huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém như: Công tác kế hoạch hóa giáo dục hướng nghiệp, xây dựng đội ngũ nhân lực nòng cốt giáo dục hướng nghiệp cho học sinh,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
HUỲNH VĂN CHƯƠNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN TUY PHƯỚC,
TỈNH BÌNH ĐỊNH
Người hướng dẫn: PGS.TS ĐẬU MINH LONG Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số : 8140114
Trang 2Tôi xin cam đoan
Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục với đề tài:
“Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học
cơ sở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định”
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đậu Minh Long Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tuy Phước, tháng 3 năm 2021
Tác giả
Huỳnh Văn Chương
Trang 3Trong quá trình thực hiện đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục hướng
nghiệp ở các trường trung học cơ sở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định”, tôi
đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của của Ban Giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo, cán bộ nhân viên trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế; của Ban giám hiệu, giáo viên và học sinh các trường THCS huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành về sự giúp đỡ đó
Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đậu Minh Long, người thầy đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Mặc dù tác giả đã rất cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự chỉ dẫn của quý thầy giáo, cô giáo, ý kiến trao đổi của các đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Tuy Phước, tháng 3 năm 2021
Tác giả
Huỳnh Văn Chương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 6
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 8
1.2 Các khái niệm chính của đề tài 11
1.2.1 Khái niệm về hướng nghiệp 11
1.2.2 Khái niệm giáo dục hướng nghiệp 13
1.2.3 Khái niệm hoạt động giáo dục hướng nghiệp 13
1.2.4 Khái niệm quản lý giáo dục 15
1.2.5 Khái niệm quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp 18
Trang 51.3.1 Tầm quan trọng của hoạt động GDHN cho học sinh THCS 19
1.3.2 Mục tiêu hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS 20
1.3.3 Nội dung hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS 20
1.3.4 Hình thức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS 23
1.3.5 Các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học cơ sở 26
1.3.6 Các điều kiện hỗ trợ hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS 27
1.4 Lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học cơ sở 28
1.4.1 Quản lý việc thực hiện mục tiêu hoạt động giáo dục hướng nghiệp 28 1.4.2 Quản lý việc thực hiện nội dung hoạt động giáo dục hướng nghiệp 28 1.4.3 Quản lý việc thực hiện các hình thức hoạt động giáo dục hướng nghiệp 29
1.4.4 Quản lý các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục hướng nghiệp 29 1.4.5 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp 31
1.4.6 Quản lý công tác bồi dưỡng, tập huấn về kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho đội ngũ giáo viên THCS 31
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH 34
2.1 Khái quát về quá trình nghiên cứu thực trạng 34
2.1.1 Mục đích khảo sát 34
2.1.2 Nội dung khảo sát 34
2.1.3 Đối tượng khách thể khảo sát 34
Trang 62.2 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục huyện Tuy Phước, tỉnh
Bình Định 36
2.2.1 Tình hình kinh tế - xã hội của huyện Tuy Phước 36
2.2.2 Khái quát về giáo dục - đào tạo của huyện Tuy Phước 38
2.3 Thực trạng hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học cơ sở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định 41
2.3.1 Nhận thức của CBQL, giáo viên và học sinh về tầm quan trọng của GDHN đối với học sinh THCS 41
2.3.2 Thực trạng mục tiêu hoạt động giáo dục hướng nghiệp 45
2.3.3 Thực trạng nội dung hoạt động giáo dục hướng nghiệp 47
2.3.4 Thực trạng hình thức hoạt động giáo dục hướng nghiệp 47
2.3.5 Thực trạng về các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học cơ sở 49
2.3.6 Thực trạng về các điều kiện hỗ trợ hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường THCS 50
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học cơ sở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định 52
2.4.1 Thực trạng quản lý thực hiện mục tiêu chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học cơ sở huyện Tuy Phước 52
2.4.2 Thực trạng quản lý thực hiện nội dung chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học cơ sở huyện Tuy Phước 54
2.4.3 Thực trạng quản lý thực hiện các hình thức giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học cơ sở huyện Tuy Phước 57
2.4.4 Thực trạng quản lý việc phối hợp các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học cơ sở huyện Tuy Phước tham gia hoạt động GDHN 61
Trang 72.4.6 Thực trạng quản lý việc bồi dưỡng các lực lượng làm công tác
giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học cơ sở huyện Tuy Phước 65
2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hướng đến quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học cơ sở huyện Tuy Phước 67
2.6 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học cơ sở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định 68
2.6.1 Ưu điểm 68
2.6.2 Một số tồn tại 69
2.6.3 Nguyên nhân của thực trạng 70
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 70
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH 72
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 72
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 72
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 73
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 73
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và khoa học 73
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 74
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học cơ sở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định 74
3.2.1 Tổ chức tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên, Các lực lượng tham gia và học sinh về vai trò và tầm quan trọng của hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS 74
3.2.2 Chỉ đạo đa dạng hoá về nội dung và hình thức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS phù hợp với tình hình thực tế 79
Trang 83.2.4 Quản lý các điều kiện hỗ trợ hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho
học sinh THCS 86
3.2.5 Đổi mới kiểm tra, đánh giá hiệu quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS 88
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 91
3.4 Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 91
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 91
3.4.2 Phương pháp khảo nghiệm 92
3.4.3 Các bước khảo nghiệm 92
3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 93
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 100
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 101
1 Kết luận 101
1.1 Về lý luận 101
1.2 Về thực tiễn 101
2 Khuyến nghị 102
2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 102
2.2 Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Định 103
2.3 Đối với Ủy ban nhân dân huyện Tuy Phước 103
2.4 Đối với các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Tuy Phước 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (Bản sao)
Trang 9
TT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 10Bảng 2.1 Nhận thức của CBQL, giáo viên và học sinh về tầm quan trọng
GDHN 41
Bảng 2.2: Mức độ hiểu biết về nghề nghiệp của học sinh 43
Bảng 2.3 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đối với sự lựa chọn nghề của
học Sinh 44
Bảng 2.4 Đối tượng định hướng, giúp đỡ học sinh lựa chọn nghề 45
Bảng 2.5 Đánh giá về mức độ đạt mục tiêu GDHN tại nhà trường 46
Bảng 2.6 Mức độ thực hiện các nội dung GDHN 47
Bảng 2.7: Thực trạng các hình thức tổ chức hoạt động GDHN 48
Bảng 2.8: Mức độ tham gia GDHN của các lực lượng giáo dục 50
Bảng 2.9 Thực trạng sử dụng CSVC và các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động GDHN 51
Bảng 2.10 Thực trạng về mức độ đạt mục tiêu GDHN tại nhà trường 53
Bảng 2.11 Kết quả khảo sát thực trạng thực hiện các nội dung quản lý GDHN 55
Bảng 2.12: Nội dung hoạt động GDHN lớp 9 ở các trường THCS 58
Bảng 2.13 Thực trạng quản lý việc phối hợp các lực lượng tham gia hoạt động GDHN 61
Bảng 2.14 Công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động GDHN 62
Bảng 2.15 Mức độ thực hiện các cách thức kiểm tra, đánh giá hoạt động
GDHN ở các trường THCS 63
Bảng 2.16 Thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho CBQL và giáo viên về hoạt động GDHN 66
Bảng 2.17 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đối với GDHN 67
Trang 11Bảng 3.2: Mức độ khả thi của các biện pháp hoạt động GDHN tại các
trường THCS trên địa bàn huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định 96
Trang 12Sơ đồ 1.1 Bản chất của hoạt động quản lý 16
Sơ đồ 1.2 Cấu trúc hoạt động quản lý trong nhà trường 18
Sơ đồ 1.3 Vai trò của hướng nghiệp 19
Sơ đồ 1.4: Mối quan hệ của nội dung hướng nghiệp 22
Sơ đồ 1.5: Tam giác hướng nghiệp (K.K Platonov) 23
Trang 13Biểu đồ 3.1: Mức độ cấp thiết của các biện pháp hoạt động GDHN tại các
trường THCS trên địa bàn huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định 94 Biểu đồ 3.2: Mức độ khả thi của các biện pháp hoạt động GDHN tại các
trường THCS trên địa bàn huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định 97
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghề nghiệp là vấn đề vô cùng quan trọng trong đời sống của mỗi con người Có nghề nghiệp con người mới có cuộc sống ổn định, mới làm cho cuộc sống trở nên có ý nghĩa Chính vì thế mỗi học sinh sau khi tốt nghiệp trung học, phải chọn cho mình một nghề để học phù hợp với năng lực, nguyện vọng, điều kiện của bản thân và nhu cầu nhân lực của xã hội
Nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão Sự phát triển về kinh tế - xã hội đòi hỏi nền giáo dục Việt Nam phải đào tạo ra lớp người lao động làm chủ được khoa học, công nghệ hiện đại Nghị quyết TW8 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo chỉ rõ: “Đẩy mạnh phân luồng sau trung học cơ sở, định hướng nghề nghiệp ở trung học cơ sở”, “đảm bảo cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng phân luồng mạnh sau trung học cơ sở, trung học cơ sở phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng” Hướng nghiệp trong giáo dục đóng vai trò quan trọng trong quá trình đạt được mục tiêu đó
Nghề nghiệp là phương tiện để đảm bảo cuộc sống vật chất và tinh thần của con người Để thành công trong công việc, con người cần lựa chọn cho mình một nghề phù hợp Đối với thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước, thì việc chọn nghề phù hợp lại càng quan trọng Khi được định hướng đúng đắn về nghề, con người sẽ vững tâm với nghề mà mình lựa chọn, có thái
độ chủ động, tích cực học tập, rèn luyện để có thể làm tốt lĩnh vực nghề nghiệp trong tương lai Nếu chọn được nghề phù hợp, con người càng có nhiều cơ hội thành đạt sau này Nói cách khác, giáo dục hướng nghiệp giúp
Trang 15thanh thiếu niên chọn nghề có cơ sở, giúp các em có nhận thức đúng đắn hơn
về nghề nghiệp để lựa chọn nghề phù hợp với khả năng, sở trường và nhu cầu của xã hội
Từ thực tiễn giáo dục hiện nay cũng như từ thực tế công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại các trường trung học cơ sở, việc tìm hiểu, nghiên cứu và khảo sát thực trạng hoạt động hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại các trường trung học cơ sở làm cơ sở để đề xuất và khảo nghiệm đưa ra một số biện pháp khoa học, có tính khả thi nhằm góp phần làm thay đổi diện mạo trong quá trình quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp là cần thiết
Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Quản lý hoạt động
giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học cơ sở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định” làm luận văn tốt nghiệp cao học, chuyên ngành Quản lý giáo dục
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại các trường trung học cơ sở
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học cơ sở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định
4 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học cơ sở
Trang 16huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém như: Công tác kế hoạch hóa giáo dục hướng nghiệp, xây dựng đội ngũ nhân lực nòng cốt giáo dục hướng nghiệp cho học sinh, nhiều yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp của hiệu trưởng trường trung học cơ sở như: nhận thức của hiệu trưởng về vị trí, vai trò
và tầm quan trọng của hoạt động giáo dục hướng nghiệp chưa đầy đủ; năng lực của lực lượng dưới quyền tham gia hoạt động giáo dục hướng nghiệp… còn nhiều hạn chế Nếu khảo sát và đánh giá chính xác thực trạng công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học cơ sở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định thì sẽ có biện pháp tác động hiệu quả và phù hợp góp phần nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục hướng nghiệp
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp
ở các trường trung học cơ sở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định
5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học cơ sở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Phạm vi về địa bàn khảo sát
Luận văn khảo sát thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở 5 trường trung học cơ sở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định
Trang 176.3 Phạm vi về thời gian khảo sát
Thời gian khảo sát: Từ năm học 2018 - 2019 đến năm học 2019 - 2020
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu, văn bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luận của
đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra
Sử dụng hệ thống câu hỏi trong các phiếu điều tra theo những nội dung xác định để thu thập thông tin cần thiết cho việc khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học cơ sở
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Là hình thức điều tra cá nhân - cá nhân, sử dụng câu hỏi miệng trực tiếp
để thu thập thông tin làm sáng tỏ cơ sở thực tiễn của luận văn
7.2.3 Phương pháp quan sát
Là phương pháp thu nhận thông tin về đối tượng nghiên cứu bằng tri giác trực tiếp đối tượng và các nhân tố khác có liên quan để thu thập thông tin, so sánh, đối chiếu kết quả nghiên cứu của đề tài
7.2.4 Phương pháp chuyên gia
Là phương pháp lấy ý kiến chuyên gia nhằm thu thập những thông tin đáng tin cậy từ những chuyên gia, những nhà nghiên cứu giáo dục và thực hiện công tác giáo dục hướng nghiệp
7.3 Nhóm phương pháp bổ trợ khác
Phương pháp thống kê toán học và phương pháp so sánh để xử lý các
số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu
Trang 188 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và mục lục, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
ở các trường trung học cơ sở
Chương 2: Thực trạng hoạt động quản lý hoạt động giáo dục hướng
nghiệp ở các trường trung học cơ sở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các
trường trung học cơ sở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Hướng nghiệp trong giáo dục với bản chất là hệ thống các biện pháp tiến hành trong và ngoài nhà trường để giúp học sinh phổ thông có kiến thức
về nghề nghiệp và có khả năng lựa chọn nghề nghiệp trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội, đóng vai trò quan trọng trong quá trình đổi mới nhằm đạt được mục tiêu đó
Ở lĩnh vực nghề nghiệp, việc chọn nghề đã được nhiều nhà khoa học ở các nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu nhằm giúp cho thanh thiếu niên, học sinh có sự lựa chọn nghề phù hợp với năng lực, thể lực, trí tuệ, hứng thú
cá nhân và yêu cầu kinh tế của đất nước
Vào giữa thế kỷ XIX, ở Pháp xuất hiện cuốn sách “Hướng nghiệp chọn nghề” Nội dung cuốn sách đề cập tới vấn đề phát triển đa dạng của nghề do
sự phát triển công nghiệp Ngay khi đó, người ta đã nhận thấy tính đa dạng, phức tạp của hệ thống nghề nghiệp, tính chuyên môn hóa vượt hơn hẳn so với giai đoạn sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp, qua đó khẳng định tính cấp thiết phải giúp đỡ thanh thiếu niên học sinh bước vào thế giới nghề nghiệp[4] Đến năm 1975, nước Pháp tiến hành cải cách giáo dục theo hướng: Tăng cường giáo dục tự nhiên và toán học, trong đó tăng kiến thức thực hành đối với khoa học tự nhiên, đưa giáo dục kỹ thuật vào giảng dạy, đảm bảo sự liên hệ giữa trường học và đời sống, giảm bớt tính hàn lâm trong việc cung cấp kiến thức khoa học, tăng cường tỷ trọng kiến thức có ý nghĩa ứng dụng và hướng nghiệp để giúp học sinh trung học chuẩn bị bước vào quá trình đào tạo
Trang 20và định hướng nghề nghiệp
Ở Đức, quản lý GDHN ở trường trung học được nhiều tác giả quan tâm: Các nhà nghiên cứu của Tổ chức nghiên cứu về lao động kỹ thuật và kinh tế trong hoạt động dạy học với các công trình nghiên cứu về vấn đề cải cách nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học lao động nghề nghiệp; Các công trình nghiên cứu của các tác giả ở viện Hàn lâm Khoa học giáo dục-Cộng hoà Dân chủ Đức như Heinz Frankiewicr, B.Gerner, D.Marschneider đã nêu lên sự phối hợp chặt chẽ giữa trung tâm Giáo dục kỹ thuật với nhà trường phổ thông
Năm 1883, ở Mỹ, nhà tâm lý học Ph.Ganton đã trình bày công trình thử nghiệm với mục đích lựa chọn nghề nghiệp Vào đầu thế kỷ XX ở Mỹ, Anh, Pháp, Thụy Điển đã xuất hiện các cơ sở dịch vụ hướng nghiệp, tư vấn cho thanh niên ở đó chọn được nghề thích hợp với khả năng của bản thân và các nghề đang có nhu cầu tuyển dụng trong xã hội
Ở Liên bang Nga, hướng nghiệp được thực hiện nhằm mục tiêu đảm bảo quyền tự chọn nghề của học sinh, giúp các em tự thể hiện nhân cách trong mối quan hệ với thị trường, tôn trọng hứng thú nghề nghiệp của con người, chỉ rõ nhu cầu của thị trường lao động, không ngừng nâng cao trình độ thạo nghề của cá nhân như là điều kiện quan trọng nhất để thỏa nguyện yêu cầu phát triển của con người trong lao động
Tại Hàn Quốc, trong các loại hình trường phổ thông, nội dung giảng dạy kỹ thuật - lao động là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chương trình giáo dục Hết cấp II học sinh sẽ đi theo hai luồng chính đó là: phổ thông
và chuyên nghiệp Các trường kỹ thuật nghề nghiệp tuyển sinh trước rồi mới chọn học sinh theo luồng phổ thông
Tại Thái Lan, ngay từ Tiểu học đã trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản, kỹ năng tối thiểu của một số công việc nội trợ, nông nghiệp và nghề thủ công Sang cấp II, đẩy mạnh công tác GDHN gắn với nghề phù hợp
Trang 21với lứa tuổi, sở thích, nhu cầu của mỗi học sinh, đây là bước tiền đề cho học sinh bước vào cấp III Giáo dục nghề nghiệp gắn liền với hướng nghiệp nhằm cung cấp cho học sinh những kỹ năng về nghề cần thiết
Tại Philippin, một trong những mục tiêu giáo dục phổ thông là đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cần thiết để lựa chọn nghề Chính vì thế, học sinh được trang bị kiến thức về nghề từ khi học THCS Học sinh phải có kiến thức,
kỹ năng, thông tin về nghề nghiệp mà mình chọn, có thái độ làm việc tích cực[5]
Các công trình khoa học của các tác giả một số nước trên thế giới về GDHN trong trường phổ thông đều chú trọng đến việc cải cách mục tiêu, nội dung, phương pháp, CSVC phục vụ công tác hướng nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác hướng nghiệp trong nhà trường và làm tốt công tác phân luồng học sinh sau các cấp học
Như vậy, có thể thấy rằng GDHN giữ một vai trò rất quan trọng trong
hệ thống giáo dục quốc dân của các nước khác nhau trên thế giới Trong hệ thống giáo dục quốc dân của nhiều nước, các thiết chế GDHN đã được xây dựng ở các cấp giáo dục như THCS, THPT, THCN, CĐ và ĐH Để triển khai các mô hình hướng nghiệp tích hợp trong hệ thống giáo dục quốc dân, chính phủ nhiều nước đã có chính sách đồng bộ để duy trì, củng cố các chức năng của giáo dục hướng nghiệp
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ở nước ta còn mới mẻ cả về lý thuyết và trong hoạt động lẫn thực tiễn
so với các nước trên thế giới về GDHN Từ cuối những năm 70 của thế kỷ
XX, các công trình khoa học của nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học, xã hội học đã tiếp cận nghiên cứu về GDHN cho học sinh phổ thông ở những khía cạnh khác nhau
Từ năm 1979 đến năm 1981 Viện khoa học dạy nghề và tổng cục dạy nghề (nay là Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp) đã tiến hành nghiên cứu nhiều
Trang 22công trình hướng nghiệp Giai đoạn 1982-1986 đã có các đề tài nghiên cứu,
mô tả nghề, điển hình như các tác giả Đặng Danh Ánh, Phạm Đức Quang, Nguyễn Viết Sự thực hiện Nhìn chung những công trình nghiên cứu này chỉ tập trung đề cập đến việc xây dựng phòng hướng nghiệp, tư vấn nghề tại các trường [9]
Trong những năm 1983-1996, GDHN nước ta đã có những thay đổi và đạt được một số thành tựu quan trọng đáng chú ý GDHN phát triển ở hầu hết các trường phổ thông, nhiều trường đã trang bị phòng hướng nghiệp, góc hướng nghiệp Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đã có giai đoạn chúng ta chưa chú trọng GDHN, dạy nghề nên dẫn đến tình trạng thừa thiếu, thừa thầy, thiếu thợ, ảnh hưởng đến nguồn nhân lực phục vụ yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Từ Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) đến Đại hội Đảng lần thứ XI (2011), Đảng ta luôn nhấn mạnh đến việc tăng cường công tác hướng nghiệp, đẩy mạnh hướng nghiệp dạy nghề [29] Ngay từ năm
2002, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho xây dựng chương trình GDHN và viết sách GDHN cho học sinh từ lớp 9 đến lớp 12 để thực hiện chủ trương của Đảng về công tác hướng nghiệp
Năm 2002, tại Hà Nội đã tổ chức hội thảo: “Giáo dục phổ thông và Hướng nghiệp - Nền tảng để phát triển nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [26] Có 20 báo cáo, tham luận khoa học tại hội thảo Các bài tham luận thật sự là những nghiên cứu tìm tòi, đúc rút, tổng kết
có giá trị về lí luận và thực tiễn của giáo dục phổ thông và hướng nghiệp Đồng thời cũng chỉ ra các giải pháp nhằm làm cho GDHN và giáo dục phổ thông phục vụ tốt cho việc chuẩn bị nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH - HĐH và hội nhập quốc tế
Ngày 11/01/2005, Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Viện nghiên cứu Quốc gia về lao động và hướng nghiệp - Cộng hòa Pháp
đã tổ chức hội thảo khoa học quốc tế về GDHN với chủ đề: “Đối thoại Pháp-
Trang 23Á về các vấn đề và hướng đi cho giáo dục hướng nghiệp tại Việt Nam” [25] Trong hội thảo, nhiều tham luận của các nhà khoa học trong và ngoài nước đã trình bày sâu các nội dung, hướng đi cấp thiết để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ GDHN của nhà nước Trong đó, tham luận của tác giả Trần Văn Nhung về Định hướng và nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp cho hệ thống giáo dục quốc dân tại Việt Nam đã khẳng định: “Hướng nghiệp nói chung và hướng nghiệp trong hệ thống giáo dục quốc dân nói riêng từ lâu và từ rất sớm đã là một trong những quan tâm và ưu tiên hàng đầu trong hệ thống các chính sách và công cụ quản lý giáo dục mang tính chiến lược mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đặt ra trong nhiều văn kiện, quy phạm pháp luật quan trọng liên quan đến giáo dục mà còn về việc hậu thuẫn, thúc đẩy các quy hoạch và chiến lược phát triển giáo dục, xử lý mọi quan hệ cung - cầu trên thị trường đào tạo và sự tương tác giữa các hệ thống giáo dục, đào tạo và việc làm”
Trong các văn kiện và hệ thống các văn bản pháp quy ấy, có thể kể đến Quyết định số 126/CP ngày 19/3/1981 của Chính phủ về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh các cấp phổ thông cơ sở và phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường, Luật Giáo dục năm
1998, 2005, Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Giáo dục năm 2009, Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Nghị quyết 40/2000/NQ-QH10 của Quốc hội về đổi mới Chương trình giáo dục phổ thông, Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2001-2010 (ban hành theo Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg ngày 28/12/2001), Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2011-2020 (ban hành theo Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/06/2012), Chỉ thị 33/2003/CT-BGDĐT ngày 23/07/2003 về việc tăng cường giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
Trang 24hội nhập quốc tế, Quyết định 522/QĐ-TTg ngày 14/05/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018-2025
Kế thừa những nghiên cứu lý luận này đã có một số luận văn thạc sỹ nghiên cứu về GDHN của các tác giả như: Trần Thu Thủy (2018): Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông tại Thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long - Luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục, Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh; Lê Thị Thu Trà (2016): Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Hà Nội - Luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam; Đặng Văn Bình (2016): Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp - Dạy nghề Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương - Luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục, Học viện quản lý giáo dục
1.2 Các khái niệm chính của đề tài
1.2.1 Khái niệm về hướng nghiệp
Hướng nghiệp trong giáo dục là hệ thống các biện pháp tiến hành trong
và ngoài nhà trường để giúp học sinh có kiến thức về nghề nghiệp và có khả năng lựa chọn nghề nghiệp trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội (Điều 3 - Nghị định số 75/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Giáo dục)
Theo các nhà kinh tế học, “Hướng nghiệp” có thể được hiểu là hệ thống những biện pháp dẫn dắt, tổ chức thanh thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp nhằm sử dụng hợp lý tiềm năng lao động tuổi trẻ của đất nước Hướng nghiệp góp phần tích cực vào quá trình phấn đấu, nâng cao năng suất lao động
xã hội
Theo Phạm Tất Dong thì hướng nghiệp như là một hệ thống tác động
Trang 25của xã hội về giáo dục, về y học, kinh tế học nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân [12] Theo các nhà giáo dục học “Hướng nghiệp” vừa là hoạt động của giáo viên, vừa là hoạt động của học sinh và kết quả cuối cùng của quá trình hướng nghiệp là sự tự quyết định của học sinh trong việc chọn lựa nghề nghiệp tương lai
Như vậy có thể thấy, với các tiêu chí khác nhau, ở góc độ chuyên môn khác nhau chúng ta có nhiều định nghĩa khác nhau cho khái niệm “Hướng nghiệp” Qua những định nghĩa đó chúng tôi nhận thấy rằng:
Hướng nghiệp là các hoạt động nhằm hỗ trợ mọi cá nhân chọn lựa và phát triển chuyên môn nghề nghiệp phù hợp nhất với khả năng của cá nhân, đồng thời thỏa mãn nhu cầu nhân lực cho tất cả các lĩnh vực nghề nghiệp (thị trường lao động) ở cấp độ địa phương và quốc gia
Hướng nghiệp là hoạt động đòi hỏi toàn xã hội có trách nhiệm tham gia Thế hệ trẻ cần được hướng nghiệp liên tục bằng nhiều con đường, nhiều cách thức khác nhau Cần để cho các em lựa chọn nghề nghiệp theo đúng năng lực, sở thích của các em nhưng cũng cần giúp các em hiểu rõ nhu cầu nhân lực mà xã hội đặt ra và trách nhiệm của các em với xã hội
Hướng nghiệp là một hệ thống biện pháp tác động của gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn
và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động ở các ngành nghề tại những nơi xã hội đang cần phát triển, đồng thời phù hợp với hứng thú, năng
lực cá nhân
Hướng nghiệp: Theo Từ điển tiếng Việt, “Hướng nghiệp” được giải
thích là “thi hành những biện pháp nhằm đảm bảo sự phân bố tối ưu (có chú ý tới năng kiếu, năng lực, thể lực) nhân dân theo ngành và loại lao động” hoặc được hiểu là “giúp đỡ lựa chọn hợp lý ngành nghề”.[34]
Trang 261.2.2 Khái niệm giáo dục hướng nghiệp
Giáo dục hướng nghiệp: Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm
“giáo dục hướng nghiệp” Theo Phạm Viết Vượng, GDHN là hoạt động định
hướng nghề nghiệp của các nhà sư phạm cho học sinh, nhằm giúp họ chọn một nghề phù hợp với hứng thú, năng lực của cá nhân và yêu cầu nhân lực của xã hội Định hướng nghề nghiệp phải dựa trên hai yếu tố: “thị trường lao
động” và “các nghề và yêu cầu của chúng” Định hướng nghề nghiệp gồm giáo dục nghề nghiệp và tuyên truyền nghề nghiệp
Giáo dục nghề nghiệp giúp học sinh làm quen với một số nghề cơ bản, phổ biến của địa phương và xã hội, đồng thời tìm hiểu xu thế phát triển các ngành nghề cùng với những yêu cầu tâm sinh lý do ngành nghề đó đặt ra Giáo dục nghề nghiệp tạo điều kiện ban đầu để học sinh phát triển năng lực tương ứng với hứng thú nghề nghiệp đã hình thành, giáo dục thái độ đúng đắn, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc trong dự định chọn nghề của học sinh
Còn tuyên truyền nghề nghiệp làm cho học sinh chú ý đến những nghề đang phát triển có nhu cầu cấp thiết về nhân lực, giới thiệu các gương mặt thành đạt trong nghề nghiệp, sáng tạo trong lao động sản xuất, qua đó điều chỉnh hứng thú, động cơ chọn nghề của học sinh
Tư vấn nghề phải dựa trên hai yếu tố là “các nghề và yêu cầu của chúng” và “phẩm chất, năng lực, hoàn cảnh cá nhân” Ở trường THCS, GDHN là hình thức hoạt động của thầy và trò, có mục đích giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ
sở phân tích có khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội
1.2.3 Khái niệm hoạt động giáo dục hướng nghiệp
Hoạt động giáo dục hướng nghiệp được chính thức đưa đưa vào kế hoạch dạy học của các trường THCS và THPT với tư cách là một hoạt động giáo dục, có chương trình dạy học, bao gồm mục tiêu, nội dung, chuẩn kiến
Trang 27thức, kĩ năng và thái độ cho từng chủ đề hướng nghiệp của từng khối, lớp Trước năm học 2009-2010, thời lượng dành cho hoạt động GDHN ở lớp 9 là
36 tiết/năm học (4 tiết/tháng); ở lớp 10, lớp 11, lớp 12 là 27 tiết/năm học/lớp (3 tiết/tháng/lớp) Nhưng từ năm học 2009-2010 trở đi, thời lượng dành cho hoạt động GDHN rút xuống còn 9 tiết/năm học/lớp do có sự tích hợp một số chủ đề hướng nghiệp vào HĐNGLL và môn Công nghệ lớp 10
Lý luận về GDHN trong nhà trường phổ thông đã được nghiên cứu tương đối cơ bản và hệ thống
Hoyt (1987) cho rằng: GDHN là một quá trình giúp học sinh đạt được các kiến thức về nghề, biết sử dụng kiến thức, kỹ năng, và thái độ cần thiết trong quá trình làm việc, trong quá trình sản xuất và hài lòng với các hoạt động khác trong cuộc sống.[36]
Tác giả Đặng Danh Ánh: “GDHN là một hoạt động của các tập thể sư
phạm, của các cán bộ thuộc các cơ quan nhà máy khác nhau, được tiến hành với mục đích giúp học sinh chọn nghề đúng đắn phù hợp với năng lực, thể lực
và tâm lý của cá nhân với nhu cầu nhân lực xã hội Hướng nghiệp là một bộ phận cấu thành của quá trình giáo dục - học tập trong nhà trường” [8, tr.121]
Tác giả Phạm Viết Vượng định nghĩa: “GDHN là hoạt động định
hướng nghề nghiệp của các nhà sư phạm cho học sinh, nhằm giúp họ chọn một nghề phù hợp với hứng thú, năng lực của cá nhân và yêu cầu nhân lực của xã hội”[14, tr.30]
Trong cơ sở giáo dục phổ thông, hoạt động GDHN là một hệ thống các tác động của các lực lượng giáo dục, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo, nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động theo những định hướng nhất định, giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội
về khả năng đóng góp của mỗi người vào cuộc sống lao động sản xuất, đem lại lợi ích cho mỗi cá nhân và toàn xã hội Với đặc điểm của chương trình là phổ thông, cơ bản, GDHN cũng bao gồm hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò
Trang 28GDHN được coi như là công việc của toàn thể giáo viên, tập thể sư phạm trong nhà trường nhằm mục đích giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội Như vậy, GDHN trong nhà trường phổ thông được thể hiện như một hệ thống tác động sư phạm nhằm làm cho học sinh chọn được nghề một cách phù hợp Khi xem xét GDHN là một trong những nội dung của hoạt động giáo dục, thông qua hoạt động hướng nghiệp mỗi học sinh lĩnh hội được những thông tin về nghề nghiệp trong xã hội, đặc biệt là nghề nghiệp ở địa phương, nắm được hệ thống yêu cầu của từng nghề cụ thể
mà mình muốn chọn, có kỹ năng tự đối chiếu những đặc điểm tâm - sinh lý của bản thân với hệ thống yêu cầu của nghề đang đặt ra cho người lao động
Trên cơ sở các quan niệm trên, theo chúng tôi: GDHN là một tổ hợp
các hoạt động của nhà trường, gia đình và xã hội trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo trong việc cung cấp tri thức, hình thành kỹ năng chọn nghề cho học sinh trên cơ sở đó học sinh lựa chọn nghề phù hợp với năng lực, tính cách, sở thích, giá trị của bản thân, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của gia đình và phù hợp với nhu cầu của xã hội
1.2.4 Khái niệm quản lý giáo dục
Theo sơ đồ phân loại khoa học của B.M Kêdrop thì quản lý giáo dục thuộc ngành khoa học xã hội Do mỗi phương thức xã hội đều có một cách quản lý khác nhau, cho nên khái niệm quản lý giáo dục đã ra đời và hình thành từ nhiều quan niệm khác nhau [17]
Ở các nước tư bản, do vận dụng lý luận quản lý xí nghiệp vào quản lý
cơ sở giáo dục và coi quản lý giáo dục như quản lý một loại “xí nghiệp đặc biệt” Đối với các nước Xã hội chủ nghĩa, do vận dụng quản lý xã hội vào quản lý giáo dục nên quản lý giáo dục thường được xếp trong lĩnh vực quản
lý văn hóa tư tưởng Như vậy, quản lý giáo dục được coi là bộ phận nằm
Trang 29trong lĩnh vực quản lý văn hoá tinh thần
Ở Việt Nam, quản lý giáo dục cũng là một lĩnh vực đƣợc đặc biệt quan tâm Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khoá
VIII đã nêu: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý
tới khách thể quản lý nhằm đưa ra hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất”[32]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, “Quản lý giáo dục thực chất là tác
động đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học, giáo dục thể chất theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất trường THCS xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới”[9]
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Quản lý giáo dục là quá trình thực
hiện có định hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục đã đề ra” [11, tr.15]
Qua các quan điểm trên cho thấy, thực chất của quản lý giáo dục là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến hoạt động của tập thể giáo viên và hoạt động của học sinh nhằm đạt đƣợc hiệu quả cao nhất trong công việc, đƣợc thể hiện ở sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Bản chất của hoạt động quản lý
Trang 30Tùy theo việc xác định đối tượng quản lý giáo dục mà QLGD có nhiều cấp độ khác nhau:
Đối với cấp vĩ mô:
Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất
cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành Giáo dục [16]
Đối với cấp vi mô:
Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản
lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, CMHS và các lực lượng xã hội trong và ngoài trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường [18]
Mục tiêu của quản lý giáo dục chính là trạng thái mong muốn trong tương lai đối với hệ thống giáo dục trong mỗi nhà trường Mục tiêu này gồm: Đảm bảo quyền học sinh vào các ngành học, các cấp học, các lớp học đúng chỉ tiêu và tiêu chuẩn; đảm bảo chỉ tiêu và chất lượng đạt hiệu quả đào tạo, phát triển tập thể sư phạm đồng bộ, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
và đời sống vật chất; xây dựng và hoàn thiện các tổ chức chính quyền, Đảng, đoàn thể, quần chúng để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục và đào tạo
Đối tượng của quản lý giáo dục là hoạt động của cán bộ, giáo viên, học sinh và tổ chức sư phạm của nhà trường trong việc thực hiện kế hoạch và chương trình giáo dục và đào tạo nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã quy định với chất lượng cao
Trang 31Sơ đồ 1.2 Cấu trúc hoạt động quản lý trong nhà trường
1.2.5 Khái niệm quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp: Theo F.Taylor thì quản lý
là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất, rẻ nhất Qua đó, có thể
hiểu rằng quản lý hoạt động GDHN là quá trình tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong hoạt động GDHN
nhằm đạt được mục tiêu đề ra [3]
Biện pháp quản lý hoạt động GDHN: Theo Từ điển tiếng Việt, biện
pháp được hiểu là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể [35] Từ khái
niệm trên, có thể hiểu biện pháp quản lý hoạt động GDHN là cách mà người
quản lý tổ chức thực hiện, điều hành các hoạt động quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra của hoạt động GDHN
Trang 321.3 Cơ sở lý luận về hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học cơ sở
1.3.1 Tầm quan trọng của hoạt động GDHN cho học sinh THCS
Công tác hướng nghiệp cho thế hệ trẻ có tầm quan trọng đặc biệt không chỉ cho tương lai các em mà còn tác động đến gia đình và xã hội, thể hiện như sau:
Sơ đồ 1.3 Vai trò của hướng nghiệp
Tuy nhiên trong thực tế hiện nay có một vấn đề nổi cộm dễ nhận thấy,
đó là hầu hết các gia đình có con đi học, sau khi tốt nghiệp THCS đều mong muốn con thi vào lớp 10 THPT, sau đó vào học đại học ngay cả khi khả năng học tập của các em còn chưa tốt Rất nhiều em thi vào các ngành nghề “thời thượng” đang được đánh giá cao trong khi hiểu biết về đầu ra của thị trường lao động hầu như không có, khả năng của bản thân lại không phù hợp với ngành nghề đã chọn Hậu quả là nhiều em rất khó kiếm được việc làm sau khi tốt nghiệp đại học, nhiều em phải xin làm những công việc trái ngành trái nghề hoặc không cần phải có trình độ đại học
Từ những phân tích trên cho thấy, vấn đề cấp thiết được đặt ra lúc này
là làm thế nào để nâng cao nhận thức của mọi người đối với công tác hướng nghiệp, huy động được nhiều lực lượng xã hội, đặc biệt là cha mẹ học sinh
Hướng nghiệp
Xây dựng hạnh phúc gia đình
Xã hội:
Phân luồng hợp lý HS phổ thông sau khi tốt nghiệp
Cung cấp nguồn nhân lực chất lượng và phù hợp
Trang 33tham gia hướng nghiệp một cách tích cực, đúng hướng và hiệu quả
1.3.2 Mục tiêu hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS
Mục tiêu chung của GDHN là hình thành năng lực tự chủ trong việc lựa chọn nghề của học sinh trên cơ sở của sự phù hợp giữa năng lực, hứng thú, sở thích cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động trong các hoạt động đa dạng của đời sống xã hội Thực hiện được mục tiêu nêu trên, GDHN sẽ góp phần nâng cao hiệu quả lao động xã hội, điều chỉnh từ gốc sự phân luồng lao động dự trữ trên bình diện cả nước
Đối với trường THCS, mục tiêu của GDHN là giúp cho học sinh có được ý thức là chủ thể trong sự lựa chọn nghề, có định hướng đúng khi chọn nghề dựa trên cở sở hiểu biết khoa học về nghề nghiệp, về nhu cầu thị trường lao động xã hội và năng lực, sở trường của bản thân
1.3.3 Nội dung hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS
Theo tác giả Phạm Tất Dong thì GDHN trong nhà trường THCS gồm 3 nội dung chủ yếu là định hướng nghề, tư vấn nghề và tuyển chọn nghề
Giúp học sinh có thái độ đúng đắn đối với nghề nghiệp, từng bước xoá
bỏ những quan niệm sai về nghề nghiệp trong xã hội
Giáo dục học sinh tự giác lao động nhằm tự đánh giá và kiểm nghiệm hứng thú của bản thân đối với một dạng lao động nhất định
Trang 34- Tư vấn nghề
Theo K.Kplatonov, tư vấn nghề là hệ thống những biện pháp tâm lý giáo dục và y học và những hình thức tác động đa dạng khác nhằm phát hiện, đánh giá, khám phá những phẩm chất, năng lực thể chất và tinh thần của thanh thiếu niên, đối chiếu những yêu cầu do nghề đặt ra đối với người lao động, cân nhắc nhu cầu lao động của các thành phần kinh tế, nhằm xác định nhóm nghề phù hợp
Theo từ điển Tâm lý học, tư vấn nghề được hiểu là “hoạt động tư vấn
giúp các cá nhân, đặc biệt là những thanh niên trong quá trình định hướng, tìm chọn cũng như thay đổi nghề”[36]
Tư vấn nghề được hiểu như tổ hợp nhiều hoạt động, bằng những tác động của nhà tư vấn, làm bộc lộ ở cá nhân người được tư vấn những đặc điểm, phẩm chất, nhân cách, tâm lý cá nhân Trên cơ sở đó nhà tư vấn đối chiếu với những yêu cầu, đòi hỏi và nhu cầu nghề nghiệp, cho học sinh những lời khuyên chọn nghề có căn cứ khoa học, loại bỏ những trường hợp may rủi, thiếu chín chắn khi chọn nghề Theo P.A Savin thì tư vấn nghề thực hiện chức năng liên kết, giúp học sinh đối chiếu hứng thú, sở thích và khả năng của bản thân với nhu cầu của nền kinh tế
Tư vấn chuyên sâu: Tư vấn chuyên sâu được tiến hành trên cơ sở khoa học, đảm bảo độ chính xác cao nhờ vào các máy móc hiện đại Điều kiện để
có thể thực hiện tư vấn chuyên sâu đòi hỏi phải có chuyên gia tư vấn được đào tạo căn bản như các nhà tâm lý học, giáo dục học, bác sỹ…
Trang 35- Tuyển chọn nghề
Tuyển chọn nghề là quá trình đánh giá sự phù hợp ban đầu về phẩm chất, năng lực cá nhân đối với những yêu cầu do nghề đặt ra Tuyển chọn nghề xuất phát từ đặc điểm, yêu cầu của nghề để tuyển người phù hợp vào học hay làm việc
Trong trường THCS, GDHN chủ yếu là định hướng nghề và một phần
tư vấn nghề Việc tuyển chọn nghề không thuộc chức năng của trường THCS nhưng có liên quan đến công việc định hướng, tư vấn nghề nghiệp Tuyển chọn nghề và thích ứng nghề được tiến hành thông qua quá trình người lao động tham gia làm việc tại các cơ quan, xí nghiệp, nhà máy… Thông qua đó, người lao động có cơ sở, có kinh nghiệm và có thể tự quyết định nghề nghiệp tương lai của mình
Sơ đồ 1.4: Mối quan hệ của nội dung hướng nghiệp
Ba nội dung hướng nghiệp trên có mối liên hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ lẫn nhau Trong trường THCS thường tiến hành định hướng nghề nghiệp
và tư vấn nghề nghiệp, đồng thời góp phần cho việc tuyển chọn nghề, trong
đó tư vấn nghề là cầu nối giữa hai nội dung còn lại
Từ các nội dung định hướng nghề, tư vấn nghề và tuyển chọn nghề thông qua các yêu cầu cần đạt được trong quá trình tư vấn hướng nghiệp tạo thành 6 thành tố trong nội dung hướng nghiệp được biểu diễn bằng sơ đồ sau đây của Platonov:
Định hướng nghề
Tư vấn
nghề
Tuyển chọn nghề
Trang 36Sơ đồ 1.5: Tam giác hướng nghiệp (K.K Platonov)
Theo sơ đồ Tam giác hướng nghiệp như trên, mỗi hoạt động GDHN
thuộc các góc của tam giác hướng nghiệp dựa trên hai yếu tố cơ bản tương
ứng với các cạnh giao thoa tạo nên góc đó
Như vậy, định hướng nghề nghiệp phải dựa trên hai yếu tố là thị trường
lao động với các nghề và yêu cầu của chúng Định hướng nghề nghiệp là cung
cấp thông tin cho học sinh về yêu cầu của nghề, đặc điểm của nghề và nhu
cầu nhân lực của xã hội Định hướng nghề bao gồm giáo dục nghề nghiệp và
tuyên truyền nghề nghiệp Giáo dục nghề nghiệp giúp học sinh làm quen với
một số nghề cơ bản, phổ biến; đồng thời tìm hiểu xu thế phát triển của các
ngành nghề cùng với yêu cầu do nghề đặt ra Với cách hiểu như vậy, giáo dục
nghề nghiệp cung cấp điều kiện ban đầu để học sinh phát triển năng lực, hình
thành hứng thú nghề nghiệp, có thái độ đúng đắn trong lựa chọn ngành nghề
Tư vấn nghề dựa trên hai yếu tố là các nghề và yêu cầu của nghề và
phẩm chất, năng lực, hoàn cảnh cá nhân Mục đích của tư vấn nghề ở trường
THCS là giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp các em tự đưa ra quyết
định lựa chọn nghề nghiệp tương lai của bản thân trên cơ sở phân tích năng
lực, sở trường, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của xã hội
1.3.4 Hình thức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS
- Hướng nghiệp qua các môn học và hướng nghiệp qua dạy môn công
nghệ, dạy nghề phổ thông và hoạt động lao động sản xuất
GDHN qua các môn học có tác dụng góp phần nâng cao chất lượng học
Trang 37tập, lôi cuốn thế hệ trẻ bước vào thế giới nghề nghiệp nhằm tìm hiểu và dự kiến của bản thân nghề nghiệp trong tương lai Môn học nào cũng có khả năng hướng nghiệp cho học sinh, mỗi môn học có vị trí và tầm quan trọng khác nhau, có quan hệ với những ngành, nghề khác nhau do đó tùy thuộc vào từng môn học mà giới thiệu những ngành nghề có liên quan đến môn học đó Đây là việc làm khó khăn nhưng để có kết quả trước hết phải dạy tốt kiến thức cơ bản và tuỳ đặc trưng của từng bộ môn chỉ rõ cho học sinh những kỹ năng tri thức của bộ môn nói chung, từng bài nói riêng và có thể vận dụng như thế nào vào đối tượng lao động, mục đích, công cụ điều kiện lao động của những nghề xác định qua đó giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, tác phong nghề nghiệp cho học sinh
Chương trình môn Công nghệ ở bậc THCS tập trung vào các lĩnh vực Nông - Lâm - Ngư Nghiệp Với tư cách là môn khoa học ứng dụng, bộ môn Công nghệ trở thành chiếc cầu nối giữa kiến thức khoa học với sản xuất, là điều kiện để phát triển cá nhân, phát triển năng lực cấp thiết để học sinh làm tốt một nghề
Khi giảng dạy môn Công nghệ phải gắn nội dung kiến thức với những hoạt động nghề của các ngành sản xuất, tạo điều kiện cho học sinh làm quen, tiếp xúc với những nghề liên quan GDHN qua dạy môn Công nghệ đòi hỏi nhất thiết phải thực hành kỹ thuật, thực tập sản xuất, gắn với lao động sản xuất và dạy nghề phổ thông
Hướng nghiệp cho học sinh phổ thông nhất thiết phải tổ chức lao động, thực hành nghề phổ thông nhằm tạo điều kiện gắn lý luận với thực tiễn Hướng nghiệp qua lao động và dạy nghề trước hết làm cho học sinh hiểu rõ vai trò hoạt động có ý thức của con người trong sự phát triển của xã hội Đồng thời làm cho học sinh hiểu rõ tác dụng to lớn của khoa học kỹ thuật trong việc đấu tranh chinh phục và cải tạo tự nhiên Qua việc dạy nghề phổ thông học sinh có điều kiện hiểu một cách hệ thống về vai trò, nhiệm vụ, tính chất, đặc
Trang 38điểm của nghề, những đòi hỏi của nghề, trên cơ sở đó bồi dưỡng phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, phát triển hứng thú nghề nghiệp Trong thực tế có thể thực hiện:
- Lao động sản xuất theo các nghề dịch vụ
- Lao động sản xuất theo các nghề cơ khí
- Lao động sản xuất theo các nghề tiểu thủ công, thủ công, chú ý tới các nghề truyền thống của địa phương
Trong quá trình tổ chức GDHN chú trọng thực hiện nghiêm túc chương tình quy định, đồng thời nâng cao nhận thức đối với giáo viên dạy môn Công nghệ, dạy nghề phổ thông, động viên tạo điều kiện để giáo viên tiến hành công tác GDHN cho học sinh, chú ý gắn mục tiêu đào tạo với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương
- Hướng nghiệp qua các hoạt động tham quan, ngoại khoá trong và ngoài nhà trường
Hoạt động ngoại khoá rất phong phú, đa dạng và có tính đa mục tiêu cho nên qua hoạt động ngoại khoá chúng ta có thể tiến hành công tác hướng nghiệp ở trong và ngoài nhà trường
Tổ chức cho học sinh xem phim, xem kịch… tận dụng các phương tiện thông tin đại chúng phục vụ GDHN
Tổ chức cho học sinh tham gia các trò chơi hướng nghiệp, giúp các em làm quen dần với hoạt động nghề nghiệp của xã hội
Tổ chức cho học sinh tham quan các CSSX, các trường học nghề
Tổ chức các buổi gặp gỡ, trao đổi về nghề nghiệp với những điển hình, những gương vượt khó nhưng thành đạt trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, học tập
Động viên học sinh tích cực tham gia hoạt động hướng nghiệp của các đoàn thể, của các CSSX, cơ sở nghiên cứu thực nghiệm khoa học và các cơ sở giáo dục ở ngoài nhà trường tổ chức
Trang 39- Hướng nghiệp qua hoạt động giáo dục hướng nghiệp
(Theo thông tư 31-TT ngày 17 tháng 11 năm 1981 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hoạt động GDHN có 4 hình thức: Qua các môn học, qua hoạt động lao động sản xuất, qua giới thiệu các ngành nghề và qua các hoạt động ngoại khóa)
Thông qua hoạt động GDHN sẽ giúp học sinh điều chỉnh động cơ chọn nghề, trên cơ sở đó học sinh định hướng đi vào lĩnh vực sản xuất mà xã hội đang có nhu cầu nhân lực Tổ chức hoạt động GDHN cần tập trung vào các nội dung sau:
- Phương hướng phát triển kinh tế, xã hội
- Thị trường lao động
- Hệ thống đào tạo nghề
- Hiểu biết cấp thiết về một số lĩnh vực lao động nghề nghiệp cụ thể
- Điều kiện làm việc và vệ sinh lao động
- Những phẩm chất do nghề đòi hỏi, những kiêng kị trong nghề
1.3.5 Các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học cơ sở
Đội ngũ hỗ trợ công tác GDHN nhà trường: Ban giám hiệu, GVBM, Đoàn thanh niên Trong đó GVCN là cầu nối giữa nhà trường với gia đình học sinh trong công tác GDHN GVCN đóng vai trò chủ đạo trong quá trình GDHN
Ở trường THCS, đội ngũ trực tiếp tổ chức các nội dung GDHN là GVCN, GVBM và kết hợp với phụ huynh học sinh làm việc ở nhiều ngành nghề khác nhau trong xã hội Trong đó, GVCN giữ vai trò trung tâm trong công tác GDHN tại trường
Các tổ chức xã hội: Ngoài nhà trường và gia đình, hai yếu tố quan trọng
chi phối đến GDHN đó là chính quyền địa phương và các xí nghiệp, CSSX Đối với chính quyền cần có kế hoạch ngắn hạn, dài hạn trong xây nguồn lực,
Trang 40đặc biệt là quan tâm đến công tác đào tạo nghề phục vụ phát triển kinh tế địa phương Đối với các CSSX cần tạo điều kiện cho học sinh tham quan, học tập, tư vấn cho các em chọn nghề phù hợp với năng khiếu của mình
Thực hiện mối liên kết này giúp học sinh có điều kiện mở rộng thông tin
về ngành nghề của xã hội và địa phương, yêu cầu của nghề đối với người lao động, quy trình đào tạo, những điều kiện tham gia lao động Qua đó giúp học sinh hiểu biết các thông tin cần thiết về nghề nghiệp không chỉ về mặt lý thuyết
mà ngay cả thực tiễn nữa Sự liên kết giữa nhà trường và các đơn vị sản xuất là một trong những yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động GDHN trong việc hình thành và phát triển năng khiếu nghề nghiệp của các em
Tóm lại, GDHN là một trong những hoạt động chính của nhà trường nhằm bồi dưỡng và hướng dẫn học sinh lựa chọn nghề nghiệp, nó có ý nghĩa đối với mỗi cá nhân và cả xã hội Trong giai đoạn hiện nay, theo xu hướng phát triển của thế giới, đất nước ta đang cần một lực lượng lớn lao động có trình độ,
kỹ thuật tay nghề cao thì công tác GDHN ở các trường THCS lại càng trở nên
có ý nghĩa thiết thực Công tác GDHN cho học sinh chịu ảnh hưởng của nhiều lực lượng, nhiều tổ chức và được thực hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau, trong đó hoạt động GDHN của nhà trường là hoạt động cơ bản giúp cho học sinh có cơ sở khoa học trong lựa chọn nghề nghiệp Chính vì vậy việc tìm
ra các biện pháp quản lý hoạt động GDHN trong nhà trường THCS là cần thiết nhằm nâng cao chất lượng GDHN, tích cực góp phần phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS và tạo nguồn nhân lực hướng tới nền kinh tế tri thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.3.6 Các điều kiện hỗ trợ hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS
Các điều kiện hỗ trợ phục vụ cho quá trình dạy học – giáo dục nói chung gồm nhiều loại, chung quy lại đó là CSVC thiết bị dạy học và nguồn tài chính, trong đó CSVC và thiết bị dạy học là phương tiện lao động sư phạm