BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH HỌ VÀ TÊN : PHAN KHẮC GIANG THỰC TRẠNG TUÂN THỦ SỬ DỤNG THUỐC TĂNG HUYẾT ÁP CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN HẢI
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
HỌ VÀ TÊN : PHAN KHẮC GIANG
THỰC TRẠNG TUÂN THỦ SỬ DỤNG THUỐC TĂNG HUYẾT ÁP CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN HẢI DƯƠNG
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐIỀU DƯỠNG CHUYÊN KHOA CẤP I
NAM ĐỊNH - 2020
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
HỌ VÀ TÊN : PHAN KHẮC GIANG
THỰC TRẠNG TUÂN THỦ SỬ DỤNG THUỐC TĂNG HUYẾT ÁP CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành: Nội người lớn
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS TRẦN VĂN LONG
NAM ĐỊNH - 2020
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban Giám Hiệu trường đại học Điều Dưỡng Nam Định, các thầy cô giáo trong toàn trường đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Thầy giáo
Ts Trần Văn Long, Trưởng phòng đào tạo sau đại học - Người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện chuyên đề tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, phòng Điều dưỡng Bệnh viện, các bác sỹ và điều dưỡng tại khoa khám bệnh - Bệnh viện Y Học Cổ Truyền Hải Dương đã quan tâm giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện chuyên đề
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện chuyên đề
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện chuyên đề một cách hoàn chỉnh nhất; song không thể tránh khỏi những thiếu sót mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn trong lớp, đồng nghiệp để chuyên đề được hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hải Dương, tháng 07 năm 2020
Học viên
Phan Khắc Giang
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là báo cáo chuyên đề của riêng tôi Nội dung trong bài báo cáo này hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào khác Báo cáo này do bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn Nếu có điều gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Người làm báo cáo
Phan Khắc Giang
Trang 7MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục . iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục biểu đồ, hình ảnh vii
Đặt vấn đề 1
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn 3
1.1 Cơ sở lý luận 3
1.2.Cơ sở thực tiễn ….8
Chương 2 Liên hệ thực tiễn 13
2.1 Giới thiệu sơ lược về bệnh viện Y Học Cổ Truyền Hải Dương ……… 14
2.2.Thực trạng tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh THA điều trị ngoại trú tại Bệnh Viện Y Học Cổ Truyền Hải Dương… 17
Chương 3 Bàn luận ……… 28
3.1 Thực trạng tuân thủ sử dụng thuốc THA của người bệnh điều trị ngoại trú tại khoa khám bệnh, bệnh viện Y Học Cổ Truyền Hải Dương năm 2020 ………28
3.2 Phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp ……… 33
Kết luận 35
Tài liệu tham khảo
Phụ lục ………
Trang 9
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CBYT Cán bộ y tế
ĐTKS Đối tượng khảo sát
HATT Huyết áp tâm thu
HATTr Huyết áp tâm trương
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 1.1 Phân loại mức huyết áp theo Tổ chức Y tế thế giới 2003 3 Bảng 2.1 Thông tin chung của người bệnh được lựa chọn phỏng
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH
Trang Biểu đồ 1.1 Các nguyên nhân hàng đầu của sự ít tuân thủ thuốc
điều trị
9
Biểu đồ 1.2 Các tác dụng phụ của điều trị hạ áp 9 Biểu đồ 2.1 Người bệnh có các bệnh kèm theo 18 Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ người bệnh bị các biến chứng 20 Biểu đồ 2.3 Kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA của người
bệnh
21
Biểu đồ 2.4 Nguồn cung cấp kiến thức về bệnh và chế độ điều trị
THA của người bệnh
21
Biểu đồ 2.5 Thông tin tuân thủ điều trị thuốc 22 Biểu đồ 2.6 Lý do người bệnh quên uống thuốc 22 Biểu đồ 2.7 Lý do người bệnh không đo và ghi số đo HA vào sổ
theo dõi thường xuyên
Ảnh 3 Các biến chứng về thận 5
Ảnh 4 Các biến chứng về mắt 5
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp (THA) là một bệnh mạn tính phổ biến nhất trên thế giới [1] THA được ước tính gây ra 4,5% gánh nặng bệnh tật toàn cầu hiện nay và cũng phổ biến ở các nước đang phát triển và các nước phát triển [27] Trên thế giới hiện có 1
tỷ người THA và dự kiến sẽ tăng 1,5 tỷ vào năm 2025 [9] Theo điều tra của Hội tim mạch học Việt Nam, năm 2015, 47,3% người Việt Nam bị THA Đặc biệt, trong những người bị THA, có 39,1% không được phát hiện bị THA; có 7,2% bị THA không được điều trị; có 69,0% bị THA chưa kiểm soát được [9]
Bệnh THA được coi là “kẻ giết người thầm lặng” bởi bệnh không có những triệu chứng điển hình, không phải lúc nào người mắc bệnh THA cũng thấy khó chịu Một số người THA có triệu chứng lâm sàng như: chóng mặt, đau đầu, ù tai,… Tuy nhiên, rất nhiều người THA lại không có biểu hiện này THA là bệnh mạn tính cần phải theo dõi đều, điều trị đúng và đủ hàng ngày, điều trị lâu dài [2] Trong những năm gần đây, THA đã và đang là bệnh có nguy cơ gây tử vong hàng đầu thế giới gây nên cái chết khoảng 10 triệu người mỗi năm (2015), trong đó có 4,9 triệu người do bệnh mạch vành và 3,5 triệu người do đột quỵ [9] Nó cũng là yếu tố nguy
cơ chính của suy tim, rung nhĩ, bệnh thận mạn, bệnh mạch máu ngoại vi, suy giảm chức năng nhận thức [9] Tại Mỹ, THA tiêu tốn khoảng 46,4 tỷ USD mỗi năm [25]; con số này tại Trung Quốc là 231,7 triệu USD [23]; Tại Việt Nam, chi phí điều trị trực tiếp THA trung bình khoảng 65 USD/người trong đó chi phí cho điều trị nội trú chiếm tỷ lệ cao nhất (30 USD/người) [28] Như vậy, THA không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh (NB) mà còn tạo ra gánh nặng bệnh tật cho cả gia đình và xã hội
Để hạn chế và phòng ngừa được các biến chứng do THA gây ra thì người bệnh THA đầu tiên là cần phải thay đổi lối sống: Ăn nhạt, giảm và duy trì cân nặng lý tưởng, hạn chế bia rượu, cai thuốc lá, vận động thể lực phù hợp, tránh stress, tiếp đến là tuân thủ dùng thuốc Tuân thủ dùng thuốc là dùng đúng thuốc theo chỉ định, thường xuyên, liên tục và suốt đời Tuân thủ điều trị THA có thể giảm 40% nguy cơ tai biến mạch máu não và 15% nguy cơ nhồi máu cơ tim [5] Việc không tuân thủ điều trị gây lãng phí thuốc, làm tăng sự tiến triển của bệnh, tăng nguy cơ biến chứng, tăng số lần nhập viện và làm giảm chất lượng cũng như tuổi thọ của người
Trang 13bệnh [2] Theo ước tính của Hiệp hội tim mạch học Hoa Kỳ, không tuân thủ trong điều trị đang lấy đi sinh mạng của 125.000 người mỗi năm và gia tăng chi phí cho
hệ thống chăm sóc sức khỏe lên tới gần 300 tỷ đô la mỗi năm tại nước này [19] Tuy nhiên các nghiên cứu gần đây cho thấy tỉ lệ tuân thủ điều trị THA nói chung ở Việt Nam chỉ đạt hơn 30%, tại TP Hồ Chí Minh tới 70% người bệnh bỏ điều trị sau
6 tháng rời bệnh viện; Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang cho thấy 73,2% người bệnh
bỏ sót uống thuốc, người < 60 tuổi (khoảng 50%) quên uống thuốc đúng giờ [12] Mặt khác, hành vi tuân thủ điều trị của người bệnh lại phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức, thái độ và năng lực thực hành cũng như điều kiện kinh tế của người bệnh Trong đó, nhận thức chính là yếu tố đầu tiên và là yếu tố quan trọng để thay đổi hành vi của NB [23] Hiện nay khoa khám bệnh, Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương đang quản lý trên 2000 NB đa số từ 70-90 tuổi, tỷ lệ người bệnh THA chiếm khoảng 30%, nhiều bệnh phối hợp, phải dùng cùng lúc nhiều loại thuốc khác nhau gây nhiều khó khăn trong việc tuân thủ điều trị, năm 2019 có tới 841/1083 lượt người bệnh phải nhập viện có chẩn đoán tăng huyết áp trong đó số lượt người bệnh phải nhập viện vì THA và các biến chứng của THA là 311 Để cải thiện chất lượng chăm sóc người bệnh THA điều trị ngoại trú và Tìm hiểu được các yếu tố cản trở người bệnh không tuân thủ điều trị tại bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương Do đó
tôi đã tiến hành chuyên đề “Thực trạng tuân thủ sử dụng thuốc THA của người
bệnh điều trị ngoại trú tại bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương năm 2020” với
Trang 14Tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu (HATT) ≥ 140mmHg và/hoặc huyết
áp tâm trương (HATTr) ≥ 90mmHg
1.1.1.2 Phân độ tăng huyết áp: dựa vào trị số huyết áp [2]
Bảng 1.1: Phân độ tăng huyết áp theo Tổ chức Y tế thế giới 2003
Phân độ HATT (mmHg) HATTr (mmHg)
* THA nguyên phát: chiếm gần 90% trường hợp bị THA không biết nguyên nhân
* Các nguyên nhân THA thứ phát:
- Bệnh thận: Viêm cầu thận cấp, viêm cầu thận mạn, ứ nước bể thận, u thận
- Thuốc: Các hormone tránh thai, cam thảo, carbenoxolone, A.C.T.H.Corticoides, các IMAO, chất chống trầm cảm vòng
Trang 15- Tăng huyết áp thai kỳ: Tăng huyết áp thường xuất hiện trên sản phụ mang thai ở tuần thứ 20 của thai kỳ
- Các nguyên nhân khác: Bệnh cường giáp, bệnh đa hồng cầu, toan hô hấp…
1.1.1.4 Triệu chứng của tăng huyết áp
1.1.1.4.1 Triệu chứng cơ năng
Đa số người bệnh THA không có triệu chứng gì cho đến khi phát hiện bệnh Đau đầu vùng chẩm là triệu chứng thường gặp Các triệu chứng khác có thể gặp là hồi hộp, mệt, đau đầu, khó thở, mờ mắt không đặc hiệu Một số triệu chứng khác của THA tùy vào nguyên nhân hoặc biến chứng THA [2]
1.1.1.4.2 Triệu chứng thực thể
Chỉ số HATT ≥ 140 mmHg và/hoặc HATTr ≥ 90 mmHg [2]
1.1.1.4.3 Các dấu hiệu của bệnh lý kèm theo hoặc biến chứng
- Người bệnh có thể béo phì, mặt tròn trong hội chứng Cushing, cơ chi trên phát triển hơn cơ chi dưới trong bệnh hẹp eo động mạch chủ
- Khám tim mạch có thể phát hiện sớm dày thất trái hay dấu suy tim trái
- Khám bụng có thể phát hiện tiếng thổi tâm thu hai bên rốn trong hẹp động mạch thận, phồng động mạch chủ hoặc khám phát hiện thận to, thận đa nang
- Khám thần kinh có thể phát hiện các tai biến mạch não cũ hoặc nhẹ
Trang 16http://bvtn.org.vn/tin-y-hoc/-/asset_publisher/MzYAxS0Bgbgn/content/tang Biến chứng về não: Xuất huyết não, nhũn não, bệnh não do THA…
http://bvtn.org.vn/tin-y-hoc/-/asset_publisher/MzYAxS0Bgbgn/content/tang Biến chứng về mắt: Mờ mắt, xuất huyết, xuất tiết và phù gai thị
Trang 17
Nguồn: https://www.matsaigon.com/benh-vong-mac-do-tang-huyet-ap.html
Hình ảnh 4: Các biến chứng về mắt
- Biến chứng về mạch máu: Phình hoặc phình tách thành động mạch
1.1.1.6 Điều trị tăng huyết áp
THA là bệnh mạn tính nên cần theo dõi đều, điều trị đúng và đủ hàng ngày, điều trị lâu dài Với mục tiêu điều trị là đạt “huyết áp mục tiêu” và giảm tối đa
“nguy cơ tim mạch” Khi điều trị đã đạt huyết áp (HA) mục tiêu, cần tiếp tục duy trì phác đồ điều trị lâu dài kèm theo việc theo dõi chặt chẽ, định kỳ để điều chỉnh kịp thời [2]
Để đạt được mục tiêu điều trị này đòi hỏi người thầy thuốc phải điều chỉnh chỉ số HA và tất cả các yếu tố nguy cơ đi kèm để có thể điều chỉnh được Trị số HA nên được hạ xuống đến mức dưới 140/90 mmHg Trị số HA ở người bệnh có tiểu đường và những người bệnh có nguy cơ cao hoặc nguy cơ rất cao thì nên đưa trị số
HA xuống dưới mức 130/80 mmHg [16]
1.1.1.6.1 Điều trị tăng huyết áp không dùng thuốc
Điều trị THA không dùng thuốc còn gọi là thay đổi lối sống nhằm đạt được mục tiêu: Phòng ngừa bệnh THA, hạ HA và giảm các yếu tố nguy cơ tim mạch khác như bệnh động mạch vành Tất cả những người bệnh đang dùng thuốc hạ HA đều cần được nhắc nhở thay đổi lối sống mỗi khi tái khám [6] Các biện pháp không dùng thuốc như ngưng hút thuốc lá, giảm cân, giảm natri máu, tăng cường vận động thể lực và một số biện pháp khác như ăn nhiều trái cây, đậu, uống rượu vừa phải, ăn nhiều chất sợi, thư giãn…
1.1.1.6.2 Điều trị tăng huyết áp bằng thuốc tại tuyến cơ sở:
- Tăng huyết áp độ 1: có thể lựa chọn một thuốc trong số các nhóm: lợi tiểu thiazide liều thấp; ức chế men chuyển; chẹn kênh canxi loại tác dụng kéo dài; chẹn beta giao cảm (nếu không có chống chỉ định)
- Tăng huyết áp từ độ 2 trở lên: nên phối hợp 2 loại thuốc (lợi tiểu, chẹn kênh canxi, ức chế men chuyển, ức chế thụ thể AT1 của angiotensin II, chẹn beta giao cảm
- Từng bước phối hợp các thuốc hạ HA cơ bản, bắt đầu từ liều thấp như lợi tiểu thiazide (hydrochlorothiazide 12.5mg/ngày), chẹn kênh canxi dạng phóng thích
Trang 18chậm (nifedipine chậm (retard) 10-20mg/ngày), ức chế men chuyển (enalapril 5mg/ngày; perindopril 2,5-5 mg/ngày …)
Khi dùng thuốc điều trị THA cho người bệnh, thầy thuốc cần đưa HA xuống đến mức mong muốn dưới 140/90 mmHg hoặc dưới mức 130/80 mmHg trên người bệnh có tiểu đường hoặc suy thận mà không bị tác dụng phụ của thuốc Rất nhiều người bệnh THA không có triệu chứng cơ năng nên thường không quan tâm hoặc sau một thời gian điều trị có HA ổn định lâu dài thường tự ý ngưng thuốc Do đó có một số yếu tố mà thầy thuốc cần quan tâm nhằm gia tăng sự tuân thủ điều trị của người bệnh và thầy thuốc cần cảnh giác với vấn đề không tuân thủ điều trị, cần phát hiện sớm các dấu hiệu của vấn đề này [6] Thực hiện quản lý người bệnh ngay tại tuyến cơ sở để đảm bảo người bệnh được uống thuốc đúng, đủ và đều; đồng thời giám sát quá trình điều trị, tái khám, phát hiện sớm các biến chứng và tác dụng phụ của thuốc [2]
1.1.1.7 Phòng bệnh và biến chứng
Người bệnh THA bên cạnh việc tuân thủ dùng thuốc cần phải tích cực thay đổi lối sống để phòng ngừa THA và các biến chứng do THA gây ra đặc biệt trên đối tượng là người cao tuổi [2]
1.1.2 Tuân thủ điều trị tăng huyết áp
1.1.2.1 Khái niệm tuân thủ điều trị tăng huyết áp
Năm 2013, Tổ chức Y tế thế giới đưa ra định nghĩa tuân thủ điều trị (TTĐT) là
“Mức độ hành vi của người bệnh bao gồm sử dụng thuốc, thực hiện chế độ ăn và/hoặc thay đổi lối sống dựa trên hướng dẫn của nhân viên y tế” Theo đó, TTĐT gồm 2 phần: Tuân thủ sử dụng thuốc và tuân thủ các biện pháp không dùng thuốc của NB [20]
Trong chuyên đề này, TTĐT là việc thực hiện nghiêm các khuyến nghị của Bộ
Y tế về Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị THA năm 2010 TTĐT thuốc là người bệnh uống thuốc đúng, đủ và đều đặn theo đơn của bác sĩ Sử dụng thuốc kể cả khi
HA bình thường và không được tự ý thay đổi thuốc và liều lượng thuốc
1.1.2.2 Tuân thủ sử dụng thuốc
Trang 19Hiện nay, các nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới sử dụng nhiều khái niệm khác nhau để mô tả việc sử dụng thuốc của người bệnh như: Tuân thủ, sử dụng thuốc phù hợp, tuân thủ sử dụng thuốc, tuân thủ dùng thuốc
Hội nghị Châu Âu về giám sát tuân thủ của người bệnh năm 2009 đưa ra định nghĩa về tuân thủ sử dụng thuốc là “quá trình người bệnh sử dụng thuốc theo chỉ định” Trong đó, tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh gồm 3 phần: Bắt đầu sử dụng thuốc khi được kê đơn; mức độ thực hiện thuốc theo chỉ định và dừng sử dụng thuốc
Người bệnh uống thuốc điều trị THA cần [2]:
- Phải tuân thủ uống thuốc theo đơn của bác sỹ
- Không tự ý thay đổi thuốc và liều lượng
- Uống thuốc thường xuyên, lâu dài, liên tục ngay cả khi huyết áp bình thường
- Khám bệnh và kiểm tra HA
Như vậy, khi người bệnh THA có một và/hoặc nhiều hành vi sau thì được tính
là người bệnh có hành vi nguy cơ trong tuân thủ sử dụng thuốc:
- Người bệnh quên uống thuốc
- Người bệnh tự ngừng sử dụng thuốc khi chưa hết đợt điều trị
- Người bệnh bớt loại thuốc theo chỉ định
- Người bệnh uống thêm thuốc
- Người bệnh Không tái khám định kỳ theo lịch hẹn của bác sỹ
1.1.2.3 Khám bệnh và kiểm tra huyết áp
Điều trị đạt kết quả tốt là khi đạt được HA mục tiêu và ngăn ngừa được biến chứng tim mạch và tổn thương cơ quan khác như: thận, não, mắt,…; vì vậy việc theo dõi thường xuyên chỉ số cao HA, khám bệnh định kỳ, theo dõi HA theo chỉ dẫn của bác sỹ, tái khám đúng hẹn thì người bệnh phải đi khám ngay nếu uống thuốc không hiệu quả người bệnh cần được xét nghiệm định kỳ để phát hiện các tổn thương và đánh giác các yếu tố nguy cơ tim mạch khác [9]
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng tuân thủ điều trị tăng huyết áp trên thế giới
THA là một yếu tố nguy cơ cao đối với bệnh tim mạch ở các nước phát triển
và đang trở thành một vấn đề sức khỏe trên toàn cầu do tăng tuổi thọ và tăng tần
Trang 20suất các yếu tố nguy cơ, ước tính THA gây tử vong 7,1 triệu người trẻ tuổi và chiếm
4,5% gánh nặng bệnh tật toàn cầu [8] Nhiều thử nghiệm lớn trên thế giới về điều trị
THA đã cho thấy tác dụng của điều trị làm giảm đáng kể tỷ lệ bệnh lý, biến chứng
và tử vong về tim mạch
Tuân thủ điều trị tốt chính là vấn đề then chốt trong điều trị THA tuy nhiên
không phải người bệnh nào cũng tuân thủ điều trị một cách đúng và đầy đủ nhất
Theo nghiên cứu của Ezulier và Hussain năm 2000 về tuân thủ thuốc ở người bệnh
THA trong Kassala, Đông Xu-Đăng thì 92% người bệnh TTĐT đã kiểm soát được
huyết áp so với 18% Người bệnh không TTĐT; 30,1% người bệnh TTĐT có biến
chứng so với người bệnh không TTĐT tỷ lệ biến chứng là 46,3%; 36,8 % người
bệnh không TTĐT vì họ không đủ tiền để mua thuốc hạ huyết áp [22]
Lalić1 J., Radovanović R V., Mitić B., Nikolić V., Spasić A & Koraćević G
(2013) đã thực hiện phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, với 170 NB điều trị
THA trong chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Serbia Kết quả cho thấy các
yếu tố quan trọng đối với việc không tuân thủ đó là: không tuân thủ liều dùng điều trị
(27,27%), hay quên (22,73%) và không thường xuyên kiểm tra sức khỏe (11,36%)
Cũng theo nghiên cứu này, đã chỉ ra rằng tác dụng phụ xảy ra với nhóm không tuân
thủ chế độ điều trị cao hơn rất nhiều so với nhóm tuân thủ [24]
Biểu đồ 1.1: Các nguyên nhân hàng đầu của sự ít tuân thủ thuốc điều trị
Trang 21
Biểu đồ 1.2: Các tác dụng phụ của điều trị hạ áp
Nghiên cứu năm 2011 của Osamor Pauline và Owumi Bernard về các yếu tố liên quan TTĐT THA ở Tây nam Nigeria cho thấy chỉ có 51% đối tượng nghiên cứu đạt TTĐT với các yêu tố tuân thủ như: đi khám thường xuyên, có hỗ trợ xã hội của các thành viên gia đình hoặc bạn bè trong việc nhắc nhở uống thuốc [26]
Và trong một nghiên cứu khác khảo sát trên thực hành lâm sàng, Daniel1& Eugenia (2013) tại Brazil, cho kết quả là tỷ lệ 16-50% người bệnh bỏ trị trong năm đầu điều trị Hầu hết cần ít nhất 2 loại thuốc chống THA, và khoảng 30% cần
3 loại thuốc hay nhiều hơn Một nửa số người bệnh bỏ điều trị trong vòng một năm sau chẩn đoán Chỉ một nửa người bệnh tuân thủ điều trị, sự tuân thủ điều trị này cũng bị ảnh hưởng rõ bởi sự chọn lựa thuốc, bệnh kết hợp và sử dụng dịch vụ sức khoẻ Nhiều khảo sát đã cho thấy khoảng 3/4 số người bệnh THA không đạt được
HA tối ưu Lý do thất bại phức tạp bao gồm không phát hiện sớm THA, sự tuân thủ điều trị không hoàn toàn của người bệnh, thiếu hướng dẫn của thầy thuốc và những liệu pháp đầy đủ [21]
Các nghiên cứu nước ngoài cho thấy tỷ lệ TTĐT cao đã kiểm soát được huyết áp và giảm được các biến chứng Một tỷ lệ NB không TTĐT liên quan đến việc không đủ khả năng về kinh tế để mua thuốc uống
1.2.2 Thực trạng tuân điều trị tăng huyết áp ở Việt Nam
Nghiên cứu đánh giá TTĐT trên 210 bệnh nhân THA điều trị ngoại trú tại
Trang 22lệ người bệnh tuân thủ thuốc là 51,4%; tuân thủ thay đổi lối sống 47,1%; TTĐT THA chung chỉ đạt 35,7%; người bệnh có kiến thức đạt về bệnh và chế độ điều trị
là 57,6%; Kết quả phân tích hồi quy đa biến cho thấy một số yếu tố quan trọng được xác định có liên quan đến các loại tuân thủ chế độ điều trị THA là giới tính, trình độ học vấn, được cán bộ y tế (CBYT) hướng dẫn chế độ điều trị, mức độ được CBYT nhắc về TTĐT, biến chứng của bệnh THA, mức độ THA [15]
Một nghiên cứu khác của tác giả Nguyễn Hữu Đức (2012) về thực trạng tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan của 194 hội viên Câu lạc bộ người bệnh THA, bệnh viện Bạch Mai đã cho kết quả: nữ chiếm tỷ lệ cao hơn nam (63,4% và 36,6%), nhóm tuổi trên 60 chiếm đa số (72,27%); đối tượng nghiên cứu đa số đã nghỉ hưu (86,6%); 77,8 % người bệnh THA vừa và nặng; người bệnh có biến chứng chiếm tỷ
lệ 80,4%; tỷ lệ người bệnh đạt kiến thức về bệnh và TTĐT đạt 84,5%, trong đó các kiến thức về chế độ ăn, tập luyện thể lực, dùng thuốc HA đều đạt trên 90%; tuy nhiên có tới 33% người bệnh hiểu sai kiến thức về bệnh THA là bệnh có thể chữa khỏi; người bệnh TTĐT THA là 85,6, trong đó tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc, tuân thủ chế độ ăn nhạt và tuân thủ không hút thuốc lá lần lượt là 75,8%, 92,8% và 97,45 [4]
Qua khảo sát sự TTĐT THA và các yếu tố liên quan của người bệnh THA điều trị tại Khoa Nội Tim mạch Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang của Nguyễn Tuấn Khanh (2013): người bệnh uống thuốc mỗi ngày (86,9%), uống thuốc theo toa của bác sĩ chiếm tỷ lệ 87,4% 78,1% là tỷ lệ người bệnh tái khám đều đặn theo hẹn và
có thực hành hạn chế ăn mặn trong điều trị bệnh THA; tỷ lệ bỏ hút thuốc là 73,2%
và hạn chế uống rượu 71% Lý do dẫn đến người bệnh không tuân thủ điều trị có tỷ
lệ nhiều nhất là do người bệnh sợ hạ huyết áp (65%), sợ tác dụng phụ của thuốc (53%), không đủ điều kiện kinh tế (48,6%), lý do quên uống thuốc có tỷ lệ thấp nhất (19,7%).Tỷ lệ người bệnh tuân thủ điều trị THA là 26,3% [13]
Tỷ lệ tuân thủ với điều trị thuốc, chế độ ăn, không hút thuốc, hạn chế uống rượu/bia, tập thể dục, đo theo dõi huyết áp thường xuyên lần lượt là 61,5%, 40,4%, 95,4%, 21,9%, 20% và tỷ lệ TTĐT (tuân thủ cả 6 khuyến cáo trên) chỉ đạt 1,9% Đây chính là kết quả trong nghiên cứu cắt ngang có phân tích của Nguyễn Hải Yến
Trang 23trên 260 người bệnh THA đến khám và điều trị ngoại trú tại khoa Khám bệnh, bệnh viện E, năm 2011[18]
Theo tác giả Đỗ Thị Bích Hạnh (2013) nghiên cứu về thực trạng TTĐT THAvà một số yếu tố liên quan của bệnh nhân ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước cho thấy: tỷ lệ TTĐT THA chung đạt thấp (33,3%); trong đó TTĐT bằng thuốc đạt 56,3%, tuân thủ chế độ ăn chỉ đạt 27,4%, tuân thủ không hút thuốc lá/thuốc lào (84,7%), tuân thủ đo HA và tái khám định kỳ đạt 31,3%, 29,8% tuân thủ chế độ tập luyện và tuân thủ hạn chế uống bia/rượu đạt được 82,6% Tác giả cũng cho thấy việc TTĐT liên quan có ý nghĩa thống kê với yếu tố được CBYT giải thích về chế độ điều trị THA; những người được CBYT giải thích rõ có xu hướng đạt TTĐT bằng thuốc cao hơn 3,5 lần Tuân thủ chế độ ăn liên quan có ý nghĩa thống kê với yếu tố thời gian điều trị, kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA Các yếu tố như nhóm tuổi, nghề nghiệp, thời gian điều trị, tiền sử bản thân có biến chứng, trình độ của CBYT và hỗ trợ của cơ quan hay đoàn thể xã hội có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với TTĐT [7]
Theo tác giả Lý Huy Khanh, nghiên cứu tại bệnh viện Trưng Vương cho thấy
tỷ lệ người bệnh THA bỏ trị sau 6 tháng điều trị là 79% [12]
Năm 2017, với nghiên cứu về thực trạng TTĐT THA của người bệnh ngoại trú tại Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Trà Vinh và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng, tác giả Kiên Sóc Kha đã cho thấy người bệnh THA có tỷ lệ TTĐT chung là 48,57%, trong đó: tỷ lệ người bệnh giảm ăn mặn khi bắt đầu điều trị THA đạt 72,57%; 95,4% là tỷ lệ người bệnh hạn chế rượu bia và tỷ lệ bỏ thuốc lá hoặc không hút thuốc lá khi điều trị THA đạt 74,3%; tuân thủ chế độ tập luyện từ 30-60 phút mỗi ngày đạt tỷ lệ khá cao (89,71%); Hầu hết người bệnh được quản lý và điều trị tại Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh, được tái khám định kỳ hàng tháng
và tỷ lệ tái khám đạt 99,10%; người bệnh tuân thủ dùng thuốc điều trị THA là 94,86%, tuy nhiên tỷ lệ theo dõi HA tại nhà mỗi ngày chỉ đạt 28%; có 52,57% người bệnh được khám, theo dõi và điều trị THA đạt được trị số huyết áp mục tiêu [11]
Các nghiên cứu trong nước thấy: vẫn còn tỷ lệ khá cao chưa tuân thủ với điều trị thuốc, chế độ ăn, không hút thuốc, hạn chế uống rượu/bia, tập thể dục, đo theo
Trang 24dõi huyết áp thường xuyên tại nhà Một số yếu tố quan trọng được xác định có liên quan đến các loại tuân thủ chế độ điều trị THA là giới tính, trình độ học vấn, được CBYT hướng dẫn chế độ điều trị, mức độ được CBYT nhắc về TTĐT, biến chứng của bệnh THA, mức độ THA
Trang 25Chương 2 LIÊN HỆ THỰC TIỄN
2.1 Giới thiệu sơ lược về bệnh viện Y Học Cổ Truyền Hải Dương
Bệnh viện Y Học Cổ Truyền Hải Dương là bệnh viện hạng II trực thuộc Sở Y
tế, thành lập ngày 04/10/1968 có trụ sở tại số 1, đường Thanh Niên, phường Hải Tân, thành phố Hải Dương Bệnh viện triển khai thực hiện đầy đủ, hiệu quả các chức năng nhiệm vụ của mình theo quy định về: công tác khám chữa bệnh, phát triển kỹ thuật mới, công tác đào tạo, chỉ đạo tuyến, nghiên cứu khoa học, kiểm soát nhiễm khuẩn, hợp tác quốc tế, quản lý tài chính, cải cách thủ tục hành chính trong công tác khám chữa bệnh… Trong công tác khám chữa bệnh, Bệnh viện hoàn thiện duy trì tốt tinh thần thái độ phục vụ người bệnh , thay đổi phong cách ,thái độ phục vụ, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh , chất lượng theo dõi chăm sóc người bệnh từ khoa khám bệnh đến các khoa lâm sàng, đã làm tốt công tác đưa đón , phổ biến đầy đủ nội quy , quyền lợi và nghĩa vụ người bệnh , duy trì họp hội đồng người bệnh cấp bệnh viện và cấp khoa , tăng cường công tác tư vấn người bệnh dưới hình thức tập trung toàn thể bệnh nhân trong bệnh viện, lồng ghép công tác tuyên truyền
với sinh hoạt hội đồng người bệnh cấp khoa, đáp ứng sự hài lòng của người bệnh …
Với 52 năm trưởng thành và phát triển, Bệnh viện Y Học Cổ Truyền Hải Dương đang được cải tạo và xây dựng (do tính chất đặc thù nên bệnh viện không có khoa Sản), với 6 khoa lâm sàng, 2 khoa cận lâm sàng và 05 phòng chức năng, với qui mô 290 giường thực kê Nhân lực của bệnh viện có 214 cán bộ viên chức,trong
đó số lượng điều dưỡng khá đông 80 người gồm: 42 cử nhân điều dưỡng, 28 điều dưỡng cao đẳng còn lại 10 là điều dưỡng trung học nhưng hiện nay 100% đang theo học cao đẳng liên thông, công tác tại 6 khoa lâm sàng Tỉ lệ chung điều dưỡng/ người bệnh tại bệnh viện là 1/2 tuy nhiên phân bố theo số lượng người bệnh của từng khoa khác nhau Bệnh viện Y Học Cổ Truyền Hải Dương là con chim đầu đàn trong lĩnh vực khám chữa bệnh trong lĩnh vực Y Học Cổ Truyền…
Công tác chăm sóc người bệnh toàn diện được triển khai đồng bộ, rộng khắp các khoa luôn được duy trì và từng bước hoàn thiện tốt hơn Hàng năm, Bệnh viện tiếp nhận khám ngoại trú cho khoảng 24.088 lượt người bệnh, điều trị nội trú cho gần 5856 người bệnh, thực hiện được trên 60.000 thủ thuật - phẫu thuật các loại
Trang 26Quản lý một số bệnh mãn tính: tăng huyết áp, đái tháo đường, hen, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, quản lý viêm gan B…
Bên cạnh việc chăm sóc điều trị cho người bệnh, Bệnh viện cũng rất quan tâm đến công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh và người nhà người bệnh; Các khoa trong bệnh viện mỗi tháng có ít nhất 1 buổi tổ chức tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho người bệnh điều trị nội trú và một số khoa chuyên khoa thành lập các Câu lạc
bộ người bệnh như: Câu lạc bộ người bệnh THA; Câu lạc bộ người bệnh Đái tháo đường;…tổ chức hoạt động định kỳ hàng quý để tư vấn, giáo dục sức khỏe cho người bệnh khá hiệu quả, được người bệnh đánh giá cao và tham gia tích cực
Giới thiệu sơ lược về khoa khám bệnh, bệnh viện Y Học Cổ Truyền Hải Dương
Khoa khám bệnh Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương là một trong 6 khoa lâm sàng của bệnh viện có nhiệm vụ là khám và điều trị cho nhân dân
Nhân lực hiện tại: tổng số có 22 cán bộ viên chức, trong đó có 6 bác sỹ CK I đều được đào tạo, tập huấn chuyên sâu về các bệnh lý tim mạch đặc biệt là THA; 15 Điều dưỡng trong đó có : 12 cử nhân đại học điều dưỡng , 02 điều dưỡng cao đẳng,
01 y sĩ và 01 Hộ lý
Khoa gồm 02 bộ phận:
- Bộ phận điều trị nội trú với số giường kế hoạch là 44 và thực kê là 54 giường Hàng năm, ngày điều trị trung bình là 17 ngày, công xuất sử dụng giường theo giường thực kê 129.4%
- Bộ phận khám, điều trị ngoại trú được triển khai 02 phòng được trang bị đầy
đủ điều hòa, hệ thống công nghệ thông tin kết nối toàn bệnh viện (bao gồm cả hệ thống kết nối chuyển tải hình ảnh chất lượng cao – PACS) và có phòng thực hiện làm điện tim, lấy máu xét nghiệm gần ngay khu khám bệnh để hạn chế NB không phải đi lại nhiều Bác sỹ phụ trách các phòng khám bệnh đều có trình độ sau đại học, phòng khám chuyên về tim mạch do bác sỹ Phó trưởng khoa là Chuyên khoa I tim mạch; Hàng tháng khoa đều tổ chức các buổi sinh hoạt khoa học về chủ đề tim mạch trong đó có bệnh THA cho các bác sỹ, điều dưỡng trong khoa Nhân viên trong khoa thường xuyên cập nhật kiến thức từ các khóa tập huấn ngắn hạn tại bệnh viện, cũng như các hội thảo trong và ngoài nước Người bệnh đến khám lần đầu tiên đều được kiểm tra HA, làm các xét nghiệm máu, nước tiểu, siêu âm,
Trang 27điện tim để đánh giá toàn trạng người bệnh Khoa có giám sát quá trình điều trị và tái khám để phát hiện sớm các biến chứng và tác dụng phụ của thuốc; mỗi người bệnh đều có một bộ hồ sơ bệnh án được theo dõi lâu dài và một sổ để người bệnh
tự theo dõi tại nhà, mỗi lần đến khám bệnh, bác sỹ ghi nhận xét đầy đủ và các chỉ định vào bệnh án và sổ của người bệnh Người bệnh thường xuyên được điều dưỡng phòng khám gọi điện hỏi thăm, nhắc nhở lịch khám hàng tháng; có điều dưỡng tăng cường hỗ trợ bác sỹ trong công tác khám bệnh để bác sỹ có thời gian khám, tư vấn cho người bệnh để đảm bảo chất lượng khám, điều trị cũng như giảm thời gian chờ khám, chờ xét nghiệm…hướng tới tăng sự hài lòng của người bệnh Trung bình mỗi năm khoa đã khám bệnh cho hơn 8000 lượt người bệnh Hàng ngày trung bình người bệnh đến khám là 40 người; số người bệnh đến khám không quá đông, tuy nhiên lại tập trung chủ yếu khám trong buổi sáng do thói quen (số lượng khám buổi chiều rất ít) và do muốn được làm xét nghiệm cũng như kết thúc khám trong một buổi dẫn đến có sự quá tải vào thời điểm nhất định
- Khoa được trang bị đầy đủ các trang thiết bị máy móc hiện đại và phương tiện để đảm bảo khám, điều trị cũng như phục vụ cho công tác chẩn đoán bệnh như: máy thở, máy siêu âm, máy nội soi dạ dày – đại tràng, máy đo độ loãng xương …
2.2 Thực trạng tuân thủ sử dụng thuốc THA của người bệnh điều trị ngoại trú tại khoa khám bệnh, bệnh viện Y Học Cổ Truyền Hải Dương năm 2020
Để biết được người bệnh tăng huyết áp hiện nay có thực hiện tuân thủ điều trị hay không? Những yếu tố nào làm cho người bệnh không tuân thủ điều trị điều trị THA ngoại trú tại khoa Khám bệnh Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương nên tôi tiến hành khảo sát
2.2.1 Đối tượng khảo sát và phương pháp thu thập số liệu
Đối tượng khảo sát (ĐTKS): Khảo sát được thực hiện ở người bệnh THA đến
khám và điều trị ngoại trú tại khoa Khám bệnh Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương trong thời gian từ 15/06/2020 đến hết 15/07/2020
Tiêu chí lựa chọn:
Trang 28- Người bệnh đã được chẩn đoán, điều trị THA tính đến thời điểm phỏng vấn
ít nhất 06 tháng đến khám và điều trị ngoại trú tại tại khoa Khám bệnh, Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương trong thời gian từ 15/06/2020 đến hết 15/07/2020
- Đủ sức khỏe tham gia trả lời các câu hỏi phỏng vấn trong bộ câu hỏi
- Tự nguyện đồng ý tham gia
Tiêu chí loại trừ:
- Người bệnh không có chẩn đoán THA hoặc đã được chẩn đoán, điều trị THA tính đến thời điểm phỏng vấn chưa đủ 06 tháng
- Người bệnh không đủ sức khỏe tham gia trả lời các câu hỏi phỏng vấn
- Người bệnh không đồng ý tham gia phỏng vấn hoặc không trả lời đầy đủ các câu của bộ câu hỏi
Thu thập số liệu: Phỏng vấn trực tiếp người bệnh bằng bộ câu hỏi phỏng vấn (phụ lục 1)nhằm trả lời mục tiêu mô tả thực trạng TTĐT THA gồm 06 phần:
- Phần A: Thông tin chung của ĐTKS (gồm 08 câu hỏi)
- Phần B: Thông tin về bệnh THA của ĐTKS (gồm 06 câu hỏi)
- Phần C: Kiến thức của ĐTKS về bệnh và chế độ điều trị bệnh THA (gồm 11câu hỏi)
Tiêu chuẩn đánh giá phần C: Đánh giá đạt/không đạt cho các câu hỏi C1, C2,
C3, C4, C5, C6, C7, C8, C9 và C10 Nếu người bệnh trả lời đúng đáp án cho từng
câu sẽ được đánh giá là đạt, cụ thể: câu C1 (ý 2); câu C2 (ý 1); câu C3 (trả lời đủ từ
ý 1- ý 6); câu C4 (ý 1); câu C5 (trả lời đủ từ ý 1- ý 4); câu C6 (ý 1); câu C7 (trả lời
đủ từ ý 1- ý 3); câu C8 (ý 1); câu C9 (ý 1) và C10 (trả lời đủ từ ý 1- ý 3) Nếu NB trả lời không đúng đáp án cho từng câu như trên sẽ được tính không đạt
- Phần D: Thông tin tuân thủ điều trị bằng thuốc của ĐTKS (gồm 09 câu hỏi)
- Phần E:Thông tin về tuân thủ các biện pháp thay đổi lối sống và khám định
kỳ của ĐTKS (gồm 12 câu hỏi)
- Phần F: Thông tin về tiếp cận dịch vụ khám, điều trị ngoại trú của ĐTKS (gồm 06 câu hỏi)
Tổng số NB thực hiện trả lời phỏng vấn: 80 người bệnh
2.2.2.Kết quả khảo sát
2.2.2.1 Thông tin chung của đối tượng khảo sát
Trang 29Bảng 2.1: Thông tin chung của NB được lựa chọn phỏng vấn
Thông tin chung Tần số
(n=80)
Tỷ lệ (%)
- Sống một mình 02 2,5
- Sống cùng với gia đình 78 97,5 Người thường xuyên quan tâm nhắc nhở thực hiện chế độ điều trị
Trang 30bệnh nam chiếm tỷ lệ 85% và 12 người bệnh nữ chiếm tỷ lệ 15%; kết quả cho thấy đối tượng đến khám và điều trị phần lớn là người trên 60 tuổi, chỉ có 6,25 % người bệnh có độ tuổi dưới 60 và nhóm tuổi từ 71 - 80 tuổi chiếm cao nhất (57,5%) Người bệnh là cán bộ đương chức rất thấp (7,5%), chủ yếu là cán bộ đã nghỉ hưu chiếm 92,5%; chỉ có 2,5% người bệnh sống một mình và chính vì thế tỷ lệ người bệnh có người thân quan tâm nhắc nhở thực hiện chế độ điều trị chiếm tỷ lệ khá cao (86,3%), người nhắc nhở chính là vợ/chồng Có 72,56% người bệnh đến khám, theo dõi và điều trị THA được khảo sát đạt được trị số HA mục tiêu (dưới 140/90 mmHg
ở người không có biến chứng và dưới mức 130/80 mmHg người bệnh có tiểu đường
và nguy cơ cao)
Biểu đồ 2.1: Người bệnh có các bệnh kèm theo
Biểu đồ 2.1 cho thấy, tỷ lệ NB THA mắc một bệnh kèm theo không nhỏ,
đặc biệt nhiều người bệnh mắc 2-3 bệnh kèm theo và các bệnh này đều nằm trong nhóm bệnh phải dùng thuốc điều trị thường xuyên, liên tục…điều này cho thấy trong ngày ngoài việc uống thuốc hạ huyết áp, người bệnh sẽ phải uống nhiều loại thuốc khác
2.2.2.2 Thông tin về bệnh THA của người bệnh
Bảng 2.2: Thông tin về bệnh THA của ĐTKS Nội dung Tần số
(n = 80)
Tỷ lệ (%) Lần đầu tiên NB phát hiện mình bị THA là
- Khám sức khỏe định kỳ 57 71,3
- Khám bệnh khác phát hiện ra 12 15