1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(luận văn tốt nghiệp) thực trạng chăm sóc rối loạn giác ngủ trên người bệnh trầm cảm và kiến nghị một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc rối loạn giấc ngủ trên người bệnh trầm cảm

39 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề (Luận Văn Tốt Nghiệp) Thực Trạng Chăm Sóc Rối Loạn Giấc Ngủ Trên Người Bệnh Trầm Cảm Và Kiến Nghị Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc Rối Loạn Giấc Ngủ Trên Người Bệnh Trầm Cảm
Tác giả Trần Thị Hồng Thắm
Người hướng dẫn TTƯT.ThS.BSCKI Trần Việt Tiến
Trường học Đại học Điều dưỡng Nam Định
Thể loại khóa luận
Năm xuất bản 2019
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 396,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 2. CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN (10)
    • 2.1. Cơ sở lý luận (10)
      • 2.1.1. Rối loạn trầm cảm (10)
      • 2.1.2. Giấc ngủ bình thường, rối loạn giấc ngủ và rối loạn giấc ngủ trong trầm cảm (14)
    • 2.2. Cơ sở thực tiễn (0)
      • 2.2.1. Dịch tễ học trầm cảm (0)
      • 2.2.2. Quy trình chăm sóc người bệnh trầm cảm (20)
      • 2.2.3. Nghiên cứu trong nước về chăm sóc người bệnh rối loạn giấc ngủ trong trầm cảm (22)
  • 3. LIÊN HỆ THỰC TIỄN (24)
    • 3.1. Giới thiệu về Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định (24)
    • 3.2. Thông tin chung (24)
    • 3.3. Thực trạng về rối loạn giấc ngủ ở người bệnh trầm cảm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định (25)
      • 3.3.1. Mức độ trầm cảm (25)
      • 3.3.2. Trầm cảm với các triệu chứng loạn thần (0)
      • 3.3.3. Rối loạn thời lượng ngủ trong trầm cảm (26)
      • 3.3.4. Rối loạn chất lượng giấc ngủ trong trầm cảm (27)
      • 3.3.5. Hiểu biết của người bệnh khi có rối loạn giấc ngủ (0)
      • 3.3.6. Hiểu biết của người bệnh khi có cảm giác buồn chán, mệt mỏi (28)
      • 3.3.7. Kế hoạch chăm sóc giấc ngủ cho người bệnh của điều dưỡng (0)
      • 3.3.8. Chăm sóc biểu hiện kèm theo của trầm cảm (0)
      • 3.3.9. Chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh mất ngủ trong trầm cảm (0)
    • 3.4. Nguyên nhân của những việc đã làm được và chưa làm được (0)
      • 3.4.1. Thuận lợi (29)
      • 3.4.2. Khó khăn (30)
  • 4. KHUYẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHẢ THI (31)
  • 5. KẾT LUẬN (33)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (35)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN

Cơ sở lý luận

2.1.1.1 Khái niệm về trầm cảm và dịch tễ học của trầm cảm

Theo TCYTTG (1992), trầm cảm là một rối loạn cảm xúc với các triệu chứng như buồn bã, giảm hứng thú, mệt mỏi, khó tập trung, cảm giác tự ti và không xứng đáng Người mắc trầm cảm có thể gặp phải rối loạn giấc ngủ, thay đổi trọng lượng cơ thể và có lúc biểu hiện kích động.

Rối loạn trầm cảm chu kỳ, theo Bùi Quang Huy (2016), là một rối loạn cảm xúc đặc trưng bởi sự xuất hiện của một hoặc nhiều giai đoạn trầm cảm mà không có tiền sử các giai đoạn hưng cảm, hưng cảm nhẹ hoặc giai đoạn hỗn hợp.

Theo DSM-5 (2013), rối loạn tâm trạng bao gồm rối loạn tâm trạng điển hình, loạn khí sắc, trầm cảm do chất và trầm cảm do bệnh thực tổn Rối loạn tâm trạng điển hình được xác định bởi sự xuất hiện của một hoặc nhiều giai đoạn tâm trạng, với yêu cầu bệnh nhân phải có ít nhất 5 triệu chứng chính, trong đó ít nhất 1 trong 2 triệu chứng chủ yếu là giảm khí sắc và mất hứng thú Các giai đoạn này cần kéo dài ít nhất 2 tuần và bệnh nhân không có tiền sử lạm dụng chất hoặc chấn thương sọ não.

2.1.1.2 Đặc điểm lâm sàng của trầm cảm

Gồm 3 triệu chứng chủ yếu

Cảm xúc bị ức chế thường biểu hiện qua sự giảm khí sắc, cảm giác buồn chán và mất đi sự quan tâm đến mọi thứ xung quanh Người trải qua tình trạng này thường cảm thấy không thoải mái, nhìn nhận thế giới với cái nhìn bi quan và ảm đạm Họ thường xuyên cảm thấy mệt mỏi, ngay cả khi nghỉ ngơi cũng không thể cảm thấy dễ chịu hơn.

Tư duy bị ức chế là một triệu chứng phổ biến ở những người mắc bệnh trầm cảm, thể hiện qua việc khó tập trung, suy nghĩ chậm chạp và gặp khó khăn trong việc liên tưởng Họ thường có xu hướng giao tiếp chậm và dễ bị ám ảnh bởi những ý tưởng tiêu cực như sự hối hận, xấu hổ, bất hạnh và tủi nhục Trong nhiều trường hợp, những suy nghĩ này có thể dẫn đến hoang tưởng bị buộc tội hoặc tự buộc tội, từ đó trở thành nguyên nhân tiềm ẩn dẫn đến nguy cơ tự sát ở bệnh nhân trầm cảm.

Hoạt động bị ức chế là tình trạng mà người bệnh thường có xu hướng giảm thiểu hoạt động, thường xuyên nằm hoặc ngồi một chỗ Họ không chỉ không muốn tham gia vào các công việc khác mà còn không thích tự chăm sóc bản thân.

Rối loạn tâm lý có thể biểu hiện qua nhiều triệu chứng khác nhau, bao gồm sự chú ý trì trệ và giảm trí nhớ Người bệnh có thể trải qua ảo tưởng hoặc ảo giác liên quan đến hoang tưởng tự tội, kèm theo lo âu ám ảnh Hơn nữa, tình trạng từ chối ăn uống có thể dẫn đến suy kiệt cơ thể nghiêm trọng.

Trầm cảm không điển hình

TC suy nhược là tình trạng thể hiện qua khí sắc giảm sút, kèm theo cảm giác mệt mỏi, uể oải và thiếu sinh lực Người bệnh thường cảm thấy thờ ơ với những điều xung quanh và gặp khó khăn cả về thể chất lẫn tinh thần, dẫn đến sự giảm sút ham muốn trong cuộc sống, bao gồm cả dục năng.

Rối loạn cơ thể và thực vật có thể gây ra nhiều triệu chứng nổi bật, thường làm lu mờ các rối loạn cảm xúc Các triệu chứng thực vật rất đa dạng, bao gồm cơn vã mồ hôi, đánh trống ngực, đau không xác định, nôn mửa, khô miệng và táo bón.

Rối loạn TC mất cảm giác tâm thần khiến người bệnh không còn cảm nhận được cảm xúc như đau buồn hay vui sướng Họ thường than phiền về tình trạng này và cảm thấy khổ sở vì sự thiếu vắng cảm giác trong cuộc sống.

Khi bệnh nhân có khí sắc giảm, họ thường trải qua những cảm giác khó chịu, dẫn đến việc khẳng định rằng mình đang mắc một căn bệnh nặng không thể chữa trị.

TC sững sờ là tình trạng khí sắc trầm, kèm theo ức chế vận động, có thể dẫn đến sự bất động hoàn toàn Tình trạng này dễ bị nhầm lẫn với sững sờ căng trương lực.

TC Paranoid là một tình trạng tâm lý trong đó người bệnh trải qua nhiều loại hoang tưởng khác nhau, bao gồm cảm giác bị theo dõi, bị truy hại, bị đầu độc và bị buộc tội Tình trạng này có thể đi kèm với các ảo giác, có thể là thật hoặc giả, liên quan đến việc chê bai, bình phẩm hoặc nói xấu người bệnh.

Trong cơn trạng thái tâm lý vật vã, bệnh nhân thường có khí sắc giảm nhưng không kèm theo sự ức chế vận động; thay vào đó, họ thường đứng ngồi không yên, thể hiện sự lo lắng, hoảng sợ và than vãn về tình trạng khó khăn của mình Họ cầu cứu sự giúp đỡ để tránh những tai họa có thể xảy ra cho chính bản thân và gia đình Nếu không được can thiệp kịp thời, trong cơn xung động, bệnh nhân có thể có hành vi tự sát.

Tiêu chuẩn chẩn đoán giai đoạn TC theo phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10 (ICD-10, 1992) của TCYTTG[8]

Tâm trạng trầm cảm (TC) hiện đang được áp dụng rộng rãi tại Việt Nam trong cả nghiên cứu và thực hành lâm sàng tâm thần Theo bảng phân loại, giai đoạn TC được mã hóa là F32.X cho trầm cảm cấp tính và F33.X cho trầm cảm tái diễn, với các tiêu chuẩn cụ thể đi kèm.

Trong đó phải có các triệu chứng đặc trưng sau:

* Có 3 triệu chứng chủ yếu:

2 Mất quan tâm thích thú

3 Giảm năng lượng, dẫn đến mệt mỏi và giảm hoạt động

2 Giảm tự trọng và lòng tin

3 Những ý tưởng bị tội và không xứng đáng

4 Nhìn tương lai ảm đạm và bi quan

7 Có ý tưởng và hành vi tự sát

Thời gian tồn tại ít nhất 2 tuần

Trong lâm sàng còn sử dụng test Beck để hỗ trợ chẩn đoán

Về thể lâm sàng của TC, bảng Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 của TCYTTG (ICD-10, 1992)[6], phân loại cụ thể như sau:

Cơ sở thực tiễn

Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định tọa lạc trên diện tích 1 ha trong khu vực nội thành của thành phố Nam Định Bệnh viện có quy mô 700 giường bệnh, bao gồm 5 phòng chức năng, 8 khoa lâm sàng và 1 khoa cận lâm sàng, với đội ngũ 117 nhân viên y tế chuyên nghiệp.

Bệnh viện gồm 2 khu : Khu Điều trị và Khu Hành chính

- Khu Điều trị: Địa chỉ: Đường Đệ Tứ - Lộc Hạ - Nam Định

- Khu Hành chính: Địa chỉ: Đường Đệ Tứ - Lộc Hạ - Nam Định ( Cách khu Điều trị 50m về phía Đông)

Bệnh viện tại tỉnh Nam Định chuyên điều trị và chăm sóc sức khỏe tâm thần, nhưng số lượng bệnh nhân đến khám không nhiều do chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng Hầu hết bệnh nhân nhập viện trong tình trạng bệnh cấp tính, với mất ngủ kéo dài là nguyên nhân chính Tỷ lệ người mắc trầm cảm trong cộng đồng chiếm từ 3-5% dân số, cho thấy nhu cầu nâng cao chất lượng chăm sóc giấc ngủ cho bệnh nhân trầm cảm là rất cần thiết.

Khảo sát 37 NB trầm cảm điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần tỉnh Nam Định Chúng tôi thu được kết quả sau

Trong nhóm nghiên cứu, có 14 bệnh nhân (37.8%) trong độ tuổi từ 40-49, 12 bệnh nhân (32.4%) trên 60 tuổi, 6 bệnh nhân (16.2%) từ 50-59 tuổi, và chỉ 2 bệnh nhân (5.4%) ở độ tuổi 20-29.

37 NB thuộc nhóm nghiên cứu: có 14 NB nam (chiếm 37.8%), 31 NB nữ (chiếm 62.2%) Tỉ lệ NB nữ gấp 1.7 lần bệnh nhân nam

Trong nhóm nghiên cứu, 45.9% là công nhân, trong khi đó nhóm người lao động không có nghề nghiệp ổn định (lao động tự do) cũng chiếm tỷ lệ đáng kể.

LIÊN HỆ THỰC TIỄN

Giới thiệu về Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định

Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định, tọa lạc trên diện tích 1 ha trong khu vực nội thành thành phố Nam Định, có quy mô 700 giường bệnh Bệnh viện bao gồm 5 phòng chức năng, 8 khoa lâm sàng và 1 khoa cận lâm sàng, được hỗ trợ bởi đội ngũ 117 nhân viên y tế chuyên nghiệp.

Bệnh viện gồm 2 khu : Khu Điều trị và Khu Hành chính

- Khu Điều trị: Địa chỉ: Đường Đệ Tứ - Lộc Hạ - Nam Định

- Khu Hành chính: Địa chỉ: Đường Đệ Tứ - Lộc Hạ - Nam Định ( Cách khu Điều trị 50m về phía Đông)

Bệnh viện tại tỉnh Nam Định chuyên điều trị và chăm sóc sức khỏe tâm thần, nhưng do chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng, số lượng bệnh nhân đến khám tại bệnh viện không nhiều Hầu hết bệnh nhân nhập viện trong tình trạng bệnh cấp tính hoặc tiên lượng xấu, trong đó mất ngủ kéo dài là nguyên nhân chính khiến họ tìm đến điều trị Với tỷ lệ người mắc trầm cảm trong cộng đồng chiếm từ 3-5% dân số, việc nâng cao chất lượng chăm sóc giấc ngủ cho bệnh nhân trầm cảm là vô cùng cần thiết.

Thông tin chung

Khảo sát 37 NB trầm cảm điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần tỉnh Nam Định Chúng tôi thu được kết quả sau

Trong nghiên cứu, nhóm bệnh nhân (NB) cho thấy 37.8% ở độ tuổi từ 40-49, chiếm 14/37 người Đối tượng trên 60 tuổi chiếm 32.4% với 12 người, trong khi 16.2% (6 người) thuộc độ tuổi từ 50-59 Đáng chú ý, tỷ lệ thấp nhất là ở nhóm tuổi 20-29 với chỉ 2 bệnh nhân, tương đương 5.4%.

37 NB thuộc nhóm nghiên cứu: có 14 NB nam (chiếm 37.8%), 31 NB nữ (chiếm 62.2%) Tỉ lệ NB nữ gấp 1.7 lần bệnh nhân nam

Trong nhóm nghiên cứu, tỷ lệ công nhân chiếm 45.9% trong tổng số người tham gia Đáng chú ý, nhóm người lao động không có nghề nghiệp ổn định, tức là lao động tự do, cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể.

35.1%, là công-viên chức, hưu trí chiếm 16.2%, nông dân chiếm 2.7% Không có học sinh-sinh viên

Có 51.4% NB cư trú tại thành thị, 48.6% BN cư trú ở nông thôn Đa số NB trong nhóm nghiên cứu có trình độ học vấn THCS và THPT (70,2%) 100% NB điều trị lần 1 có thời gian mang bệnh dưới 6 tháng; nhóm NB mang bệnh trong 6 tháng đầu tiên và điều trị lần 1 chiếm tỉ lệ cao nhất 16/37 NB (43.2%); tiếp theo là nhóm NB điều trị lần 2 có 13 NB trong đó có 5/13 NB có thời gian mang bệnh từ 6 tháng - 2 năm, 8 NB có thời gian mang bệnh từ 2-10 năm Có 8 NB điều trị nhiều lần có thời gian mang bệnh lớn hơn 10 năm có người tới 20 năm.

Thực trạng về rối loạn giấc ngủ ở người bệnh trầm cảm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định

Biểu đồ 3.1: Các mức độ trầm cảm

Theo nghiên cứu, tỉ lệ bệnh nhân có mức độ trầm cảm vừa chiếm 81.1%, trong khi tỉ lệ trầm cảm nhẹ là 8.1% Chúng tôi cho rằng tỉ lệ này hợp lý do sự hiểu biết về rối loạn trầm cảm vẫn còn hạn chế, dẫn đến nhiều bệnh nhân chỉ bị phát hiện mức độ trầm cảm nhẹ.

Trầm cảm có thể được chia thành ba mức độ: nhẹ, vừa và nặng Nhiều người vẫn còn chủ quan về tình trạng của mình, dẫn đến việc khám chữa tại các cơ sở y tế không chuyên hoặc không được chẩn đoán chính xác Thường thì họ chỉ được chuyển đến bệnh viện tâm thần khi triệu chứng đã trở nên rõ ràng.

3.3.2 Trầm cảm với triệu chứng loạn thần

Theo biểu đồ 3.2, trong số các bệnh nhân được khảo sát, có 4 người (chiếm 10.8%) có triệu chứng loạn thần Cụ thể, trong số đó, 2 bệnh nhân (5.4%) gặp phải hoang tưởng, trong khi 2 bệnh nhân còn lại (5.4%) có cả hoang tưởng và ảo giác.

3.3.3 Rối loạn thời lượng ngủ trong trầm cảm

Bảng 3.1: Rối loạn thời lượng ngủ Giới

Nam Nữ Tổng n Tỉ lệ

Kết quả nghiên cứu cho thấy 100% bệnh nhân (NB) gặp rối loạn giấc ngủ, với 36/37 NB (97.3%) có thời gian ngủ giảm và 1 NB (2.7%) ngủ nhiều Những phát hiện này phù hợp với nhận định và kết quả nghiên cứu của Cao Tiến Đức (2016) và Trần Viết Nghị (1994).

3.3.4 Rối loạn chất lượng giấc ngủ trong trầm cảm

Bảng 3.2: Rối loạn chất lượng giấc ngủ Giới

Khó ngủ lại khi thức giấc 12 32.4 22 59.4

Theo bảng 05, có 37.8% nam và 54% nữ bệnh nhân biểu hiện mất ngủ đầu giấc Ngoài ra, 32.4% nam và 64.7% nữ gặp khó khăn trong việc ngủ lại hoặc không thể ngủ lại khi tỉnh giấc Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Bùi Quang Huy và cộng sự (2017).

Có 14 NB nam (chiếm 37.8%) và 21 NB nữ (chiếm 56.7%) có biểu hiện ngủ không sâu giấc Bùi Quang Huy và cộng sự (2017) thấy 52,54% NB trầm cảm có biểu hiện rối loạn ngủ không sâu giấc

Trong một nghiên cứu, 51.3% bệnh nhân (19/37) cho biết họ có trải nghiệm mơ trong khi ngủ, trong đó 26.3% (5/19) thường xuyên gặp ác mộng Những triệu chứng này gây ra cảm giác khó chịu và mệt mỏi, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình diễn biến bệnh.

3.3.5 Hiểu biết của NB khi có rối loạn giấc ngủ

Biểu đồ 3.3: Hiểu biết của người bệnh khi có rối loạn giấc ngủ

Nghiên cứu cho thấy, trong số 37 bệnh nhân (NB) có rối loạn giấc ngủ (RLGN), 23 NB (62.2%) chọn không làm gì và chờ giấc ngủ đến, trong khi 11 NB (29.7%) dậy đi lại, trong đó có 4 NB thường xuyên đi lại do hoang tưởng và ảo giác liên quan đến triệu chứng loạn thần Chỉ có 3 NB (8.1%) áp dụng các biện pháp thư giãn như tập thể dục, nghe đài hoặc xoa bóp.

Kết quả cho thấy phần lớn người dân vẫn còn thiếu hiểu biết về chăm sóc giấc ngủ Do đó, cần tăng cường giáo dục và hướng dẫn mọi người cách cải thiện chất lượng giấc ngủ của mình.

3.3.6 Hiểu biết của người bệnh khi có cảm giác buồn chán mệt mỏi

Kết quả nghiên cứu cho thấy 81.1% bệnh nhân (30/37) chọn tìm chỗ yên tĩnh để nghỉ ngơi, trong khi 10.8% (4 bệnh nhân) lựa chọn tham gia vào các thú vui trước đây, và 8.1% (3 bệnh nhân) tham gia vào các hoạt động nhẹ nhàng hoặc chơi với bạn bè, hàng xóm Điều này cho thấy phần lớn bệnh nhân còn thiếu kiến thức về tự chăm sóc bản thân, dẫn đến việc họ chỉ nằm im một chỗ thay vì tham gia vào các hoạt động cộng đồng Hành vi này ảnh hưởng tiêu cực đến tình trạng sức khỏe của họ, do đó cần có sự hướng dẫn và can thiệp để nâng cao hiểu biết và cải thiện mức độ hoạt động của bệnh nhân.

Sử dụng các biện pháp thư giãnKhông làm gì,nằm yên

Nguyên nhân của những việc đã làm được và chưa làm được

Bảng 3.3: Chăm sóc giấc ngủ cho NB của điều dưỡng Mức độ trầm cảm

KHCS chung cho người bệnh trầm cảm 3 29 0 32

CS chi tiết từng biểu hiện trên mỗi người bệnh

Theo kết quả, 86,5% bệnh nhân (NB) có kế hoạch chăm sóc chung về rối loạn giấc ngủ (RLGN), nhưng chỉ 13,5% NB được chăm sóc chi tiết theo triệu chứng và diễn biến của RLGN Hầu hết các NB có kế hoạch chăm sóc đầy đủ và chi tiết là những trường hợp đặc biệt.

Trẻ sơ sinh (NB) có rối loạn tim mạch ở mức độ vừa và nặng, tuy nhiên, tỷ lệ này được đánh giá là rất thấp so với yêu cầu cần có trong một kế hoạch chăm sóc toàn diện.

3.3.8 Chăm sóc các biểu hiện kèm theo mất ngủ trong trầm cảm

Kết quả cho thấy 100% bệnh nhân (NB) được chăm sóc các biểu hiện kèm theo của tình trạng tâm lý (TC), nhưng chỉ có 2 NB (chiếm 5,4%) được chăm sóc chi tiết cho từng biểu hiện Đáng chú ý, 2 NB này là những trường hợp có ý tưởng và hành vi tự sát.

3.3.9 Chăm sóc dinh dưỡng NB mất ngủ trong trầm cảm

Khoảng 70,3% bệnh nhân chỉ đảm bảo bữa ăn đủ dinh dưỡng và hợp vệ sinh, trong khi chỉ có 29,7% bệnh nhân được cung cấp bữa ăn có chất lượng tốt hơn, đáp ứng đủ dinh dưỡng, hợp vệ sinh và hợp khẩu vị Phần lớn bệnh nhân có chất lượng bữa ăn tốt đến từ các gia đình có điều kiện kinh tế khá và có khả năng phối hợp hiệu quả với bệnh viện trong quá trình chăm sóc.

3.4 Nguyên nhân của các việc đã làm được và chưa làm được

- Internet, công nghệ phát triển dễ dàng cho việc tìm hiểu các thông tin về bệnh cũng như thông tin về chăm sóc giấc ngủ

- Các phương pháp chăm sóc giấc ngủ dễ dàng thực hiện

- Các công cụ chăm sóc giấc ngủ dễ dàng tìm mua và giá thành không đắt

- Các thuốc điều trị trầm cảm và vấn đề giấc ngủ được Nhà nước hỗ trợ điều trị, cấp phát từ tuyến y tế cơ sở

Đội ngũ nhân viên y tế từ tuyến cơ sở đến tuyến trên được đào tạo bài bản và thường xuyên tập huấn chuyên môn, luôn nhiệt tình hỗ trợ và chăm sóc bệnh nhân.

Nhiều bệnh nhân có trình độ học vấn thấp, chủ yếu là trình độ trung học cơ sở, và độ tuổi cao, dẫn đến việc họ thiếu kinh nghiệm trong việc sử dụng các phương tiện truyền thông để tìm hiểu thông tin và kiến thức về bệnh tật.

Bệnh nhân cần được điều trị lâu dài, nhưng người chăm sóc không thể ở bên cạnh liên tục Do đó, mọi hoạt động chăm sóc chủ yếu dựa vào nhân viên y tế.

Người mắc bệnh TC thường ngại giao tiếp và chia sẻ thông tin với nhân viên y tế, điều này gây khó khăn cho nhân viên trong việc nắm bắt tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.

Các thuốc điều trị bệnh thường đi kèm với tác dụng phụ, và hầu hết người bệnh đều trải qua những tác dụng này Vì vậy, bên cạnh việc chăm sóc các triệu chứng của bệnh, nhân viên y tế cũng cần chú ý đến việc quản lý và giảm thiểu các tác dụng phụ do thuốc gây ra.

- Nguồn nhân lực từ các cơ sở khám chữa bệnh còn hạn chế so với số lượng NB ngày càng tăng

Điều dưỡng cần xây dựng kế hoạch chăm sóc chi tiết cho từng biểu hiện bệnh của người bệnh, bao gồm giấc ngủ, triệu chứng trầm cảm và các vấn đề dinh dưỡng.

Nhà ăn của bệnh viện chỉ có 5 nhân viên, dẫn đến việc không thể phục vụ bữa ăn chất lượng một cách hiệu quả cho bệnh nhân Với tiêu chuẩn chỉ 10.000đ/bữa ăn, việc đảm bảo dinh dưỡng và đáp ứng nhu cầu, khẩu vị của bệnh nhân là rất khó khăn.

KHUYẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHẢ THI

Dựa trên nghiên cứu thực trạng và chăm sóc rối loạn tâm thần ở bệnh nhân trầm cảm điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị quan trọng cho Bộ Y tế và Sở Y tế nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và điều trị cho bệnh nhân.

Để nâng cao chất lượng điều trị và chăm sóc cho bệnh nhân tâm thần, cần xây dựng cơ sở vật chất và trang bị đầy đủ thiết bị cho bệnh viện Tâm thần Đồng thời, cần đẩy nhanh tiến độ quản lý bệnh nhân trầm cảm tại cộng đồng theo chương trình Mục tiêu Y tế - Dân số Theo Quyết định 1125/2017/QĐ-TTg, mục tiêu đến năm 2020 là 40% số xã, phường, thị trấn sẽ triển khai quản lý và phục hồi chức năng cho bệnh nhân rối loạn tâm lý.

Cần xây dựng kế hoạch phối hợp giữa các bệnh viện và viện ngành y tế để phát hiện, quản lý, điều trị và chăm sóc người bệnh tâm thần Ngành Tâm thần cần đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ trong quản lý, điều trị và chăm sóc người bệnh rối loạn tâm lý.

Để nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân tâm thần, cần tăng cường tổ chức các lớp đào tạo chuyên sâu về chăm sóc bệnh nhân tâm thần, đặc biệt là cho những bệnh nhân rối loạn tâm trạng, dành riêng cho đội ngũ điều dưỡng viên tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định.

Tăng cường kiểm tra và giám sát việc chăm sóc bệnh nhân tâm thần, đặc biệt là bệnh nhân trầm cảm, là cần thiết để nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc Việc bình phiếu chăm sóc sẽ giúp cải thiện hiệu quả và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của bệnh nhân.

Tổ chức đào tạo và cập nhật kiến thức định kỳ nhằm nâng cao kỹ năng, trình độ và kinh nghiệm cho điều dưỡng viên Điều này tập trung vào các lĩnh vực tâm lý, kỹ năng giao tiếp và ứng xử, góp phần cải thiện chất lượng chăm sóc cho bệnh nhân.

Tổ chức đào tạo và chuyển giao kỹ thuật cho y tế cơ sở nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ y tế, giúp họ phát hiện, quản lý và điều trị bệnh nhân trầm cảm hiệu quả trong cộng đồng Cần đẩy mạnh công tác truyền thông và giáo dục về sức khỏe tâm thần, giúp người dân hiểu biết rõ về bệnh, từ đó đến đúng nơi khám chữa bệnh, tránh tình trạng giấu bệnh và áp dụng các biện pháp điều trị không khoa học Đặc biệt, cần chú trọng đến vùng nông thôn, nơi mà số lượng bệnh nhân đến khám thấp hơn nhiều so với thực tế.

Xây dựng bệnh viện và mua sắm trang thiết bị hiện đại là cần thiết để nâng cao chất lượng điều trị Đồng thời, tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí và phục hồi chức năng cho bệnh nhân trong quá trình điều trị cũng rất quan trọng để cải thiện tinh thần và sức khỏe của họ.

Có giải pháp phục vụ bữa ăn cho NB đảm bảo đủ dinh dưỡng, hợp vệ sinh, hợp khẩu vị cho NB Đối với điều dưỡng viên tâm thần

- Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao chất lượng chăm sóc NB

- Đi sâu, đi sát NB để nắm vững diễn biến bệnh, tâm tư, nguyện vọng, tâm lý, trình độ hiểu biết của NB để có KHCS phù hợp

Trước khi sử dụng thuốc được chỉ định, bệnh nhân cần nắm vững các tác dụng phụ có thể xảy ra Việc này giúp họ hiểu rõ hơn về thuốc và có thể nhận diện các phản ứng không mong muốn Khi gặp tác dụng phụ, bệnh nhân nên được hướng dẫn cách xử lý phù hợp để đảm bảo an toàn trong quá trình điều trị.

- Tư vấn cho NB, người thân NB để họ có đủ kiến thức, kỹ năng tự chăm sóc, trợ giúp

NB khi bệnh ổn định và khi bệnh tái phát.

Ngày đăng: 03/04/2022, 12:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trịnh Bỉnh Di (2001): Các trạng thái hoạt động của não: ngủ, thức, rối loạn tâm thần, Sinh lý học - tập 2, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.Tr 360 - 369 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các trạng thái hoạt động của não: ngủ, thức, rối loạn tâm thần
Tác giả: Trịnh Bỉnh Di
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2001
4. Bùi Quang Huy (2016): Rối loạn giấc ngủ, Mất ngủ trong bệnh trầm cảm, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, Tr 64-96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn giấc ngủ, Mất ngủ trong bệnh trầm cảm
Tác giả: Bùi Quang Huy
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2016
5. Trần Viết Nghị (2004): Rối loạn giấc ngủ. Từ điển Y học phổ thông, nhà xuất bản Y học Hà Nội. Tr 254 - 255 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn giấc ngủ
Tác giả: Trần Viết Nghị
Nhà XB: nhà xuất bản Y học Hà Nội
Năm: 2004
6. TCYTTG (1992): Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD – 10F) về các rối loạn tâm thần và hành vi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD – 10F) về các rối loạn tâm thần và hành vi
Tác giả: TCYTTG
Năm: 1992
7. Trịnh Tất Thắng và cs (2017): Hiệu quả của giáo dục tâm lý trong điều trị bệnh nhân trầm cảm chủ yếu tại bệnh viện Tâm thần thành phố Hồ Chí Minh, Tài liệu hội nghị khoa học. Hội Tâm thần học Việt Nam năm 1917, tr 22 - 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của giáo dục tâm lý trong điều trị bệnh nhân trầm cảm chủ yếu tại bệnh viện Tâm thần thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trịnh Tất Thắng, cs
Nhà XB: Tài liệu hội nghị khoa học
Năm: 2017
8. Thân Văn Quang và Cs (2010): Rối loạn giấc ngủ, Tài Liệu hướng dẫn chẩn đoán, chăm sóc và quản lý người bệnh tâm thần tại cộng đồng, Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội; Tr 113 – 122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn giấc ngủ, Tài Liệu hướng dẫn chẩn đoán, chăm sóc và quản lý người bệnh tâm thần tại cộng đồng
Tác giả: Thân Văn Quang, Cs
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao Động
Năm: 2010
9.Nguyễn Thị Phương Huy và Cs (2018): Nghiên cứu tác dụng không mong muốn của thuốc chống trầm cảm ở bệnh nhân trầm cảm điều trị nội trú tại viện sức khỏe tâm thầnTiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác dụng không mong muốn của thuốc chống trầm cảm ở bệnh nhân trầm cảm điều trị nội trú tại viện sức khỏe tâm thầnTiếng Anh
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Huy, Cs
Năm: 2018
10. Carskadon M.A, Dement W.C (2011). Normal Hurman Sleep: An Overview, Principles and practice of sleep medicine, Elsevier Danunders, St. Louis, pp.1-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Principles and practice of sleep medicine
Tác giả: Carskadon M.A, Dement W.C
Nhà XB: Elsevier Danunders
Năm: 2011
11. Gregory S (2009). Insomnia and Other Adult Sleep Problems, The Facts, OUP Oxford, Oxfrord, pp. 5-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Insomnia and Other Adult Sleep Problems, The Facts
Tác giả: Gregory S
Nhà XB: OUP Oxford
Năm: 2009
12. Liu Y, Croft J. B, Wheaton A. Getal (2013). Association between perceived insufficient sleep, frequent mental distress, obesity and chronic diseases Sách, tạp chí
Tiêu đề: Association between perceived insufficient sleep, frequent mental distress, obesity and chronic diseases
Tác giả: Liu Y, Croft J. B, Wheaton A. Getal
Năm: 2013
13. Morin C.M (2004). Cognitive-Behavioral Approaches to the Treatment of Insomnia .Journal of Clinical Psychiatry, 65(16), 33-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cognitive-Behavioral Approaches to the Treatment of Insomnia
Tác giả: Morin C.M
Nhà XB: Journal of Clinical Psychiatry
Năm: 2004
14. Roth T (2007). Insomnia: Definition, Prevalence, Etiology, and Consequences. Journal of Clinical SleepMedicine, 3, S7-S10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Insomnia: Definition, Prevalence, Etiology, and Consequences
Tác giả: Roth T
Nhà XB: Journal of Clinical Sleep Medicine
Năm: 2007
16.Savard J, Morin C.M (2001). Insomnia in the Context of Cancer: A Review of a Neglected Problem. Journal of clinical oncology, 19(3). 895-908 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Insomnia in the Context of Cancer: A Review of a Neglected Problem
Tác giả: Savard J, Morin C.M
Nhà XB: Journal of Clinical Oncology
Năm: 2001

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm