Trong các tác phẩm văn xuôi trung đại Việt Nam, nhân vật chiếm số lượng lớn thường là nam giới, nếu có nữ giới thì lại được nhìn qua lăng kính cảm quan của nam giới với tư tưởng nam quyề
Trang 1PHAN NGUYỆT HẠNH
VẤN ĐỀ GIỚI TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Đình Thu
Trang 2Tôi xin cam đoan công trình luận văn này là của riêng tôi Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả luận văn
Phan Nguyệt Hạnh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Kết cấu của luận văn 9
Chương 1: VẤN ĐỀ GIỚI VÀ TÁC PHẨM TRUYỀN KỲ MẠN LỤC CỦA NGUYỄN DỮ 10
1.1 VẤN ĐỀ GIỚI QUA CÁC DIỄN NGÔN 10
1.1.1 Từ cái nhìn bất bình đẳng giới trong huyền thoại và các học thuyết tôn giáo, chính trị, đạo đức … 10
1.1.2 … đến tiếng nói bình đẳng giới trong nữ quyền luận 13
1.2 VẤN ĐỀ GIỚI TRONG VĂN HÓA, VĂN HỌC VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI 15
1.2.1 Cái nhìn về giới trong văn hóa Việt Nam thời trung đại 15
1.2.2 Cái nhìn về giới trong văn học Việt Nam thời trung đại 29
1.3 VẤN ĐỀ TÁC GIẢ NGUYỄN DỮ VÀ TÁC PHẨM TRUYỀN KỲ MẠN LỤC 31
1.3.1 Tác giả Nguyễn Dữ 31
1.3.2 Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục 32
Tiểu kết chương 1 34
Trang 42.1 GIỚI DƯỚI GÓC NHÌN VỀ NGOẠI HÌNH VÀ PHẨM CHẤT 36
2.1.1 Giới dưới góc nhìn về ngoại hình 36
2.1.2 Giới dưới góc nhìn về phẩm chất 41
2.2 GIỚI DƯỚI GÓC NHÌN VỀ KHÁT VỌNG GIẢI PHÓNG TÌNH CẢM BẢN NĂNG VÀ TÌNH YÊU - HÔN NHÂN 50
2.2.1 Giới dưới góc nhìn về khát vọng giải phóng tình cảm bản năng 50
2.2.2 Giới dưới góc nhìn về tình yêu - hôn nhân 57
2.3 GIỚI DƯỚI GÓC NHÌN VỀ TÀI NĂNG VÀ SỐ PHẬN 60
2.3.1 Giới dưới góc nhìn về tài năng 60
2.3.2 Giới dưới góc nhìn về số phận 64
Tiểu kết chương 2 70
Chương 3 : PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN VẤN ĐỀ GIỚI TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC 73
3.1 MIÊU TẢ NHÂN VẬT 73
3.1.1 Ngôn ngữ nhân vật 73
3.1.2 Tâm lý nhân vật 80
3.1.3 Cách ứng xử, hành động của nhân vật 82
3.2 SỰ KẾT HỢP GIỮA YẾU TỐ KỲ VÀ THỰC 87
3.2.1 Tình yêu giữa người và yêu ma 91
3.2.2 Người hóa thần 93
3.3 SỬ DỤNG ĐIỂN CỐ VÀ HÌNH ẢNH MANG TÍNH CHẤT ƯỚC LỆ, TƯỢNG TRƯNG 95
3.3.1 Điển cố 95
3.3.2 Hình ảnh mang tính chất ước lệ, tượng trưng 99
Tiểu kết chương 3 100
Trang 5GIẢ 106 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)
Trang 6Nxb : Nhà xuất bản
Tp : thành phố
tr : trang
Trang 7MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, nam giới và nữ giới có vai trò quan trọng như nhau Tuy nhiên, qua thực tế xã hội ở từng giai đoạn, vấn đề giới không phải lúc nào cũng được mọi người nhìn nhận, ứng xử một cách bình đẳng Với quan điểm phân biệt giới, lấy đàn ông làm trung tâm đã khiến việc xác lập lại quan hệ bình đẳng giới vô cùng khó khăn, phức tạp Vô thức cộng đồng có sức mạnh như một vật cản, ngay cả khi ý thức bình đẳng giới hay phong trào giải phóng phụ nữ đã hình thành và đạt được nhiều thành quả
Cả một thời kì lịch sử phong kiến lâu dài, xã hội Việt Nam vận hành theo chế
độ phụ quyền, người đàn ông đã thống trị nữ giới, áp đặt các chuẩn mực bất lợi đối với người phụ nữ và có lợi cho nam giới Chính vì thế, vấn đề giới gần như đặt ra thường xuyên, ngấm ngầm, thường trực trong lịch sử và không phải bao giờ việc thực hiện bình đẳng giới cũng diễn ra suôn sẻ, thành công Sau các cuộc đấu tranh, các nhà nữ quyền luận chủ trương: trong cuộc cách mạng về giới, chúng ta cần phải hiểu đúng mối quan hệ về giới, đặc biệt giới
nữ phải tự nhận thức đầy đủ về chính mình
Trong các tác phẩm văn xuôi trung đại Việt Nam, nhân vật chiếm số lượng lớn thường là nam giới, nếu có nữ giới thì lại được nhìn qua lăng kính
cảm quan của nam giới với tư tưởng nam quyền, Truyền kỳ mạn lục của
Nguyễn Dữ là một trong những tác phẩm như thế Thế giới nhân vật trong tập truyện khá phong phú, đại diện cho nhiều loại người trong xã hội phong kiến đương thời như: vua chúa, quan lại, nho sĩ, thương buôn, nhà sư, phụ nữ, trẻ
em và cả những nhân vật tồn tại trong thế giới tinh thần con người như: ma
quỷ, thần tiên,…Nhà nghiên cứu Lã Nhâm Thìn đánh giá: “Đây cũng là lần
đầu tiên có một tác phẩm văn học Việt Nam xây dựng được nhiều kiểu loại
Trang 8nhân vật đến như vậy” [30, tr.219] Với giá trị trên nhiều phương diện, Truyền kỳ mạn lục đã trở thành đối tượng nghiên cứu của bao thế hệ từ khi tác
phẩm ra đời đến nay Tuy nhiên, vấn đề giới trong tập truyện vẫn chưa được khám phá toàn diện, sâu sắc trên hành trình giải mã những giá trị còn ẩn tàng trong tác phẩm
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ được đánh giá là “tập đại thành”,
“áng thiên cổ kỳ bút”, thành tựu tiêu biểu của thể loại truyền kỳ trong văn xuôi chữ Hán Việt Nam thời trung đại Tập truyện có những thiên truyện đã được đưa vào và giảng dạy trong chương trình Ngữ văn ở bậc phổ thông Bởi
vậy, nghiên cứu vấn đề giới trong Truyền kỳ mạn lục sẽ góp thêm cái nhìn
tham chiếu nhằm tiếp tục khẳng định giá trị tác phẩm cũng như vị thế tác giả trong tiến trình vận động của văn học dân tộc, góp phần nâng cao hiệu quả
giảng dạy thể loại truyện truyền kỳ nói chung cũng như tác phẩm Truyền kỳ
mạn lục nói riêng
Trên đây là những lý do để tác giả quyết định chọn “Vấn đề giới trong
Truyền kỳ mạn lục” làm đề tài nghiên cứu của luận văn
2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Về mặt lý thuyết lẫn ứng dụng, cho đến nay, vấn đề giới đã được nghiên cứu sâu rộng ở nhiều quốc gia, dân tộc, trong đó có Việt Nam
2.1 Các nghiên cứu về giới ở nước ngoài
Ở Âu Mỹ, vấn đề giới được nghiên cứu cả về lý thuyết lẫn ứng dụng, trên cả hai trục: lịch đại và đồng đại Trên chiều lịch đại, các nghiên cứu dựa vào huyền thoại, tôn giáo và các tài liệu nhân chủng; trên trục đồng đại, các nghiên cứu đối chiếu, xem xét tâm lý, hành vi của con người đương đại so với lịch sử và khái quát thành lý thuyết Ban đầu là lý thuyết về nữ quyền với nhu cầu hướng đến bình đẳng giới hay giải phóng phụ nữ, sau còn tiến đến vấn đề đồng tính hay giới tính thứ ba, và thậm chí là quyền chuyển giới Chính tri
Trang 9thức về giới đã buộc nhiều nhà nước phải luật hoá để đảm bảo các quyền của giới lâu nay bị kỳ thị, phân biệt đối xử
Các lý thuyết về giới đều thống nhất đi đến kết luận: giới là một kiến
tạo xã hội Mọi kiến tạo dẫn đến kỳ thị giới đều do chế độ phụ quyền, bắt nguồn từ trong huyền thoại, cố kết thành các diễn ngôn tôn giáo và nhà nước
có tính tôn giáo Lý thuyết giới gắn liền với Phân tâm học, Cấu trúc luận và sau đó là Giải cấu trúc Tinh thần phản biện liên tục đã tạo ra một bức tranh tương đối hoàn chỉnh về vấn đề giới
Một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về giới phải kể đến như:
Tác phẩm Căn phòng riêng (1929) của Virginia Woolf, Trịnh Y Thư
dịch (2009), được xem là một trong những cuốn sách khơi nguồn cho phong trào nữ quyền, vốn khởi phát từ phương Tây và ngày càng có sức lan tỏa rộng rãi, trở thành một khúc ngoặt văn hóa – khúc ngoặt nữ quyền
Nghiên cứu về giới thì tác phẩm Giới nữ (1949) của Simone De
Beauvoir, Nguyễn Trọng Định và Đoàn Ngọc Thanh dịch (1996), được xem
là một trong những quyển sách hay nhất của thế kỷ XX, là một cuốn bách khoa toàn thư về các giai đoạn của cuộc đời phụ nữ từ lúc sinh ra, dậy thì, lấy chồng, làm mẹ; đồng thời vạch ra con đường giành quyền lợi cho nữ giới.Sự thống trị của nam giới (1998) của Pierre Bourdieu, do Lê Hồng Sâm dịch (2011) Trong cuốn sách này, Bourdieu đã phân tích các mối quan hệ giữa nam giới và nữ giới, xuất phát từ việc nghiên cứu dân tộc học xã hội của người Berbères tại Kabylie, và tìm hiểu những cấu trúc tượng trưng của vô thức lấy nam giới làm trung tâm, hiện vẫn tồn tại ở nam giới và nữ giới ngày nay.Tác phẩm Bí ẩn nữ tính của Betty Friedan, Nguyễn Vân Hà dịch (2015),
được đánh giá là quyển sách quan trọng nhất của thể kỉ XX Trong tác phẩm tác giả đi tìm nguồn gốc bí ẩn nữ tính, và ảnh hưởng của nó đối với người phụ
nữ sống vì nó, hoặc lớn lên dưới cái bóng của nó
Trang 10Những đóng góp trên như những phát súng đầu tiên nổ vào thành trì của chế độ phụ quyền đã tồn tại và vấn vít hàng ngàn năm Bên cạnh những chuyên luận nghiên cứu về giới nhằm hướng tới sự công bình giữa giới nam và nữ, còn có sự xuất hiện nhiều những nghiên cứu về vấn đề đồng tính và chuyển giới
2.2 Các nghiên cứu về giới ở Việt Nam
Ở Việt Nam, giới cũng là đối tượng được sự quan tâm đặc biệt của nhiều tổ chức, cá nhân như: Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, các nhà giáo dục, các nhà tâm lý… Sự quan tâm ấy đóng góp một phần không nhỏ vào tiếng nói đòi bình quyền cho giới nữ, không những thế các công trình nghiên cứu về giới ở góc nhìn giải cấu trúc và bản thể luận cũng được đề cập:
Từ góc độ định kiến giới, các tác giả Trần Thị Vân Anh (1999), Nguyễn Thị Hòa (2002) đã nghiên cứu về những định kiến đối với những người phụ nữ làm công tác lãnh đạo Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: những định kiến với người phụ nữ đã làm cho họ trở nên tự ti, tự đánh giá thấp về khả năng của mình, họ thường cho rằng mình kém hơn nam giới Trong nhiều trường hợp, nhiều người đàn ông, người chồng có tâm lý không muốn cho vợ hơn mình về mọi mặt, không tạo điều kiện giúp người phụ nữ, tạo ra những áp lực cản trở sự tiến bộ của họ
Trong ngôn ngữ và văn học, giới và giới tính cũng được nghiên cứu
tương đối nhiều Những công trình tiêu biểu như: Sự kỳ thị giới tính trong
ngôn ngữ (2005) của Trần Xuân Điệp, trong đề tài nghiên cứu này Trần Xuân
Điệp đã trình bày trực tiếp về vấn đề kỳ thị giới tính trong ngôn ngữ Trên cở
sở đó, tác giả còn đề xuất hướng giải quyết vấn đề kỳ thị giới tính trong ngôn ngữ theo góc độ cải cách ngôn ngữ và quy hoạch ngôn ngữ Lịch sự trong tiếng Việt và giới tính của Vũ Tiến Dũng (2007), trong công trình này, tác giả
đề cập vấn đề giới tính với những nội dung về cách xưng hô giữa phái nam và
Trang 11phái nữ Trong cuốn sách Định kiến giới và phân biệt đối xử theo giới: Lý
thuyết và thực tiễn (2011) của các tác giả Trần Thị Minh Đức, Hoàng Xuân
Dung, Đỗ Hoàng đã đề cập tới một số vấn đề lý luận liên quan đến định kiến giới, các hình thức biểu hiện của định kiến giới trên phương diện lý luận và thực tiễn ở nước ta Tuyển tập giới và xã hội, số 2 – năm 2014, Trường Đại
học Hoa Sen - Trung tâm nghiên cứu giới và xã hội - phần quan trọng nhất của tuyển tập là 12 bài nghiên cứu được sắp xếp theo ba chủ đề: Những gương mặt nữ quyền, Nghiên cứu phụ nữ: một góc nhìn lịch sử, Giới và phát triển: những vấn đề đương đại Đặc biệt, tìm hiểu phụ nữ qua cách tiếp cận các nhân chứng và lời chứng của người trong cuộc là một hướng nghiên cứu mang lại những đóng góp quan trọng trong công trình này.Văn học và giới nữ
(2016) của Phùng Gia Thế - Trần Thiện Khanh biên soạn, cuốn sách này cung cấp một số tri thức về nữ quyền luận trên thế giới, đồng thời đưa ra những diễn giải bước đầu về vấn đề nữ giới trong diễn ngôn văn học Về tổng thể nhìn nhận cuốn sách hướng đến khẳng định vị thế ngày càng cao của nữ giới
Ngoài ra, còn có một số công trình tại trường Đại học Quy Nhơn cũng đã
nghiên cứu về giới như bài viết: “Kiến tạo giới trong huyền hoại và văn hóa
Chăm” của tác giả Châu Minh Hùng (2020), hay luận văn: Vấn đề giới trong ca dao Việt của tác giả Nguyễn Thị Linh Huệ (2020) Trong những công trình này,
các tác giả không những đề cập đến những vấn đề lý thuyết về giới mà còn vận dụng lý thuyết giới vào nghiên cứu những vấn đề văn hóa, văn học cụ thể
Điểm qua một số công trình nghiên cứu trên cho thấy vấn đề về giới là đề tài được quan tâm rộng rãi và đã đạt được những thành tựu nghiên cứu to lớn
2.3 Nghiên cứu về giới trong Truyền kỳ mạn lục
Vấn đề giới trong tác phẩm Truyền kỳ mạn lục không phải chưa từng được đề cập Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm được quan tâm nghiên cứu từ khá
sớm, lịch sử nghiên cứu tác phẩm này cũng đạt được nhiều kết quả quan
Trang 12trọng Tuy vậy, theo sự tìm hiểu của chúng tôi, cho đến nay, vẫn chưa có một
công trình nghiên cứu nào về giới trong Truyền kỳ mạn lục một cách hệ
thống, chuyên sâu, hoặc nếu có thì hầu như chỉ nghiên cứu về giới nữ Bùi Kỷ
có thể được coi là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên bàn luận về vấn
đề người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục ở Lời giới thiệu Truyền kỳ mạn lục
(bản dịch của Trúc Khê), Nguyễn Phạm Hùng với "Tìm hiểu khuynh hướng
sáng tác trong Truyền kỳ mạn lục” (Tạp chí Văn học, số 2, 1987), cũng đề cập
đến một số nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục, phân loại họ vào nhân vật của hai kiểu truyện là truyện kỳ quái và truyện diễm tình Hay Kim Seona với
Nhân vật nữ trong thể truyền kỳ qua hai tác phẩm Truyền kỳ mạn lục và Truyền kỳ tân phả (Luận văn thạc sĩ Ngữ Văn, Trường Đại học Khoa học xã
hội và Nhân văn, Hà Nội, 1995), Khóa luận của Lê Thị Dung: Hình tượng
người phụ nữ trong Truyện kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (Trường Đại học Quy
Nhơn, 2016),hay như bài viết của Hoàng Thùy Dương: “Tiếp cận Truyền kì
mạn lục từ quan niệm vô thức cá nhân của Sigmund Freund” (Tạp chí Khoa
học Trường Đại học Cần Thơ, Tập 34, số 3C, 2018) cũng đã nhìn nhận đánh
giá về người phụ nữ từ góc nhìn về giới trong tập truyện
Ngoài ra, còn có thể kể đến một số công trình tại Trường Đại học Quy
Nhơn nghiên cứu về những phương diện nghệ thuật trong Truyền kỳ mạn lục
góp phần thể hiện vấn đề giới trong tập truyện tiêu biểu nhưluận văn của Lê
Thế Tạo: Không gian nghệ thuật trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ
(2013), khóa luận của Lê Thị Trường Giang: Hệ thống điển cố trong Truyền
kì mạn lục của Nguyễn Dữ (2014)
Từ thực tiễn nghiên cứu trên cho thấy: Vấn đề giới mà chúng tôi quan tâm, trước đó vẫn chưa được khai thác triệt để hoặc ít có công trình đi sâu
nghiên cứu về giới một cách hệ thống trong Truyền kỳ mạn lục Luận văn Vấn
đề giới trong Truyền kỳ mạn lục sẽ góp phần phân loại, phân tích các đặc
Trang 13điểm, làm sáng rõ một số phương diện về vấn đề giới trong tập truyện để có cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về tác phẩm
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Thực hiện đề tài này, chúng tôi hướng đến mục đích và giải quyết một
số nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Tổng hợp những nghiên cứu về giới, làm công cụ lý giải vấn đề giới
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề về giới trong
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là 20 truyện trong tác phẩm Truyền kỳ
mạn lục của Nguyễn Dữ Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất sử dụng
tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ do Trúc Khê dịch, Nxb Hội Nhà
văn ấn hành năm 2016 Bên cạnh đó, để tạo tính chính xác và khoa học, trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi còn tham khảo và đối chiếu với một số văn bản khác
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
- Phương pháp thống kê: Đây là phương pháp chủ đạo được sử dụng để giải
Trang 14quyết các vấn đề chủ yếu của đề tài luận văn.Theo đó, dựa vào đặc điểm giới trong tập Truyền kỳ mạn lục, chúng tôi tiếp tục tiến hành nhóm họp, phân chia các vấn đề về giới thành những tiểu loại khác nhau Đặc biệt trong chương 2, sử dụng phương pháp thống kê, người viết đã gia tăng thao tác so sánh giữa nam giới và nữ giới, cũng như so sánh nhằm làm rõ đặc điểm, đặc sắc các vấn đề về giới trong tác phẩm
- Phương pháp khảo sát văn bản: Đây là phương pháp cơ sở, ban đầu, cho phép người nghiên cứu tiếp cận trực tiếp với văn bản tác phẩm Truyền kỳ mạn lục Với phương pháp này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 20 truyện trong tập Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa: Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã sử dụng phương pháp phân tích nhằm làm rõ những biểu hiện đặc điểm, đặc trưng cụ thể của các biểu hiện về giới trong Truyền
kỳ mạn lục Từ đó, tổng hợp, khái quát hóa lại vấn đề đã phân tích để có cái nhìn toàn diện về các vấn đề về giới trong việc góp phần tạo nên giá trị của tác phẩm cũng như vị thế của tác giả
Những phương pháp nghiên cứu trên đây không phải được sử dụng một cách độc lập, riêng lẻ Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã kết hợp các phương pháp nghiên cứu này để có thể đạt được hiệu quả nghiên cứu một cách tốt nhất
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Một là, làm rõ một số vấn đề lý thuyết chung về giới, về thể loại truyền kỳ và tác giả Nguyễn Dữ
- Hai là, khảo sát về giới trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, tập trung phân tích các biểu hiện về giới trong Truyền kỳ mạn lục
- Ba là, làm sáng rõ một số phương thức nghệ thuật biểu hiện vấn đề
giới trong Truyền kỳ mạn lục
Trang 15Từ đó, luận văn chỉ ra những giá trị của tác phẩm cũng như vị trí của nó trong tiến trình vận động, phát triển của thể loại truyện ký - văn xuôi trung đại nước ta
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho học sinh, sinh
viên, học viên, các học giả trong việc nghiên cứu, giảng dạy tác phẩm Truyền
kỳ mạn lục nói riêng và thể loại truyện ký trung đại Việt Nam nói chung
7.KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được cấu trúc thành 03 chương chính, cụ thể như sau:
- Chương 1: Vấn đề giới và tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn
Dữ
- Chương 2: Hệ thống chủ đề về giới trong Truyền kỳ mạn lục
- Chương 3: Phương thức nghệ thuật thể hiện vấn đề giới trong Truyền
kỳ mạn lục
Trang 16Chương 1: VẤN ĐỀ GIỚI VÀ TÁC PHẨM TRUYỀN KỲ MẠN LỤC CỦA NGUYỄN DỮ
1.1 VẤN ĐỀ GIỚI QUA CÁC DIỄN NGÔN
Trước hết cần điểm qua đôi nét về khái niệm diễn ngôn Theo từ điển
New Webster`s Dictionary thì diễn ngôn được định nghĩa gồm hai nghĩa:
một là sự giao tiếp bằng tiếng nói (trò chuyện, lời nói, bài phát biểu); hai là
sự nghiên cứu tường minh, có hệ thống về một đề tài nào đó (luận án, các sản phẩm của suy luận) Cả hai nghĩa đó đều chỉ thực tiễn giao tiếp ngôn ngữ, nhưng chưa nói đến nghĩa hiện đại là hình thức của ý thức hệ và quyền lực Còn giới là một kiến tạo xã hội, cho nên diễn ngôn về giới là tiếng nói của kẻ mạnh đè lấp lên kẻ yếu hoặc biến kẻ yếu thành kẻ ăn theo nói leo hoặc không có tiếng nói Trong lịch sử, diễn ngôn về giới nằm trong tư tưởng của huyền thoại và tôn giáo trước khi xuất hiện tiếng nói khác: tiếng nói đối kháng
1.1.1 Từ cái nhìn bất bình đẳng giới trong huyền thoại và các học thuyết tôn giáo, chính trị, đạo đức …
Trong huyền thoại, tôn giáo, diễn ngôn về giới có từ huyền thoại khai thiên lập địa khi mượn chuyện thánh thần để xác lập trật tự đầu tiên của loài người Lúc bấy giờ, vai trò của nữ thần và nam thần tương đương nhau, chỉ khác là ở chức năng tự nhiên Trong thần thoại: Hy Lạp có mẹ Gaia, Ấn Độ
có Lajja Gauri - thần lực nữ tính (Shakti), người Hán có Nữ Oa, còn Việt Nam có mẹ Âu Cơ, … Ở họ đều có điểm chung là mang chức năng sinh sản
và nuôi dạy con cái, thậm chí mang cả chức năng khai thiên lập địa, lao động
và phân phối của cải như nam thần Tuy nhiên, huyền thoại về nữ thần và nam thần không ngang bằng nhau Điều đó cũng có nghĩa là quyền lực của phụ nữ
mờ nhạt hẳn, trong khi quyền lực của đàn ông thì nổi bật lên thành kẻ thống
Trang 17trị, dẫn đến sự bất bình đẳng dai dẳng suốt chiều dài lịch sử, đặc biệt khi các tôn giáo lớn ra đời thì vị thế của nam nữ càng bị phân hóa rõ rệt
“Nếu huyền thoại dẫn dắt con người đến vườn Eden, xác lập một niềm
tin về Đức Chúa Trời toàn thiện toàn mỹ sinh ra Adam giống như ngài, rồi lấy sườn Adam tạo ra Eva đầy khiếm khuyết Sự mặc khải này xác lập ngay một trật tự đầu tiên cho loài người: đàn ông là hiện hữu của Thượng Đế, còn đàn bà là cái khác (The Other), cái phụ thuộc của đàn ông Cựu ước kế tiếp, rằng việc vi phạm luật trời và rơi vào tội lỗi bắt đầu từ đàn bà Eva nghe lời
kẻ xấu là con rắn, hiện thân của quỷ Satan đã dụ Adam ăn Trái Cấm, trái sinh ra từ cây Trí tuệ đồng thời là cây Tính dục Đây là mặc khải thứ hai về thân phận người phụ nữ: Ngài phán cùng người phụ nữ rằng: ta sẽ thêm điều khổ cực bội phần trong cơn thai nghén: người sẽ chịu đau đớn mỗi khi sinh con; sự dục vọng người phải xu hướng về chồng, và chồng sẽ cai trị ngươi ”
[34, tr.115]
Chính niềm tin vào mặc khải này đã kéo theo hàng loạt các kiến tạo về vai trò của người đàn ông và thân phận phụ nữ [13, tr.80] Sau Adam là tổ phụ Abraham, và sau Abraham lại là Chúa con Jesus Christ Ngay trong huyền thoại đa thần trước tôn giáo độc thần, người đứng đầu các vị thần phải là đàn ông Trong huyền thoại Hy Lạp, các nữ thần hoàn toàn bị đưa xuống sau sự thống trị của thần Zeus Và những đứa con của thần linh trong cuộc hôn phối với người trần như Heracles, Achilles được ngợi ca trong các thiên sử thi đều mang khuynh hướng ngợi ca vai trò của người đàn ông Hay trong huyền thoại sơ khai của Ấn Độ, vào cái giao điểm đạo Hindu lập ra tam thần tối cao (Trimurti), gồm Barahma, Vishnu, Shiva như là sự chỉnh biên từ những câu chuyện dân gian phổ biến vùng sông Ấn, sông Hằng, vết tích một cuộc đảo chính từ thần lực nữ tính sang phụ quyền vẫn còn nguyên vẹn[12, tr.11]
Trong huyền thoại của người Hán, “Huyền thoại Bàn Cố tồn tại gần
Trang 18như song song với với huyền thoại Nữ Oa, trong trường hợp Nữ Oa là huyền thoại độc lập trước khi gắn kết với Phục Hy thành cặp nhị nguyên Bàn Cố là
vị thần nguyên thủy nhất, khi chết đi máu, thịt, xương biến thành núi sông và vạn vật, những loài kí sinh trùng trong cơ thể ngài hóa thành con người Huyền thoại Nữ Oa nhào nặn đất sét để nắn nên con người - Nữ Oa sánh tương đương với chúa trời trong Cựu ước Điều đó chứng tỏ vai trò phụ nữ từng được đề cao trước khi diễn ra cuộc “đảo chính” mang tên phụ quyền.”
[12, tr 119]
Còn trong tâm thức của người Việt, mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng
và từ trăm trứng ấy nở ra trăm con trai – đây là một kiến tạo phụ quyền nhưng chúng ta không thể phủ nhận vai trò sinh nở và duy trì sự sống của Âu Cơ - thiên chức của nữ giới Chính Âu Cơ mang năm mươi con trai lên núi mới dựng nên cơ nghiệp các vua Hùng, còn Lạc Long Quân mang năm mươi đứa con trai về biển thì không được nhắc đến Việc Âu Cơ hoàn thành chức năng sinh nở, bảo tồn sự sống và nhường phần xây dựng triều đại Hùng Vương cho năm mươi đứa con trai cho thấy: Người phụ nữ là sức mạnh của hiện thân tự nhiên, trong khi quyền lực đàn ông chỉ là một thứ được kiến tạo để hình thành nên các quan hệ xã hội
Đất nước Ấn Độ, nơi mà đạo Hindu thống trị và duy trì lâu dài nhất, thì
bộ tam thần đứng đầu các vị thần: Brahma, Vishnu và Shiva lại gắn với cặp Linga – Yoni Cả ba đều được xem như là nam thần, nhưng có gì đó bất ổn khi đặt trong quan hệ với cặp biểu trưng tính dục nam nữ mà người Ấn Độ tôn thờ Brahma, thần sáng tạo và sinh sôi, Vishnu, thần bảo hộ thuộc Yoni; trong khi Shiva, thần hủy diệt lại thuộc Linga Quan hệ tương ứng ấy cho thấy nền tảng của sự sáng tạo và bảo hộ sinh sôi thuộc về nữ tính, trong khi hủy diệt và cõi chết lại thuộc về nam tính Lạm dụng bạo lực và tính dục dẫn đến chiến tranh chỉ có thể là đàn ông Nhưng quá trình kiến tạo văn hóa phụ quyền, mọi
Trang 19tội lỗi trút hết đàn bà
Còn Thánh Paul, người dựa vào Cựu Ước và Tân Ước, đã thiết lập nên nguyên tắc: không phải người nam được sáng tạo ra cho người nữ mà trái lại,
người nữ được sáng tạo ra cho người nam
Các quan điểm này đã che đậy hoàn toàn vai trò của người phụ nữ, điều này cũng thể hiện rõ trong Nho giáo khi luận Kinh Dịch Nho giáo xem đàn
bà thuộc Âm tính so với đàn ông thuộc Dương tính, vì thế cái xấu dành cho đàn bà Luận ngữ viết: “Duy nữ tử dữ tiểu nhân vi nan dưỡng dã, cận chi tắc bất tốn, viễn chi tắc oán” (Chỉ có phụ nữ và tiểu nhân là loại khó dạy, gần nó thì nó vô phép, xa nó thì nó oán hận)
Tuy nhiên, con giun xéo mãi cũng quằn Lịch sử đã chứng kiến tiếng nói phản kháng, đấu tranh trong phong trào đòi nữ quyền của nữ giới Khởi đầu cho ngọn lửa đấu tranh ấy là vào tháng 10/1789, một nhóm phụ nữ Paris xông thẳng vào trụ sở Quốc dân đại hội để đòi quyền bình đẳng nam nữ Đây chính là sự khởi đầu cho một phong trào đấu tranh chính trị trước khi chuyển thành những vấn đề văn hoá lớn của cả thời đại văn minh
1.1.2 … đến tiếng nói bình đẳng giới trong nữ quyền luận
Mặc cho tạo hóa ban tặng cho nữ giới nhiều thiên chức mà đàn ông không có được và có thể đảm nhiệm những vai trò như nam giới nhưng những quan niệm hà khắc về người phụ nữ vẫn kéo dài ròng rã suốt nhiều thiên niên
kỉ Những quan niệm: “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, “Nữ nhi thường tình”, “Nữ nhi ngoại tộc”, … đã bám rễ sâu trong tiềm thức, phủ rộng trên phạm vi không chỉ một dân tộc, một quốc gia, một vùng miền và trở thành cái cùm để giam cầm nữ giới, là công cụ áp chế họ Và như một lẽ tất yếu: có áp bức thì tất yếu sẽ có đấu tranh, sự phản kháng ấy đã giáng một đòn mạnh mẽ, tấn công một cách toàn diện vào tình trạng bất bình đẳng của xã hội
Nữ quyền luận (Feminism) ra đời trong những thập niên 1960, 1970, gắn
Trang 20liền với phong trào giải phóng phụ nữ Đó là một nỗ lực lý thuyết hóa vấn đề nam - nữ trên tinh thần giải cấu trúc Nó tự tạo ra chiến lược diễn ngôn chống lại diễn ngôn nam quyền hay văn hóa duy dương vật (phallocentric culture)
Chủ nghĩa nữ quyền trên thế giới đã trải qua ba giai đoạn đấu tranh Giai đoạn thứ nhất khởi đầu từ nước Anh, sau đó lan ra các quốc gia phương Tây từ nửa sau thế kỉ XIX đến nửa đầu thể kỉ XX Đại diện của giai đoạn này chính là Mari Wollstonerast được ví như mẹ đẻ của chủ
nghĩa nữ quyền với cuốn Bản chứng minh các quyền của phụ nữ (A
Vindication of de Rights of Women, 1792), bà cho rằng: phụ nữ không phải
thấp kém hơn đàn ông, chẳng qua là họ thiếu đi sự giáo dục Theo bà, cả đàn ông và phụ nữ phải được đối xử với nhau bình đẳng và mường tượng
về một trật tự xã hội dựa trên nguyên lý đó Tiếp theo là Viginia Woolf - nhà nữ quyền học đầu tiên của phương Tây - sáng lập ra bộ môn phê bình
văn học cho nữ giới với tác phẩm Một căn phòng riêng (A Rom of One is
Own, 1929) được coi như “sách vỡ lòng” của nữ quyền
Giai đoạn thứ hai, chủ nghĩa nữ quyền bắt đầu rầm rộ ở Tây Âu và Bắc Mỹ sau đại chiến thế giới thứ hai và phát triển lên cao trào trong thập niên 60 của thể kỉ XX Đại diện tiêu biểu nhất của giai đoạn này là Simone
de Beauvoir (1908 - 1986), nữ nhà văn Pháp, trong cuốn Giới tính thứ hai (The Second Sex) Theo nhận xét của các dịch giả tiếng Anh, Giới tính thứ
hai là một chuyên luận triết học và “là một trong những tác phẩm quan
trọng của thế kỉ XX làm cơ sở lý luận cho phong trào nữ quyền” Beauvoir cho rằng: “nữ tính” (femininity) được dùng với nghĩa là tập hợp những đặc trưng về xã hội của nữ giới (không phải là những đặc trưng tâm sinh lý) Theo bà, những đặc trưng xã hội này không phải là cái vốn có của phụ nữ,
mà chỉ là tư tưởng của nam giới gán cho phụ nữ nhằm mục đích chứng minh rằng phụ nữ không có khả năng bình đẳng với nam giới Bà cho
Trang 21rằng:Là phụ nữ thì phải tỏ ra mình là người yếu đuối, vô tích sự, thụ động, ngoan ngoãn Trong tác phẩm này, bà đã có một tuyên ngôn khuấy động tri thức nhân loại đó là: người ta sinh ra không phải là đàn bà, mà trở thành đàn bà” “Trở thành” là kết quả giáo huấn từ gia đình, xã hội, văn hóa, đạo đức… và còn được hiểu là sự phụ thuộc vào đàn ông
Với ba giai đoạn đấu tranh ở phương Tây như thế đã đưa các lý thuyết tiếp cận gần hơn các vấn đề giới ngày càng sâu sắc, đa chiều Ngày nay, vấn
đề nữ quyền đã thực sự có ảnh hưởng vào mọi lĩnh vực đời sống rồi tiếp tục tác động mạnh mẽ sang các vấn đề khác trong mối tương quan, liên hệ với những ngành khoa học khác như: phân tâm học, xã hội học, nhân chủng học, văn học v.v…
Như vậy, điều cốt lõi của nữ quyền luận chính là xác nhận vai trò của
nữ giới với cái nhìn đánh giá thế giới qua đôi mắt của nữ giới, bằng cách giải thích huyền thoại đàn ông là trung tâm Bởi lâu nay, những giá trị của phụ nữ đều do xã hội nam quyền kiến tạo, xã hội ấy đã trùm lên phụ nữ những chuẩn mực chỉ để có lợi cho nam giới Những bản tính nữ được xem là vẻ đẹp vĩnh cửu của nữ giới như giàu đức hy sinh, vị tha, đảm đang, tiết hạnh … đã trở thành xiềng xích ngọt ngào, giam hãm nữ giới bao thế hệ Đóng góp của nữ quyền luận đã chỉ ra rằng: cái bóng của những giá trị truyền thống ấy thực chất như những “vòng kim cô” cầm tù và làm mòn bản ngã, biến người phụ
nữ trở thành công cụ trong tay nam giới
1.2 VẤN ĐỀ GIỚI TRONG VĂN HÓA, VĂN HỌC VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI
1.2.1 Cái nhìn về giới trong văn hóa Việt Nam thời trung đại
Nho giáo là học thuyết chính trị, đạo đức được nhà nước công nhận là
hệ tư tưởng chính thống, chi phối chủ yếu đến đời sống văn hóa Việt Nam thời trung đại, trong đó có cái nhìn về giới
Trang 221.2.1.1 Cái nhìn về nam giới
Đối với đấng nam nhi, bậc quân tử, trong tư tưởng chính trị của Nho giáo, Khổng Tử đề ra thuyết Chính danh và Đức trị Theo thuyết Chính danh, mỗi sự vật phải được gọi đúng tên của nó, mỗi người phải làm đúng chức phận của mình: “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” - Vua ra vua, tôi ra tôi,
cha ra cha, con ra con (Luận ngữ) Theo Khổng Tử, nguồn gốc của sự rối ren
trong xã hội là do nhà cầm quyền sa đọa, làm cho “danh” không được
“chính”: “Danh bất chính, ngôn bất thuận, sự bất thành, xã tắc loạn” - Danh không chính thì lời không thuận, lời không thuận tất việc không thành, xã hội
tất loạn” (Luận ngữ) Thuyết Đức trị là tư tưởng cai trị đất nước, quản lý xã
hội trên cơ sở các chuẩn mực đạo đức Theo đó, bậc quân tử phải “Thượng hiền”, nghĩa là phải có đức, lấy đạo đức làm động cơ thúc đẩy nhân dân hành thiện Khổng Tử nói: “Dùng chính lệnh để dẫn dắt dân, dùng hình pháp để giải trật tự, dân tránh khỏi tội nhưng chưa biết hổ thẹn Dùng đức để dẫn dắt,
dùng lễ để giữ trật tự, dân biết hổ thẹn mà tiến tới chỗ tốt lành” (Luận ngữ)
Để thực hiện Chính danh thì đức là công cụ Trong học thuyết của Nho giáo, đạo đức là vấn đề được bàn luận nhiều nhất Bởi đạo đức là công cụ, phương tiện chủ yếu của giai cấp thống trị trong việc trị nước và quản lý xã hội; là tiền đề, điều kiện quan trọng nhất để hình thành và hoàn thiện con người, góp phần vào việc củng cố, duy trì trật tự, kỷ cương, ổn định xã hội; đồng thời, đạo đức và thực hành đạo đức đóng vai trò quyết định trong việc tạo lập hình mẫu người lý tưởng (bậc quân tử) và góp phần tạo lập xã hội lý tưởng
Theo quan điểm Nho giáo, các chuẩn mực đạo đức cơ bản mà người quân tử cần phải có bao gồm: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín (ngũ thường) Các chuẩn
mực đạo đức này được đề cập trong Kinh thư, Kinh thi, đặc biệt là trong Luận
phải là sự thống nhất và bổ sung lẫn nhau của “ngũ thường”
Trang 23Nhân là chuẩn mực đạo đức đầu tiên, cơ bản nhất trong đạo đức Nho giáo Tất cả các chuẩn mực đạo đức khác đều xoay quanh chuẩn mực trung tâm này Từ đức Nhân mà sinh ra các đức khác, các đức khác lại quy tụ về với đức Nhân, là biểu hiẹ n của đức Nhân Theo Khổng Tử, Nhân là đạo lý làm người, quy định bản tính của con người và mối quan hệ giữa người với người trong đời sống xã hội Theo đó, Nhân được nhìn nhận từ hai mặt: đối với mình và đối với người Đối với mình phải trong sạch, không nghĩ và không làm điều xấu, điều ác, phải giữ đúng Lễ, phải “tu thân” theo các chuẩn mực: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, từ đó “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Đối với người, phải thương yêu, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội; mình muốn lập thân thì cũng giúp người khác lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng giúp người khác thành đạt (Phù nhân giảm kỷ dục lập nhi lập thân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân); điều gì mà mình không muốn thì cũng đừng đem áp dụng cho người khác (Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân) (Luận ngữ) Có thể nói, Nhân là chuẩn mực đạo đức chi phối mọi hoạt động, tính cách của con người Do đó, con người cần rèn luyện để có được đức Nhân trong mối quan hệ với chính mình
và với người khác
Lễ là một chuẩn mực đạo đức gắn liền với Nhân Lễ là gốc của Nhân, Nhân là nội dung, Lễ là hình thức thể hiện của Nhân Tru ớc hết, Lễ là những chuẩn mực, quy tắc, yêu cầu có tính bắt buộc và ràng buộc đối với mọi hành
vi, ứng xử của con ngu ời trong các mối quan hệ xã hội cũng nhu trong các hoạt động khác Hơn nữa, Lễ còn là phạm trù chỉ trật tự, kỷ cu o ng của xã họ i
mà mọi cá nhân, mọi giai cấp trong xã hội đều phải tuân theo Nhấn mạnh vai
trò của Lễ trong viẹ c trị nu ớc, Khổng Tử cho rằng: Dẫn dắt dân bằng chính pháp, sửa trị dân bằng hình phạt, thì dân chỉ tạm tránh khỏi tội lỗi, chứ không
có lòng hổ thẹn Nếu dẫn dắt dân bằng đạo đức, sửa trị dân bằng lễ giáo thì dân không những có lòng hổ thẹn mà còn cảm hóa quy phục Nhu vậy, Lễ
Trang 24không chỉ là thước đo đánh giá đạo đức của con ngu ời mà Lễ còn có tính khuyên ra n, ràng buọ c con ngu ời; thực hành Lễ thường xuyên, hằng ngày để trở thành thói quen đạo đức của cá nhân và xã hội sẽ góp phần giúp xã hội trật
tự, ổn định
Nghĩa là việc nên làm hay việc phải làm là theo đúng lẽ phải, đạo lý, lương tâm và bổn phận Khổng Tử cho rằng, ngu ời ta hành đọ ng phải dựa vào Nghĩa, phải vì Nghĩa, có nghĩa là điều gì nên làm thì làm, điều không nên làm thì không làm Với Khổng Tử, hành động theo Nghĩa thực chất là hành đọ ng theo Nhân - Nghĩa là mọ t biểu hiẹ n của đức Nhân Nói cách khác, trong đức Nhân của Khổng Tử bao hàm cả đức Nghĩa Nghĩa là tiêu chuẩn của hành vi
và cũng là kỷ cương khi thực hiện mọi việc Nếu đức Nhân thể hiện trong mối quan hệ với người khác thì đức Nghĩa thể hiện trong sự tự vấn lương tâm
Trí theo quan điểm của Nho giáo là sự hiểu biết của con người về muôn việc, muôn vật trong thiên hạ Nói cách khác, Trí thể hiện ở chỗ biết phân biệt một cách đúng đắn, rõ ràng điều phải - trái, đúng - sai Theo Khổng Tử, ngu ời
có Nhân phải có Trí, vì có sáng suốt mới biết cách giúp ngu ời mà không hại cho ngu ời, cho mình; mới biết phân biệt ngu ời chính trực và người bất liêm; biết trọng dụng hiền tài Để có Trí, Nho giáo khuyên con ngu ời cần phải học
tạ p để hoàn thiẹ n sự hiểu biết và nhân cách của bản thân Mạnh Tử khẳng định: học chẳng chán là Trí, dạy dỗ không mỏi là Nhân
Tín là sự thành thực, thống nhất giữa lời nói và viẹ c làm, góp phần củng cố lòng tin giữa ngu ời với ngu ời Đối với người cầm quyền, Tín có vai trò đặc biệt quan trọng Muốn đu ợc dân tin thì ngu ời cầm quyền phải giữ chữ Tín, phải thạ n trọng trong lời nói và việc làm, lời nói phải hợp với hành động Theo Khổng Tử: Bậc quốc trưởng cai trị một nước có ngàn cỗ xe, làm việc gì cũng phải kính cẩn mà giữ chữ tín thật, của cải dùng tiết kiệm và thương yêu
tất cả mọi người, khiến dân chúng phải đúng thời, đúng lúc (Luận ngữ)
Trang 251.2.1.2 Cái nhìn về nữ giới
Đối với nữ nhi, học thuyết Nho giáo cũng có nhiều quan niệm quy định, chi phối đến cách nghĩ, cách ứng xử của con người đương thời, cụ thể như về các vấn đề: tam tòng, tứ đức, trinh tiết, nữ sắc,…
* “Tam tòng”, “Tứ đức” là những chuẩn mực được đề cao
Nguồn gốc quan điểm này có từ trong học thuyết Nho giáo của Trung Hoa cổ đại Kể từ khi du nhập vào Việt Nam, tư tưởng “Tam tòng” đã thực sự
trở thành nghiêm lệnh gây ra nhiều bất lợi cho nữ giới Trong Gia ngữ, tư
tưởng này được giải thích như sau: “Người phụ nữ là những người nghe theo
sự dạy bảo của người đàn ông Bởi vậy, đối với họ, không có sự tự chủ vốn có
mà chỉ có đạo “Tam tòng” Khi còn nhỏ theo cha và những người anh trai trong gia đình, khi đã kết hôn họ đi theo chồng và khi chồng chết họ đi theo
con trai của mình mà không tái giá” Trong Lễ ký, “Tam tòng” được nói đến
với nội dung tương tự: “Người phụ nữ là những người đi theo người đàn ông suốt cuộc đời của mình: Khi còn nhỏ theo cha và những người anh trong gia đình, khi đã kết hôn họ theo chồng, và khi chồng chết họ theo con trai của mình Người chồng ở đây có nghĩa là người chu cấp Anh ta sử dụng sự hiểu biết của mình để chỉ đạo dẫn dắt những người khác” Như vậy, tư tưởng “Tam tòng” thực chất là luật lệ nhằm bó buộc người phụ nữ, đòi hỏi sự phục tùng của người phụ nữ đối với đàn ông trong suốt ba giai đoạn của cuộc đời Nó là
tư tưởng thể hiện đậm đặc địa vị thấp hèn và thân phận phụ thuộc của người phụ nữ trong xã hội nam quyền
Ở Việt Nam thời trung đại, tư tưởng “Tam tòng” đã ăn sâu vào tiềm thức của toàn xã hội Ngoài phần tích cực là giúp người phụ nữ tự rèn mình theo tiêu chuẩn để hướng tới cái đẹp thì “Tam tòng” đã tạo ra áp lực buộc chặt người phụ nữ vào những khuôn phép khắc nghiệt, khiến họ phải chịu nhiều khổ đau, bất hạnh
Trang 26Đầu tiên, trước lúc theo chồng, người phụ nữ phải phục tùng uy quyền tuyệt đối của người cha, nghe theo lời giáo huấn của cha mà không có quyền nêu chính kiến hay sống theo sở nguyện và khát vọng cá nhân Điều người cha yêu cầu chủ yếu ở người con gái không phải là tài năng, sắc đẹp hay khát vọng riêng tư của cô ta mà là những phẩm hạnh đã được tổng kết trong những cuốn sách huấn đạo giới nữ Người cha cũng là người quyết định toàn bộ việc hôn nhân của con gái, người phụ nữ không có quyền tự do đối với việc hôn nhân của mình mà hoàn toàn do cha mẹ sắp đặt
Khi về nhà chồng, người phụ nữ bị bó buộc bởi quan niệm “xuất giá tòng phu” Quan niệm này buộc người phụ nữ khi lấy chồng phải hoàn toàn phục tùng chồng, tuân theo mệnh lệnh của chồng mà không có yêu cầu ngược lại Luật pháp phong kiến chỉ cho phép người vợ được bỏ chồng trong ba
trường hợp hãn hữu quy định trong Lê triều hình luật - Bộ luật tiến bộ nhất
thời phong kiến và ít nhiều đề cập đến một số quyền lợi của người phụ nữ trong xã hội và trong gia đình Ba trường hợp đó là: “Phàm chồng đã bỏ lửng
vợ năm tháng không đi lại (vợ được trình với quan sở tại và quan xã làm chứng) thì mất vợ Nếu vợ đã có con thì hạn một năm Vì việc quan đi xa thì không theo luật này Nếu đã bỏ vợ mà lại ngăn cản người khác lấy vợ của mình thì phải tội biếm (Điều 308) “Con gái thấy chồng chưa cưới có ác tật có thể kêu quan mà trả đồ sính lễ” và “con rể lăng mạ cha mẹ vợ, đem thưa quan, cho ly dị (Điều 322)” Tuy nhiên, ngay trong bộ luật được coi là có nhiều biểu hiện nhân đạo và bênh vực cho quyền lợi phụ nữ này, những quy định mang tính nam quyền, bất lợi cho người phụ nữ vẫn thể hiện rõ nét Bộ luật quy định về “thất xuất” (bảy trường hợp người chồng được phép bỏ vợ), nhưng
đây lại là những điều mà người vợ dễ mắc phải Khắt khe hơn Lê triều hình
luật là Luật Gia Long Bộ luật này cho phép người chồng và gia đình nhà
chồng tự tiện bỏ người vợ, không cần ra trước công môn, chỉ cần giấy bỏ vợ,
Trang 27nếu người vợ có tội “thất xuất”: vô tự (không có con trai), dâm dật (lẳng lơ), bất sự công cô (không thờ phụng cha mẹ chồng), khẩu thiệt (lắm điều), đạo thiết (ăn trộm), đố kỵ (ghen tuông), ác tật (có bệnh đặc biệt) (Điều 108) Nhưng cũng chính trong bộ luật này, không hề có một điều lệ nào cho phép người vợ được bỏ chồng Những quy định bất công này khiến cho người phụ
nữ trong xã hội phong kiến nam quyền dẫu lấy phải người chồng không ra gì vẫn phải nhẫn nhục chịu đựng, phải “cắn răng chịu khổ” mà không được lên tiếng kêu than, không được ly hôn
Quan niệm “Tòng phu” là quan niệm một chiều, vì thế người phụ nữ nếu có chút biểu hiện lẳng lơ thì bị kỳ thị, bị dè bỉu còn người đàn ông lại có quyền lấy năm thê bảy thiếp một cách ngang nhiên hợp pháp mà không bị chê trách, không bị đánh giá về đạo đức, thậm chí còn được khuyến khích
Lợi dụng thuyết “Tòng phu”, giai cấp phong kiến thống trị ở một số triều đại còn đề ra luật lệ buộc người phụ nữ chết theo chồng để thỏa mãn
lòng ích kỷ nam giới Đại việt sử ký toàn thư có một số đoạn ghi chép lại hiện
tượng này Ở triều Lý Nhân Tông có hiện tượng Hoàng thái hậu họ Dương và
bảy mươi sáu người thị nữ bị bức tử chết theo vua Lý Thánh Tông: “Hoàng
thái hậu họ Dương tôn Hoàng thái phi làm Linh Nhân hoàng thái hậu Linh Nhân có tính ghen, cho mình là mẹ đẻ mà không được dự chính sự, mới kêu với vua Vua bèn sai đem giam Dương thái hậu và 76 người thị nữ vào cung Thượng Dương, rồi bức phải chết chôn theo lăng Thánh Tông” Hiện tượng
tương tự là việc các cung nữ buộc phải lên giàn hỏa thiêu để chết theo vua Lê
Nhân Tông: “Ngày Ất Dậu (tháng 12 năm 1127), vua bắt đầu ngự điện Thiên
An coi chầu, xuống chiếu cho các quan bỏ áo trở Ngày hôm ấy vua ngự giá
đi Na Ngạn xem các cung nữ lên dàn thiêu để chết theo Đại Hành Hoàng Đế” Và một trường hợp khác là việc các phi tần bị bắt tự tử theo Thành
Vương: “Đinh Sửu [1457] Tháng 2, ngày mồng 1, nhà Minh phế vua Cảnh
Trang 28Thái là Thành Vương như cũ, cho về ở Tây cung Tháng ấy, ngày 19, Thành Vương mất Ban lụa hồng cho các phi tần, bắt phải tự tử để chôn theo Thành Vương” … Một số sự việc trên đây chính là minh chứng tiêu biểu cho sự bất
công, vô nhân đạo của luật “Tòng phu” nếu nó bị lợi dụng đến mức cực đoan
Tư tưởng “Tam tòng” không chỉ yêu cầu người phụ nữ “tòng phụ”,
“tòng phu” mà còn đòi hỏi họ phải “tòng tử” khi người chồng qua đời Đây là luật lệ thể hiện thái độ không tán đồng việc người phụ nữ tái giá Vì vậy, khi tái giá, người phụ nữ không chỉ bị phê phán về phẩm hạnh mà còn bị tước đi những quyền lợi chính đáng: Một người đàn bà chết chồng thì luật bắt phải ra
đi tay không, giao gia tài cho bên chồng, dầu của ấy là của vợ chồng đồng công mà tạo lập ra cũng mặc Chồng chết, có con trai mà đi lấy chồng để kiếm phương kế nuôi con, sau lại về ở với con trong nhà chồng trước, luật cũng không nhìn người đàn bà ấy là vợ người chồng trước nữa, chết đi, không được thờ chung với chồng vào từ đường Quan niệm yêu cầu người phụ nữ
“tòng tử” chính là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng sùng bái người đàn bà thủ tiết của xã hội nam quyền về trinh tiết người phụ nữ
Bên cạnh quan niệm về “Tam tòng”, xã hội nam quyền còn áp đặt cho người phụ nữ chuẩn mực về “Tứ đức”: công, dung, ngôn, hạnh Công được hiểu là sự khéo léo của người phụ nữ trong những công việc gia đình như thêu thùa, khâu vá, nội trợ, nuôi dạy và chăm sóc con cái; dung là vẻ đẹp hình thức đoan trang; ngôn tức là lời nói dịu dàng, khiêm nhường còn hạnh tức là những phẩm chất như yêu thương chồng con, giàu lòng nhân ái, đức hy sinh, son sắt thuỷ chung … Trong xã hội nam quyền, “Tứ đức” đã trở thành tiêu chí quan trọng không thể thiếu ở người phụ nữ đức hạnh
Xét về mặt tích cực không thể phủ nhận, “Tứ đức” suy cho cùng vẫn mang tính chất thiên vị nam giới Nó không mang lại cho người phụ nữ quyền lợi mà chỉ buộc thêm vào họ những nghĩa vụ nặng nề Tuân theo “Tứ đức”,
Trang 29người phụ nữ bị kìm hãm trong không gian gia đình, không có điều kiện hoạt động trong không gian xã hội Họ chỉ được khen ngợi khi là người nội trợ khéo, là dâu thảo, vợ hiền nhưng không được khuyến khích phát triển tài
năng Li-Hsiang trong công trình nghiên cứu Khổng giáo và người phụ nữ - một cách giải thích triết học đã khẳng định: “Không giống như nam giới,
người phụ nữ tài năng và có học thức không được chính thức ra ngoài xã hội
để triều đình có thể sử dụng, để tài năng và học vấn của họ có thể được khẳng định Do không có cơ hội được chứng minh, trình độ học thức cao của người phụ nữ thường bị coi là một sự dư thừa và vô dụng không mang tính xã hội, không phù hợp với tính chất giới hoặc những điều tốt đẹp được mọi người chấp nhận” Như vậy, theo tác giả, người phụ nữ không phải không có đủ tài
năng để hoạt động trên lĩnh vực giáo dục và chính trị mà chính thành kiến về giới tính đã tạo một rào cản vững chắc để kìm toả họ.Theo những sử liệu thời phong kiến để lại cho đến nay, giáo dục ở Việt Nam hầu như không để lại tên tuổi người phụ nữ nào Trong lĩnh vực chính trị, người phụ nữ duy nhất trong lịch sử Việt Nam tham gia vào công việc nhiếp chính là Chiêu Thánh công chúa - Lý Chiêu Hoàng - Song ngay trong cuộc đời của người phụ nữ này cũng chứa đựng những chi tiết thể hiện quan niệm coi thường nữ giới của người xưa - Chiêu Hoàng được kế vị ngôi cha thực ra chỉ là trường hợp bất
đắc dĩ Sử gia Ngô Sĩ Liên đã nhấn mạnh chi tiết “Bệnh của vua ngày càng
tăng mà không có con trai để giữ nghiệp lớn” dường như là một dụng ý để
giải thích cho sự việc khác lẽ thường này Trong tư tưởng của sử gia và toàn vương triều đương thời, việc một người con gái làm hoàng đế là “không phải lẽ” cũng giống như việc Võ hậu và Lữ hậu ở Trung Quốc lên ngôi là nguyên nhân dẫn đến xã tắc loạn lạc Vì vậy, cùng với việc ghi chép sự kiện, Ngô Sĩ
Liên có thêm lời bình: “Nếu không may mà không có con thì chọn con của
người tông thất nuôi làm con mình để nối giữ nghiệp lớn, đó cũng là một cách
Trang 30xử trí trong lúc biến vậy Lý Nhân Tông đã làm như thế rồi, Huệ Tông sao không xét việc cũ mà làm theo, lại để đến sau lúc bệnh tật mới lập con gái mà truyền ngôi cho, thế có phải lẽ không? Các quan bấy giờ không ai nghĩ gì đến
xã tắc để cho Phùng Tá Chu viện dẫn việc Lữ hậu và Vũ hậu làm cớ mà thành
ra việc Chiêu Hoàng nhường ngôi cho họ Trần, ấy là người có tội với họ Lý”
Quan niệm coi thường nữ giới và mong muốn kìm tỏa người phụ nữ trong phạm vi gia đình thể hiện khá rõ qua lời bình này
Tóm lại, đề cao “Tam tòng”, “Tứ đức” ở người phụ nữ là một trong những đặc điểm quan trọng trong hệ thống quan điểm văn hóa về nữ giới ở Việt Nam thời trung đại Quan điểm này yêu cầu một chiều ở người phụ nữ sự phụ thuộc nam giới hoàn toàn và phải rèn mình theo tiêu chí nam giới yêu cầu
mà không yêu cầu ngược lại ở người đàn ông Bên cạnh một vài nét tích cực
có thể chấp nhận được, “Tam tòng tứ đức” về cơ bản là hệ thống tư tưởng gây
ra nhiều bất công, bất lợi cho người phụ nữ, đặc biệt khi nó bị nam giới lạm dụng, yêu cầu đến mức cực đoan Theo tiêu chí của nhà Nho, những người phụ nữ chính diện lý tưởng thường là những người tuân theo công thức “Tam tòng”, “Tứ đức” như đã phân tích trên đây, ngược lại những người phụ nữ không tuân theo chuẩn mực nghiêm ngặt này bị Nho gia coi là người phụ nữ
phản diện Xây dựng hình tượng người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục,
Nguyễn Dữ chưa thoát khỏi ảnh hưởng của tư tưởng này
* Trinh tiết là vấn đề sống còn đối với người phụ nữ
Trinh tiết thực chất nói đến “cái nết” tốt đẹp của người phụ nữ Nó mang ý nghĩa chủ quan và do bản thân người phụ nữ tự nguyện thực hành Tuy nhiên, trong xã hội nam quyền, “trinh” đã bị yêu cầu từ phía khách quan,
bị nam giới uốn nắn thành “cái tiết” Theo học giả Phan Khôi: Trinh không phải là cái nết thuộc về khách quan, mà là cái nết thuộc về chủ quan Mình vì cái ý chí, cái phẩm giá của mình mà giữ trinh… Như vậy, trinh là một cái nết
Trang 31Tiết khác với nết Tiết là tỏ ra mình đã làm hết bổn phận của mình đối với người mà mình thuộc về Một người đàn bà chết chồng, không lấy chồng khác
mà gọi là tiết phụ cũng chẳng khác nào một bề tôi chết vì vua mà gọi là tử tiết hay là tận thần tiết Theo cách hiểu này, nếu “trinh” được đánh giá là cái nết thì việc một người phụ nữ có quyền đi lấy chồng khác vẫn không bị gọi là
“thất trinh”, miễn là chị ta vẫn giữ được đoan chính còn nếu “trinh” được hiểu
là “cái tiết” thì người phụ nữ lấy chồng khác bị coi là “thất tiết”, là xấu xa Trong xã hội nam quyền, “trinh” không được đánh giá như “cái nết” mà lại bị xem xét nghiêm ngặt như “cái tiết” nên đã gây ra nhiều sức ép cho người phụ
nữ, tước đi của họ những quyền lợi chân chính
Với quan điểm văn hóa này, người phụ nữ góa bụa đi lấy chồng khác sẽ
bị đánh giá về mặt đạo đức, bị xã hội lên án đặc biệt là nhà Nho xem thường Ngược lại, những người phụ nữ cố gắng tuẫn tiết, thủ tiết sẽ được ngợi ca, nêu gương Vì thế, những câu chuyện và chiếu dụ biểu dương tiết phụ xuất hiện ở hầu hết những cuốn sử chính thống cũng như các cuốn liệt truyện nước Việt
thời trung đại Đại Việt sử ký toàn thư có những đoạn ghi chép mang tính chất như vậy, tiêu biểu là đoạn ghi chép về liệt phụ Mỵ Ê: “Giáp Thân,tháng 9,
ngày mồng 1, đến phủ Trường Yên, có rồng vàng hiện ở thuyền ngự Khi đến hành điện Ly Nhân, sai nội nhân thị nữ gọi Mỵ Ê là phi của Sạ Đẩu sang hầu thuyền vua Mỵ Ê phẫn uất khôn xiết, ngầm lấy chăn quấn vào mình nhảy xuống sông chết Vua khen là trinh tiết, phong là Hiệp Chính Hựu Thiện phu nhân Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Phu nhân giữ nghĩa không chịu nhục, chỉ theo một chồng cho đến chết, để toàn vẹn trinh tiết của người đàn bà Người làm tôi mà thờ hai vua tức là tội nhân đối với phu nhân Vua khen là trinh tiết, phong làm phu nhân để khuyến khích người đời sau là đáng lắm” Việt sử thông giám cương mục cũng có những đoạn tương tự: “Năm 1295 Chồng
Lê Thị Ta là Phạm Mưu, sang sứ bên Nguyên bị bệnh mất Thị Ta nghe tin,
Trang 32thương khóc ba ngày, không ăn uống gì, rồi chết Sự việc đó tâu về triều, Nhà vua ban cho bạc và lụa để biểu dương tiết nghĩa của Lê Thị Năm 1437, biểu dương tiết phụ họ Lê ở Quốc Oai vì thành tích: có nhan sắc, góa bụa sớm, không có con, vẫn ở lại nhà chồng giữ việc thờ cúng đến trọn đời… Năm
1465, biểu dương tiết phụ họ Nguyễn ở Nam Sách vì thành tích từ khi chồng chết, ở góa không có điều tiếng gì” Chính sách biểu dương người tiết phụ,
liệt nữ có lẽ phát triển nhất ở triều Nguyễn, khi triều đình phong kiến này áp dụng dường như nguyên bản những luật lệ hà khắc của triều Thanh - Trung Quốc vào Việt Nam Nếu như dưới triều Thanh, việc giữ tiết hạnh của các góa phụ đã trở thành tín ngưỡng truyền thống được tôn thờ và được ghi nhận bằng pháp luật chính thức thì điều đó cũng tương tự cũng diễn ra ở Việt Nam thời
Nguyễn Đã có trên dưới 280 tiết phụ được nêu khen trong Đại Nam thực lục
- cuốn quốc sử của triều đại này Trong số đó có những tấm gương “tiết hạnh
kỳ dị” đến mức nếu đặt trong bối cảnh văn hóa hiện đại sẽ trở thành giả tạo và nực cười Họ, người thì “cắt tóc giả điên”, người thì “bôi nhọ nồi vào mặt” để không phải lấy chồng khác, người thì “cắt ngón tay thề giữ tiết”, người thì
“thắt cổ chết theo chồng”, người thì “gieo mình xuống sông tự tử” tất cả đều nhằm chứng minh cho cái “tiết” mà xã hội nam quyền yêu cầu Có thể thấy, việc coi trọng trinh tiết người phụ nữ không chỉ xuất hiện ở Việt Nam
mà thực chất có nguồn gốc từ Trung Hoa, mở rộng ra tất cả các quốc gia thuộc vùng văn hóa phương Đông và âm ỉ tồn tại trong trường kỳ lịch sử ở vùng văn hóa này
Tóm lại, trong xã hội nam quyền ở phương Đông đã đề ra chuẩn mực kép về trinh tiết, đòi hỏi khắt khe người phụ nữ phải giữ gìn “cái tiết” nhưng không yêu cầu ngược lại ở đàn ông Quan niệm bất công này đã cướp đi của người phụ nữ những quyền lợi thuộc về nhân quyền, khiến họ phải chịu nhiều oan khổ, bất hạnh
Trang 33* “Nữ sắc” là yếu tố luôn bị kỳ thị
Nhìn nhận về giới, thông thường người ta sẽ đánh giá về tài năng của nam giới và đánh giá về nhan sắc đối với nữ giới Nhìn nhận người phụ nữ từ điểm nhìn nam quyền, xã hội phong kiến phương Đông cực kỳ nghiêm khắc khi đánh giá người phụ nữ Trong xã hội đó, người phụ nữ hầu như được ngợi
ca ở vẻ đẹp đạo đức còn những yếu tố tự nhiên, bản năng (thiên tính nữ, vẻ đẹp hình thể, yếu tố tính dục) lại không được trân trọng Vì thế, người phụ nữ đẹp thường không được coi như một giá trị mà hay được hình dung như là hiện thân của sự cám dỗ, ma quái, đáng sợ, cần phải xa lánh Khi xã hội phong kiến không có được những cơ chế hữu hiệu bảo vệ người phụ nữ thì những người phụ nữ càng đẹp, tài hoa lại càng dễ dàng bị các thế lực cầm quyền, giàu sang để ý, thao túng, biến họ trở thành người mua vui cho những ham muốn ích kỷ Từ đó, bi kịch không chỉ đổ xuống trực tiếp đối với thân phận hồng nhan mà có khi còn vạ lây đến cả người thân của họ, người xung quanh nói chung, những con người vốn thấp cổ, bé họng, bất lực trước các thế lực cầm quyền, xấu xa Từ đó, xã hội nói chung đã có cái nhìn lệch lạc, hoặc
cố tình xuyên tạc nhằm bảo vệ nam quyền, rằng sắc đẹp của phụ nữ chính là nguồn căn của nhiều tội lỗi, tai họa, bi kịch cho con người Xét riêng đối với đấng quân vương, quan lại, nho sĩ, nữ sắc còn bị xem là yếu tố cần phải kiềm
dục, tiết dục, nếu không sẽ ảnh hưởng đến lý tưởng “tu, tề, trị, bình”
Bên cạnh đó, trong tư tưởng Phật giáo ít nhiều chi phối đến đời sống văn hóa của xã hội phong kiến còn chủ trương diệt dục, coi sắc là cái cần kiêng kỵ - nguyên nhân gây nên bao tội lỗi Bởi vậy, nhan sắc phụ nữ đã trở thành vấn đề bị xem thường, cấm kỵ trong mắt các tín đồ đạo Phật Tập
truyện ký Tam tổ thực lục có kể lại câu chuyện ca ngợi thiền sư Huyền Quang
vượt qua sắc dục, giữ lòng chay bạch với thái độ e sợ, cảnh giác với người
phụ nữ nhan sắc
Trang 34Tóm lại, kỳ thị nữ sắc cũng là một quan niệm phổ biến trong hệ thống những quan niệm về nữ giới ở Việt Nam thời trung đại Trong mắt của những học giả theo quan niệm này, sắc đẹp người phụ nữ, đặc biệt là vẻ đẹp quyến
rũ, hấp dẫn về phương diện giới không biểu trưng cho cái tốt mà thường gắn với sự đen tối, sự cám dỗ sắc dục
* Coi thường đời sống bản năng của người phụ nữ
Nếu nam giới được xã hội phong kiến xưa có cái nhìn thoáng khi nhìn
từ góc độ bản năng thì người phụ nữ khi phải sống phụ thuộc vào nam giới họ luôn là những người phải chịu nhiều thiệt thòi nhất - họ bị coi như công cụ phục vụ nhu cầu tính dục của đàn ông nhưng ngược lại là không bao giờ được quyền đòi hỏi cho mình Đáng nói hơn nữa, với người đàn ông, nhu cầu tính dục được công nhận như một nhu cầu bình thường thì ở người phụ nữ, nó lại
có xu hướng nhập tiêu chuẩn kép về đạo đức: Sự thừa nhận rằng việc giao hợp tính dục là điều kiện tự nhiên và thậm chí đáng tán dương ở con trai, đàn ông nhưng lại đáng xấu hổ, phá hoại trật tự xã hội ở con gái, đàn bà Chuẩn mực kép về hành vi tính dục cho phép nam giới có thể quan hệ tình dục ngoài hôn nhân, nhưng lại đòi hỏi phụ nữ phải giữ gìn trinh tiết, trinh tiết ở người phụ nữ là cái mà được xã hội lượng giá “Chữ trinh đáng giá ngàn vàng”
nữ bị quy chiếu vào điểm nhìn của người đàn ông Chúng là những tiêu chuẩn
Trang 35kép có lợi cho đàn ông nhưng bất công, bất lợi cho phụ nữ; khắt khe, nghiêm ngặt với phụ nữ nhưng lại khoan dung, độ lượng với nam giới Quan điểm về
“Tam tòng”, “Tứ đức”, quan niệm về trinh tiết, về vẻ đẹp ngoại hình, về đời sống bản năng của người phụ nữ là những quan điểm tiêu biểu mang đặc trưng này
1.2.2 Cái nhìn về giới trong văn học Việt Nam thời trung đại
Trước khi phong trào nữ quyền cất tiếng nói chính thức, tư tưởng nữ quyền đã manh nha trong những làn điệu ca dao, dân ca:
Ba đồng một mớ đàn ông, Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha
Ba trăm một mụ đàn bà,
Một chế độ nô dịch người phụ nữ, họ là bề tôi, thấp hèn thì bài ca dao trên hoàn toàn đi ngược lại với nhãn quan của xã hội phong kiến Ở đó, nam giới mất đi địa vị thống trị, nữ giới vốn thân bèo bọt bỗng chốc được đề cao, trở nên có giá trị Đó chính là tiếng nói phản kháng đòi trả lại sự công bằng cho
nữ giới
Hay trong vở chèo Quan âm Thị Kính, Thị Mầu đảm nhận vai phản
diện với sự lẳng lơ, đĩ thõa, nhưng xét cho cùng Thị đã bứt phá khỏi sự ràng buộc của cương thường để được sống và tồn tại với bản ngã Giáo lý phong kiến không cho phép nữ giới chủ động tìm đến tình yêu, tình dục càng khắt khe hơn thế Nhưng Thị Mầu đã cả gan chống chế cả xã hội để tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình, mặc xã hội bêu rếu Sự nổi loạn ấy, nhà thơ Anh Ngọc từng đánh giá:
Những xiềng xích phết màu sơn đạo đức Mấy trăm năm không khóa nổi Thị Màu
(Thị Mầu, Anh Ngọc)
Trang 36Đặc biệt, cuối thể kỉ XVIII đầu thể kỉ XIX, tiếng nói nữ quyền đã cất lên công khai trong những áng thơ Nôm qua những sáng tác của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Du … Nói đến nữ sĩ Hồ Xuân Hương, người ta nghĩ ngay đến tứ thơ táo bạo, đanh thép Bà không ngần ngại ném thẳng vào lễ giáo phong kiến những tiếng chửi đầy chua ngoa, đanh đá:
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng, Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Ước mơ về một ngôi nhà, một chồng, một vợ chỉ mãi là mơ ước và hạnh phúc như chiếc chăn quá chật, người ấm kẻ không Thảm cảnh làm lẽ uất nghẹn trong lòng nữ sĩ và lâu dần bộc phát thành tiếng chửi thề vào một xã hội đầy bất công Đấy chính là tiếng nói nữ quyền manh nha và bộc lộ rõ rệt cùng với
sự báo hiệu chế độ phong kiến suy tàn
Hay một Thúy Kiều, cho đến tận bấy giờ, người đọc vẫn không thể quên một cô gái vốn thuộc dòng Nho gia, nhưng Thúy Kiều quay lưng với
đạo lý, dám trốn song thân để tìm đến tình yêu:
Cửa ngoài vội rủ rèm the, Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình
(Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Điểm qua một vài sáng tác ở bộ phận văn học dân gian và văn học viết mới thấy rằng, tư tưởng nữ quyền đã hé lộ và dần trở nên mạnh mẽ
Như vậy, cùng với sự đi lên của xã hội đã làm cho người phụ nữ thay đổi về vị thế lẫn những cảm xúc riêng tư Những quan niệm mới về giới nữ được thiết lập đã tạo ra sự va đập với các chuẩn mực truyền thống Giới nữ ngày nay có phần rời xa những thuần phong mỹ tục đã được đặt ra trước đó Mẫu hình nữ nhi truyền thống không còn là thước đo chuẩn mực cho người
Trang 37phụ nữ hiện đại Nếu như trước đây, toàn bộ diện mạo, thân phận, bản tính, địa vị … của nữ giới như thế nào là do diễn ngôn nam giới tạo ra và quyết định thì giờ đây, khi bừng tỉnh phát hiện tất cả chỉ là trò chơi ngụy tạo của diễn ngôn lẫn văn hóa, thì nữ giới đã tiến hành kiến tạo những biểu tượng thiên kiến về giới nữ, họ chống lại sự xuyên tạc, sự áp chế của nam giới và đòi hỏi định nghĩa lại về phụ nữ Người phụ nữ không phải sống một cuộc sống do các thiết chế của người đàn ông dựng nên Họ xây dựng những diễn ngôn cho riêng mình, không nhằm hạ thấp nam giới mà khẳng định giá trị của giới nữ
1.3 VẤN ĐỀ TÁC GIẢ NGUYỄN DỮ VÀ TÁC PHẨM TRUYỀN KỲ MẠN LỤC
1.3.1 Tác giả Nguyễn Dữ
Theo các nhà nghiên cứu, Nguyễn Dữ là người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân (nay thuộc huyện Thanh Miện), tỉnh Hải Dương Hiện chưa rõ năm sinh năm mất, chỉ biết ông là con trai cả của Nguyễn Tường Phiêu (đỗ tiến sĩ năm 1496) Từ những tư liệu ít ỏi, một số nhà nghiên cứu còn đoán định rằng: Nguyễn Dữ có khả năng sinh sống vào cuối thế kỉ XV đến nửa đầu thế kỉ XVI Ông có thời gian dài sống cùng cha ở chốn kinh đô, được chứng kiến nhiều bước thăng trầm của xã hội và con người nơi đây Đấy chính là tiền đề có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng và sáng tác của ông sau này
Theo Hà Thiện Hán, tác giả bài “Tựa” cuốn Truyền kỳ mạn lục (1547)
thì Nguyễn Dữ lúc nhỏ chăm học, đọc rộng, nhớ nhiều, từng ôm ấp lý tưởng lấy văn chương nối nghiệp nhà Sau khi đậu Hương tiến, từng giữ chức vụ Tri huyện Thanh Tuyền nhưng mới được một năm thì ông xin từ quan về nuôi dưỡng mẹ già Trải mấy năm dư không đặt chân đến những nơi đô hội, ông miệt mài “ghi chép” để gửi gắm ý tưởng của mình và đã hoàn thành tác phẩm
“thiên cổ kỳ bút” - Truyền kỳ mạn lục
Trang 38Nguyễn Dữ có một điều rất đặc biệt so với các bậc nho sĩ thời trung đại Đó là khi về ở ẩn, ông không chọn quê hương Hải Dương của mình làm nơi ẩn dật Nguyễn Dữ đã tìm đến chốn núi rừng Thanh Hóa xa xôi, yên tĩnh Điều này đặt ra câu hỏi: Phải chăng lúc này, đất Hải Dương đang là chiến trường của nhiều cuộc giao tranh, cũng là đất “phên dậu” của nhà Mạc? Hay núi rừng Thanh Hóa chính là quê ngoại của ông để ông có cơ hội phụng dưỡng mẹ già? Bằng tình yêu và tài năng văn chương của mình, Nguyễn Dữ
đã thể hiện sự gắn bó và am hiểu chốn lâm tuyền này qua nhiều truyện trong
tập Truyền kỳ mạn lục
1.3.2 Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục
Giống như cuộc đời của tác giả, Truyền kỳ mạn lục ra đời lúc nào chưa
rõ và còn nhiều mơ hồ Tuy nhiên, từ các công trình nghiên cứu được biết cho
đến nay, ta có thể đoán định Truyền kỳ mạn lục viết xong vào năm 30 của thế
kỷ XVI Sách gồm 20 truyện, chia thành 4 quyển, được viết bằng chữ Hán, theo thể loại truyền kỳ Các truyện được viết bằng văn xuôi xen lẫn một ít văn biền ngẫu và thơ ca, cuối mỗi truyện đều có lời bình thể hiện chính kiến của tác giả
Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định, Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ
mô phỏng Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu (Trung Quốc) Nhưng căn cứ vào
tính chất truyện, ta thấy Nguyễn Dữ không chép qua mà truyền lại và có tính chất sáng tạo hơn là sao chép nguyên văn
Đặt tên cho tập truyện là Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ muốn biểu lộ
thái độ khiêm tốn của người cầm bút Ông muốn cho độc giả biết rằng, trước tác của mình không phải là tập sách nghiêm trang, rằng đây chỉ là một thứ ngoại thư bao gồm những truyện lạ vẫn được lưu truyền ở đời Và nhiệm vụ của ông là sao chép một cách rộng rãi những sự việc kỳ lạ ấy chứ không phải
do ông sáng tác nên
Trang 39Cốt truyện chủ yếu lấy từ những câu truyện được lưu truyền trong dân gian, nhiều trường hợp xuất phát từ truyền thuyết về các vị thần mà đền thờ hiện vẫn còn Bằng trí tưởng tượng phong phú và bằng một bút pháp linh hoạt, Nguyễn Dữ đưa người đọc vào một thế giới huyền bí vừa có người, vừa
có thần, vừa hư, vừa thật, nhưng xuyên qua các lớp nhân vật được thêu dệt ấy, vẫn hiện rõ một thế giới thật của cuộc đời mà ở đó có nhiều những kẻ có quyền thế độc ác, đồi bại
Căn cứ vào tính chất của các truyện Truyền kỳ mạn lục không phải là một công trình sưu tập như Lĩnh Nam chích quái, Thiên Nam vân lục … mà là
một sáng tác văn học với đầy đủ ý nghĩa Đó là một tập truyện phóng tác, đánh dấu bước phát triển quan trọng của thể loại tự sự hình tượng trong văn học chữ Hán Và nguyên nhân chính của sự xuất hiện một tác phẩm có ý nghĩa này là nhu cầu phản ánh của văn học
Hệ thống nhân vật của truyện đa dạng, phong phú, bao gồm đủ mọi thành phần, tầng lớp: từ vua, quan như Hạng Vương, Hồ Tông Thốc, Nguyễn Trung Ngạn, Trụ quốc họ Thân, đến cả những con người bình thường như Vũ Nương, Thị Nghi, Nhị Khanh, … Những nhân vật phàm trần này cho đến cả những nhân vật siêu nhiên sẽ mang những đặc điểm giới nhất định; chịu sự quy định, quan niệm giới khác nhau, với những ngã rẽ, số phận khác nhau
Nếu gạt bỏ những yếu tố hoang đường kỳ ảo, chúng ta dễ dàng thấy một bức tranh xã hội hiện lên mục nát, chiến tranh liên miên, chính trị rối ren Tất cả đều giả dối, vô đạo, tham lam, độc ác và đều có chung kết cục hoặc bị trừng phạt, phủ nhận, hoặc bị lên án, chê cười Một xã hội mà người phụ nữ là nạn nhân đau khổ nhất của những thiết chế, của quan niệm nho giáo, hiện thực đời sống Trong số ấy, có người được lên tiên cảnh, được thành tiên, được giải oan vì đức độ, trung thực, vì những phẩm chất tốt đẹp Cũng có người phải ngậm ngùi vì chính hành động tàn ác, vô đạo và dâm dục của
Trang 40mình Nhưng khi nhìn nhận một cách kỹ lưỡng, ta sẽ thấy ẩn sâu trong lớp hình tượng đó chính là khát vọng được giải phóng tình cảm bản năng của con người mà tác giả hướng tới
Truyền kỳ mạn lục là một tuyển tập hay, cái hay ở đây không chỉ về nội
dung phong phú, chi tiết sinh động mà còn ở nghệ thuật dựng truyện, xây dựng nhân vật, phân tích tâm lý, thể hiện ngôn từ Bằng tài năng của mình, Nguyễn Dữ đã vận dụng thành công hai yếu tố kỳ và thực vào tác phẩm, kết hợp nhuần nhuyễn nghệ thuật viết truyện xen với thơ, từ cộng với bút pháp
kết hợp giữa sử và truyện Truyền kỳ mạn lục đánh dấu một bước phát triển
cao của văn xuôi tự sự chữ Hán trong nền văn học dân tộc Với thành tựu về nội dung và nghệ thuật, tác phẩm trở thành “thiên cổ kỳ bút”, cái đích không
dễ dàng vượt qua đối với nhiều tác phẩm truyền kỳ sau này
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Do giới tính khác nhau nên vai trò của từng giới cũng khác nhau và không có giới nào hơn giới nào trong công cuộc xây dựng, kiến thiết cuộc sống Người đàn ông có thể chăm sóc những đứa con, dạy con sự khéo léo; người mẹ cũng có thể dạy cho con sự khôn ngoan, trí tuệ Người đàn ông gánh vác việc nhà thì người vợ cũng có thể làm những chuyện to lớn của đại
sự quốc gia Bình sinh, con người vốn bình đẳng, nhưng hiện thực của xã hội lúc bấy giờ lại đưa nam giới lên vị trí thống trị, nữ giới phải sống kiếp tôi đòi, bấp bênh, vô định Khi nghiên cứu về giới, Kamla Bhashin từng có phát biểu
hết sức thuyết phục rằng: “Những người đàn ông trong gia đình như mặt trời,
họ luôn có ánh sáng, ánh sáng ấy đang toả ra bao bọc họ (họ sở hữu các nguồn, họ có tài chính, họ năng động, họ có quyền đưa ra những quyết định ) Còn người phụ nữ như là những vệ tinh mà xung quanh chỉ có bóng