diện tích rừng tự nhiên lại là thảm thực vật có ý nghĩa quan trọng hơn cả trong việc giữ nước, cân bằng nguồn nước đảm bảo hạn chế lũ lụt, hạn hán và bổ sung mực nước ngầm cho LVS Ba Chính vì vậy, sự suy giảm diện tích rừng này là một trong những nhân tố làm gia tăng tình trạng hạn hán trên LV
Độ che phủ rừng cũng có chiều hướng giảm nhanh, với độ che phủ rừng 40,26% thì vùng có độ che phủ thấp hơn mức bình quân 41,65% theo Quyết định Công bố hiện trạng rừng năm 2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Sự biến động diện tích rừng do nhiều nguyên nhân, có thể kể đến là: Việc thực hiện các dự án chuyển đổi rừng nghèo, đất lâm nghiệp sang trồng cao su, cà phê, cây ăn quả,… một cách vội vã và thiếu kiểm soát; Việc xây dựng các công trình thủy điện với diện tích mặt hồ lớn (lên tới 16.794 ha) đã nhấn chìm các cánh rừng tự nhiên xuống lòng hồ; Do đồng bào các dân tộc di dân ngoài kế hoạch đã chặt phá, lấn chiếm rừng trái phép, hình thành các khu dân cư, khu sản xuất tự phát; Sự gia tăng nhanh chóng của diện tích rừng trồng đã làm suy giảm rừng tự nhiên cũng như nạn khai thác trái phép rừng vẫn liên tục xảy ra trên địa bàn LVS Rừng bị phá chủ yếu là rừng giàu, nơi có trữ lượng gỗ lớn và nhiều loại có giá trị cao, đi kèm theo đó là việc cấp phép cho các cơ sở chế biến kinh doanh gỗ của các địa phương mà thiếu sự quy hoạch bền vững và kiểm tra chặt chẽ đã góp phần triệt tiêu rừng; Ngoài ra còn
có các nguyên nhân khác như: LVS Ba có mùa khô sâu sắc, kéo dài cho nên hàng năm vẫn xảy ra tình trạng cháy rừng trên diện rộng; giá nông sản và dăm
gỗ tăng cao đã thúc đẩy người dân phá rừng mở rộng diện tích; thiếu kinh phí bảo vệ, quản lí rừng yếu kém của địa phương và các cơ quan, chủ rừng; áp lực
Trang 39gia tăng dân số và nhu cầu đất sản xuất; mở rộng cơ sở hạ tầng; thiếu sự liên kết, thống nhất trong quản lí chung LVS,…
- Vùng khí hậu Tây Trường Sơn: Vùng thuộc các huyện Mang Yang, Đăk Đoa, Chư Sê có chế độ nhiệt tương đối ôn hoà, với mùa mưa ẩm mát mẻ trùng với thời kỳ gió mùa mùa hạ (tháng V đến tháng X)và một mùa khô ít mưa, gây tình trạng thiếu nước nghiêm trọng (tháng XI đến tháng VI năm sau)
- Vùng khí hậu Đông Trường Sơn: Là lưu vực từ thượng nguồn đến An Khê, có khí hậu trái ngược với Tây Trường Sơn Ở đây có mùa mưa ngắn và đến muộn, mùa khô nắng nóng kéo dài do ảnh hưởng của gió mùa mùa hạ, khi vượt qua dãy Trường Sơn đã để lại lượng ẩm ở sườn Tây dãy Trường Sơn Vùng khí hậu này chịu sự tác động mạnh mẽ của nhiễu động thời tiết từ biển Đông và kết hợp với gió mùa Đông Bắc, dẫn đến hàng năm từ tháng IX đến tháng XII khi có các cơn bão muộn từ biển Đông đổ vào đất liền hoặc ảnh hưởng đến khu vực thường có mưa lớn
- Vùng khí hậu trung gian: Vùng từ An Khê đến hết Krông Pa do ảnh hưởng của hai vùng khí hậu Đông và Tây Trường Sơn nên vùng có mùa mưa dài nhưng lượng mưa nhỏ, ngược lại mùa khô thì gay gắt hơn bất cứ nơi nào
a Nhiệt độ
Theo số liệu quan trắc tại các trạm khí tượng trên LVS Ba cho thấy: LVS Ba có nền nhiệt trung bình cao (>220C), nền nhiệt càng tăng dần khi càng xuống khu vực có địa hình thấp thuộc vùng trũng thuộc địa phận các
Trang 40huyện Phú Thiện, Kông Chro, Krông Pa, Ia Pa
Bảng 2.3 Nhiệt độ trung bình tháng và năm lần lƣợt của các trạm An Khê, Ayun Pa
Nguồn [Trạm khí tượng Ayun Pa, An Khê, Pleiku ]
Từ bảng số liệu 2.3 cho thấy về sự chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa tháng nóng nhất và lạnh nhất khoảng 5 - 6oC, trong khi đó biên độ dao động nhiệt độ không khí ngày đêm là đáng kể, đặc biệt vào mùa khô đạt tới trên
10oC Các tháng nóng nhất thường là các tháng IV, V, VI; các tháng lạnh nhất thường là các tháng XII và I Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng IV và tháng
V, nhiệt độ trung bình tháng có thể đạt 240C - 28,00C Tháng có nhiệt độ thấp nhất trên toàn lưu vực là tháng I hàng năm, khoảng 19 - 230C
Qua tính toán, tổng lượng nhiệt năm trung bình (từ 1997 đến 2018) tại trạm An Khê và Ayun Pa lần lượt là: 8714,340C và 9587,980C Khu vực gần thượng lưu (khu vực trạm An Khê) có nền nhiệt trung bình thấp hơn khu vực hạ lưu (khu vực trạm Ayun Pa), qua đó cũng đánh giá được khả năng hạn của vùng
hạ lưu (khu vực trạm Ayun Pa) cao hơn so với vùng gần thượng lưu (khu vực trạm An Khê)
b Lượng mưa
- Về chế độ mưa:
Lượng mưa LVS Ba không cao, phổ biến ở mức dưới 1600mm/năm và
có sự phân hóa rõ theo không gian Vì nằm ở cả hai sườn của dãy Trường Sơn, địa hình chia cắt phức tạp nên chế độ mưa trên các phần lưu vực biến đổi cũng phức tạp Khi vùng núi và cao nguyên thượng lưu lưu vực thuộc Tây Trường Sơn là mùa mưa (VI - IX) thì khu vực trung và hạ lưu lưu vực nằm ở phía Đông Trường Sơn lại đang là các tháng khô hạn của mùa khô; Ngược lại