TRƯƠNG THỊ CẨM HIỀN QUẢN LÝ CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH Chuyên ng
Trang 1TRƯƠNG THỊ CẨM HIỀN
QUẢN LÝ CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số :8.14.01.14
Người hướng dẫn: PGS.TS TRẦN XUÂN BÁCH
Trang 2
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả
Trang 3Lời đầu tiên cho phép tôi xin gửi đến thầy, PGS.TS Trần Xuân Bách – lòng biết ơn sâu sắc nhất - người đã quan tâm và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn Thầy đã cho tôi thêm nhiều kiến thức về khoa học quản lý giáo dục cũng như giúp tôi kỹ năng nghiên cứu khoa học Một lần nữa, tôi xin được nói lời cảm ơn thầy
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học Khoa tâm lý giáo dục, Trường Đại học Quy Nhơn, cùng các thầy cô giáo đã quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi, dành nhiều công sức giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo đảng ủy, ủy ban nhân dân thị xã An nhơn, lãnh đạo, chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định, các cơ quan, tổ chức, đơn vị, Ban giám hiệu trường THCS Đập Đá, THCS Bình Định, THCS Nhơn Mỹ, các đồng chí cán bộ giáo viên cùng gia đình đã nhiệt tình cộng tác, cung cấp số liệu, cho ý kiến, quan tâm, động viên, giúp
đỡ để tôi có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và nghiên cứu trong suốt thời gian qua!
Mặc dù cố gắng thật nhiều trong quá trình thực hiện đề tài, song không thể tránh khỏi thiếu sót nhất định Tôi rất mong được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của quý thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và những người cùng quan tâm đến vấn đề trình bày trong luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Quy Nhơn, tháng 8 năm 2019
Tác giả
Trương Thị Cẩm Hiền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Phạm vi nghiên cứu 4
8 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 6
1.1.Khái quát lịch sử vấn đề nghiên cứu 6
1.2.Các khái niệm chính của đề tài 9
1.2.1 Gia đình 9
1.2.2 Quản lý giáo dục 9
1.2.3 Quản lý nhà trường 10
1.2.4 Đạo đức 11
1.2.5 Giáo dục đạo đức 12
1.2.6 Quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh 14
1.3 Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường trung học cơ sở 14
1.3.1 Tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức 14
1.3.2 Nội dung, phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh 15
Trang 5đức 22 1.4 Lý luận về công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình đối với hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở 24 1.4.1 Chức năng của giáo dục gia đình 25 1.4.2 Giáo dục đạo đức và vai trò cơ bản của giáo dục gia đình 25 1.4.3 Ý nghĩa của việc phối hợp giữa nhà trường và gia đình đối với hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở 27 1.5 Nội dung, hình thức phối hợp giữa nhà trường và gia đình đối với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh 28 1.5.1 Nội dung phối hợp 28 1.5.2 Hình thức phối hợp 28 1.5.3 Vai trò của nhà trường trong sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình đối với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh 29 1.6 Quản lý sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình đối với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở 31 1.6.1 Quản lý phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh 31 1.6.2 Quản lý sự thống nhất phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở 32 16.3 Quản lý thống nhất cách thức của sự phối hợp 33 TIỂU KẾT CHƯƠNG I 34
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHỐI HỢP VÀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH 35
2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên tình hình kinh tế - xã hội, giáo dục – đào tạo của thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định 35
Trang 62.2 Khái quát quá trình khảo sát thực trạng 47
2.2.1 Mục đích khảo sát 47
2.2.2 Nội dung khảo sát 47
2.2.3 Đối tượng khảo sát 47
2.2.4 Thời gian và phương pháp khảo sát 47
2.2.5 Thiết kế mẫu khảo sát 47
2.3 Thực trạng về đạo đức của học sinh ở các trường trung học cơ sở thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định 48
2.4.Thực trạng về công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường trung học cơ sở thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định 49
2.4.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, cha mẹ học sinh về công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh 49
2.4.2 Thực trạng công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh 55
2.5 Thực trạng quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường trung học cơ sở thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định 58
2.5.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ giáo viên về vai trò của quản lý sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh 58
2.5.2 Thực trạng công tác quản lý kế hoạch, chương trình, phối hợp giữa nhà trường và gia đình 59
2.5.3 Thực trạng về quản lý việc thực hiện các nội dung phối hợp giữa nhà trường và gia đình đối công tác giáo dục đạo đức cho học sinh 60
2.6 Nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả của quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh 61
Trang 72.7.3 Nguyên nhân của thực trạng 64
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THỊ XÃ AN NHƠN,TỈNH BÌNH ĐỊNH 67
3.1 Định hướng và các nguyên tắc xác lập biện pháp 67
3.1.1 Định hướng đề xuất biện pháp 67
3.1.2 Nguyên tắc xác lập biện pháp 68
3.2 Các biện pháp quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh 70
3.2.1 Biện pháp 1: Tổ chức tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên, cha mẹ học sinh về tầm quan trọng của sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình đối với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh 70
3.2.2.Biện pháp 2: Kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo trong việc phối hợp giữa nhà trường và gia đình đối với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh 72
3.2.3 Biện pháp 3: Kế hoạch hóa hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình đối với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh 74
3.2.4 Biện pháp 4: Đổi mới quản lý nội dung, hình thức phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh 76
3.2.5 Biện pháp 5: Phát huy vai trò chủ đạo của nhà trường và vai trò chủ động của Ban đại diện cha mẹ học sinh trong việc phối hợp giữa nhà trường và gia đình đối với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh 78
3.2.6 Biện pháp 6: Tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh 81
Trang 83.4 Khảo sát nhận thức về tính cấp thiết và tính khả thi của biện pháp đề xuất 83
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 87
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88
1 Kết luận 88
2 Khuyến nghị 89
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 94
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)
Trang 9Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
GDTX : Giáo dục thường xuyên
GVCN : Giáo viên chủ nhiệm
Trang 10Bảng 2.1 Số lượng giáo viên (cơ hữu) và học sinh ở các trường THCS thị xã
An Nhơn, tỉnh Bình Định (Năm học 2017-2018) 43
Bảng 2.2 Về trình độ học vấn của gia đình học sinh 44
Bảng 2.3 Số lượng phiếu điều tra khảo sát thực trạng 48
Bảng 2.4 Kết quả xếp loại đạo đức học sinh 48
Bảng 2.5 Đánh giá CBQL về mức độ cần thiết của việc phối hợp giữa NT và GĐ trong công tác GDĐĐ cho học sinh 49
Bảng 2.6 Nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc phối hợp giữa NT và GĐ trong công tác GDĐĐ cho học sinh 50
Bảng 2.7 Thống kê về nhận thức của CMHS đối với công tác phối hợp giữa NT và GĐ trong việc GDĐĐ cho học sinh 50
Bảng 2.8 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến GDĐĐ của học sinh 51
Bảng 2.9.Các lực lượng ảnh hưởng đến GDĐĐ cho HS (Theo đánh giá của CBQL) 54
Bảng 2.10 Mức độ thực hiện nội dung công việc 56
Bảng 2.11 Nhận thức của GV về về vai trò của công tác quản lý sự phối hợp giữa NT và GĐ qua các nội dung 57
Bảng 2.12 Nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả của quản lý công tác phối hợp (Kết quả ý kiến từ 151 CBGV) 61
Bảng 3.1 Đối tượng khảo nghiệm 84
Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm về tính cấp thiết của các biện pháp 84
Bảng 3.3 Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp 85
Biểu đồ 2.1 Nghề nghiệp và thu nhập của gia đình HS 2010 – 2018 44
Biểu đồ 2.2 Trình độ học vấn của gia đình học sinh 45
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đối với sự phát triển và hưng thịnh của mỗi quốc gia, yếu tố con người luôn giữ vai trò quyết định Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, Đảng
và Nhà nước ta luôn chú trọng đến nguồn lực con người, nhất là vai trò của giáo dục
và đào tạo Giáo dục và đào tạo con người có đạo đức, tri thức, kỹ năng… được coi
là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Sự nghiệp trồng người được đặt ra không chỉ đối với nhà trường mà cần sự phối hợp với gia đình hướng tới chân thiện mỹ, phát triển toàn diện cả về tri thức và đạo đức là nhiệm vụ hàng đầu của giáo dục, đặc biệt là giai đoạn tuổi thanh thiếu niên, lứa tuổi đang tự hoàn thiện bản thân để bước sang tuổi trưởng thành càng đóng vai trò đặc biệt quan trọng Để trở thành công dân tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vào công tác giáo dục đạo đức học sinh ở cấp THCS
Vì vậy, giáo dục đạo đức cho học sinh rất cần được coi trọng, nhất là trong bối cảnh xã hội hiện nay, với những ai quan tâm đến nền giáo dục nước nhà không khỏi lo lắng trước sự sụt giảm đạo đức của giới trẻ Khi các luồng văn hóa phương Tây ồ ạt tràn vào Việt Nam, cùng với sự hội nhập khoa học kỹ thuật hiện đại của loài người, đã tác động mạnh mẽ vào lối sống, cách suy nghĩ và nhận thức của lớp trẻ non nớt, làm sói mòn những giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, tác động xấu đan xen với tác động tốt, nên dễ ảnh hưởng cái xấu nhiều hơn cái tốt Hiện nay một số bộ phận thanh thiếu niên có dấu hiệu sa sút nghiêm trọng về đạo đức, nhu cầu cá nhân phát triển lệch lạc, ý thức kém trong quan hệ cộng đồng, thiếu niềm tin trong cuộc sống, không có tính tự chủ, dễ bị lôi cuốn và dụ dỗ vào những hành
vi xấu, tiêu cực… đang len lỏi vào trong nhà trường
Trước những biểu hiện xuống cấp về đạo đức của học sinh, sinh viên do tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường với hàng loạt các sự kiện khiến dư luận hết sức quan tâm, từ chuyện đánh nhau trong trường , ngoài đường phố dẫn đến thực trạng đạo đức của học sinh có những biểu hiện ngày càng nghiêm trọng Trong
Trang 12các nhà trường phổ thông hiện nay, số học sinh vi phạm đạo đức và vi phạm pháp luật có chiều hướng gia tăng Tình trạng học sinh kết thành băng nhóm bạo hành trong trường học đang ở mức báo động Giáo dục đạo đức ở các trường phổ thông hiện nay còn nhiều bất cập và hạn chế Một số cán bộ quản lý và giáo viên chưa thực sự sâu sát, chỉ lo chú trọng đến việc dạy tri thức khoa học, chưa quan tâm đúng mức đến việc giáo dục đạo đức cho học sinh, đặc biệt đối với học sinh trung học cơ
sở thì việc giáo dục đạo đức có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần thiết
Vì vậy, muốn cải thiện tình hình này, điều quan trọng cần hướng tới chính là quan tâm vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường
Đạo đức được tạo dựng nên bởi nhiều yếu tố nhưng quan trọng và quyết định nhất là sự phối hợp, thống nhất, liên tục và toàn vẹn giữa nhà trường, đội ngũ thầy
cô giáo và vai trò của CMHS Nhà trường có vai trò chỉ đường, giáo viên có vai trò dẫn lối, CMHS có vai trò đồng hành Việc phối hợp này sẽ làm cho công tác giáo dục nhà trường cũng như ở gia đình và xã hội có kết quả tốt hơn Chính vì vậy, Hồ Chủ Tịch đã căn dặn: “Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ở ngoài xã hội và trong gia đình, để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội, thì kết quả cũng không hoàn toàn” Quá trình học sinh được giáo dục và trưởng thành trong nhà trường chiếm thời gian dài và có tính quyết định Tuy nhiên, môi trường sống, học tập và trải nghiệm của học sinh hiện nay bên cạnh những tác động tích cực còn có những tác động tiêu cực Do vậy,
sự kết hợp giáo dục chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình chiếm vị trí quan trọng
Thực tế cho thấy, công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở các trường trung học cơ sở thị xã An Nhơn tỉnh Bình Định trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh thời gian qua, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế trong công tác tổ chức, quản lý Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “ Quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường trung học cơ sở thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định”
Trang 132 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng quản lý công tác quản
lý phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường trung học cơ sở thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý công tác phối hợp giáo dục đạo đức góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh trường trung học cơ sở trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường trung học cơ sở
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường trung học cơ sở thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định
4 Giả thuyết khoa học
Nếu khảo sát, điều tra, phân tích và đánh giá đúng thực trạng công tác quản
lý phối hợp giữa NT và GĐ trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THCS thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định trong những năm qua kết hợp với cơ sở lý luận về công tác quản lý nhà trường, thì xác lập được các biện pháp quản lý công tác phối hợp giữa NT và GĐ ở các trường THCS thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định có tính cấp thiết và khả thi
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý phối hợp giữa nhà trường và gia đình đối với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở
5.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý việc phối hợp giữa nhà trường và gia đình đối với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học cơ sở thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định
Trang 145.3 Đề xuất các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng trong công việc phối hợp giữa nhà trường và gia đình đối với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp các tài liệu, phân loại và hệ thống hóa các tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng các phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, phỏng vấn, tổng kết kinh nghiệm, lấy ý kiến chuyên gia… nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu
6.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học nhằm xử lý kết quả nghiên cứu
7 Phạm vi nghiên cứu
7.1 Khảo sát thực trạng về quản lý công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục đạo đức học sinh tại 03 trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định
7.2 Xác lập các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng trong công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường trung học cơ sở thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định
8 Cấu trúc luận văn
Luận văn được cấu trúc gồm 3 phần:
Phần 1 Mở đầu:
Phần 2 Nội dung: Gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý phối hợp giữa NT và GĐ trong việc
GDĐĐ cho học sinh ở các trường THCS
Chương 2: Thực trạng quản lý công tác phối hợp giữa NT và GĐ trong việc
Trang 15GDĐĐ cho học sinh ở các trường THCS thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định
Chương 3: Biện pháp quản lý công tác phối hợp giữa NT và GĐ trong việc
GDĐĐ cho học sinh ở các trường THCS thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định
Phần 3 Kết luận và khuyến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Khái quát lịch sử vấn đề nghiên cứu
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là sự tác động có định hướng, có mục tiêu, có tổ chức, có kế hoạch Đó là quá trình hoạt động có sự kết hợp đồng bộ vai trò chủ đạo của người thầy với sự tự giác, tích cực chủ động và rèn luyện của trò nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ
Từ những năm cuối thế kỉ XIX cho đến những năm cuối thế kỷ XX, giai đoạn chủ nghĩa Mác-Lênin xuất hiện và phát triển cùng với sự phát triển của nền khoa học –
kỹ thuật Khoa học giáo dục thực sự phát triển và có nhiều biến đổi về lượng và chất Những vấn đề chủ yếu của chủ nghĩa Mác-Lênin đã định hướng cho sự nghiệp giáo dục là các quy luật về sự hình thành nhân cách con người, tính quy định về kinh tế - xã hội đối với giáo dục… Dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin, nhiều nhà khoa học Xô viết cũ đã thông qua lý luận dạy học để gián tiếp thể hiện những quan điểm của mình
về chất lượng giáo dục, hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực
Từ khoảng nửa cuối thế kỷ XX đến nay, khi mà thế giới đang chuyển dần từ
kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên công nghệ thông tin và phát triển nền kinh
tế tri thức, vấn đề hiệu quả giáo dục nói chung và phẩm chất đạo đức của con người nói riêng đã được nhiều nhà khoa học đặc biệt quan tâm
Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến mối quan hệ giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội, coi đó là nguyên tắc cơ bản để đảm bảo kết quả giáo dục Nhiều nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu, từng bước giải quyết những vấn đề trên theo từng góc độ khác nhau nhưng cùng chung một mục đích đó là “Đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”, nhằm đáp ứng với sự thay đổi nhanh chóng về KH-KT và CN cũng như những vấn đề khác về kinh tế - chính trị xã hội, an ninh quốc phòng…
Trang 17các các nhà khoa học quan tâm Đặc biệt, có nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề phối hợp, quản lý phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh Vấn đề giáo dục đạo đức đã và đang trở thành mối quan tâm của các nhà
sư phạm nói chung và các nhà quản lý giáo dục nói riêng Trong các văn kiện của Đảng đã thường xuyên thể hiện sự quan tâm đến vấn đề xây dựng con người Việt Nam, đặc biệt là đạo đức của con người Việt Nam qua từng thời kỳ
Giáo dục đạo đức cho học sinh là yếu tố quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa “Dạy cũng như học, phải chú trọng cả tài lẫn đức Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng”, Hồ Chí Minh
đã từng nói: “Có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức thì là người vô dụng” [29] Nguyễn Trãi cũng đã khẳng định “tài thì kém đức một vài phần” và cho rằng “Người có tài mà không có đức thì nhũng nhiễu thiên hạ” Cho nên “sĩ tử đi học trước hết phải trau dồi đạo đức rồi sau mới học làm văn chương, giỏi thì giúp đời cứu dân, không giỏi thì sửa mình, sửa tục” [27]
Một trong các khâu quan trọng trong đào tạo học sinh ở nhà trường là GDĐĐ , nhưng việc GDĐĐ muốn đạt kết quả tốt không thể không có sự phối hợp giáo dục của gia đình và xã hội Vì đạo đức được hình thành trong cuộc sống, hoạt động và giao tiếp với các thành viên khác trong xã hội Song làm thế nào để nhà trường, gia đình và xã hội cùng đạt được mục đích trong GDĐĐ đó là vấn đề luôn được đặt ra cho các nhà quản lý Vì vậy, việc phối hợp giữa NT và GĐ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý GDĐĐ cho học sinh đã trở thành đề tài nghiên cứu khoa học của các nhà giáo dục Việt Nam Thời gian qua có một số tác giả nghiên cứu về đạo đức và GDĐĐ như Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt đã bàn đến vai trò, vị trí và ý nghĩa của GDĐĐ cho học sinh [31] Các tác giả như Phạm Minh Hạc đã nghiên cứu định hướng giá trị đạo đức con người Việt Nam trong thời kì Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa đất nước Phạm Khắc Chương nghiên cứu về lý luận đạo đức trong nhà trường hiện nay Tác giả Đặng Quốc Bảo với: Một số ý kiến về nhân cách thế hệ trẻ, thanh niên, sinh viên và phương pháp giáo dục Đặng Xuân Hải (2005), với “ Đổi mới công tác bồi dưỡng cán bộ quản lí giáo dục, quản lí nhà trường” [15]
Trang 18Một số luận văn nghiên cứu về giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua con đường phối hợp giữa nhà trường và xã hội Tác giả Phạm Thành Công với đề tài:
“Tổ chức phối hợp nhà trường với gia đình và xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THCS huyện Đan Phượng, Hà Nội” 2012 của trường Đại học Giáo dục, đề cập đến mối quan hệ bền vững, vững vàng tạo thành tam giác đó là nhà trường, gia đình và xã hội Trong đó đề tài chủ yếu đề cập đến vai trò của xã hội trong việc tác động đến đạo đức học sinh
Tác giả Hồ Văn Thơm (2009) nghiên cứu về thực trạng quản lý sự phối hợp giữa NT và GĐ trong công tác giáo dục đạo đức HS ở các trường THCS Huyện Cần Đước, tỉnh Long An
Tác giả Dương Công Dũng (2012) với đề tài: “Biện pháp quản lý của Hiệu trưởng đối với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THCS huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi Mặc dù nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục đạo đức cho học sinh nhưng
đề tài tiếp cận ở góc độ quản lý chung về công tác này của Hiệu trưởng chứ không
đi sâu vào một mối quan hệ nào
Tác giả Đỗ Quang Hợp cũng đề cập đến các biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức của Hiệu trưởng các trường THCS tỉnh Hưng Yên
Như vậy, nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục đạo đức cho học sinh được nhiều học giả quan tâm Tuy nhiên, quản lý công tác phối hợp giữa NT và GĐ cho học sinh đặc biệt là loại hình trường THCS thì đang còn bỏ ngỏ Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu trên đi sâu vào việc xác định các nội dung giáo dục đạo đức, định hướng các giá trị ĐĐ, các giải pháp giáo dục đạo đức cho học sinh Đặc biệt, hiện nay chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục đạo đức học sinh ở các trường THCS nói chung và học sinh trường THCS thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định nói riêng Xuất phát từ vấn đề cấp thiết
và ý nghĩa thực tiễn, đề tài của tác giả là sự tiếp nối những nghiên cứu về công tác quản lý của Hiệu trưởng đối với công tác phối hợp giữa NT và GĐ trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh THCS Vì vậy, tác giả chọn đề tài này với hy vọng nêu ra các biện pháp quản lý công tác phối hợp giữa NT và GĐ trong việc giáo dục đạo đức
Trang 19cho học sinh THCS nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THCS thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định trong giai đoạn hiện nay
1.2 Các khái niệm chính của đề tài
1.2.1 Gia đình
Theo từ điển Tiếng Việt thì “Gia đình là một tập hợp người cùng chung sống thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái” Gia đình là nền tảng của
xã hội, là môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mọi thành viên nhất là trẻ em
1.2.2 Quản lý giáo dục
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể (người quản lý,
tổ chức quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế,…bằng một hệ thống
có luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm đạt tới mục tiêu đề ra Mục tiêu quản lý là định hướng toàn bộ hoạt động quản
lý đồng thời là công cụ để đánh giá kết quả quản lý Để thực hiện những mục tiêu
đó, quản lý phải thực hiện bốn chức năng: Kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, kiểm tra đánh giá
Quản lý giáo dục là một loại hình quản lý Dựa vào khái niệm “Quản lý” một
số tác giả đưa ra khái niệm quản lý giáo dục như sau:
“Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà trên quan điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”
“Quản lý giáo dục, quản lý trường học có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính chất sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng trong và ngoài nhà trường làm cho quy trình này vận hành tới việc hoàn thành những mục tiêu dự kiến”
Trang 20“Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt tới kết quả mong muốn”
Dù diễn đạt nhiều cách khác nhau, song các định nghĩa trên đều toát lên bản chất của hoạt động giáo dục, có cơ sở giáo dục là hệ thống các tác động có mục đích, có định hướng, có ý thức của bộ máy quản lý giáo dục các cấp tới các đối tượng quản lý theo những quy luật khách quan nhằm đưa hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu mong muốn
Trong bài nghiên cứu của mình, tác giả sử dụng khái niệm “quản lý giáo dục
là hệ thống các tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt mục tiêu giáo dục đề ra”
là quản lý trường học
Là hệ thống trường học có mối quan hệ bên ngoài và bên trong gắn kết chặt chẽ Quản lý trường học chính là quản lý hai mối quan hệ đó Tác giả Phạm Minh Hạc có viết: “Quản lý nhà trường là thể hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế
hệ trẻ và với từng học sinh” [14]
Quản lý nhà trường được hiểu là hoạt động của hiệu trưởng, nhằm tập hợp và
tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường
Trang 211.2.4 Đạo đức
Đạo đức được xem là khái niệm luân thường đạo lý của con người, nó thuộc
về vấn đề tốt-xấu, hơn nữa xem như là đúng-sai, được sử dụng trong ba phạm vi: lương tâm con người, hệ thống phép tắc ĐĐ và trừng phạt đôi lúc còn được gọi giá trị ĐĐ; nó gắn với nền văn hóa, tôn giáo, chủ nghĩa nhân văn, triết học và những luật lệ của một xã hội về cách đối xử từ hệ thống này
Dưới góc độ triết học, ĐĐ là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức
xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng Căn cứ vào những quy tắc
ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi người bằng các quan niệm về thiện
ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ, danh dự [18, tr.145]
Dưới góc độ ĐĐ học, ĐĐ là một hình tái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một
hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội [18,tr.12]
Dưới góc độ Giáo dục học, ĐĐ là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống các quan niệm về cái thực, cái có trong mối quan hệ của con người với con người [12,tr.170-171]
Theo nghĩa rộng, khái niệm ĐĐ liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống ĐĐ là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hóa ĐĐ được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng, ở hành động giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn Khi thừa nhận ĐĐ là một hình thái ý thức xã hội thì đạo đức của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng lớp giai cấp trong xã hội cũng phản ánh ý thức chính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn tại [18,tr.153-154]
Ngày nay, ĐĐ được định nghĩa như sau: “ĐĐ là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu xã hội, nhờ
đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ của con người với
Trang 22con người, giữa cá nhân và xã hội” [18,tr.12]
Bản chất ĐĐ là những quy tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội nó được hình thành, tồn tại và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và tự giác thực hiện ĐĐ là một hình thái ý thức xã hội phản ánh những quan hệ xã hội được hình thành trên cơ sở kinh tế, xã hội Mỗi hình thái kinh tế hay mỗi giai đoạn đều có những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức tương ứng Vì vậy, ĐĐ có tính giai cấp, tính dân tộc và tính thời đại
Trong nền kinh tế thị trường và sự hội nhập quốc tế, khái niệm ĐĐ cũng có thay đổi theo tư duy và nhận thức mới Tuy nhiên, không có nghĩa là các giá trị đạo đức cũ hoàn toàn mất đi, thay vào đó là các giá trị ĐĐ mới Theo quan điểm của Đảng và Nhà Nước ta, các giá trị ĐĐ hiện nay là sự kết hợp sâu sắc truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu hướng tiến bộ của thời đại, của nhân hoại Đó là tinh thần cần cù lao động, sáng tạo, tình yêu quê hương đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, có nếp sống văn minh lành mạnh, có tinh thần nhân đạo và tinh thần quốc tế cao cả
Như vậy, có thể hiểu: “ĐĐ là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực
xã hội Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người
và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ của con người với con người, giữa cá nhân và xã hội”
1.2.5 Giáo dục đạo đức
Theo các tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “GDĐĐ là quá trình biến đổi các chuẩn mực ĐĐ, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của con người được giáo dục” [34]
GDĐĐ là quá trình tác động tới học sinh của nhà trường, gia đình và xã hội, nhằm hình thành cho học sinh ý thức, tình cảm, niềm tin đạo đức và cuối cùng quan trọng nhất là hình thành cho họ thói quen, hành vi đạo đức trong đời sống xã hội
Trang 23Song giáo dục trong nhà trường giữ vai trò chủ đạo định hướng “GDĐĐ cho học sinh là bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng giáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa” [9,tr.128]
Ngày nay, GDĐĐ cho học sinh là GDĐĐ xã hội chủ nghĩa Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, đạo đức, pháp luật, làm cho học sinh có tinh thần yêu nước, thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thật sự say mê học tập, có ý thức tổ chức kỷ luật, kính thầy, yêu bạn, có nếp sống lành mạnh, biết tôn trọng pháp luật
GDĐĐ cho học sinh là giáo dục lòng trung thành đối với Đảng, hiếu với Dân, yêu quê hương đất nước, có lòng vị tha, nhân ái, cần cù liêm khiết và chính trực Đó là đạo đức xã hội chủ nghĩa là đạo đức của cá nhân, tập thể và chủ nghĩa nhân đạo mang tính chân thực tích cực, khác với đạo đức vị kỷ, cá nhân GDĐĐ học sinh gắn chặt với giáo dục tư tưởng – chính trị, giáo dục truyền thống và giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc, giáo dục pháp luật nhà nước xã hội chủ nghĩa, cung cấp cho học sinh những phương thức ứng xử đúng đắn trước vấn đề của xã hội…giúp cho các em có khả năng tự kiểm soát hành vi của bản thân một cách tự giác, có khả năng chống lại những biểu hiện lệch lạc về lối sống
Bên cạnh đó, GDĐĐ học sinh trong nhà trường có vai trò vô cùng quan trọng Từ xưa, ông cha ta đã đúc kết một kinh nghiệm rất sâu sắc kinh nghiệm về giáo dục “Tiên học lễ, hậu học văn”, “Lễ” ở đây chính là nền tảng của sự lĩnh hội và phát triển tốt các tri thức, kỹ năng Ngày nay, với phương châm “ Dạy người, dạy chữ, dạy nghề” cũng thể hiện rõ vai trò của hoạt động GDĐĐ học sinh trong nhà trường Bác Hồ đã dạy: “Dạy cũng như học, phải chú trọng cả tài lẫn đức Đức là đạo đức cách mạng” Đó là cái gốc quan trọng Nếu thiếu đạo đức, con người sẽ không phải là con người bình thường và cuộc sống xã hội sẽ không phải là cuộc sống xã hội bình thường, ổn định…” [31]
Bởi vậy, GDĐĐ học sinh trong trường học có vai trò hết sức quan trọng Nó góp phần đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện các em, để các em trở thành người có nhân cách, vừa có đức vừa có tài đáp ứng được yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế của đất nước và đó cũng chính là nhiệm vụ hàng đầu
Trang 24của thanh niên, học sinh trong giai đoạn hiện nay
1.2.6 Quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh
Công tác phối hợp là nguồn lực, là sức mạnh để hoàn thành tốt nhiệm vụ trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh
Quản lý công tác phối hợp có nghĩa là giáo dục học sinh tại nhà trường là một quá trình không liên tục về cả mặt thời gian và không gian Vì thời gian nhà trường quản lý học sinh chỉ ở mức độ nhất định Vì vậy nhà trường cần phối hợp với gia đình và các lực lượng xã hội trong việc giáo dục học sinh Để làm tốt điều này, nhà trường cần tích cực vận động PHHS , các lực lượng xã hội ở địa phương tham gia giáo dục học sinh theo kế hoạch chung của nhà trường Điều này rất quan trọng và chỉ có nhà trường hiểu rõ vai trò của sự phối hợp, sự cần thiết phải tạo ra tính thống nhất và liên tục của quá trình giáo dục thì PHHS, các lực lượng xã hội sẽ tự giác tham gia vào quá trình giáo dục do nhà trường đề ra
NT và GĐ có vai trò giáo dục khác nhau đối với sự hình thành và phát triển phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của học sinh Trong mối quan hệ đó thì NT được xem là trung tâm, chủ động, định hướng trong việc phối hợp với GĐ và XH NT là môi trường giáo dục toàn diện nhất, là cơ quan nhà nước thực hiện chức năng giáo dục chuyên nghiệp nhất nên NT là lực lượng giáo dục có hiệu quả nhất, hội tụ đủ những yếu tố cần thiết để có thể huy động sức mạnh giáo dục từ phía GĐ và XH
Quản lý công tác phối hợp giữa NT và GĐ trong việc GDĐĐ cho HS về bản chất là sự tổ chức, quản lý quá trình GDĐĐ cho HS của các lực lượng giáo dục, nhằm đạt hiệu quả cao của NT và GĐ trong công tác GDĐĐ
Mục tiêu của quản lý phối hợp giữa NT và GĐ trong việc GDĐĐ cho HS là làm cho quá trình GDĐĐ được tiến hành đồng bộ, hiệu quả, tạo ra bầu không khí hăng hái và thuận lợi để nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh
1.3 Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường trung học cơ sở
1.3.1 Tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức
Với xu thế hội nhập và phát triển trên tất cả mọi lĩnh vực như hiện nay,
Trang 25Đảng và Nhà nước đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới toàn diện giáo dục để phục vụ cho công cuộc CNH – HĐH đất nước Chúng ta đang sống trong thời đại
có sự tiến bộ mạnh mẽ về KHCN, sự bùng nổ của thông tin toàn cầu Điều này đặt
ra cho mỗi người phải phấn đấu nỗ lực vươn lên trong cuộc sống để không lạc hậu với thời cuộc, từng bước theo kịp tốc độ phát triển của thời đại Nhà trường ngoài nhiệm vụ dạy chữ còn phải dạy cách làm người Do vậy, tầm quan trọng của công tác GDĐĐ cho học sinh đặt ra cho nhà trường ngày càng cao hơn Qua công tác này, nhà trường giúp học sinh có thể hoàn thiện bản thân mình, góp phần đạt được mục đích giáo dục
1.3.2 Nội dung, phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh
1.3.2.1 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh
Nội dung GDĐĐ xã hội chủ nghĩa bao gồm các phẩm chất đạo đức được thể hiện dưới dạng các biểu hiện về hành vi đạo đức, các khái niệm về các quy tắc đạo đức, các thói quen ứng xử trong các quan hệ đạo đức,…
Những yếu tố của tri thức, tình cảm và thói quen đạo đức được chứa đựng trong nội dung của tất cả các môn học trong nhà trường, trong yêu cầu về nội dung, thái độ của học sinh tham gia các loại hình hoạt động đa dạng trong và ngoài nhà trường, trong giao lưu với tập thể trong nhà trường và ngoài xã hội, nơi học sinh học tập và sinh sống Theo tác giả Phạm Minh Hạc thì chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam thời kỳ CNH-HĐH (có thể xác định một cách tương đối) được chia thành 5 nhóm, phản ánh các mối quan hệ chính mà con người phải giải quyết
Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện nhận thức tư tưởng chính trị như: có lý tưởng xã hội chủ nghĩa, yêu quê hương, đất nước, tự cường, tự hào dân tộc, tin tưởng vào Đảng và Nhà Nước
Nhóm chuẩn mực đạo đức hướng vào sự tự hoàn thiện bản thân như: Tự trọng, tự tin, tự lập, giản dị, tiết kiệm, trung thành, siêng năng, hướng thiện, biết kiềm chế, biết hối hận
Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ với mọi người và dân tộc khác: Nhân nghĩa, khoan dung, vị tha, hợp tác, bình đẳng, lễ độ, tôn trọng mọi người, thủy
Trang 26vệ tài nguyên, môi trường tự nhiên, xây dựng xã hội dân chủ bình đẳng…Mặt khác,
có ý thức chống lại các hành vi gây tác hại đến con người và môi trường sống; bảo
vệ hòa bình, bảo vệ và phát huy truyền thống, di sản văn hóa của dân tộc và của nhân loại
GDĐĐ cho học sinh hướng tới mục tiêu giúp học sinh nhận thức được các chuẩn mực đạo đức của xã hội, rèn luyện kỹ năng, hành vi theo các chuẩn mực đó
và hình thành thái độ, ý thức trong học sinh về đạo đức
Nội dung của GDĐĐ hướng tới lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu hòa bình, có tinh thần cộng đồng và quốc tế, có tinh thần lao động sáng tạo, có thái
độ xây dựng và bảo vệ môi trường
Nội dung giáo dục đạo đức ở trường trung học cơ sở hiện nay
Theo giáo trình “Quản lý giáo dục và đào tạo” năm 2003 (tài liệu dùng cho cán bộ QLGD) của trường Cán bộ quản lý giáo dục – đào tạo thì nội dung giáo dục đạo đức cho HS trường THCS bao gồm:
Giáo dục chính trị, tư tưởng đạo đức
Công tác giáo dục tư tưởng, chính trị đạo đức cho HS THCS rất quan trọng góp phần tích cực vào sự nghiệp giáo dục nhân cách phát triển toàn diện, hài hòa đáp ứng yêu cầu mới của xã hội Nội dung giáo dục tư tưởng, chính trị đạo đức là
“Tăng cường giáo dục thế giới quan khoa học, giáo dục tư tưởng cách mạng XHCN cho học sinh Nâng cao lòng yêu nước XHCN, ý thức về thực hiện đường lối của Đảng và Nhà nước, ý thức về quyền lợi và nghĩa vụ công dân thể hiện trong cuộc sống và học tập, lao động và hoạt động chính trị XH, giáo dục kỷ luật và pháp luật, giáo dục lòng yêu thương con người và hành vi ứng xử có văn hóa”
GDĐĐ trong các mối quan hệ xã hội
Trang 27 GDĐĐ trong mối quan hệ cá nhân với xã hội, cộng đồng, giáo dục học sinh lòng trung thành với lý tưởng XHCN, lòng yêu nước, lòng yêu hòa bình, tự hào dân tộc, tinh thần sẵn sàng bảo vệ Tổ Quốc Biết ơn các vị tiền liệt có công dựng nước và giữ nước, giáo dục lòng tin yêu Đảng Cộng sản Việt Nam và kính yêu Bác Hồ
GDĐĐ trong mối quan hệ cá nhân với lao động: Giáo dục ở HS yêu lao động, chăm chỉ học tập, say mê khoa học kỹ thuật, quý trọng người lao động, quý trọng thành quả lao động XH và các di sản văn hóa, ý thức tiết kiệm
GDĐĐ trong mối quan hệ cá nhân với bản thân: Giáo dục HS lòng tự trọng, đức tính thật thà, giản dị, khiêm tốn, kiên trì, dũng cảm, lạc quan, yêu đời,…
GDĐĐ trong mối quan hệ cá nhân với người khác: Giáo dục lòng yêu thương, quý trọng, thông cảm, đoàn kết tương trợ, tôn trọng lợi ích và ý chí tập thể
GDĐĐ gia đình: Với người trên phải tôn kính lễ độ, khiêm tốn, quan tâm chăm sóc; với người dưới phải thông cảm, nhường nhịn, giúp đỡ, vị tha; với người cùng thế hệ phải tôn trọng khiêm nhường, chân thành giúp đỡ nhau trong học tập
Giáo dục tình bạn chân thành, giáo dục tình yêu chân chính, dựa trên cơ sở thông cảm, hết sức tôn trọng và có cùng một mục đích, lý tưởng chung
Đặc biệt, giáo dục cho học sinh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Đó là lòng yêu nước nồng nàn, tuyệt đối trung thành với tổ quốc, quyết tâm phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, khiêm tốn, giản dị, học tập rèn luyện suốt đời”
1.3.2.2 Phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh
Phương pháp GDĐĐ cho học sinh là cách thức tác động của nhà giáo dục lên đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất cần thiết Có nhiều phương pháp GDĐĐ như sau:
Nhóm phương pháp thuyết phục: Là nhóm các phương pháp tác động vào mặt nhận thức và tình cảm của con người nhằm khai sáng cho họ ý thức, thái độ tốt đẹp với cuộc sống Nhóm này bao gồm các phương pháp khuyên giải, tranh luận, nêu gương
Trang 28con người vào hoạt động thực tiễn để tập dợt, rèn luyện tạo nên các hành vi thói quen Nhóm này bao gồm các phương pháp tập luyện, rèn luyện
Nhóm phương pháp khích thích hành vi: Đây là nhóm phương pháp tác động vào mặt tình cảm của đối tượng giáo dục nhằm tạo ra những phấn chấn, thúc đẩy tích cực hoạt động, đồng thời giúp cho những người có khuyết điểm nhận ra và khắc phục những sai lầm Nhóm này bao gồm các phương pháp thi đua khen thưởng, trách phạt
Nhà giáo dục cần vận dụng linh hoạt các phương pháp giáo dục đạo đức cho phù hợp với mục đích, với đối tượng giáo dục, với tình huống cụ thể
1.3.3 Các con đường giáo dục để giáo dục đạo đức cho học sinh
Con đường giáo dục được hiểu là cách thức tổ chức hoạt động có mục đích, thông qua đó góp phần phát triển nhân cách của người được giáo dục Một nền giáo dục phát triển, được tổ chức tốt bằng các phương pháp hoạt động và giao lưu phong phú, đa dạng với những phương pháp giáo dục tiên tiến có thể làm cho người được giáo dục hình thành và phát triển nhân cách phù hợp với nhu cầu về nguồn nhân lực trong giai đoạn hiện đại hóa đất nước
Thông qua các con đường giáo dục học sinh, các em có thể lĩnh hội được những thái độ, hành vi, có thể rút kinh nghiệm và hình thành kỹ năng sốngcũng như thái độ đối với cuộc sống
Con đường dạy học
Nhà trường là cơ sở chuyên thực hiện chức năng giáo dục, chuyên trách làm công tác giáo dục – đào tạo, do đội ngũ các nhà sư phạm có năng lực chuyên môn vững vàng và giàu kinh nghiệm trong công tác giáo dục thực hiện các chương trình giáo dục có mục đích, nội dung và phương pháp theo một kế hoạch để hướng vào mục đích đào tạo
Thông qua nội dung các môn học người học lĩnh hội được một lượng kiến thức, hệ thống, hình thành kỹ năng lao động, tiếp tục những phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, nhờ đó nhân cách được hình thành và phát triển
Dạy học là con đường giáo dục bài bản nhất, tích cực, chủ động và ngắn
Trang 29nhất, hiệu quả nhất làm cho thế hệ trẻ lĩnh hội một cách có hệ thống những kho tàng văn hóa của loài người trong một thời gian nhất định
Cách tiến hành: thông qua nội dung các môn học, sử dụng tiềm năng của nó
để thực hiện nhiệm vụ dạy nghề, dạy phương pháp và dạy thái độ cho người học
Con đường tổ chức lao động
Có hai loại lao động: trí óc và chân tay Cả hai đều chứa đựng tiềm năng rèn trí thông minh và hình thành kỹ năng hoạt động sáng tạo Hai loại lao động trên được biểu hiện các hình thức:
Lao động học tập
Lao động phục vụ
Lao động sản xuất
Thông qua các dạng và hình thức lao động nói trên có khả năng giúp người học:
Hiểu được giá trị của lao động, từ đó trở nên quý trọng người lao động, sản phẩm lao động của mình và của người khác tạo ra
Biết xác định mục đích, nhiệm vụ và chuẩn bị cũng như biết lập kế hoạch cho mỗi loại công việc
Biết tổ chức khoa học quá trình lao động, điều chỉnh quá trình đó để đạt mục tiêu cuối cùng Biết hạch toán và kinh doanh
Biết kiểm tra và đánh giá kết quả lao động
Tóm lại, giáo dục thông qua lao động người học sẽ yêu lao động, coi lao động là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của con người và hiểu rằng mọi thứ cần thiết cho đời sống con người đều phải qua lao động tạo ra mới được, từ đó biết quý trọng
và đánh giá cao phẩm giá của người lao động
Con đường tổ chức hoạt động xã hội
Hoạt động xã hội là hoạt động của mỗi cá nhân tham gia vào các mối quan
hệ, giao lưu với cộng đồng người trong những môi trường đa dạng, phong phú, sinh động và cũng hết sức phức tạp Song ở đó nó chính là trường học để rèn luyện, thử thách và hình thành, phát triển nhân cách con người
Trang 30 Đưa họ tham gia vào các tổ chức chính trị, xã hội (chi bộ, chi đoàn TNCSHCM, công đoàn…), hội từ thiện (giúp học sinh nghèo vượt khó…)
Qua các tổ chức nói trên có thể tác động đến các mặt sau:
Làm xuất hiện nhu cầu hoạt động trong các tổ chức chính trị, xã hội…
Thực hiện các mối quan hệ giao lưu lành mạnh để họ tự thể hiện vai trò của mình trong các tổ chức mà họ tham gia, đóng góp công sức vào đó làm cho tổ chức luôn hoạt động và lớn mạnh
Làm cho họ giàu lòng nhân ái, tôn trọng con người, nâng cao tính tích cực, tự giác, tự vận động, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, lao động và trong cuộc sống đời thường
Tóm lại, tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động xã hội, họ hiểu biết thêm về thế giới tự nhiên và xã hội, làm cho đời sống cộng đồng được mở mang, những kinh nghiệm về hoạt động được tích lũy, tính tích cực xã hội được hình thành Từ đó họ có thêm vốn sống, góp phần hình thành nhân cách người học
Con đường tổ chức hoạt động vui chơi, giải trí, văn hóa, thể dục thể
thao
Hoạt động vui chơi, giải trí, văn hóa, thể dục thể thao là một trong những dạng hoạt động nhằm hoàn thiện đời sống tinh thần và thể chất cho con người Bởi vậy, nếu được quan tâm một cách đầy đủ, đúng mức sẽ làm cho tinh thần sảng khoái, thể lực được tăng cường, qua đó thúc đẩy mạnh mẽ các dạng hoạt động khác như học tập, lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học,…Mặt khác còn
có ý nghĩa thiết thực và góp phần đáng kể vào việc hạn chế bởi những mặt tiêu cực như lãng phí thời gian vào các hoạt động không lành mạnh, thói hư , tật xấu
Trang 31sinh hoạt giao lưu văn nghệ, sinh hoạt tập thể, phong trào thể dục thể thao, lồng ghép các hình thức và nội dung giáo dục thiết thực cho việc hình thành và phát triển nhân cách người học
Con đường tổ chức hoạt động tập thể
Dưới phương tiện giáo dục, tập thể là nơi tạo điều kiện làm biến đổi các thành viên thành những con người phát triển toàn diện, hài hòa, là nơi chuẩn bị cho những người đang ở độ tuổi trưởng thành bước vào cuộc sống và lao động xã hội
Do vậy, tập thể được quan niệm vừa là đối tượng tác động sư phạm, vừa là chủ thể tác động giáo dục
Trong quan hệ tập thể có 3 thể loại, đó là: quan hệ phụ thuộc, quan hệ giao lưu, quan hệ thân ái
Quan hệ phụ thuộc: tạo ra công việc chung cần nhiều người cùng nhau giải
quyết, trong đó các em cần đến nhau, phân công nhau cùng thực hiện, từ đó tạo nên quan hệ phụ thuộc và gắn bó lẫn nhau mới giải quyết được công việc chung
Quan hệ giao lưu: Giao lưu mang tính chất công việc như học ở tổ nhóm,
tham gia sinh hoạt chi đoàn,… Trong mối quan hệ này giáo dục cho các em biết tự chủ, biết tự thể hiện những ý kiến, quan điểm hay sự am hiểu của mình ra ngoài để được thừa nhận hay được đóng góp ý kiến để thống nhất ý kiến, thống nhất tư tưởng, tình cảm và qua đó học tập nhau, các em tìm thấy tiếng nói chung
Quan hệ nhân ái: Nhà giáo dục đưa các em các mối quan hệ tình cảm có tính
tập thể, tạo ra bầu không khí tâm lý chan hòa, chân tình, cởi mở, quan tâm đến nhau, chia sẻ vui buồn và sẵn sàng giúp đỡ tạo điều kiện cho nhau trong mọi công việc học tập, lao động, vui chơi hay sinh hoạt đời sống đời thường
Trong các mối quan hệ tập thể, nhà giáo dục phải chỉ ra cho các em rằng, mỗi thành tích của cá nhân nào đó dù nhỏ cũng không nằm ngoài sự giúp đỡ và tạo điều kiện của tập thể hay của các thành viên khác Qua đó làm cho các em thấy rõ vai trò trí tuệ của tập thể, sự giúp đỡ lẫn nhau trong tập thể chứa đựng trong sự thành đạt của mỗi cá nhân
Tóm lại, tập thể là một tế bào của xã hội, là môi trường nhỏ bao quanh mỗi
Trang 32cá nhân, trong mỗi thành viên phải muốn tồn tại và phát triển thì không thể nằm ngoài đời sống tập thể Do đó, nhà giáo dục phải tạo ra cho được môi trường tập thể lành mạnh, tạo điều kiện tốt cho người được giáo dục
1.3.4 Đặc điểm tâm lí học sinh trường trung học cơ sở và vấn đề giáo dục đạo đức
Học sinh THCS có độ tuổi thường từ 12 đến 15 tuổi, các em đang trong giai đoạn phát triển lành mạnh về thể lực, tâm lý, sinh lý, đang ở thời kì chuyển tiếp từ thiếu niên sang thanh niên Đây là thời kì các em gia nhập tích cực vào đời sống xã hội và hình thành cơ sở nhân cách của người công dân trong tương lai Đặc điểm của sự phát triển nhân cách của các em là sự tự ý thức gắn liền với nhu cầu nhận thức và đánh giá các phẩm chất tâm lý, đạo đức trong nhân cách của mình trên các bình diện mục đích và nguyện vọng cụ thể trong cuộc sống Sự đánh giá ấy không phải là cái đã qua mà là cái hiện tại và tương lai Nét đặc trưng của sự phát triển các phẩm chất đạo đức là sự tăng cường vai trò của các niềm tin đạo đức, ý thức đạo đức trong hành vi Cuộc sống học tập, lao động xã hội trong các tập thể lành mạnh,
có yêu cầu cao sẽ có tác dụng tích cực trong ý thức và hành vi của học sinh Cũng ở lứa tuổi này, học sinh có nhu cầu mạnh về tình bạn, tình yêu Họ cũng đang tự xây dựng cho mình những kế hoạch và viễn cảnh của bản thân trong tương lai
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, thông tin trên thế giới và nhất là sự phức tạp của nền kinh tế thị trường dẫn đến sự biến đổi sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; kéo theo đó là sự biến đổi về tâm lý, đạo đức của thế hệ trẻ Việt Nam nói chung mà chủ yếu là học sinh Họ có những nét tâm lý, đạo đức nói chung của thế hệ, mang truyền thống của dân tộc, song có cả những nét mới mang dấu ấn của thời đại Có thể thấy được ở họ một số đặc điểm như sau:
Tuổi thiếu niên thường có những thế mạnh riêng của mình đó là luôn sẵn sàng một cách có lựa chọn với mọi khía cạnh liên quan đến việc học tập nếu như những việc đó thể hiện tính người lớn theo suy nghĩ của chúng
Lứa tuổi này rất hay bị thu hút vào các hình thức hoạt động tự quản trong giờ học,vào các tài liệu học tập phức tạp và có khả năng tự thiết kế hoạt động nhận thức
Trang 33vượt ra khỏi khuôn khổ của nhà trường
Lứa tuổi dồi dào về thể lực, trí tuệ, cảm xúc, nhạy bén, sáng tạo, thích tìm tòi cái mới Học sinh có ý thức học hỏi, có khát vọng tìm đến cái “chân, thiện, mỹ”, mong muốn tự khẳng định bản thân và có ý thức của người lớn nên tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội, đặc biệt là hoạt động văn thể mỹ, hoạt động nhân đạo,
từ thiện,…Lứa tuổi học sinh THCS rất thích được sự tán đồng của Thầy, Cô về khả năng trí tuệ và các hình thức thi đua trong học tập, thích so sánh kết quả làm bài với nhau Mặt khác, học sinh THCS không chỉ bị thu hút các hoạt động học tập mới, tạo
ra cơ hội cho chúng biểu hiện tính tích cực mà cả việc học các tri thức mới
Lứa tuổi phát triển tình cảm phong phú: Ở học sinh xuất hiện những tình cảm lớn như tình cảm dân tộc, quốc gia, nhân loại; có lòng nhân ái, biết sống có nghĩa tình, có ý thức làm việc thiện; tình bạn phát triển mạnh mẽ, tình yêu nam nữ nảy nở
Bên cạnh những đặc điểm về đạo đức mang tính tích cực của học sinh THCS
có thể thấy một số hạn chế: Một bộ phận học sinh định hướng chính trị - xã hội còn
mờ nhạt, lý tưởng, niềm tin chưa vững chắc, ý thức tổ chức lỷ luật và trách nhiệm đua đòi chạy theo cái mới, chạy theo thị hiếu tầm thường, dễ bị sa ngã, bị cuốn vào những tiêu cực về đạo đức của xã hội, nhìn nhận và đánh giá con người, xã hội thường hay siêu hình, cực đoan
Có nhiều cách phân loại các khó khăn tâm lý của học sinh Trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả lựa chọn cách phân loại khó khăn tâm lý cũng như các tiêu chí để phân loại khó khăn tâm lý của PGS.TS Nguyễn Đức Sơn trong tài liệu bồi dưỡng năng lực cho cán bộ, giáo viên làm công tác tư vấn tâm lý trong trường phổ thông [38, tr.93]
Dựa trên những tiêu chí phân loại khó khăn tâm lý, PGS.TS Nguyễn Đức Sơn.đưa ra các nhóm khó khăn tâm lý mà học sinh phổ thông thường gặp đó là:
Nhóm khó khăn từ chính bản thân: khó khăn trong giao tiếp, mặc cảm tự ti
về bản thân, đánh giá thấp bản thân, cảm thấy buồn rầu,…
Nhóm khó khăn tâm lý xuất phát từ các yếu tố xã hội- văn hóa: Xã hội tạo ra
áp lực, tác động đến sự phát triển của học sinh, tạo ra sức căng tâm lý nhất định
Trang 34Bên cạnh đó sự kỳ vọng quá mức của nhiều bậc phụ huynh, nhà trường đã tạo áp lực lớn đến suy nghĩ, hành động của các em
Nhóm khó khăn tâm lý trong các mối quan hệ: Khó khăn trong mối quan hệ
giữa cá nhân với bạn bè, với thầy/cô giáo, với cha mẹ…
Nhìn chung, đặc điểm tâm sinh lý của các em học sinh dù được học trong trường nào cũng đều có những đặc điểm khá tương đồng Tuy nhiên, ở một khía cạnh nào đó trong cuộc sống của chính bản thân các em ví dụ như: điều kiện môi trường sống không tốt, hoàn cảnh gia đình không hạnh phúc, bố mẹ li hôn, không được sự quan tâm chăm sóc đúng mức, thiếu sự yêu thương chia sẻ từ cha mẹ và người thân…rơi vào trường hợp này, hầu hết các em đều bị ảnh hưởng ít nhiều về tâm lý Những em tham gia học tập tại trường THCS ở các khu vực nông thôn của thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định đa phần các em có những điều kiện khó khăn riêng trong cuộc sống, nên sẽ vấp phải trở ngại tâm lý học đường cao hơn so với các em được học tại các trường THCS khác
Tóm lại, học sinh ở lứa tuổi này dồi dào về thể lực, phong phú về tinh thần, phức tạp về tính cách và hành vi Tuy nhiên, đây cũng là thời kì nhận thức và hiểu biết các phẩm chất đạo đức của nhân cách sâu sắc hơn trước Hơn nữa, con người không phải là một thực thể thụ động mà là một chủ thể tích cực Do đó, việc GDĐĐ cho học sinh ở lứa tuổi này phải căn cứ vào các đặc điểm tâm, sinh lý và đặc điểm đạo đức của chúng để xác định phương châm giáo dục phù hợp Bên cạnh đó cũng cần hiểu rằng mỗi cá nhân lại có những đặc điểm riêng về tâm, sinh lý và có vốn sống riêng của mình, cho nên quá trình GDĐĐ cho học sinh, đặc biệt là học sinh ở lứa tuổi có nhiều biến đổi về tâm, sinh lý như học sinh THCS là hết sức phức tạp Vấn đề là phải có định hướng những giá trị đạo đức phù hợp với sự phát triển của
xã hội để có hình thức, phương pháp giáo dục đa dạng, biện chứng và thích ứng trong quá trình GDĐĐ cho học sinh
1.4 Lý luận về công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình đối với hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở
Trang 351.4.1 Chức năng của giáo dục gia đình
Gia đình có nhiều chức năng khác nhau như chức năng sinh sản, chức năng
kinh tế và chức năng giáo dục Nhưng chức năng giáo dục là chức năng quan trọng
vì nó ảnh hưởng sâu sắc đến việc hình thành nhân cách con người Khi nhân cách con người được hình thành tốt thì nó kéo theo gia đình tốt và đó là nền tảng cho sự phát triển của xã hội
Gia đình không chỉ tái sản xuất ra con người về mặt thể chất mà còn tái sản xuất ra đời sống tình cảm, tâm hồn, văn hóa, tức là xã hội hóa quá trình biến đứa trẻ
từ một sinh vật thành người trong xã hội
Gia đình thực hiện sứ mệnh nuôi dưỡng, giáo dục đứa trẻ từ khi mới ra đời, không thể giao phó chuyển nhượng ai có trách nhiệm hơn, tốt đẹp hơn là gia đình Gia đình là “trường học” đầu tiên của cuộc đời một con người Giáo dục gia đình không những có tác động mạnh mẽ đến tuổi thơ mà nó còn ảnh hưởng sâu sắc đến
cả cuộc đời con người.GD gia đình có những nét đặc thù mà GD nhà trường, GD xã hội không thể có, đó là tình cảm yêu thương vô bờ bến của cha mẹ đối với con cái, nên họ sẵn sàng hi sinh tất cả các điều kiện vật chất và tinh thần, giành mọi thuận lợi cho quá trình GD miễn sao con cái nên người Đồng thời, giáo dục gia đình là một nền giáo dục toàn diện, cụ thể hóa và cá biệt hóa rất cao
1.4.2 Giáo dục đạo đức và vai trò cơ bản của giáo dục gia đình
GD gia đình là một quá trình GD có tổ chức, có kế hoạch của CMHS đối với con cái mình, hình thành cho con cái những phẩm chất đạo đức, tính năng động, độc lập, sáng tạo trong công việc, giúp con cái họ trở thành người có tài, có đức Quá trình GD này có thể thường xuyên, liên tục và được tổ chức một cách khoa học
GD gia đình là cơ sở GD đầu tiên, lâu dài và toàn diện phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của HS GD gia đình mang tính cá biệt rõ rệt dựa trên cở sở của cuộc sống tự nhiên, với thời gian dài và thuận lợi nên có thể mang lại hiệu quả cao
Động cơ để bố mẹ nhắc nhở, thúc đẩy con cái học tập, rèn luyện nhân cách không chỉ vì trách nhiệm trước pháp luật mà còn xuất phát từ lòng yêu thương con người, luôn tạo điều kiện tốt nhất trong chừng mực có thể để con cái mình phấn đấu
Trang 36rèn luyện trở thành người công dân tốt phục vụ cho tổ quốc và gia đình Do vậy, mặt mạnh của gia đình là mang tính cảm xúc cao, khả năng cảm hóa rất lớn
Chức năng của gia đình còn quan trọng ở chỗ: “Nó có vai trò lớn trong việc hình thành nhân cách con người trong tương lai Nó giúp đỡ người lớn tuổi, người già nhận ra các vai trò của xã hội, đương đầu với những khó khăn phức tạp trong cuộc sống, kể cả đương đầu với cái chết”
Gia đình là tế bào của xã hội Đạo đức gia đình luôn gắn liền với đạo đức xã hội, gia đình có ảnh hưởng sâu sắc, trực tiếp đến việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh Nếp sinh hoạt của gia đình, những giá trị đạo đức của xã hội được ông, bà, cha, mẹ, anh chị em chọn lựa là những tác động trực tiếp, thường xuyên, lâu dài và mạnh mẽ đến học sinh, được học sinh tiếp nhận, thực hiện đầy đủ nhất Gia đình sống hạnh phúc, cha mẹ yêu thương cùng nhau chăm lo dạy dỗ con cái, các cháu ngoan học giỏi Lẽ tất nhiên những gia đình không hòa thuận, mạnh ai nấy sống, chỉ lo làm giàu, không quan tâm đến con cái, hay chỉ biết sau giờ đến trường ném ra một đống tiền cho con học thêm nhưng không quan tâm gì đến kết quả học tập của con em, không biết tâm lý của con em mình cần gì, muốn gì, gia đình ai cũng sống ích kỷ, hệ quả đương nhiên làm sao con cái học siêng năng, ngoan ngoãn, kết quả tốt được Vì vậy cần có sự quan tâm đúng mức, giáo dục toàn diện của cha mẹ đến con em mình, hình thành nề nếp đạo đức lối sống của con em mình, không ỷ lại vào nhà trường và xã hội
Như vậy, có thể nói, sự hình thành và phát triển nhân cách là một quá trình lâu dài và phức tạp Trong quá trình đó, giữa các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài, giữa cái sinh học và cái xã hội thường xuyên tác động lẫn nhau và vai trò của mỗi yếu tố đó thay đổi trong từng giai đoạn phát triển của mỗi người Trong quá trình sống, con người có được những kinh nghiệm sống, niềm tin, thói quen,…và ngược lại, khi tiếp nhận bất cứ việc gì, nhân cách cũng dựa trên chuẩn mực xã hội
để điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp Không chỉ thế, họ còn dựa vào những cái bên trong, những kinh nghiệm của mình để đánh giá, tiếp nhận hay gạt bỏ cái bên ngoài Như thế, quá trình này luôn gắn liền với năng lực tự đánh giá, tự ý thức
Trang 37của mỗi người và do vậy, gắn với quá trình tự giáo dục, quá trình thường xuyên tự hoàn thiện mình của nhân cách Nhân cách không phải một cái gì đó đã hoàn tất, mà
là quá trình luôn đòi hỏi sự trau dồi thường xuyên
1.4.3 Ý nghĩa của việc phối hợp giữa nhà trường và gia đình đối với hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở
Việc phối hợp thống nhất giáo dục của nhà trường với giáo dục của gia đình
đã trở thành một nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Bản chất của việc phối hợp đó là đạt được sự thống nhất về các yêu cầu giáo dục cũng như về các hành động giáo dục của tất cả người lớn, khiến cho nhân cách của trẻ phát triển đúng đắn, đầy đủ và vững chắc, tạo được môi trường giáo dục thuận lợi trong nhà trường, trong gia đình Nhờ có môi trường giáo dục đó, học sinh buộc phải hành động đúng theo các yêu cầu và các chuẩn mực ứng xử Môi trường giáo dục bao gồm: Những yêu cầu thống nhất của NT và GĐ đối với hành vi của học sinh; Những tình huống được tạo ra trong cuộc sống để các hành vi tích cực có điều kiện thực hiện; Những phương pháp và biện pháp giáo dục được sử dụng khéo léo, không mâu thuẫn với nhau và không để dẫn đến tính chất hai mặt trong ứng xử của học sinh
Chất lượng và hiệu quả của giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó việc phối hợp quản lý của nhà trường, gia đình
và xã hội có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng, bởi lẽ:
Tạo nên tác động tổng hợp và phát huy được những tiềm năng phong phú của toàn xã hội tham gia vào quá trình giáo dục hình thành và phát triển nhân cách của học sinh
Là nguyên tắc quan trọng tạo ra sự thống nhất thực hiện mục tiêu giáo dục, thực hiện các chuẩn mực đạo đức của học sinh
Tạo ra sức mạnh tổng hợp và đồng bộ hóa trong toàn xã hội, tạo ra môi trường sư phạm lành mạnh, hạn chế tối đa những tiêu cực ảnh hưởng, tạo ra những tác động tích cực cho quá trình giáo dục đạo đức và hình thành nhân cách học sinh
Việc định hướng cho học sinh THCS về các giá trị chuẩn mực đạo đức, hạn
Trang 38chế những ảnh hưởng tiêu cực là cần thiết Yêu cầu đó không chỉ là trách nhiệm của nhà trường, mà còn đặt ra cho các bậc CMHS, cho mọi người, cho các ngành, các cấp trong xã hội
1.5 Nội dung, hình thức phối hợp giữa nhà trường và gia đình đối với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
1.5.1 Nội dung phối hợp
Nội dung cơ bản của phối hợp giữa NT và GĐ đó là: NT với vai trò chủ đạo nên phải hỗ trợ những vấn đề cụ thể cho các bậc cha mẹ trong việc giáo dục con cái nói chung và GDĐĐ nói riêng Phụ huynh rất cần sự tư vấn của những người làm công tác giáo dục về kiến thức khoa học, kỹ năng, cách thức giáo dục ở nhà của học sinh Mặc dù trình độ dân trí hiện nay đã được nâng lên, nhiều phụ huynh có trình
độ học vấn cao, nhưng cũng khó mà hiểu hết những nét cá biệt của con cái họ Họ cũng hạn chế nhiều về khoa học giáo dục con cái, ít hiểu biết về đổi mới của sự nghiệp GD và ĐT trong giai đoạn hiện nay Chính vì vậy, người HT cần xác định các nội dung phối hợp cụ thể:
Thông qua GVCN và các tổ chức đoàn thể khác để tuyên truyền nâng cao nhận thức về mọi mặt cho phụ huynh, chủ động trao đổi những thông tin liên quan đến việc học tập và rèn luyện của HS để cùng phụ huynh tổ chức động viên, phát huy những thành tích đạt được và khắc phục những hạn chế của HS
GĐ phát huy tinh thần trách nhiệm chính để cùng nhà trường tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con cái rèn luyện và học tập Hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo, để học sinh có thể phát huy năng lực bản thân một cách tốt nhất
Thông qua chi hội, BĐD CMHS nhà trường nắm được tâm tư nguyện vọng
và những đề xuất của phụ huynh, học sinh để nhà trường điều chỉnh nội dung giáo dục cơ bản nếu cần thiết
NT và GĐ có trách nhiệm xây dựng ý thức tổ chức lỷ luật, tinh thần thái độ
và kỹ năng sống cho HS
1.5.2 Hình thức phối hợp
NT có vai trò chủ đạo trong sự phối hợp nên hình thức phối hợp cũng được
Trang 39xuất phát từ NT mà người trực tiếp thực hiện chủ yếu là GVCN lớp, ngoài ra còn có
tổ chức Đoàn, Hội liên hiệp thanh niên, lớp, tổ, BĐD CMHS BĐD CMHS nhà trường là cầu nối cơ bản để mối quan hệ này thêm phần gắn kết và mang lại hiệu quả cao trong tổ chức thực hiện
Các hình thức phối hợp như:
Nhắn tin sổ liên lạc điện tử để nắm bắt thông tin hai chiều
Họp CMHS định kỳ
Thầy cô giáo đến gia đình trao đổi
Nhà trường mời CMHS đến trường khi cần
CMHS chủ động đến trường gặp thầy cô giáo
Trao đổi qua hội CMHS để thông tin về tình hình, kết quả học tập và rèn luyện của HS
Trao đổi qua cán bộ quản lý xã hội
Trao đổi qua điện thoại
Các hình thức khác như: Tổ chức câu lạc bộ CMHS, thông qua đó bàn về cách thức, phương pháp, phổ biến khoa học sư phạm về nuôi dạy con cái, tạo cơ hội
để các phụ huynh trao đổi tâm tư nguyện vọng, trao đổi kinh nghiệm giáo dục, nâng cao nhận thức phối hợp giữa NT và GĐ trong giáo dục đạo đức cho con cái
1.5.3 Vai trò của nhà trường trong sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình đối với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
Nhà trường đóng vai trò chủ đạo trong việc phối hợp giữa NT và GĐ trong việc GDĐĐ cho HS Vì vậy, vai trò của NT hết sức quan trọng NT đảm nhận trách nhiệm đề ra nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, tổ chức thực hiện, đồng thời đề ra biện pháp thống nhất tác động, động viên, khuyến khích kêu gọi gia đình học sinh cùng nhau thực hiện Nhà trường động viên, khuyến khích CMHS tham gia một cách đầy đủ và hiệu quả trong công tác GDĐĐ cho HS
Nhà trường là một tổ chức xã hội đặc thù với cấu trúc tổ chức chặt chẽ, có nhiệm vụ chuyên biệt là giáo dục, đào tạo nhân cách của trẻ em theo những định
Trang 40Tuy nhiên, hiện nay, một số CBQL, giáo viên và bạn bè thường có những định kiến, thiếu thiện cảm; sử dụng các biện pháp hành chính thái quá; sự lạm dụng quyền lực của các thầy cô giáo, của nhà quản lý; sự thiếu gương mẫu trong mô phạm giáo dục; việc đánh giá kết quả, khen thưởng, kỷ luật thiếu khách quan và không công bằng; sự phối hợp không đồng bộ giữa các lực lượng giáo dục,… đều ảnh hưởng rất lớn đến quá trình GDĐĐ cho HS
Do vậy, bản thân của nhà trường đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phối hợp với gia đình để GDĐĐ cho HS
Việc tổ chức giáo dục nói chung và GDĐĐ nói riêng cho học sinh phổ thông thiếu sự hoạt động thống nhất, đồng thuận, cho nên mặc dù công sức của xã hội, nhà trường, gia đình bỏ ra rất nhiều, nhưng hiệu quả mang lại không cao Để khắc phục điều này, nhà trường phải là một “nhạc trưởng”, “nhà tổ chức hoạt động” thống nhất các lực lượng xã hội trong việc GDĐĐ cho học sinh Do vậy, vai trò của nhà trường thể hiện trên các khía cạnh cụ thể như sau:
Thứ nhất: Nhà trường thường xuyên tổ chức tuyên truyền, bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho toàn xã hội về mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức
Đổi mới giáo dục đang thực hiện thực chất là một cuộc cách mạng trong giáo dục, chuyển từ dạy học cung cấp kiến thức sang dạy học đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo, nhằm khai thác, phát triển nguồn nhân lực con người trở thành mục tiêu, động lực của sự phát triển KT-XH bền vững…Song, không phải ai trong xã hội cũng hiểu điều đó bằng đội ngũ giáo viên, đặc biệt đội ngũ quản lý cán bộ giáo dục các cấp Vì vậy, giáo dục nhà trường nói chung, nhà trường trung học nói riêng (trực tiếp là lãnh đạo trường học) phải là người tư vấn cho các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương tổ chức bồi dưỡng tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư hiểu sâu sắc đổi mới về giáo dục trong điều kiện hiện nay
Nội dung tuyên truyền giáo dục đạo đức rất phong phú Do vậy, cần căn cứ vào địa điểm, trình độ của các tổ chức xã hội, gia đình, nhân dân mà bồi dưỡng về nhận thức, trách nhiệm tham gia giáo dục con em; bồi dưỡng về các nội dung, các