ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
Tất cả các bà mẹ từ 18 tuổi trở lên đang nuôi con dưới 24 tháng tuổi đang sống tại 3 xã của huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh từ 01/2017 đến 5/2017
Các bà mẹ từ 18 tuổi trở lên đang sinh sống tại 3 xã thuộc Huyện Thạch Hà, Tỉnh Hà Tĩnh và có con dưới 24 tháng tuổi tính từ ngày 01/01/2017 đến 30/4/2017, nếu đồng ý tham gia nghiên cứu, sẽ được mời tham gia.
+ Bà mẹ không trực tiếp nuôi con;
+ Bà mẹ không nuôi con bằng sữa mẹ;
+ Bà mẹ không thể trả lời phỏng vấn (bà mẹ bị mù, câm, điếc, tâm thần )
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Từ tháng 01 năm 2017 đến tháng 5 năm 2017
Huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu can thiệp dạng nghiên cứu trước sau
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Cỡ mẫu đƣợc tính dựa vào công thức: Đối tƣợng nghiên cứu Đánh giá trước giáo dục
Can thiệp giáo dục Đánh giá lần 1 (ngay sau giáo dục) Đánh giá lần 2 (sau can thiệp
So sánh, bàn luận và kết luận
- n : là số lƣợng bà mẹ cần nghiên cứu
Tỷ lệ bà mẹ hiểu đúng về chế độ ăn cho trẻ dưới 24 tháng tuổi chỉ đạt gần 50% Do đó, chúng tôi chọn p = 0,5 và q = 1 - p = 0,5 để phục vụ cho nghiên cứu.
- Z là độ tin cậy của xác suất với = 0,05 thì Z 1-/2 = 1,96
- d: Khoảng sai lệch cho phép giữa tỷ lệ của mẫu nghiên cứu và tỷ lệ thực trong quần thể với d= 0,1
Thay vào công thức trên ta tính đƣợc n = 96 bà mẹ Nhƣng trên thực tế đề tài này đƣợc tiến hành trên 107 bà mẹ
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 107 bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại ba xã thuộc huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh Huyện Thạch Hà có vị trí trung tâm trong tỉnh, với dân số đông và mức sống trung bình Địa lý huyện bao gồm các vùng miền đa dạng như miền núi, đồng bằng và duyên hải Dựa trên đặc điểm này, chúng tôi đã chọn ngẫu nhiên hai xã với 36 bà mẹ và một xã với 35 bà mẹ để thực hiện nghiên cứu.
Huyện chia làm 3 vùng: Đồng bằng, duyên hải, miền núi mỗi vùng chọn một xã đại điện bằng phương pháp bốc thăm
+ Đồng bằng gồm 20 xã chọn ngẫu nhiên 1 xã làm đại diện là xã Thạch Tân + Duyên hải gồm 4 xã chọn ngẫu nhiên 1 xã đại diện là xã Thạch Văn
+ Miền núi gồm 6 xã chọn ngẫu nhiên 1 xã đại diện là xã Thạch Hương
- Cách chọn đối tƣợng nghiên cứu:
Để xác định khoảng cách k cho từng xã trong nghiên cứu, cần tính toán dựa trên số lượng bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi Cụ thể, khoảng cách k được tính bằng cách lấy tổng số bà mẹ trong mỗi xã chia cho số bà mẹ cần chọn để tham gia nghiên cứu.
Để chọn bà mẹ đầu tiên của mỗi xã, áp dụng phương pháp ngẫu nhiên đơn với số lượng nhỏ hơn k Các bà mẹ tiếp theo sẽ được lựa chọn dựa trên khoảng cách k đã xác định và cá thể đầu tiên, tiếp tục cho đến khi đạt đủ số lượng đối tượng nghiên cứu cần thiết cho mỗi xã.
Bộ công cụ và phương pháp thu thập số liệu
Công cụ đánh giá được phát triển dựa trên tài liệu khóa học về tham vấn nuôi con bằng sữa mẹ của Bộ Y tế năm 2003 và tài liệu khóa học Nuôi dưỡng trẻ nhỏ năm 2015 Ngoài ra, công cụ còn tham khảo từ bộ tài liệu của tác giả Lê Thị Năng, bao gồm 3 phần.
Phần A: Thông tin về trẻ
Phần B: Thông tin chung về đối tƣợng
Phần C: Nhận thức về chế độ ăn cho con dưới 24 tháng
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn tất cả các bà mẹ được chọn bằng bộ phiếu phỏng vấn đã được chuẩn bị sẵn, nhằm thu thập thông tin cá nhân và nhận thức của họ.
2.5.3 Quy trình thu thập số liệu
Sau khi nhận được sự đồng ý từ Hội đồng đạo đức Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định và Ủy ban Nhân dân xã, nghiên cứu viên đã gặp Trạm trưởng trạm Y tế xã để giải thích mục đích và quy trình nghiên cứu Tiếp theo, nhà nghiên cứu đã lập danh sách các bà mẹ thuộc đối tượng nghiên cứu và liên hệ với những bà mẹ đủ tiêu chuẩn Sau khi các bà mẹ đồng ý tham gia, nghiên cứu viên tiến hành thu thập số liệu theo các bước đã định.
- Bước 1: Gặp gỡ đối tượng chọn tham gia nghiên cứu (vào ngày tiêm chủng hàng tháng)
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ thông báo rõ ràng về mục đích của nghiên cứu đến đối tượng tham gia Nếu đồng ý tham gia, đối tượng cần ký vào bản đồng thuận tham gia nghiên cứu (phụ lục 01).
+ Giới thiệu về bộ công cụ (phụ lục 02)
- Bước 2: Đánh giá thực trạng kiến thức trước giáo dục (sử dụng bộ câu hỏi ở phụ lục 02)
+ Đọc câu hỏi, hướng dẫn đối tượng nghiên cứu trả lời câu hỏi, và người phỏng vấn ghi lại câu trả lời;
+ Sau đó thu lại bộ công cụ
Bước 3: Xây dựng các nội dung và hình thức giáo dục dinh dưỡng
Nội dung giáo dục dinh dưỡng bao gồm hai phần chính, được xây dựng dựa trên tài liệu khóa học về tham vấn nuôi con bằng sữa mẹ do Bộ Y tế phát triển.
2003, tài liệu khóa học Nuôi dƣỡng trẻ nhỏ của Bộ Y tế năm 2015
Bước 4: Tại nhà Văn hóa xã, tiến hành giáo dục dinh dưỡng cho đối tượng nghiên cứu trong khoảng 2 tiếng, sử dụng phương pháp thuyết trình, trình chiếu PowerPoint, phát tài liệu tay và tổ chức thảo luận Nội dung giáo dục dinh dưỡng được chi tiết trong phụ lục 04.
Sau khi hoàn thành giáo dục dinh dưỡng, bước 5 là tiến hành đánh giá lại nhận thức ngay lập tức Tiếp theo, bước 6 yêu cầu đánh giá lại nhận thức của bà mẹ sau một tháng, sử dụng cùng bộ câu hỏi đã đề cập ở phụ lục 1, vào ngày tiêm chủng hàng tháng.
Các biến số nghiên cứu
2.6.1 Biến số về nhân chủng học
2.7.1.1 Các bi ến số liên quan đến đặc tính của bà mẹ
- Tuổi: là biến định lượng được ghi nhận theo dương lịch và ghi tuổi theo năm sinh, gồm 5 giá trị:
- Tôn giáo: là biến danh mục
- Nghề nghiệp: là biến định tính, ghi nhận nghề nghiệp chính mà bà mẹ đang làm, chia thành 4 nhóm:
- Trình độ học vấn: là biến số không liên tục chia thành 3 nhóm:
+ Tiểu học và mù chữ
+ Trung học cơ sở và Trung học phổ thông
+ Trung cấp, Cao đẳng, Đại học, sau Đại học
- Nguồn thông tin:là nguồn thông tin bà mẹ nhận đƣợc về cho con ăn bổ sung, gồm các nhóm sau:
+ Ti vi, radio, loa phát thanh xã
+ Báo chí, sách, tạp chí, tờ rơi
+ Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
- Số con của bà mẹ: là số trẻ hiện còn sống của bà mẹ, biến số không liên tục gồm 3 giá trị:
2.6.2 Các biến số liên quan đến đặc tính của con
Tuổi của trẻ được xác định theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), dựa trên ngày sinh và ngày điều tra Biến số này không liên tục và được phân chia thành ba nhóm khác nhau.
2.6.3 Biến số về nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn cho con ăn ˉ Nhận thức của bà mẹ về lợi ích của việc nuôi con bằng sữa ˉ Nhận thức của bà mẹ về định nghĩa nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ ˉ Nhận thức của bà mẹ về định nghĩa nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ ˉ Nhận thức của bà mẹ về định nghĩa ăn bổ sung ˉ Nhận thức của bà mẹ về các nguy cơ khi cho trẻ ăn dặm sớm ˉ Nhận thức của bà mẹ về các nguy cơ khi cho trẻ ăn dặm muộn ˉ Nhận thức của bà mẹ về 4 nhóm thức ăn cơ bản trong bữa ăn bổ sung cho trẻ ˉ Nhận thức của bà mẹ về nguy cơ khi cho trẻ ăn dặm sớm ˉ Nhận thức của bà mẹ về nguy cơ khi cho trẻ ăn dặm muộn ˉ Nhận thức của bà mẹ về 4 nhóm thức ăn cơ bản trong bữa ˉ Nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn hàng ngày cho trẻ 6-8 tháng ˉ Nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn hàng ngày cho trẻ 9-11 tháng ˉ Nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn hàng ngày cho trẻ 12-24 tháng
Các khái niệm, thang đo, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh
Nội dung đánh giá nhận thức được xây dựng từ 45 câu hỏi, nhằm khảo sát nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn cho trẻ dưới 24 tháng tuổi Biến số nhận thức này được phân loại là không liên tục và nhị giá, với các nội dung đánh giá bao gồm những kiến thức đúng và chưa đúng liên quan đến dinh dưỡng cho trẻ nhỏ.
Nhận thức đúng về chế độ ăn cho trẻ dưới 24 tháng tuổi bao gồm việc hiểu rõ lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ, thời gian nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ, cũng như các phương pháp nuôi con bằng sữa mẹ Bên cạnh đó, các bà mẹ cần chú ý đến thời gian và những lưu ý khi cai sữa, định nghĩa về ăn bổ sung, thời điểm thích hợp để bắt đầu ăn bổ sung, cũng như hậu quả của việc ăn bổ sung không đúng cách Cuối cùng, việc xác định thành phần bữa ăn bổ sung và phương pháp cho ăn bổ sung cũng rất quan trọng để đảm bảo sức khỏe cho trẻ.
+ Tổng số điểm tối đa là 78 điểm, thấp nhất 0 điểm, điểm càng cao kiến thức càng tốt và ngƣợc lại
+ Nhận thức đúng: Khi bà mẹ đạt từ 70% tổng số điểm trở lên (trên 54 điểm)
+ Nhận thức chưa đúng khi bà mẹ đạt dưới 70% tổng số điểm (dưới 54 điểm)
Phương pháp phân tích số liệu
- Số liệu đƣợc mã hóa, nhập vào máy vi tính và phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0
Phương pháp thống kê Khi bình phương được sử dụng để phân tích sự khác biệt về kiến thức của bà mẹ dựa trên các yếu tố như nhóm tuổi và trình độ văn hóa.
Phương pháp thống kê t-test sẽ được sử dụng để phân tích sự khác biệt có ý nghĩa về điểm kiến thức và thái độ của các bà mẹ trước và sau khi tham gia chương trình giáo dục sức khỏe.
- Kết quả các biến số được trình bày dưới dạng bảng và biểu đồ.
Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu sẽ được thực hiện dựa trên sự đồng ý của Ủy ban nhân dân các phường/xã được chọn và phải có sự chấp thuận của Hội đồng khoa học cùng Hội đồng đạo đức Trường Đại học Điều dưỡng.
Nghiên cứu chỉ được tiến hành khi có sự đồng ý tự nguyện của những người tham gia Đây là một can thiệp giáo dục, không gây xâm phạm cơ thể hay tác động tiêu cực đến sức khỏe của đối tượng Mục tiêu của nghiên cứu là cung cấp kiến thức về chế độ ăn uống cho trẻ em cho các người tham gia Tất cả thông tin thu thập được chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác.
- Tất cả các thông tin chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu mà không phục vụ cho các mục đích khác
- Mọi thông tin về đối tƣợng nghiên cứu sẽ đƣợc giữ bí mật
Nghiên cứu này sẽ cung cấp cơ sở để đề xuất mở rộng chương trình giáo dục dinh dưỡng cho các bà mẹ nuôi con tại tỉnh Hà Tĩnh, nhằm cải thiện chế độ ăn uống cho trẻ em.
Sai số và biện pháp khắc phục sai số
+ Nghiên cứu đƣợc tiến hành tại các xã của huyên Thạch Hà trong 3 tháng do đó kết quả mới chỉ phản ánh đƣợc một phần
Đối tượng nghiên cứu bao gồm nhiều độ tuổi, nghề nghiệp và trình độ hiểu biết khác nhau Trong quá trình thực hiện hướng dẫn tự điền, một số đối tượng phỏng vấn có thể gặp khó khăn trong việc tiếp xúc, dẫn đến một số sai số nhất định.
- Biện pháp khắc phục sai số:
+ Các khái niệm, thuật ngữ phải rõ ràng
+ Thiết kế bộ câu hỏi có hệ thống và dễ hiểu để đối tƣợng của nghiên cứu dễ dàng trả lời
+ Tiến hành thu thập số liệu thử để hoàn thiện bộ câu hỏi
Việc thu thập thông tin qua bộ câu hỏi có sẵn có thể dẫn đến sai sót Để khắc phục điều này, chúng tôi đã chọn những cán bộ trung thực, có chuyên môn vững và được tập huấn kỹ lưỡng trước khi tiến hành thu thập số liệu.
Để đảm bảo tính chính xác của số liệu, trước khi tiến hành thu thập, điều tra viên cần giải thích rõ ràng mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc điều tra cho đối tượng, nhằm giúp họ hiểu và sẵn sàng hợp tác.
+ Tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kiểm tra, làm sạch số liệu trước khi phân tích.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm của bà mẹ than gia nghiên cứu
Bảng 3 1 Một số thông tin chung của bà mẹ tham gia nghiên cứu
Nội dung Số lƣợng Tỷ lệ (%)
Nơi cư trú Đồng bằng 36 33,6
Bảng 3.1 cho thấy nhóm mẹ có độ tuổi từ 25-29 chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 39,3%, trong khi nhóm tuổi 30-34 chiếm 29,9% Đáng chú ý, 88,8% đối tượng nghiên cứu không theo tôn giáo Về trình độ học vấn, tỷ lệ mẹ có trình độ tiểu học và THCS cao nhất với 36,4%, trong khi nhóm trung cấp trở lên chỉ chiếm 27,1% Đối tượng nghiên cứu phân bổ tương đối đồng đều ở cả ba vùng: đồng bằng, miền núi và miền biển, với tỷ lệ lần lượt là 33,6% và 32,7%.
Công chức, viên chức Làm ruộng Công nhân Khác
Biểu đồ 3 1 Phân bố về nghề nghiệp
Biểu đồ 3.1 cho thấy rằng 69,2% đối tượng nghiên cứu là nông dân, trong khi công nhân và viên chức chỉ chiếm 10,3% Đặc biệt, tỷ lệ công nhân trong tổng số đối tượng nghiên cứu chỉ là 7,5%.
Tivi, radio, đài phát thanh
Báo chí, sách, tạp chí, tờ rơi
Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
Biểu đồ 3 2 Nguồn tiếp cận thông tin
Biểu đồ 3.2 cho thấy rằng 57% đối tượng tiếp cận thông tin chủ yếu qua tivi, radio và đài phát thanh, trong khi 47,7% nhận thông tin từ nhân viên y tế Tỷ lệ tiếp cận thông tin qua báo chí, sách, tạp chí, tờ rơi và từ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp là thấp nhất, chỉ đạt 32,7%.
Biểu đồ 3 3 Nguồn thông tin bà mẹ mong muốn nhận đƣợc
Theo biểu đồ 3.3, phần lớn đối tượng (58,9%) ưa thích nhận thông tin từ nhân viên y tế, trong khi 20,6% chọn tivi, radio và đài phát thanh Tỷ lệ người nhận thông tin qua báo chí, sách, tạp chí và tờ rơi là thấp nhất, chỉ đạt 4,7%.
Bảng 3 2 Ðặc điểm về con của bà mẹ Đặc điểm về con của bà mẹ Số lƣợng Tỷ lệ (%)
Theo Bảng 3.2, tỷ lệ con của bà mẹ có giới nam là 43,9%, trong khi giới nữ chiếm 56,1% Độ tuổi của con từ 13-24 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất với 57,9%, tiếp theo là nhóm 7-12 tháng với 27,1%, và nhóm 0-6 tháng có tỷ lệ thấp nhất là 15%.
Thực trạng nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn cho con
Bảng 3 3 Nhận thức của bà mẹ về lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ
Biết đầy đủ 6 lợi ích NCBSM 33 30,8
Biết không đầy đủ các lợi ích NCBSM 74 69,2
Bảng 3.3 cho thấy, chiếm phần lớn bà mẹ không biết đầy đủ các lợi ích NCBSM (69,2%) Tỷ lệ bà mẹ biết đƣợc đầy đủ 6 lợi ích của NCBSM chiếm 30,8%
Bảng 3 4 Nhận thức của bà mẹ về thời gian nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn
Nhận thức đúng về thời gian NCBSM hoàn toàn 57 53,3 Nhận thức chƣa đúng về thời gian NCBSM hoàn toàn 50 46,7
Theo Bảng 3.4, 53,3% bà mẹ có nhận thức đúng về thời gian nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM), trong khi chỉ có 46,7% bà mẹ có nhận thức chưa đúng về thời gian này.
Bảng 3 5 Nhận thức của bà mẹ về khái niệm nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn
Hiểu đúng, đầy đủ khái niệm về NCBSM hoàn toàn 44 41,1
Hiểu không đầy đủ khái niệm NCBSM 63 58,9
Theo Bảng 3.5, chỉ có 41,1% bà mẹ hiểu đúng và đầy đủ về khái niệm nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM), trong khi 58,9% bà mẹ còn thiếu kiến thức về khái niệm này.
Bảng 3 6 Nhận thức của bà mẹ về ăn bổ sung
Hiểu đúng về thời gian cho ăn bổ sung 92 86
Hiểu đúng khái niệm về ăn bổ sung 102 95,3
Theo Bảng 3.6, tỷ lệ bà mẹ hiểu đúng về khái niệm ăn bổ sung đạt 95,3%, trong khi 86% bà mẹ nắm rõ thời gian thích hợp để cho trẻ ăn bổ sung.
Bảng 3 7 Nhận thức của bà mẹ về nguy cơ khi ăn bổ sung không đúng
Biết đúng, đầy đủ các nguy cơ khi cho ăn bổ sung sớm 16 15
Biết không đầy đủ nguy cơ cho ABS sớm 91 85
Biết đƣợc nguy cơ khi cho ăn bổ sung muộn 43 40,2
Biết không đầy đủ nguy cơ cho ABS muộn 64 59,8
Theo Bảng 3.7, chỉ có 15% bà mẹ hiểu đúng và đầy đủ các nguy cơ liên quan đến việc cho trẻ ăn bổ sung sớm, trong khi 85% bà mẹ vẫn chưa nắm rõ các nguy cơ này.
Tỷ lệ bà mẹ nhận thức không đầy đủ về các nguy cơ liên quan đến việc cho trẻ ABS muộn lên tới 58,9% Trong khi đó, chỉ có 59,8% bà mẹ hiểu rõ các nguy cơ này.
Bảng 3 8 Nhận thức của bà mẹ về cai sữa
Hiểu đúng về thời gian cai sữa 57 53,3
Biết đầy đủ các lưu ý khi cai sữa cho trẻ 2 1,9
Nghiên cứu cho thấy rằng đa số bà mẹ (98,1%) không nắm rõ các lưu ý cần thiết khi cai sữa cho trẻ Mặc dù tỷ lệ bà mẹ hiểu đúng về thời gian cai sữa tương đối cao (53,3%), nhưng chỉ có 1,9% bà mẹ biết đầy đủ thông tin liên quan đến quá trình này.
Bảng 3 9 Nhận thức của bà mẹ nhóm thức ăn cơ bản khi ăn bổ sung
Theo Bảng 3.9, tỷ lệ bà mẹ nắm rõ thông tin về 4 nhóm thức ăn cơ bản đạt 67,3%, trong khi đó, 32,7% bà mẹ vẫn chưa có hiểu biết đầy đủ về các nhóm thức ăn này.
Bảng 3 10 Nhận thức của bà mẹ về nguồn thức ăn bổ sung
Bảng 3.10 chỉ ra rằng, trong số các bà mẹ, tỷ lệ hiểu biết đầy đủ về 4 nguồn thức ăn chất bột đạt 58,9%, trong khi 41,1% bà mẹ vẫn chưa nắm rõ thông tin về nguồn thức ăn này.
Tỷ lệ bà mẹ hiểu biết đầy đủ về bốn nguồn thức ăn chất đạm đạt 60,7%, trong khi 39,3% bà mẹ vẫn chưa nắm rõ thông tin về các nguồn thức ăn này.
Chỉ có 55,1% bà mẹ nắm rõ đầy đủ bốn nguồn thức ăn cung cấp vitamin và khoáng chất, trong khi 44,9% còn lại không biết đầy đủ về các nguồn thức ăn này.
Nguồn thức ăn Nhận thức bà mẹ n Tỷ lệ %
Nguồn thức ăn chất bột
Biết đầy đủ 4 nguồn thức ăn 63 58,9
Nguồn thức ăn chất đạm
Biết đầy đủ 4 nguồn thức ăn 65 60,7
Nguồn thức ăn vitamin và chất khoáng
Biết đầy đủ 4 nguồn thức ăn 59 55,1
Nguồn thức ăn cung cấp vitamin A
Biết đầy đủ 4 nguồn thức ăn 24 22,4
Loại thức ăn trong bữa ăn phụ cho trẻ khi ăn bổ sung
Biết đầy đủ 5 loại thức ăn 2 1,9
Chỉ có 22,4% bà mẹ nắm rõ đầy đủ 4 nguồn thức ăn cung cấp chất đạm, trong khi đó, tỷ lệ bà mẹ chưa biết đầy đủ về các nguồn thức ăn chứa vitamin A lại chiếm tới 68,3%.
Với loại thức ăn trong bữa ăn phụ cho trẻ khi trẻ ABS: Tỷ lệ bà mẹ biết không đầy đủ 5 loại thức ăn chiếm rất cao (chiếm 97,2%)
Bảng 3 11 Nhận thức của bà mẹ về thành phần ăn bổ sung
Hiểu đúng về bữa ăn hàng ngày của trẻ phải có nhóm chất bột nhƣ gạo, bắp, khoai 82 76,6
Hiểu đúng về bữa ăn hàng ngày của trẻ phải có nhóm chất đạm nhƣ thịt, cá, trứng, các loại đậu
Hiểu đúng về bữa ăn hàng ngày của trẻ phải có nhóm chất béo nhƣ dầu, mỡ, bơ 73 68,2
Hiểu đúng về bữa ăn hàng ngày của trẻ phải bổ sung thêm các thức ăn dự phòng thiếu sắt nhƣ: các loại rau xanh và quả chín
Theo Bảng 3.11, có 76,6% bà mẹ hiểu đúng rằng bữa ăn hàng ngày của trẻ cần có nhóm chất bột Bên cạnh đó, 75,7% bà mẹ nhận thức đúng về sự cần thiết của nhóm chất đạm trong chế độ ăn của trẻ Tỷ lệ bà mẹ hiểu đúng về nhóm chất béo cũng đạt 68,2% Đặc biệt, tỷ lệ bà mẹ biết rằng bữa ăn hàng ngày của trẻ cần bổ sung các thức ăn dự phòng thiếu sắt rất cao, lên tới 93,5%.
Bảng 3 12 Nhận thức của bà mẹ về cách cho ăn bổ sung
Nhận thức đúng khi cho trẻ ăn những thức ăn nhƣ thịt, cá, rau xanh 94 87,9
Để đảm bảo dinh dưỡng hợp lý cho trẻ, việc thay đổi thực đơn hàng ngày là rất quan trọng, với 62% ý kiến cho rằng cần thường xuyên thay đổi thức ăn Bên cạnh đó, khi cho trẻ ăn, cần khuyến khích trẻ tự chọn và thưởng thức món ăn, thay vì ép buộc trẻ ăn, điều này được 84% người tham gia đồng tình.
Nhận thức đúng khi trẻ bị ốm vẫn tiếp tục cho ăn bổ sung 63 58,9
Nhận thức đúng khi cho trẻ ăn bổ sung phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm 63 58,9
Nhận thức đúng khi chế biến riêng thức ăn cho trẻ 62 57,9
Nhận thức đúng về chế độ ăn phải phù hợp với từng lứa tuổi 49 45,8
Nhận thức đƣợc bữa ăn hàng ngày của trẻ ngoài bữa ăn chính, nên cho thêm các bữa ăn phụ 52 48,6
Nhận thức đúng cách cho trẻ phải ăn từ loảng đến đặc, từ ít đến nhiều 55 51,4
Bảng 3.12 cho thấy tỷ lệ bà mẹ có nhận thức đúng về dinh dưỡng cho trẻ khá cao, với 87,9% hiểu rõ về việc cho trẻ ăn thịt, cá, và rau xanh Đặc biệt, 57,9% bà mẹ nhận thức được tầm quan trọng của việc thay đổi thực đơn hàng ngày cho trẻ Đa số bà mẹ (78,5%) khuyến khích trẻ ăn mà không ép buộc, và 58,9% tiếp tục cho trẻ ăn bổ sung khi trẻ bị ốm Ngoài ra, 58,9% bà mẹ hiểu rằng thức ăn bổ sung cần đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, trong khi 57,9% chế biến thức ăn riêng cho trẻ phù hợp với độ tuổi Cuối cùng, 48,6% bà mẹ nhận thức rằng ngoài bữa chính, trẻ cần thêm bữa ăn phụ, và 51,4% biết cách cho trẻ ăn từ loãng đến đặc, từ ít đến nhiều.
Bảng 3 13 Nhận thức của bà mẹ về loại thức ăn và số bữa ăn hàng ngày cho con theo độ tuổi
Nội dung Nhận thức bà mẹ n Tỷ lệ %
Loại thức ăn cho trẻ từ 6-8 tháng tuổi
Biết đầy đủ 3 loại thức ăn 37 34,6
Số bữa/ngày cho trẻ 6 - 8 tháng tuổi
Biết đầy đủ các bữa ăn chính, ăn phụ, bú mẹ 44 41,2
Loại thức ăn cho trẻ từ 9 - 11 tháng tuổi
Biết đầy đủ 3 nguồn thức ăn 59 55,1
Số bữa/ngày cho trẻ 9 - 11 tháng tuổi
Biết đầy đủ 3 bữa thức ăn 45 42,1
Loại thức ăn cho trẻ từ 12 - 24 tháng tuổi
Biết đầy đủ 2 loại thức ăn 64 59,8
Bảng 3.13 cho thấy, tỷ lệ bà mẹ biết đƣợc đầy đủ 3 loại thức ăn cho trẻ từ 6-
Tỷ lệ trẻ 8 tháng tuổi được cho ăn đầy đủ chỉ đạt 34,6%, trong khi nhóm trẻ từ 9-11 tháng tuổi có tỷ lệ cao hơn, đạt 55,1% Đáng chú ý, 42,1% bà mẹ biết cung cấp đủ 3 bữa ăn cho trẻ từ 9-11 tháng tuổi Đối với trẻ từ 12-24 tháng tuổi, tỷ lệ bà mẹ biết cung cấp đủ 2 bữa ăn cũng khá cao, đạt 59,8%.
Bảng 3 14 Nhận thức của bà mẹ về số lƣợng mỗi bữa ăn theo độ tuổi
Kiến thức đúng về số lƣợng bữa/ngày cho trẻ 6 - 8 tháng tuổi 61 57
Kiến thức đúng về số lƣợng bữa/ngày cho trẻ 9-11 tháng tuổi 66 61,7
Sự thay đổi nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn cho con sau giáo dục dinh dƣỡng
Bảng 3 15 Sự thay đổi nhận thức của bà mẹ về lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ
Trước giáo dục Đánh giá ngay sau giáo dục Đánh giá sau giáo dục 1 tháng p(test χ2) n % n % n %
Biết đầy đủ 6 lợi ích
Biết không đầy đủ các lợi ích NCBSM
Bảng 3.15 cho thấy tỷ lệ bà mẹ hiểu đầy đủ 6 lợi ích của NCBSM trước giáo dục là 30,8%, tăng lên 60,7% ngay sau giáo dục, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p(2,1)0,05
Tỷ lệ bà mẹ hiểu đúng và đầy đủ về các nhóm thức ăn trong chế độ ăn bổ sung cho trẻ trước khi được giáo dục đạt 69,2% Sau khi giáo dục, tỷ lệ này tăng lên 87,9%, và một tháng sau khi giáo dục, con số này đạt 99,1% Sự khác biệt giữa các thời điểm này đều có ý nghĩa thống kê với p(2,1)