Tiếp theo luận văn này, các nhà nghiên cứu có thể đi sâu nghiên cứu về từng phần của quản trị chuỗi cung ứng như: quản trị quan hệ giữa các khách hàng, quản trị quan hệ với nhà cung ứng,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi
Những số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, đƣợc trích dẫn và có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiên cứu, báo cáo, các website,…đã đƣợc công bố
Các giải pháp nêu trong luận văn đƣợc rút ra từ những cơ sở lý luận và quá trình nghiên cứu thực tiễn của tác giả
Bình Định, ngày 15 tháng 3 năm 2021
Tác giả
Lê Đặng Vinh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô khoa Tài chính ngân hàng & Quản trị kinh doanh - Trường Đại học Quy Nhơn Đặc biệt tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến giảng viên hướng dẫn PGS.TS Hồ Huy Tựu đã tận tình giúp
đỡ và hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình viết luận văn
Xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Công ty cổ phần dịch vụ công nghiệp hàng hải và các bộ phận của công ty đã cung cấp nhiều thông tin và tài liệu tham khảo giúp tôi thực hiện được đề tài
Xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Trân trọng./
Bình Định, ngày 15 tháng 3 năm 2021
Tác giả
Lê Đặng Vinh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Ý nghĩa của nghiên cứu 5
6 Bố cục đề tài 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG TRONG DOANH NGHIỆP 7
1.1 Khái quát chuỗi cung ứng 7
1.1.1 Khái niệm và lịch sử tiếp cận nghiên cứu quản trị chuỗi cung ứng 7 1.1.2 Định nghĩa chuỗi cung ứng 10
1.1.3 Cấu trúc chuỗi cung ứng 13
1.1.4 Mục tiêu của chuỗi cung ứng 15
1.1.5 Hoạt động của chuỗi cung ứng 16
1.2 Quản trị chuỗi cung ứng 18
1.2.1 Định nghĩa quản trị chuỗi cung ứng 18
1.2.2 Mục tiêu của quản trị chuỗi cung ứng 19
1.3 Những nội dung chính trong quản trị chuỗi cung ứng 20
1.3.1 Dự báo và hoạch định nhu cầu 20
1.3.2 Định vị cơ sở vật chất 20
Trang 51.3.4 Chiến lược thu mua 21
1.3.5 Phân phối sản phẩm 21
1.3.6 Hệ thống thông tin 212
1.4 Các mô hình đo lường hiệu suất chuỗi cung ứng 23
1.4.1 Đo lường hiệu suất trong chuỗi cung ứng bằng mô hình SCOR 23
1.4.2 Đo lường hiệu suất trong chuỗi cung ứng theo David Taylor 27
Tóm tắt Chương 1 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG SẢN PHẨM KHÍ OXY TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ CÔNG NGHIỆP HÀNG HẢI 36
2.1 Giới thiệu khái quát về Công ty cổ phần dịch vụ công nghiệp
Hàng Hải 36
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 36
2.1.2 Vị trí, chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của Công ty: 38
2.1.3 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty: 39
2.2.Đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty 40
2.2.1 Đặc điểm mặt hàng 40
2.2.2 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm 41
2.3 Cơ cấu tổ chức của công ty 44
2.3.1 Cơ cấu tổ chức sản xuất 44
2.3.2 Cơ cấu tổ chức quản lý 46
2.4 Tình hình sản xuất, kinh doanh của công ty 48
2.4.1 Cấu trúc chuỗi cung ứng sản phẩm khí Oxy 48
2.4.2 Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty giai đoạn 2018-2020 489
2.5 Thực trạng quản trị chuỗi cung ứng sản phẩm khí Oxy tại công ty cổ phần dịch vụ công nghiệp Hàng Hải 49
2.5.1 Dự báo nhu cầu 50
Trang 62.5.2 Định vị cơ sở vật chất 51
2.5.3 Quản trị tồn kho 52
2.5.4 Chiến lược thu mua 53
2.5.5 Phân phối sản phẩm 54
2.5.6 Hệ thống thông tin 57
2.6 Đánh giá về quản trị chuỗi cung ứng tại công ty 58
2.6.1 Đo lường hiệu suất trong chuỗi cung ứng 58
2.6.2 Ưu điểm 62
2.6.3 Nhược điểm 62
2.6.4 Nguyên nhân 62
Tóm tắt Chương 2 63
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG SẢN PHẨM KHÍ OXY CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ CÔNG NGHIỆP HÀNG HẢI 64
3.1 Các thay đổi trong tương lai có ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng sản phẩm khí Oxy 64
3.2 Các giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm khí oxy tại công ty cổ phần dịch vụ công nghiệp Hàng Hải 64
3.2.1 Nhóm giải pháp về hoạt động sản xuất 64
3.2.2 Giải pháp về chức năng dự báo, lập kế hoạch 66
3.2.3 Nhóm giải pháp về phân phối 67
3.2.4 Giải pháp về hoạt động mua hàng 73
3.2.5 Hoàn thiện các kênh thông tin giữa các bộ phận, phục vụ công tác điều hành, tác nghiệp 734
Tóm tắt Chương 3 76
KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
Trang 7MRP Hệ thống hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu MRPII Hệ thống hoạch định nguồn lực sản xuất
TQM Chiến lƣợc quản trị chất lƣợng toàn diện
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Đo lường hiệu suất chuỗi cung ứng bằng mô hình SCOR Dịch vụ
khách hàng Nội bộ STT 24
Bảng 1.2: Đo thời gian 28
Bảng 1.3: Đo chi phí 29
Bảng 1.4: Bảng năng lực hoạt động 30
Bảng 1.5: Hiệu quả hoạt động 32
Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh của Công ty đóng góp vào ngân sách trong 02 năm gần đây: 38
Bảng 2.2: Tình hình sản xuất hoạt động của Công Ty giai đoạn 2019-2020 49 Bảng 2.3: Sản lượng tiêu thụ năm 2019 và kế hoạch năm 2020 51
Bảng 2.4: Sức chứa của hệ thống bồn 52
Bảng 2.5: So sánh các hình thức vận tải hiện nay của Công ty 55
Bảng 2.6: Bảng tỉ lệ giao hàng đúng yêu cầu của khách hàng 59
Bảng 2.7: Bảng tỉ lệ giao hàng đúng hạn 59
Bảng 2.8: Bảng chi phí hoạt động chuỗi cung ứng 60
Bảng 2.9: Tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu 61
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Mô hình chuỗi cung ứng điển hình 11
Hình 1.2: Chuỗi cung ứng giản đơn 13
Hình 1.3: Cấu trúc chuỗi cung ứng mở rộng 15
Hình 2.1: Quy trình công nghệ sản xuất Oxy 42
Hình 2.2: Quy trình công nghệ sản xuất Axetylen 44
Hình 2.3: Sơ đồ tổ chức sản xuất tại công ty 45
Hình 2.4: Bộ máy tổ chức của công ty 46
Hình 2.5: Chuỗi cung ứng tổng quát tại Công ty CP Dịch vụ công nghiệp Hàng Hải 48
Trang 10TÓM TẮT
Sau thời gian nghiên cứu và thực hiện để hoàn thành luận văn, học viên
đã thu được các kết quả như sau:
Tại Chương 1, luận văn đã làm rõ các cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng, các nội dung chính trong quản trị chuỗi cung ứng Phân tích các đặc điểm của chuỗi cung ứng sản phẩm Tại Chương 2, luận văn đánh giá phân tích tình hình phát triển của chuỗi cung ứng sản phẩm tại Công ty Cổ phần Dịch vụ Công nghiệp Hàng hải từ đó nhận định được nguyên nhân và đề xuất các giải pháp hoàn thiện trong Chương 3 Tại Chương 3, luận văn đã phân tích xu hướng phát triển trong công tác quản trị chuỗi cung ứng Những phân tích này cùng với cơ sở lý luận tại Chương 1 và các thực trạng cùng đánh giá tại Chương 2 giúp tác giả đề xuất các giải pháp tổng quan để hoàn thiện công tác quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty Cổ phần Dịch vụ Công nghiệp Hàng hải
Như vậy, về mặt lý luận, luận văn đã làm rõ được các cơ sở lý luận về quản trị chuỗi cung ứng thông qua các khái niệm, đặc điểm, quy trình, nội dung và tiêu chí đánh giá Về mặt thực tiễn, ban lãnh đạo tại Công ty Cổ phần Dịch vụ Công nghiệp Hàng hải cũng như các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp tại Việt Nam có thể sử dụng luận văn để xác định thực trạng quản trị chuỗi cung ứng tại doanh nghiệp mình, nhận định những ưu điểm và hạn chế,
từ đó cải thiện quản trị chuỗi cung ứng với mục tiêu hiệu quả với chi phí thấp
và các mục tiêu ngoài chi phí
Tiếp theo luận văn này, các nhà nghiên cứu có thể đi sâu nghiên cứu về từng phần của quản trị chuỗi cung ứng như: quản trị quan hệ giữa các khách hàng, quản trị quan hệ với nhà cung ứng, quản trị logistics, các xu thế mới của
mô hình quản trị chuỗi cung ứng đặc biệt trong sự tác động ngày càng mạnh
mẽ từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đến các vấn đề liên quan đến
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự cạnh tranh trên thị trường khí công nghiệp ngày càng trở nên khốc liệt buộc các công ty trong nghành khí công nghiệp phải cắt giảm chi phí, nâng cao chất lựợng sản phẩm, cùng với việc gia tăng mức độ phục vụ khách hàng.Các nhà sản xuất luôn phải cải tiến chất lượng, nâng cao hiệu quả sản xuất, rút ngắn thời gian giao hàng Và việc quản trị tốt chuỗi cung ứng là góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh đồng thời làm gia tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp Để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng thị phần và giảm chi phí, chủ động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp buộc phải hiểu rõ về quản trị chuỗi cung ứng của chính công ty mình
Ở Việt Nam, nghiên cứu về chuỗi cung ứng đã có rất nhiều tác giả thực hiện Huỳnh Thị Thu Sương (2012) đã tiến hành hệ thống hóa những vấn đề
lý luận chung về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng, các nhân tố ảnh hưởng đến sự hợp tác chuỗi cung ứng, chuỗi cung ứng đồ gỗ trên thế giới và tại Việt Nam Đồng thời, nghiên cứu phát triển hệ thống thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng đồ gỗ nhằm từng bước thiết lập hệ thống tương đương về đo lường, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam Nghiên cứu của tác giả là một công trình thử nghiệm kết hợp giữa nghiên cứu hàn lâm lặp lại và nghiên cứu ứng dụng, qua đó xây dựng và kiểm định mô hình nghiên cứu với các nhân tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng đồ gỗ Chính vì vậy, kết quả nghiên cứu phản ánh
độ tin cậy cũng như bổ sung và phát triển về mặt phương pháp luận trong đánh giá sự hợp tác và đề xuất các giải pháp khả thi Tương tự, Lê Đoàn (2013) thực hiện nghiên cứu lý thuyết về hoạt động chuỗi cung ứng, nghiên cứu và mô tả thực trạng hoạt động hoạt động chuỗi cung ứng tại công ty TNHH Mitsuba Mtech Việt Nam Từ kết quả nghiên cứu, tác giả phân tích
Trang 12thực trạng hoạt động chuỗi cung ứng tại công ty theo từng bước là cung ứng, sản xuất, tồn trữ và phân phối Đưa ra số liệu để phân tích hiệu quả hoạt động quản trị chuỗi cung ứng Kết thúc nghiên cứu, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động chuỗi cung ứng của công ty Togar và Sridharan (2002) trong công trình nghiên cứu về “Chỉ số hợp tác: một thước đo về sự hợp tác chuỗi cung ứng” đã đưa ra các giả định hướng dẫn để đo lường sự mở rộng về hợp tác của chuỗi cung ứng cụ thể là sự hợp tác của 2 thành phần chính trong chuỗi là nhà cung cấp và nhà bán lẻ Mô hình giả định về sự hợp tác kết hợp chặt chẽ các thói quen hợp tác trong việc chia sẻ thông tin, thống nhất trong việc ra quyết định và chính sách động viên Một danh mục hợp tác được đưa ra nhằm đo lường mức độ thói quen hợp tác Một khảo sát về nội dung danh mục hợp tác tại các doanh nghiệp ở New Zealand đã thực hiện và được kiểm định, đánh giá thông qua việc phân tích dữ liệu thu thập được Kết quả khảo sát xác nhận độ tin cậy và giá trị các giả định về danh mục hợp tác
tỷ lệ thuận với các kỹ thuật hoạt động Đóng góp của nghiên cứu này về mặt
lý thuyết đã giới thiệu một danh mục mới nhằm đo lường sự mở rộng hợp tác chuỗi cung ứng Việc đo lường có thể được sử dụng bất kỳ thành viên nào trong chuỗi để xác định mức độ hợp tác và tìm kiếm sự cải tiến Các nghiên cứu tương tự và mở rộng hơn trong nước và quốc tế là rất nhiều (ví dụ: Lê Thị Minh Hằng, 2016; Lê Thị Thùy Liên, 2000)
Qua lược khảo ở trên, có thể nhận định rằng, nghiên cứu về chuỗi cung ứng sản phẩm trong doanh nghiệp là đa dạng và phong phú Các vấn đề nghiên cứu chính tập trung vào phân tích chuỗi cung ứng, quản trị chuỗi cung ứng, các tác nhân ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng, hợp tác trong chuỗi cung ứng Đây là nền tảng để nghiên cứu này kế thừa và phát triển cho một trường hợp cụ thể tại một doanh nghiệp mà vấn đề chưa được khám phá Bên cạnh
đó, vấn đề quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty Cổ phần Dịch vụ Công nghiệp
Trang 13Hàng hải, cụ thể đối với sản phẩm khí ôxy trong những năm qua vẫn luôn là câu chuyện trăn trở của Lãnh đạo Công ty do không đạt được mục tiêu doanh
số, mối quan hệ với các thành viên trong chuỗi cung vẫn chưa đủ mạnh và bền vững, tình trạng điều tiết tồn kho – cân đối với nhu cầu vẫn còn chưa ăn khớp… vì rất nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng tất cả chỉ là nêu ra, nhận định chủ quan của đội ngũ nhân viên, người phụ trách bộ phận, lãnh đạo Công
ty, chứ chưa có một nghiên cứu có hệ thống nào Vì vậy, việc nghiên cứu về hoạt động trong chuỗi cung ứng của công ty nhằm hướng đến mục tiêu như tăng doanh thu, giảm chi phí và chủ động trong hoạt động sản xuất kinh
doanh Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết đó, tôi đã chọn đề tài “ Quản trị chuỗi
cung ứng sản phẩm khí Oxy tại Công ty Cổ phần Dịch vụ Công nghiệp Hàng hải” làm đề tài nghiên cứu luận văn của mình
2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
Nghiên cứu về hoạt động trong chuỗi cung ứng sản phẩm khí oxy của công ty cổ phần dịch vụ công nghiệp Hàng Hải nhằm tìm ra các giải pháp hướng đến mục tiêu như tăng doanh thu, giảm chi phí và chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh
2.2 Nội dung nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận có liên quan đến hoạt động quản trị chuỗi cung ứng sản phẩm trong doanh nghiệp
Phân tích thực trạng hoạt động quản trị chuỗi cung ứng sản phẩm khí oxy tại Công ty cổ phần dịch vụ công nghiệp Hàng Hải qua đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân
Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm khí oxy tại Công ty cổ phần dịch vụ công nghiệp Hàng Hải nhằm tăng giá trị toàn chuỗi
Trang 143 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực trạng và giải pháp để ứng dụng cơ sở lý luận quản trị chuỗi cung ứng sản phẩm khí oxy tại Công ty cổ phần dịch vụ công nghiệp Hàng Hải
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
+ Thời gian: Do vấn đề nghiên cứu mang tính chất nghiệp vụ và quản
trị nội bộ của Công ty, nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo chính thức của Công ty trong thời gian từ 2017 đến 2020
+ Không gian: Tại công ty, hoạt động cung ứng là rất đa dạng, nghiên
cứu này chỉ tập trung vào sản phẩm khí Oxy tại Công ty Cổ phần Dịch vụ Công nghiệp Hàng hải, là sản phẩm mang tính chủ lực và quan trọng của
Công ty trong định hướng phát triển Công ty trong nhiều năm tới
+ Nội dung: Luận văn đi sâu nghiên cứu thực trạng và các giải pháp
nhằm ứng dụng cơ sở lý luận quản trị chuỗi cung ứng sản phẩm khí tại Công
ty cổ phần dịch vụ công nghiệp Hàng Hải, các nội dung cụ thể tập trung vào
dự báo nhu cầu, định vị cơ sở vật chất, quản trị tồn kho, chiến lược thu mua, phân phối sản phẩm, là những vấn đề cốt lõi trong quản trị chuỗi sản phẩm của doanh nghiệp, cũng như đối với sản phẩm khí Oxy tại Công ty Cổ phần Dịch vụ Công nghiệp Hàng hải
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp mô tả: Mô tả hoạt động kinh doanh hiện tại, công tác
quản trị chuỗi cung ứng sản phẩm khí Oxy tại Công ty Cổ phần Dịch vụ Công nghiệp Hàng hải của công ty
Phương pháp thống kê, phân tích: Phân tích tình hình hoạt động của
Trang 15công ty: sản xuất, thu mua, bán hàng và vận chuyển dựa vào nguồn dữ liệu tham khảo từ Công ty cổ phần dịch vụ công nghiệp Hàng Hải
Phương pháp tổng hợp: Nghiên cứu thực hiện tổng hợp, phân tích
hiện trạng, từ đó rút ra điểm mạnh và điểm yếu của vấn đề cung ứng hiện tại của công ty
5 Ý nghĩa của nghiên cứu
Về lý luận:
Đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý thuyết cho những nghiên cứu về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng, là tiền đề ứng dụng cách tiếp cận quản trị chuỗi vào quản lý điều hành hoạt động, không chỉ tại Công ty cổ phần dịch vụ công nghiệp Hàng Hải, mà có thể mở rộng ra các doanh nghiệp kinh doanh nông sản nói chung
Kết quả của nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau
về vấn đề nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm khác, và ứng dụng cụ thể vào
Từ việc phân tích một cách khoa học vấn đề quản trị chuỗi cung ứng có
Trang 16thể làm nền tảng cho các doanh nghiệp cùng ngành nói riêng và các doanh nghiệp sản xuất và chế biến các sản phẩm liên quan đến khí công nghiệp nói chung tham khảo và vận dụng linh hoạt vào hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp
6 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng quản trị chuỗi cung ứng sản phẩm khí oxy tại Công ty cổ phần dịch vụ công nghiệp Hàng Hải
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản trị chuỗi cung ứng sản phẩm khí oxy của Công ty cổ phần dịch vụ công nghiệp Hàng Hải
Trang 17CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG
ỨNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Khái quát chuỗi cung ứng
1.1.1 Khái niệm và lịch sử tiếp cận nghiên cứu quản trị chuỗi cung ứng
Chuỗi cung ứng là hệ thống không chỉ bao gồm các doanh nghiệp, nhà cung cấp, nhà phân phối sản phẩm mà còn bao gồm hệ thống kho vận, hệ thống bán lẻ và khách hàng của nó Trong quá trình vận hành của chuỗi, đòi hỏi các nhà phân phối phải gia tăng chất lượng của sản phẩm và dịch vụ, như vậy các nhà phân phối đóng vai trò là nhân vật chủ chốt có đặc quyền trong việc làm chủ dòng thực tế và dòng thông tin trong chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng dần trở thành một nhân tố cốt lõi để doanh nghiệp vận hành tốt và phát triển (Lambert và cộng sự, 1998)
Trong những thập niên giữa 1950 và 1960, các công của Hoa Kỳ đã áp dụng nhiều công cụ để giảm thiểu chi phí và cải thiện năng xuất, trong khi ít chú ý đến việc tạo ra mối quan hệ với nhà cung cấp, cải thiện việc thiết kế quy trình và tính linh hoạt, hoặc cải thiện chất lượng sản phẩm.Việc thiết kế và phát triển sản phẩm mới diễn ra chậm chạp và lệ thuộc chủ yếu vào nguồn lực nội bộ, công nghệ và công suất Chia sẻ công nghệ và chuyên môn thông qua
sự cộng tác chiến lược giữa người mua và người bán là một thuật ngữ hiếm khi nghe giai đoạn bấy giờ Các quy trình sản xuất không chú trọng hàng đầu
do tồn kho nhằm để duy trì máy móc vận hành thông suốt và quy trình cân đối dòng nguyên vật liệu, điều này dẫn đến tồn kho trong sản xuất tăng cao
Trong thập niên 1960 và 1970, hệ thống hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu (MRP – Material Requirements Planning) và hệ thống hoạch định nguồn lực sản xuất (MRPII – Manufacturing Resource Planning) được phát triển Những hệ thống này cho phép các doanh nghiệp nhận thấy được tầm quan
Trang 18trọng của quản trị nguyên vật liệu Họ có thể đánh giá được mức độ tồn kho trong sản xuất, lưu giữ và vận chuyển Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là máy tính làm gia tăng tính tinh vi của các phần mềm kiểm soát tồn kho dẫn đến làm giảm đáng kể chi phí tồn kho trong khi vẫn cải thiện truyền thông nội bộ về nhu cầu của các chi tiết cần mua cũng như nguồn cung
Thập niên 1980 được xem như là thời kỳ bản lề của quản trị chuỗi cung ứng Thuật ngữ quản trị chuỗi cung ứng lần đầu tiên sử dụng một cách rộng rãi trên nhiều tờ báo cụ thể là ở tạp chí vào năm 1982 (Keith and Webber,
“Supply-Chain Management: Logistics Catches Up with Strategy,” Outlook - 1982) Cạnh tranh trên thị trường toàn cầu trở nên khốc liệt vào đầu thập niên
1980 (và tiếp tục đến ngày nay) gây áp lực đến các nhà sản xuất phải cắt giảm chi phí nâng cao chất lượng sản phẩm cùng với việc gia tăng mức độ phục vụ khách hàng Các hãng sản xuất vận dụng (JIT) và chiến lược quản trị chất lượng toàn diện (TQM) nhằm cải tiến chất lượng, nâng cao hiệu quả sản xuất
và thời gian giao hàng.Trong môi trường sản xuất JIT với việc sử dụng ít tồn kho làm đệm cho lịch trình sản xuất, các doanh nghiệp bắt đầu nhận thấy lợi ích tiềm tàng và tầm quan trọng của mối quan hệ chiến lược và hợp tác của nhà cung cấp - người mua - khách hàng
Khái niệm về sự cộng tác hoặc liên minh càng nổi bật khi các doanh nghiệp thực hiện JIT và TQM Khi cạnh tranh ở thị trường Mỹ gia tăng nhiều hơn vào thập niên 1990 kèm với việc gia tăng chi phí hậu cần và tồn kho cũng như khuynh hướng toàn cầu hóa nền kinh tế làm cho thách thức của việc cải thiện chất lượng, hiệu quả sản xuất, dịch vụ khách hàng và thiết kế và phát triển sản phẩm mới cũng gia tăng Để giải quyết với những thách thức này, các nhà sản xuất bắt đầu mua sản phẩm từ các nhà cung cấp chất lượng cao,
có danh tiếng và được chứng thực Hơn nữa các doanh nghiệp sản xuất kêu
Trang 19gọi các nhà cung cấp tham gia vào việc thiết kế và phát triển sản phẩm mới cũng như đóng góp ý kiến cào việc cải thiện dịch vụ, chất lượng và giảm chi phí chung Mặt khác, các công ty nhận thấy rằng nếu họ cam kết mua hàng từ những nhà cung cấp tốt nhất cho hoạt động kinh doanh của mình thì đổi lại họ
sẽ hưởng lợi gia tăng doanh số thông qua sự cải tiến chất lượng, phân phối và thiết kế sản phẩm cũng như cắt giảm chi phí nhờ vào việc quan tâm nhiều đến tiến trình, nguyên vật liệu và các linh kiện được sử dụng trong hoạt động sản xuất Nhiều liên minh giữa nhà cung cấp và người mua đã chứng tỏ sự thành công của mình Tái thiết kế quy trình kinh doanh (BPR - Business Process Reengineering) suy nghĩ một cách triệt để và tái thiết kế quy trình kinh doanh nhằm giảm các lãng phí và gia tăng thành tích được giới thiệu vào đầu thập niên 1990 là kết quả của những quan tâm to lớn trong suốt giai đoạn này với mục đích cắt giảm chi phí và nhấn mạnh đến những năng lực then chốt của doanh nghiệp nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh dài hạn Khi xu hướng này mất dần vào giữa cuối thập niên 1990 (thuật ngữ trở nên đồng nghĩa với việc thu hẹp quy mô), quản trị chuỗi cung cấp trở nên phổ quát hơn như là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Cũng trong thời gian này, các nhà quản trị, nhà tư vấn và các học giả hàn lâm bắt đầu nhận thức sâu sắc hơn
sự khác biệt giữa hậu cần và quản trị chuỗi cung ứng.Mãi cho đến thời điểm
đó thì quản trị chuỗi cung cấp mới được nhìn nhận như là hoạt động hậu cần bên ngoài doanh nghiệp
Khi các doanh nghiệp bắt đầu ứng dụng các sáng kiến của quản trị chuỗi cung cấp, họ bắt đầu hiểu được sự cần thiết phải tích hợp tất cả các quy trình kinh doanh then chốt giữa các bên tham gia trong chuỗi cung ứng, cho phép chuỗi cung ứng vận hành và phản ứng như một thể thống nhất Ngày nay, hậu cần được xem như là một thành tố quan trọng của khái niệm quản trị chuỗi cung ứng Cùng thời điểm đó, các doanh nghiệp cũng
Trang 20nhận thấy lợi ích trong việc tạo ra các liên minh hoặc sự cộng tác với khách hàng của nó Phát triển mối quan hệ mật thiết và dài hạn với khách hàng sẽ cho phép doanh nghiệp giữ ít tồn kho Doanh nghiệp sẽ tập trung nguồn lực vào việc cung ứng tốt hơn các sản phẩm hoặc dịch vụ cho khách hàng Điều này sẽ giúp thị phần đối với sản phẩm được cải thiện và nâng cao hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.2 Định nghĩa chuỗi cung ứng
Theo Christopher (1992), chuỗi cung ứng của được định nghĩa như sau:
“Một mạng lưới các tổ chức có mối quan hệ với nhau thông qua các liên kết trên (upstream) và liên kết dưới (downstream) bao gồm các quá trình và hoạt động khác nhau để tạo giá trị gia tăng cho sản phẩm hoặc dịch vụ đến tay người tiêu dùng cuối cùng”
Theo Lambert và cộng sự (1998), “Chuỗi cung ứng không chỉ là một chuỗi của các doanh nghiệp với nhau, mà là mối quan hệ thương mại giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, và quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau”
Theo Beamon (1999), chuỗi cung ứng là quá trình tích hợp trong đó nguyên vật liệu được sản xuất thành sản phẩm cuối cùng và giao cho khách hàng thông qua hệ thống phân phối, bán lẻ hoặc cả hai
Từ đó, đề tài tiếp cận “Chuỗi cung ứng là một tập hợp các hoạt động của tất cả các “mắt xích” tham gia chuỗi như nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà kho, các công ty cung cấp dịch vụ, và các cửa hàng bán lẻ, để sản phẩm được sản xuất và phân phối đúng như mong muốn của khách hàng và tổ chức”
Chuỗi cung ứng điển hình như trong Hình 1 (Nguyễn Thị Kim Anh, 2010) chúng ta có thể hình dung các doanh nghiệp nằm ở khu vực giữa như doanh nghiệp trung tâm Thực tế, doanh nghiệp trung tâm không chỉ là doanh
Trang 21nghiệp lắp ráp sản phẩm cuối cùng, nó cũng có thể là bất cứ doanh nghiệp nào tham gia trong chuỗi cung ứng, tùy thuộc vào phạm vi tham chiếu và mục tiêu của nhà quản trị khi xem xét mô hình Trong một chuỗi cung ứng điển hình, NVL được mua ở một hoặc nhiều nhà cung cấp; các bộ phận được sản xuất ở một nhà máy hoặc nhiều hơn, sau đó được vận chuyển đến nhà kho để lưu trữ
ở giai đoạn trung gian và cuối cùng đến nhà bán lẻ và khách hàng Vì vậy, để giảm thiểu chi phí và cải tiến mức phục vụ, các chiến lược chuỗi cung ứng hiệu quả phải xem xét đến sự tương tác ở các cấp độ khác nhau trong chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng cũng được xem như mạng lưới hậu cần, bao gồm các NCC, các trung tâm sản xuất, nhà kho, các trung tâm phân phối, và các cửa hàng bán lẻ, cũng như NVL, tồn kho trong quá trình sản xuất và sản phẩm hoàn thành dịch chuyển giữa các cơ sở
Hình 1.1 Mô hình chuỗi cung ứng điển hình
(Nguồn: Nguyễn Thị Kim Anh, 2010)
Chuỗi cung ứng luôn hàm chứa tính năng động và nó liên quan đến dòng thông tin nhất định về sản phẩm và tài chính giữa các giai đoạn khác nhau Mục đích then chốt của bất kỳ chuỗi cung ứng nào là nhằm thỏa mãn
Trang 22nhu cầu khách hàng, trong tiến trình tạo ra lợi nhuận cho chính doanh nghiệp Chuỗi cung ứng bao gồm chuỗi cung ứng đầu vào và chuỗi cung ứng đầu ra: Chuỗi cung ứng đầu vào hay còn gọi là hoạt động cung ứng là quá trình đảm bảo NVL, máy móc thiết bị, dịch vụ…cho hoạt động của tổ chức/doanh nghiệp được tiến hành liên tục, nhịp nhàng và có hiệu quả Chuỗi cung ứng đầu ra là quá trình đảm bảo sản phẩm của tổ chức/doanh nghiệp đến tay người tiêu dùng, làm người tiêu dùng hài lòng với mức giá hợp lý và các dịch vụ đi kèm, đảm bảo lợi nhuận cao cho tổ chức/doanh nghiệp (Nguyễn Thị Kim Anh, 2010)
Các sản phẩm sẽ đến tay người tiêu dùng theo một số hình thức của chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng đơn giản sẽ chỉ có ít thực thể tham gia, trong khi với các chuỗi phức tạp số các thực thể tham gia sẽ rất lớn bao gồm các cấp trung gian khác nhau như đại lý, kho trung tâm, siêu thị, cửa hàng bán lẻ,…Như thế, sẽ dễ dàng nhận thấy rằng chỉ có một nguồn tạo ra lợi nhuận duy nhất cho toàn chuỗi đó là khách hàng cuối cùng Khi các doanh nghiệp riêng lẻ trong chuỗi cung ứng ra các quyết định kinh doanh mà không quan tâm đến các thành viên khác trong chuỗi, rốt cuộc dẫn đến giá bán cho khách hàng cuối cùng sẽ rất cao, mức phục vụ của chuỗi cung ứng thấp và nhu cầu khách hàng tiêu dùng cuối cùng có thể sẽ giảm xuống.Cùng với các thực thể chính, có rất nhiều doanh nghiệp khác liên quan một cách gián tiếp đến hầu hết các chuỗi cung ứng, và họ đóng vai trò quan trọng trong việc phân phối sản phẩm cuối cùng cho khách hàng Ðó là các NCC dịch vụ, chẳng hạn như các công ty vận tải đường không và đường bộ, các NCC hệ thống thông tin, các công ty kinh doanh kho bãi, các hãng môi giới vận tải, các đại lý và các nhà tư vấn Trong đa số chuỗi cung ứng, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ này đặc biệt hữu ích đối với các doanh nghiệp trung tâm, vì nhờ thế họ có thể mua sản phẩm ở nơi họ cần, hoặc cho phép người mua và người bán giao tiếp
Trang 23một cách hiệu quả, cho phép doanh nghiệp phục vụ các thị trường xa xôi, giúp các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí vận tải nội địa và quốc tế, và nói chung cho phép doanh nghiệp phục vụ tốt khách hàng với chi phí thấp nhất có thể
(Nguyễn Thị Kim Anh, 2010)
1.1.3 Cấu trúc chuỗi cung ứng
Trong chuỗi cung ứng có sự kết hợp của một số công ty thực hiện những chức năng khác nhau (Nguyễn Thị Kim Anh, 2010) Những công ty đó
là nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán sỉ, nhà bán lẻ và khách hàng cá nhân hay khách hàng là tổ chức Những công ty thứ cấp này sẽ có nhiều công ty khác nhau cung cấp hàng loạt những dịch vụ cần thiết như về hậu cần, tài chính, tiếp thị và công nghệ thông tin Nhà sản xuất là các tổ chức sản xuất ra sản phẩm, bao gồm những công ty sản xuất nguyên vật liệu và sản xuất bán thành phẩm, thành phẩm Các nhà sản xuất nguyên vật liệu như khai thác khoáng sản, khoan tìm dầu khí, cưa gỗ và cũng bao gồm những tổ chức trồng trọt, chăn nuôi hay đánh bắt thuỷ hải sản Các nhà sản xuất thành phẩm
sử dụng nguyên vật liệu và các bộ phận lắp ráp được sản xuất ra từ các công
ty khác Một mô hình chuỗi cung ứng giản đơn nhiều khi chỉ bao gồm 3 thành phần: nhà cung cấp, công ty sản xuất và khách hàng như mô hình sau:
Hình 1.2: Chuỗi cung ứng giản đơn
(Nguồn: Nguyễn Thị Kim Anh, 2010)
Nhà phân phối là những công ty tồn trữ hàng với số lượng lớn từ nhà sản xuất và phân phối sản phẩm đến khách hàng Nó là đơn vị trung gian kết nối giữa hãng và các đại lý, hay hiểu đơn giản là họ lấy hàng từ nhà cung cấp
Trang 24(là các hãng) và sau đó bán buôn với số lượng lớn hơn nhà bán lẻ cho các đại
lý Do sự biến động nhu cầu về sản phẩm, nhà phân phối tồn trữ hàng hóa vào kho, thực hiện bán hàng và phục vụ khách hàng bằng cách cung cấp thông tin
kĩ thuật, hay dịch vụ bảo hành nếu có cho các mặt hàng này
Nhà bán lẻ tồn trữ sản phẩm và bán cho khách hàng với số lượng nhỏ hơn Nhà bán lẻ trong khi bán hàng cũng nắm bắt ý kiến và nhu cầu của khách hàng rất chi tiết Do nỗ lực chính là thu hút khách hàng đối với những sản phẩm mình bán, nhà bán lẻ thường quảng cáo và sử dụng một số kĩ thuật kết hợp về giá cả, sự lựa chọn và sự tiện dụng của sản phẩm
Khách hàng hay người tiêu dùng là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào mua và
sử dụng sản phẩm Khách hàng là tổ chức có thể mua một sản phẩm để kết hợp với sản phẩm khác rồi bán chúng cho khách hàng khác là người sử dụng sản phẩm sau mua sản phẩm về tiêu dùng
Nhà cung cấp dịch vụ là những tổ chức cung cấp dịch vụ cho nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và khách hàng Nhà cung cấp dịch vụ có những chuyên môn và kĩ năng đặc biệt ở một hoạt động riêng biệt trong chuỗi cung ứng bao gồm hậu cần, tài chính, nghiên cứu thị trường, thiết kế sản phẩm và công nghệ thông tin Chính vì thế, họ có thể thực hiện những dịch vụ này hiệu quả hơn và với mức giá tốt hơn so với chính các nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ hay người tiêu dùng làm điều này Trong bất kỳ chuỗi cung ứng nào, nhà cung cấp phổ biến nhất là cung cấp dịch vụ vận tải và dịch
vụ nhà kho Đây là các công ty xe tải và công ty kho hàng và thường được biết đến là nhà cung cấp hậu cần Một chuỗi cung ứng phức tạp và mở rộng hơn sẽ bao gồm nhiều đối tượng tham gia vào chuỗi cung ứng hơn, ví dụ như
mô hình chuỗi cung ứng dưới đây:
Trang 25Hình 1.3: Cấu trúc chuỗi cung ứng mở rộng
(Nguồn: Nguyễn Thị Kim Anh, 2010)
1.1.4 Mục tiêu của chuỗi cung ứng
Mục tiêu của chuỗi cung ứng là tối đa giá trị tạo ra cho toàn hệ thống Giá trị tạo ra của chuỗi cung ứng là sự khác biệt giữa giá trị của sản phẩm cuối cùng đối với khách hàng và nỗ lực mà chuỗi cung ứng dùng vào việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng Đối với đa số các chuỗi cung ứng thương mại, giá trị liên quan mật thiết đến lợi ích của chuỗi cung ứng, sự khác biệt giữa doanh thu mà khách hàng phải trả cho công ty đối với việc sử dụng sản phẩm
và tổng chi phí của cả chuỗi cung ứng Lợi nhuận của chuỗi cung ứng là tổng lợi nhuận được chia sẻ xuyên suốt chuỗi Lợi nhuận của chuỗi cung ứng càng cao chứng tỏ sự thành công của chuỗi cung cấp càng lớn Thành công của chuỗi cung ứng nên được đo lường dưới góc độ lợi nhuận của chuỗi chứ không phải đo lường lợi nhuận ở mỗi giai đoạn riêng lẻ Vì vậy, trọng tâm
Trang 26không chỉ đơn giản là việc giảm thiểu đến mức thấp nhất chi phí vận chuyển hoặc cắt giảm tồn kho mà hơn thế nữa chính là vận dụng cách tiếp cận hệ
thống vào quản trị chuỗi cung ứng (Nguyễn Thị Kim Anh, 2010)
1.1.5 Hoạt động của chuỗi cung ứng
Hoạt động của chuỗi cung ứng tập trung vào việc tích hợp một cách hiệu quả nhà cung cấp, người sản xuất, nhà kho và các cửa hàng, nó bao gồm những hoạt động của công ty ở nhiều cấp độ, từ cấp độ chiến lược đến chiến thuật và tác nghiệp (Nguyễn Thành Hiếu, 2015; Hugos, 2010; Đoàn Thị Hồng Vân, 2006)
Cấp độ chiến lược xử lý với các quyết định có tác động dài hạn đến tổ chức Những quyết định này bao gồm số lượng, vị trí và công suất của nhà kho, các nhà máy sản xuất, hoặc dòng dịch chuyển nguyên vật liệu trong mạng lưới
Cấp độ chiến thuật điển hình bao gồm những quyết định được cập nhật
ở bất cứ nơi nào ở thời điểm của quý hoặc năm Điều này bao gồm các quyết định thu mua và sản xuất, các chính sách tồn kho và các chiến lược vận tải kể
cả tần suất viếng thăm khách hàng
Cấp độ tác nghiệp liên quan đến các quyết định hàng ngày chẳng hạn như lên thời gian biểu, lộ trình của xe vận tải…
Các hoạt động trong chuỗi cung ứng có thể bao gồm các hoạt động như mua hàng, sản xuất, tồn trữ, phân phối, theo dõi đơn hàng và dịch vụ sau khi bán hàng Mỗi hoạt động sẽ liên kết với nhau một cách nhịp nhàng
1.1.5.1 Hoạt động thu mua
Quá trình thu mua sẽ từ khâu đặt hàng, xác nhận giao hàng, giao hàng, thanh toán cho nhà cung cấp Ngoài ra cũng tổ chức cũng tìm kiếm, đánh giá
Trang 27nhà cung cấp, duy trì và xây dựng mối quan hệ với nhà cung cấp Công tác này thực hiện thường xuyên sẽ giúp cho doanh nghiệp có được nguồn hàng có chất lượng ổn định, phù hợp với yêu cầu trong sản xuất, tiết giảm được chi phí Doanh nghiệp cũng cần phải thực hiện các công tác quản trị nội bộ liên quan như quản lý tồn kho, mạng lưới thông tin với nhà cung cấp, hoạt động xuất nhập khẩu, vận tải (Nguyễn Thành Hiếu, 2015; Hugos, 2010; Đoàn Thị Hồng Vân, 2006)
1.1.5.2 Hoạt động sản xuất
Sau khi đã nhận được vật liệu từ nhà cung cấp, doanh nghiệp sẽ tiến hành sản xuất ra sản phẩm để đáp ứng yêu cầu kho khách hàng Có thể lựa cho các phương án để sản xuất như sản xuất theo đơn hàng (make to order), sản xuất để dự trữ (make to stock) và lắp ráp theo đơn hàng (engineer to order) Nhiều vấn đề cần được quan tâm trong suốt quá trình sản xuất như là kiểm định vật liệu, năng lực sản xuất, kế hoạch sản xuất, kiểm định sản phẩm, tồn kho trên chuyền, đóng gói…Để tiết giảm chi phí càng nhiều doanh nghiệp
sử dụng các đối tác bên ngoài vào hoạt động gia công Tuy nhiêu điều này sẽ làm tăng công việc trong quản lý chuỗi cung ứng Đặc biệt là yêu cầu đảm bảo chất lương sản phẩm theo tiêu chuẩn đã được đề ra (Nguyễn Thành Hiếu, 2015; Hugos, 2010; Đoàn Thị Hồng Vân, 2006)
1.1.5.3 Hoạt động tồn trữ
Hoạt động tồn trữ bao gồm 2 thành phần là tồn trữ nguyên vật liệu và tồn trữ thành phẩm Để quá trình lưu kho được hiệu quả, doanh nghiệp cần xây dựng quy trình hoạt động của kho một cách bài bản Bên cạnh đó cần chú trọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng để giúp bảo quản nguyên liệu và thành phẩm được tốt hơn, giảm hư hao, mất mát theo thời gian (Nguyễn Thành Hiếu, 2015; Hugos, 2010; Đoàn Thị Hồng Vân, 2006)
Trang 281.1.5.4 Hoạt động phân phối
Quy trình giao hàng bắt đầu bằng việc tiếp nhận đơn hàng của khách hàng, sau đó đến báo giá và cuối cùng là thu tiền từ khách hàng – các hoạt động cần thiết để hoàn tất đơn hàng như vận tải, kho bãi, phân phối Các bộ phận có liên quan khác như mua hàng, sản xuất, kho cũng phải biết được thông tin về đơn hàng để đảm bảo đơn hàng của khách hàng được đáp ứng đầy đủ và đúng hạn Theo xu hướng phát triển, các doanh nghiệp sẽ chuyển giao hoạt động vận tải, hay hoạt động logistics cho bên thứ 3 có chuyên môn thực hiện Họ sẽ giúp quá trình thực hiện diễn ra trôi chảy với chi phí thấp hơn (Nguyễn Thành Hiếu, 2015; Hugos, 2010; Đoàn Thị Hồng Vân, 2006)
1.1.5.5 Hoạt động quản lý khách hàng
Hoạt động quản lý khách hàng có thể bao gồm khâu dự báo nhu cầu thị trường, theo dõi và quản lý đơn hàng, lên kế hoạch cho sản phẩm mới, theo dõi tiến độ giao hàng và phản hồi từ khách hàng Hoạt động này sẽ giúp doanh nghiệp nắm bắt được nhu cầu của khách hàng, số lượng đơn hàng đã giao và sắp tới phải giao Những phải hồi chưa hài lòng về chất lượng sản phẩm, dịch vụ sẽ giúp doanh nghiệp kịp thời điều chỉnh lại hoạt động
(Nguyễn Thành Hiếu, 2015; Hugos, 2010; Đoàn Thị Hồng Vân, 2006)
1.2 Quản trị chuỗi cung ứng
1.2.1 Định nghĩa quản trị chuỗi cung ứng
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản trị chuỗi cung ứng
Quản trị chuỗi cung ứng là một hệ thống, sự hợp tác mang tính chiến lược của các chức năng kinh doanh truyền thống và các sách lược kết hợp trong các chức năng kinh doanh trong phạm vi một doanh nghiệp cụ thể, xuyên suốt hoạt động kinh doanh trong phạm vi chuỗi cung ứng nhằm cải
Trang 29bộ chuỗi cung ứng (Mentzer và cộng sự, 2001)
Quản trị chuỗi cung ứng là hoạt động định hướng, quản lý hai chiều và phối hợp của sản phẩm, dịch vụ, thông tin, tài chính thành dòng chảy từ nguyên vật liệu đến người sử dụng cuối cùng (Monczka và cộng sự, 2009)
Quản trị chuỗi cung ứng là sự phối hợp các công cụ từ lập kế hoạch và điều khiển các bước trong mạng lưới từ thu mua nguyên vật liệu, chuyển hóa thành sản phẩm và vận chuyển sản phẩm và dịch vụ tới khách hàng (Wisner
và cộng sự, 2009)
Như vậy có thể hiểu khái quát về quản trị chuỗi cung ứng là tập trung quản lý các mối quan hệ trong thành phần chuỗi cung ứng Nội dung chính của các định nghĩa này là ý tưởng phối hợp hoặc tích hợp hàng hóa và các hoạt động dịch vụ liên quan vào các thành phần của chuỗi cung ứng để cải thiện hiệu quả hoạt động, chất lượng và dịch vụ khách hàng Chính vì vậy, để quản trị chuỗi cung ứng thành công, các công ty phải cùng làm việc với nhau, chia sẻ thông tin như dự báo nhu cầu, kế hoạch sản xuất, những thay đổi năng lực, chiến lược marketing mới, việc phát triển sản phẩm và dịch vụ mới, công nghệ mới, kế hoạch mua hàng, ngày giao hàng và tất cả những thông tin khách ảnh hưởng đến hoạt động mua hàng, sản xuất, kế hoạch phân phối Ngày nay, ranh giới của chuỗi cung ứng cũng rất linh hoạt Nhiều công ty đã
mở rộng ranh giới của chuỗi cung ứng sang tầng lớp nhà cung cấp của nhà cung cấp, khách hàng của khách hàng, các công ty dịch vụ logistics, bao gồm
cả các nhà cấp và khách hàng nước ngoài
1.2.2 Mục tiêu của quản trị chuỗi cung ứng
Mục tiêu của quản trị chuỗi cung ứng là hữu hiệu và hiệu quả trên toàn
hệ thống; tổng chi phí của toàn hệ thống từ khâu vận chuyển, phân phối đến tồn kho nguyên vật liệu, tồn kho trong sản xuất và thành phẩm, cần phải được
Trang 30tối thiểu hóa Nói cách khác, mục tiêu của mọi chuỗi cung ứng là tối đa hóa giá trị tạo ra cho toàn hệ thống Giá trị tạo ra của chuỗi cung ứng là sự khác biệt giữa giá trị của sản phẩm cuối cùng đối với khách hàng và nỗ lực mà chuỗi cung ứng dùng vào việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng Đối với đa số các chuỗi cung ứng thương mại, giá trị liên quan mật thiết đến lợi ích của chuỗi cung ứng, sự khác biệt giữa doanh thu mà khách hàng phải trả cho công
ty đối với việc sử dụng sản phẩm và tổng chi phí của cả chuỗi cung ứng (Nguyễn Thị Kim Anh, 2010)
1.3 Những nội dung chính trong quản trị chuỗi cung ứng
Nội dung chính trong quản trị chuỗi cung ứng theo các tài liệu hiện hành tập trung vào 05 nội dung sau (Nguyễn Thành Hiếu, 2015; Hugos, 2010; Đoàn Thị Hồng Vân, 2006): Dự báo và hoạch định nhu cầu; Định vị cơ sở vật
chất; Quản trị tồn kho; Chiến lược thu mua; Phân phối sản phẩm
1.3.1 Dự báo và hoạch định nhu cầu
Dự báo cung cấp một bức tranh ước tính về nhu cầu tương lai và là cơ
sở cho hoạch định và các quyết định kinh doanh Từ khi tất cả các tổ chức phải đương đầu với một tương lai không chắc chắn, thì sự sai lệch giữa dự báo và nhu cầu thực tế là điều hiển nhiên Vì thế mục tiêu của kỹ thuật dự báo
tốt là tối thiểu hóa sai lệch giữa nhu cầu thực tế và dự báo
Trang 31cung ứng trên phạm vi toàn hệ thống Tồn kho xuất hiện trong chuỗi cung ứng dưới một vài hình thức: Tồn kho nguyên vật liệu, tồn kho sản phẩm dở dang, tồn kho thành phẩm Mỗi một loại tồn kho này cần cơ chế quản lý tồn kho riêng Tuy nhiên việc xác định cơ chế này thực sự khó khăn bởi vì các chiến lược sản xuất, phân phối hiệu quả và kiểm soát tồn kho để giảm thiểu chi phí toàn hệ thống và gia tăng mức độ phục vụ phải xem xét đến sự tương tác giữa các cấp độ khác nhau trong chuỗi cung ứng nhưng lợi ích của việc xác định
các cơ chế kiểm soát tồn kho này có thể là rất lớn
1.3.4.Chiến lược thu mua
Trong chuỗi cung ứng, mỗi tổ chức mua các nguyên vật liệu từ những nhà cung ứng ở mắc xích trước nó, gia tăng giá trị và bán chúng cho khách hàng ở mắc xích tiếp theo Mỗi tổ chức, mua và bán các nguyên vật liệu xuyên suốt toàn bộ chuỗi cung ứng Điểm bắt đầu của mỗi dịch chuyển là việc mua hàng Việc mua hàng đưa ra cơ chế bắt đầu và kiểm soát dòng nguyên vật liệu trong chuỗi cung ứng Mua hàng là một chức năng có nhiệm vụ thu thập tất cả các nguyên vật liệu cần thiết cho tổ chức
1.3.5.Phân phối sản phẩm
Trung tâm phân phối là nơi lưu trữ hàng thành phẩm đang trên đường đưa đến khách hàng cuối cùng trong khi các trung tâm hậu cần lưu trữ phối thức sản phẩm rộng hơn tại các điểm trong chuỗi cung ứng Kho hàng là bất
kỳ địa điểm nào mà ở đó hàng hóa tồn kho được lưu trữ trong quá trình lưu chuyển trong chuỗi cung ứng Chiến lược phân phối cần đảm bảo nhà kho – điểm dịch chuyển có thể điều phối sản phẩm tới các cửa hàng một cách tối ưu
về cả thời gian và chi phí, đồng thời giữ mức tồn kho tối thiểu Doanh nghiệp cần hoạch định số lượng nhà kho, nên áp dụng chiến lược phân phối cổ điển, vận chuyển trực tiếp hay chiến lược dịch chuyển chéo để đem về hiệu quả cho doanh nghiệp
Trang 321.3.6.Hệ thống thông tin
Hệ thống thông tin trong chuỗi cung ứng bao gồm ba nhân tố: Đầu vào,
cơ sở dữ liệu và các kỹ thuật xử lý có liên quan, đầu ra
+ Đầu vào: Hoạt động đầu tiên liên quan đến hệ thống thông tin là thu thập dữ liệu trợ giúp cho quá trình ra quyết định Sau khi xác định cẩn thận những dữ liệu cần cho sự lên kế hoạch và hoạt động của chuỗi cung ứng, ta có thể có được các dữ liệu này từ nhiều nguồn khác nhau như: khách hàng, hồ sơ của công ty, báo chí, các văn bản pháp lý của các cơ quan quản lý Nhà nước
+ Quản trị cơ sở dữ liệu: Việc biến đổi dữ liệu thành thông tin và trình bày lại ở dạng có ích cho việc ra quyết định và liên hệ thông tin với các phương thức hỗ trợ việc ra quyết định thường được gọi là phần trung tâm của một hệ thống thông tin Quản trị cơ sở dữ liệu liên quan đến việc lựa chọn dữ liệu lưu trữ và truy cập, lựa chọn những phương pháp phân tích để tổng hợp
và lựa chọn thực hiện chu trình xử lý dữ liệu cơ bản nào
+ Đầu ra: Yếu tố cuối cùng của hệ thống thông tin là đầu ra Đó là phương thức giao tiếp với người sử dụng trong hệ thống Đầu ra thường gồm một số dạng và được chuyển đổi thành một số mẫu Thứ nhất, đầu ra rõ ràng nhất là một số mẫu báo cáo như: Báo cáo tóm lược về chi phí hoặc dữ liệu thống kê hoạt động, báo cáo về tình trạng dự trữ hoặc xúc tiến hàng, báo cáo bên ngoài đánh giá hoạt động kế hoạch với hoạt động thực tế và báo cáo (đơn hàng mua hoặc đơn hàng sản xuất) hướng dẫn các hoạt động Thứ hai, đầu ra
có thể có dạng các tài liệu in sẵn như hóa đơn vận chuyển và xếp dỡ hàng hóa Cuối cùng, đầu ra có thể là các kết quả phân tích dữ liệu từ các mô hình toán học và thống kê
Đầu vào, khả năng quản trị cơ sở dữ liệu và đầu ra là các nhân tố chủ yếu của hệ thống thông tin Ngoài việc tăng khả năng xử lý dữ liệu, mục tiêu
cơ bản của hệ thống là cung cấp các công cụ hỗ trợ ra quyết định trong công
Trang 33tác lập kế hoạch và điều hành chuỗi cung ứng
1.4 Các mô hình đo lường hiệu suất chuỗi cung ứng
Có nhiều mô hình để đo lường, kiểm soát và cải tiến hiệu suất hoạt động chuỗi cung ứng Được biết đến nhiều nhất là mô hình SCOR và mô hình của David Taylor và cộng sự (dẫn theo Nguyễn Thị Hồng Đăng, 2006; Nguyễn Bá Khánh, 2017)
Trong thực tế, để đo lường hiệu suất chuỗi cung ứng, người ta thường kết hợp các chỉ số của nhiều mô hình khác nhau để phù hợp với mục tiêu và đặc điểm riêng của từng chuỗi.Trong luận văn này tác giả chỉ trình bày mô hình SCOR và mô hình của David Taylor, đầu tiên là mô hình SCOR
1.4.1 Đo lường hiệu suất trong chuỗi cung ứng bằng mô hình SCOR
Đây là mô hình được xem là nền tảng để phân tích và đo lường hiệu suất của chuỗi cung ứng Mô hình này cũng được Bộ quốc phòng Mỹ chọn làm công cụ đo lường và đánh giá hiệu suất hoạt động chuỗi cung ứng của mình
Mô hình này đưa ra các công cụ để tính hiệu suất của chuỗi cung ứng,
có nhiều chỉ số để đo lường, chọn cách nào là tùy vào mục tiêu của nhà quản
lý Theo Sammel H.Huang, phần lớn các công ty chọn cho mình từ 4-6 chỉ số
để tập trung vào đo lường, phân tích Mô hình SCOR có 5 chỉ số cơ bản: Khả năng giao hàng, khả năng đáp ứng, sự linh hoạt, chi phí và tài sản
Trang 34Bảng 1.1: Đo lường hiệu suất chuỗi cung ứng bằng mô hình SCOR Dịch vụ khách
hàng Nội bộ STT
STT Mô hình SCOR
Dịch vụ khách hàng Nội bộ Mục
tiêu Năng
lực giao hàng
Sự linh hoạt
Khả năng đáp ứng
Chi phí
Tài sản
TĐH
2
Sự linh hoạt của sản xuất
(ngày) (công suất đáp
Chi phí quản lý hậu cần
Giá trị đưa vào sản phẩm
Nguồn: Nguyễn Thị Hồng Đăng (2006)
Trang 351.4.1.1 Phân tích các công cụ đo lường
- Hiệu suất giao hàng: (Delivery performance) hay còn gọi là tỉ lệ giao hàng đúng hẹn (Ontime delivery), tỉ số này được tính:
Tỷ lệ giao hàng đúng hẹn =
Mỗi thành viên trong chuỗi cần được giao hàng đúng hẹn vì mỗi sự chậm trễ nối theo hàng loạt các chậm trễ khác Theo Karl May, giám đốc của dịch vụ vận chuyển hậu cần của BMW thì “Khách hàng cảm thấy là họ cần được giao hàng đúng hẹn” và xác định là “chúng ta phải giao hàng đúng hẹn
và có hiệu quả vì tất cả chúng ta đều cần tiền của khách hàng”
- Tỉ lệ hoàn thành (sản phẩm, đơn hàng): Trong sản xuất người ta kết hợp rất nhiều sản phẩm của nhiều đơn hàng khác để rút ngắn thời gian đáp ứng, giảm chi phí và tăng thông lượng Khi thực hiện cùng lúc nhiều đơn hàng khác nhau, tất cả sản phẩm thường bị trễ hàng loạt Tỉ lệ hoàn thành đơn hàng đo lường tỉ số sản phẩm hoàn thành của các loại trên tất cả các dây chuyền theo đơn hàng
- Tỉ lệ đơn hàng hoàn hảo: là % đơn hàng được hoàn thành và gửi đến khách hàng, đúng chủng loại, bảo đảm chất lượng, không bị hư hỏng khi vận chuyển và bảo đảm các giấy tờ thủ tục Chỉ số này giúp các nhà quản lý kiểm soát và ngăn chặn các sự cố của mọi dòng lưu thông trong chuỗi Nó ngày càng được quan tâm hơn nhất là đối với những công ty có tham vọng tạo ra lợi thế canh tranh bằng khả năng vượt trội Có những loại sản phẩm sau một thời gian sử dụng mới xẩy ra sự cố hoặc khi không nhận được những phản hồi xấu thì không có nghĩa là đơn hàng hoàn hảo Thế nên chỉ số này khó có thể
đo lường chính xác
- Sự linh hoạt của sản xuất: có thể tăng công suất lên bao nhiêu % mà không ảnh hưởng đến tình hình sản xuất chung
Trang 36- Sự linh hoạt của sản phẩm: Khả năng phát triển sản phẩm mới để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, số lượng sản phẩm mới được đưa vào sản xuất
- Thời gian hoàn thành đơn hàng: là thời từ lúc đặt hàng đến lúc nhận được hàng hay còn gọi là thời gian đáp ứng Thời gian đáp ứng là một trong những tiêu chí quan trọng để khách hàng ra quyết định lựa chọn nhà cung cấp Thời gian đáp ứng không chỉ là thời gian nguyên liệu được gia công chế biến
mà còn bị lãng phí vì chờ đợi hoặc di chuyển Vì vậy, các nhà quản lý luôn luôn tìm cách giảm thời gian đáp ứng bằng cách loại bỏ những khoảng thời gian trống của quá trình.Trong môi trường cạnh tranh hiện nay, thời gian đáp ứng đã trở thành một trong những lợi thế cạnh tranh quan trọng
- Chi phí bán hàng: là chi phí liên quan đến việc mua nguyên liệu và sản xuất ra thành phẩm Nó bao gồm chi phí trực tiếp và gián tiếp
- Chi phí quản lý hậu cần: được tính bằng tổng chi phí quản lý đặt hàng, nhận hàng, lưu kho, tài chính, kế hoạch và chi phí quản lý hệ thống thông tin
- Chi phí đảm bảo: bao gồm chi phí vật liệu, lao động và nghiên cứu các lỗi sản phẩm bị trả về để sửa chữa hoặc thay mới Cải tiến chất lượng sẽ làm giảm loại chi phí này
- Chu kỳ từ tiền đến tiền (ngày): được tính từ thời điểm trả tiền nguyên vật liệu đến thời điểm nhận được tiền trả của người mua Tiền là một trong những yếu tố sống còn của doanh nghiệp nên các nhà quản lý luôn nỗ lực giảm thiểu khoảng thời gian này để tránh trường hợp bị thiếu hụt tiền mặt
- Giá trị tồn kho: tổng giá thuần hàng tồn kho tại một chi phí chuẩn trước khi dự phòng cho sản phẩm hư hỏng hoặc lỗi thời
Trang 37- Quay vòng tài sản: đánh giá khả năng sử dụng tài sản trong quá trình hoạt động
Quay vòng tài sản =
Nhận xét mô hình SCOR
Ưu điểm:Đo được hiệu suất bên ngoài khi đáp ứng nhu cầu khách hàng,
hiệu suất bên trong khi sử dụng các nguồn vốn và tài sản Đo sự linh hoạt của chuỗi, trong giai đoạn 27 cạnh tranh như hiện nay, sự linh hoạt trở thành một trong những lợi thế cạnh tranh hết sức quan trọng Hiệu suất đã được phân tích thành những yếu tố riêng lẻ có thể định lượng được
Nhược điểm: Mô hình trên chủ yếu đo lường kết quả thực hiện (hiệu
quả) hơn là đo lường hiệu suất trên các dòng quá trình Nếu trong sản xuất vận hành phát sinh những vấn đề thì nhà quản lý sẽ khó có thể xác định được nguyên nhân, nguồn gốc thực sự của nó; Không đo được sự phản hồi của khách hàng cũng như cảm nhận của họ về chuỗi Không đánh giá được mức
độ thoả mãn và mức độ trung thành của khách hàng.Sẽ gặp một số khó khăn khi tìm kiếm, nhận định và giải quyết các vấn đề về hiệu suất trong chuỗi cung ứng ở mức độ sâu hơn; Có mô hình khác tuy không thông dụng bằng Score nhưng lại rất mạnh trong việc đo lường, phân tích và kiểm soát dòng quá trình Đó là mô hình đo hiệu suất của David Taylor
1.4.2 Đo lường hiệu suất trong chuỗi cung ứng theo David Taylor
Taylor giới thiệu 4 tiêu chí xác định hiệu suất là thời gian, chi phí, năng lực và hiệu quả hoạt động Mỗi tiêu chí được diễn giải thành các chỉ số rất có thể đo lường được và thời gian là yếu tố dễ thấy nhất, nó thường được nhắc đến đầu tiên
Trang 38 Đo thời gian
Bảng 1.2: Đo thời gian
Dạng Ví dụ Đơn vị Mục tiêu
Thời gian xử lý Thời gian xử lý đơn hàng
Thời gian chuyển pallet
Ngày Giây
Tối thiểu hóa
Chu kỳ từ tiền đến tiền
Giây Ngày
Tối thiểu hóa
Tốc độ vận chuyển giữa các lối đi trong nhà máy
Mét/giây Km/giờ
Tối đa hóa
Thông lượng (đơn
vị thời gian)
Sản phẩm ở đầu ra Thông lượng vận chuyển trong ống
Sp/giờ Lít/giờ
Tối đa hóa
(Nguồn: Nguyễn Bá Khánh, 2017)
- Thời gian xử lý đơn hàng: là thời gian tính từ lúc nhận được đơn hàng tới lúc đơn hàng được hoàn thành và sẵn sàng cho việc phân phối Nó bao gồm: thời gian đáp ứng của nhà cung cấp cộng với thời gian đáp ứng tại nhà máy Để đối phó với những đơn hàng bất thường hoặc những rủi ro khác
- Đo lường thời đoạn: Đo lường khoảng thời gian giữa hai công việc/
Trang 39được đo bằng lưu lượng nguyên liệu vận chuyển trong đường ống trong một đơn vị thời gian Trong chuỗi cung ứng người ta quan tâm đến thông lượng nhiều hơn là tốc độvì thông lượng phản ảnh được tốc độ vận hành của chuỗi Một sản phẩm muốn hoàn tất thì phải trải qua tất cả các công đoạn, vận tốc vận hành ở các trạm làm việc có khác nhau thì nguyên liệu vẫn phải qua công đoạn cuối cùng để trở thành sản phẩm
Đo chi phí
Bảng 1.3: Đo chi phí
Chi phí trực tiếp Chi phí nguyên vật liệu 1000 đồng Tối thiểu hóa
Chi phí lao động 1000 đồng Tối thiểu hóa
Chi phí gián tiếp Chi phí nhà xưởng 1000 đồng Tối thiểu hóa
Chi phí cơ hội 1000 đồng Tối thiểu hóa
Chi phí lỗi
Chi phí bảo đảm 1000 đồng Tối thiểu hóa Chi phí sửa chữa và
thay thế
1000 đồng Tối thiểu hóa
Chi phí thời đoạn
Trả lãi và thuê mướn 1000
đồng/năm Tối thiểu hóa
đồng/năm Tối thiểu hóa
Chi phí lũy tiến Chi phí vận chuyển 1000 đồng Tối thiểu hóa
Chi phí sử dụng kho 1000 đồng Tối thiểu hóa
(Nguồn: Nguyễn Bá Khánh, 2017)
- Chi phí lỗi: Là các chi phí phát sinh do sai hỏng, nó thường được quy chủ yếu vào quá trình sản xuất và vận hành Nó là chi phí hữu hình, là một phần nhỏ trong chi phí để bảo đảm chất lượng Những chi phí vô hình mà doanh nghiệp phải gánh chịu khi sản phẩm không bảo đảm chất lượng đến tay khách hàng là không thể tính được Nó được xem như phần chìm của tảng
Trang 40băng trôi Trong quản lý chất lượng, người ta quan tâm đến việc phát hiện và ngăn ngừa lỗi hơn là chỉ đơn thuần việc khắc phục hậu quả
- Chi phí thời đoạn: Là những chi phí được hạch toán theo thời đoạn nào đó (như tháng, quý, năm tài chính…) Các dạng chi phí loại này cụ thể là: Chi phí trả lãi vay và thuê, chi phí quản lý nhà xưởng
- Chi phí luỹ tiến: Dạng chi phí này đồng biến với biến được sử dụng như thời gian, quãng đường, số giờ lao động…Nếu là những chi phí không thể tránh được thì các nhà quản lý tìm cách giảm xuống mức thấp nhất có thể được Các loại chi phí này có thể kể đến như: Chi phí vận chuyển, chi phí lưu kho
Đo năng lực hoạt động
Đo lường khả năng sử dụng các nguồn lực của hệ thống như vốn, dung lượng, kho… trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Tối đa hóa
Thời gian hàng lưu kho Ngày Tối thiểu hóa Phần trăm hàng đang xử
Số lượng/ đơn vị nhà máy
Tối đa hóa
Đơn hàng/số khách hàng hiện tại
Đơn hàng Tối đa hóa
Vốn sử dụng ROI % Tối đa hóa
Tỉ số quay vòng tiền mặt $ Tối đa hóa
(Nguồn: Nguyễn Bá Khánh, 2017)