1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận luật đất đai hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai và liên hệ thực tế

18 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 87,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có quyền ban hành, sửa đổi hiến pháp, luật; quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất n

Trang 1

KHOA LUẬT – ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

BỘ MÔN LUẬT KINH DOANH

-BÀI KIỂM TRA MÔN HỌC: PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT ĐAI & MÔI TRƯỜNG

GIẢNG VIÊN: TS LÊ KIM NGUYỆT

ĐỀ BÀI: Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai? Liên hệ thực tế?

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Mã sinh viên:

Lớp:

Hà Nội, năm 2022

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 3

A Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai

I Cơ quan quản lý nhà nước

1 Khái niệm

Cơ quan quản lý nhà nước là cơ quan nhà nước hoạt động có tính chuyên nghiệp, có chức năng điều hành xã hội trên cơ sở chấp hành và thi hành Hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên Các cơ quan quản lí nhà nước ở nước ta theo hê thống cơ quan hành chính nhà nước, bao gồm: Chính phủ; các bộ, cơ quan ngang bộ: Uỷ ban nhân dân các cấp, từ cấp tỉnh đến cấp xã Ở Việt Nam, Chính phủ là cơ quan quản lí nhà nước cao nhất, có chức năng thống nhất quản lí việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước Uỷ ban nhân dân các cấp có chức năng quản lí nhà nước trên phạm vi lãnh thổ địa phương, tổ chức điều hành việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh

và đối ngoại của địa phương trên cơ sở chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của

cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp

2 Đặc điểm

Tuỳ thuộc vào vị trí của mình, từng cơ quan trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước được pháp luật trao những quyền hạn nhất định để thực hiện chức năng thay mặt nhà nước điều hành xã hội trên phạm vi lãnh thổ, ngành hoặc lĩnh vực theo thẩm quyền do luật định Các quyền hạn và nhiệm vụ cơ bản của các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước là: ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong phạm

vi thẩm quyền do luật định; tổ chức, hướng dẫn thực hiện các nhiệm vụ trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý, thanh tra, kiểm tra công tác của cấp dưới; xử phạt hành chính theo thẩm quyền quản lý

Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp được gọi là cơ quan quyền lực nhà nước Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có quyền ban hành, sửa đổi hiến pháp, luật; quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước và của nhân dân có ý nghĩa toàn quốc về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội, quốc phòng, an ninh, đối nội, đối ngoại; tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, có quyền ban hành nghị

Trang 4

quyết; quyết định các vấn đề liên quan trong địa phương trên cơ sở của pháp luật, quy định của trung ương; giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước ở địa phương; giám sát việc tuân theo pháp luật ở địa phương

II Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai

Cơ quan chuyên ngành quản lý đất đai đã trải qua ba thời kỳ Tổng cục quản lý ruộng đất năm 1979 đến năm 1994, Tổng cục địa chính từ năm 1994 đến năm 2002

và hiện nay là Bộ tài nguyên và môi trường từ năm 2002

Để tăng cường quản lý và các nguồn tài nguyên và lĩnh vực môi trường, căn cứ vào nghị quyết số 02/2002/QH11 ngày 5/8/2002 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kỳ họp thứ nhất quy định về danh sách các bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ, nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ ra đời quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ tài nguyên và môi trường cũng như các loại hình tổ chức dịch vụ công trong quản

lí và sử dụng đất Theo đó, hệ thống này bao gồm các loại cơ quan sau:

1 Cơ quan chuyên ngành quản lý đất đai

a) Bộ tài nguyên và môi trường

Là cơ quan cảu Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thủy văn, đo đạc bản đồ trong phạm vi cả nước và quản lý dịch vụ công trong quản lý sử dụng đất

b) Sở tài nguyên và môi trường

Là cơ quan thuộc ủy ban nhân dân tỉnh và thành phố trực thuộc TW có chức năng quản lý tài nguyên đất và đo đạc bản đồ, đồng thời chịu sự lãnh đạo về mặt chuyên môn của Bộ tài nguyên và môi trường

c) Phòng tài nguyên và môi trường

Là cơ quan chuyên môn trực thuộc ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có chức năng quản lý nhà nước về đất đai và lĩnh vực môi trường

d) Cán bộ địa chính cấp xã

Trang 5

Cán bộ địa chính cấp xã là người giúp UBND xã, phường, thị trấn trong công tác quản lý đất đai Tuy nhiên, vấn đề còn nổi cộm hiện nay là các địa phương rất thiếu cán bộ địa chính và các cán bộ địa chính rất yếu về chuyên môn Họ thường được thuyên chuyển từ các công tác khác sang làm quản lý đất đai, vì vậy trình độ chuyên môn thường không đảm bảo

Với 10.380 xã, phường, thị trấn trong cả nước thì vấn đề đạo tạo cán bộ địa chính cho cấp xã trong thời gian tới là rất cấp bách Bởi vì, quản lý đất đai trước hết phải đi từ cơ sở Nếu cấp cơ sở hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình thì việc quản

lý đất đai sẽ đi vào nề nếp và không còn tình trạng dấy lên việc cơ quan hành chính cấp trên gây ách tắc ở nhiều khâu quản lý

2 Các tổ chức dịch vụ công trong quản lý sử dụng đất

Từ trước đến nay, trong quản lý nhà nước về đất đai những thủ tục hành chính liên quan đến giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thủ tục để xét giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thủ tục hành chính thực hiện các quyền của người sử dụng đất thường gây nhiều khó khăn cho người sử dụng đất Vì vậy, một trong những mục tiêu của pháp luật đất đai, đẩy nhanh tiến độ giao đất, cho thuê đất, bàn giao mặt bằng trong sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp trong nước

và nước ngoài, hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong phạm vi cả nước Các tổ chức bao gồm: văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, tổ chức phát triển quỹ đất và tổ chức hoạt động tư vấn trong quản lý và sử dụng đất

a) Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất

Luật đất đai 2003 đã dành toàn bộ Chương V từ Điều 122 đến Điều 131 để quy định những thủ tục hành chính trong quản lý, sử dụng đất đai và thủ tục thực hiện quyền của người sử dụng đất, trong đó thể hiện vai trò quan trong của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trong mọi công việc

- Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc sở tài nguyên và môi trường có các nhiệm vụ sau:

+ Thực hiện việc đăng ký quyền sử dụng đất đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền giao đất, cho thuê đất của ủy ban nhân dân tỉnh;

+ Lập, chỉnh lý và quản lý hồ sơ địa chính gốc, cung cấp bản sao hồ sơ địa chính gốc, bản sao hồ sơ biến động đất đai cho sở tài nguyên và môi trường,

Trang 6

tiếp nhận kết quả biến động đất đai từ cơ quan quản lý đất đai để chính lý thống nhất về hệ thống hồ sơ địa chính gốc;

+ Xây dựng, cập nhập hệ thống thông tin về đất đai;

+ Cung cấp số liệu địa chính cho cơ quan thuế để xác định mức thu hồi với các loại thuế, phí và lệ phí liên quan đến đất đai;

+ Thực hiện dịch vụ trích lục bản đồ địa chính, trích sao hồ sơ địa chính, dịch vụ thông tin về đất đai;

+ Thu phí, lệ phí từ đất đai liên quan đến việc đăng ký quyền sử dụng đất

- Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc phòng tài nguyên và môi trường có nhiệm vụ:

+ Đăng ký quyền sử dụng đối với gia đình, cá nhân;

+ Thực hiện các dịch vụ về trích lục bản đồ địa chính, trích sao hồ sơ địa chính, dịch vụ thông tin đất đai;

+ Thu các phí dịch vụ từ việc đăng ký quyền sử dụng đất

Như vậy, cùng với Luật đất đai năm 2003, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ đã quy định thời hạn chậm nhất là ngày 01/07/2005 các văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất phải được thành lập ở các địa phương Từ

đó, các thủ tục hành chính sẽ được đơn giản hóa, mang lại nhiều lợi ích cho người

sử dụng đất trong việc thực hiện các quyền và thủ tục hành chính tại các cơ quan công quyền Đây là bước phát triển mới trong công việc minh bạch hóa các thủ tục hành chính tại cơ quan công quyền và tạo ra các tiện ích để phục vụ nhân dân của các cơ quan nhà nước

b) Tổ chức phát triển quỹ đất

Theo quy định tại khoản 1 Điều 41 Luật đất đai năm 2003 về việc giao cho tổ chức phát triển quỹ đất thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng

vè trực tiếp quản lý quỹ đất đã thu hồi sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được công bố mà chưa có dự án đầu tư Quy định trên xác định việc thu hồi đất thực hiện theo 2 cơ chế:

Thứ nhất, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc TW ra quyết định thu hồi đất và thực hiên việc bồi thường giải phóng mặt bằng và bàn giao quỹ đất cho các nhà đầu tư

Trang 7

Thứ hai, trường hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố nhưng chưa có dự án đầu tư thì UBND cấp tỉnh ra quyết định thu hồi đất và giao tổ chức phát triển quỹ đất tổ chức thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng và quản lý quỹ đất này

Tổ chức phát triển quỹ đất có những nội dung chủ yếu sau:

- Thực hiện việc quản lý quỹ đất sau thu hồi theo quy định tại khoản 1 Điều 41 Luật đất đai năm 2003

- Nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu vực có quy hoạch phải thu hồi đất mà người sử dụng đất có nhu cầu chuyển đi nơi khác trước khi nhà nước có quyết định thu hồi đất

- Thực hiện việc bồi thường, giải phóng mặt bằng theo quyết định thu hồi đất của UBND cấp tỉnh

- Giới thiệu địa điểm đầu tư, vận động đầu tư theo quy hoạch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định

- Tổ chức việc đấu giá quyền sử dụng đất đối với đất được Nhà nước giao quản lý

Như vậy, với các nhiệm vụ nêu trên, tổ chức phát triển quỹ đất sẽ bóc tách dần chức năng quản lý hành chính nhà nước với chức năng kinh doanh trong lĩnh vực đất đai và đó chính là xu hướng mới trong quan niệm hiện nay

c) Tổ chức hoạt động tư vấn trong quản lý và sử dụng đất

Theo quy định tại khoản 1 Điều 57 Luật đất đai 2003 thì tổ chức có đủ điều kiện, năng lực và được hoạt động dịch vụ về giá đất thì được tư vấn giá đất Tuy nhiên, tư vấn giá đất mới chỉ là một phần khả năng tư vấn của các doanh nghiệp đối với nhiều hoạt động dịch vụ khác nhau Vì vậy, tổ chức hoạt động tư vấn trong quản lý và sử dụng đất đai được hiểu là tổ chức sự nghiệp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập hoặc doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo các luật về doanh nghiệp và được cấp giấy phép hoạt động tư vấn trong lĩnh vực đất đai

Hoạt động tư vấn bao gồm những lĩnh vực sau:

- Thực hiện dịch vụ tư vấn giá đất trong việc xây dựng giá đất đai tại các địa phương, tư vấn giá đất khởi điểm để đấu giá quyền sử dụng đất theo yêu

Trang 8

cầu của hội đồng đấu giá quyền sử dụng đất hoặc của tòa án nhân dân, tư vấn giá đất cho người sử dụng đất, các tổ chức tài chính, tín dụng trong việc thực hiện các giao dịch bảo đảm về quyền sử dụng đất;

- Hoạt động dịch vụ tư vấn về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho sở tài nguyên và môi trường, phòng tài nguyên và môi trường, UBND xã trong việc lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất chi tiết;

- Hoạt động dịch vụ tư vấn về đo đạc, lập bản đồ địa chính cho sở tài nguyên và môi trường, phòng tài nguyên và môi trường

Như vậy, với việc thành lập các loại hình tổ chức dịch vụ công trong quản lý và

sử dụng đất đai, các thủ tục hành chính được quy về các đầu mối giúp cho người

sử dụng đất nhanh chóng tiếp cận các quyền của mình và góp phần làm cho các cơ quan nhà nước quản lý đất đai với hiệu quả cao hơn

B Liên hệ thực tiễn

I Thực trạng công tác đánh giá quản lý đất đai hiện nay1

Nhiệm vụ theo dõi, đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai là nội dung đổi mới của Luật đất đai năm 2013 nhằm đánh giá đúng tình hình triển khai thi hành luật, đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, hiệu quả sử dụng đất và tác động của chính sách, pháp luật đất đai đến kinh tế, xã hội và môi trường ở từng địa phương và trên phạm vi cả nước

Theo Luật đất đai năm 2013, hệ thống theo dõi và đánh giá đối với quản lý và

sử dụng đất đai là thành phần của hệ thống thông tin đất đai; được thiết lập thống nhất từ Trung ương tới địa phương và được công khai trên mạng thông tin quốc gia theo quy định của pháp luật Hệ thống theo dõi và đánh giá đối với quản lý và sử dụng đất đai phải phản ánh quy mô, chất lượng và hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai; tác động của chính sách, pháp luật về đất đai; mức độ minh bạch và sự tham gia của nhân dân vào quá trình quản lý và sử dụng đất đai thông qua các chỉ số định lượng và định tính

Luật đất đai 2013 quy định Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm:

1 Theo: TS Nguyễn Xuân Thành – Sở TN&MT “Thực trạng và giải pháp để tăng cường công tác đánh giá quản lý,

sử dụng đất đai ở Việt Nam”; 26/03/2018; http://tnmtnd.hanoi.gov.vn/index.php?

option=com_content&view=article&id=14015&catid=12&Itemid=130

Trang 9

- Thiết kế, xây dựng hệ thống theo dõi và đánh giá đối với quản lý và sử dụng đất đai; quản lý, tổ chức vận hành hệ thống theo dõi và đánh giá quản lý và

sử dụng đất đai ở Trung ương; hướng dẫn việc quản lý và vận hành hệ thống theo dõi và đánh giá quản lý và sử dụng đất đai ở địa phương

- Chỉ đạo, hướng dẫn việc tổ chức thực hiện việc đánh giá hàng năm về quản lý, sử dụng đất đai và tác động của chính sách, pháp luật về đất đai

- Lập báo cáo định kỳ và báo cáo đột xuất theo chuyên đề về quản lý, sử dụng đất đai và tác động của chính sách, pháp luật về đất đai

- Ban hành tiêu chí, quy trình đánh giá đối với quản lý, sử dụng đất đai và tác động của chính sách, pháp luật về đất đai; biểu, mẫu báo cáo và trách nhiệm báo cáo của hệ thống cơ quan tài nguyên và môi trường

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo việc xây dựng, vận hành hệ thống theo dõi và đánh giá đối với quản lý, sử dụng đất đai ở địa phương

Để triển khai các nhiệm vụ theo quy định của Luật đất đai đối với công tác đánh giá quản lý sử dụng đất đai, từ năm 2015-2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Quản lý đất đai đã trực tiếp triển khai một số nội dung và ban hành các văn bản chỉ đạo các tỉnh như sau:

- Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành văn bản số 3215/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 05 tháng 8 năm 2015 về việc tăng cường kiểm tra, giám sát và xây dựng hệ thống theo dõi, đánh giá đối với hoạt động quản lý, sử dụng đất đai; Tổng cục Quản lý đất đai đã ban hành Công văn số 1660/TCQLĐĐ-CKSQLSDĐĐ ngày

09 tháng 11 năm 2015 và Công văn số 1678/TCQLĐĐ- CKSQLSDĐĐ ngày 31 tháng 8 năm 2016 về việc hướng dẫn lập báo cáo theo dõi, đánh giá và báo cáo tình hình quản lý, sử dụng đất đai và tác động của chính sách, pháp luật đất đai đến kinh tế, xã hội và môi trường Chính vì vậy, từ năm 2015 đến nay, các địa phương tiến hành triển khai, thu thập đánh giá theo hệ thống biểu mẫu theo hướng dẫn của Tổng cục Quản lý đất đai để xây dựng báo cáo đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất hàng năm

Tuy nhiên việc triển khai chưa đem lại hiệu quả cao, năm 20-15 có 39 tỉnh, thành phố gửi báo cáo, năm 2016 có 47 tỉnh, tuy nhiên chỉ có 30 tỉnh gửi báo cáo đúng thời hạn, 33 tỉnh nộp báo cáo đúng quy định, 27 tỉnh có chất lượng báo cáo

Trang 10

tương đối đạt yêu cầu (đầy đủ số liệu, biểu bảng theo quy định) Nhìn chung các địa phương chưa quan tâm đến việc xây dựng báo cáo đánh giá, chưa giao trách nhiệm cho một đơn vị chuyên môn cụ thể để thực hiện công tác theo dõi đánh giá nên việc theo dõi, tổng hợp số liệu chưa thành nề nếp

Ngoài ra, Tổng cục quản lý đất đai đã tổ chức kiểm tra thi hành Luật đất đai

2013 tại 22 tỉnh là: Yên Bái, Hải Dương, Nam Định, Bắc Cạn, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Đồng Tháp, An Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Hà Nam, Quảng Trị, Bến Tre, Long An, Tiền Giang, Bình Thuận, Hà Giang, Sơn La, Bình Định, Phú Yên, Bình Dương và Lào Cai Các nội dung, tiêu chí thực hiện kiểm tra đánh giá bao gồm: Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai; việc lập, điều chỉnh, quản lý và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất; việc đo đạc, đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; việc quản lý tài chính đất đai và giá đất, việc thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai Như vậy, việc theo dõi đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất đai theo quy định của Luật đất đai 2013 ở các địa phương đã được thực hiện, tuy nhiên do hiện nay chưa có nội dung, quy trình hướng dẫn cụ thể nên mỗi địa phương thực hiện theo một cách riêng, chưa thành nền nếp thường xuyên hàng năm; nội dung đánh giá chưa đầy đủ và chưa sâu; chất lượng đánh giá còn hạn chế, chưa sát thực tế, còn mang tính chủ quan, định tính mà thiếu các thông tin, số liệu chứng minh; vì vậy việc tổng hợp toàn quốc gặp nhiều khó khăn Trong năm 2015-2016 một số địa phương đã gửi công văn yêu cầu Bộ có hướng dẫn cụ thể về xây dựng các chỉ tiêu

và trình tự đánh giá tình hình quản lý đất đai theo yêu cầu của Luật Đất đai 2013 Nguyên nhân chủ yếu là do hiện nay chưa xây dựng được hệ thống theo dõi đánh giá và hướng dẫn thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước; việc đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất đai ở địa phương còn chưa được quan tâm, chưa

tổ chức được bộ máy để triên khai, chưa xây dựng kế hoạch thực hiện, chưa có được tiêu chí thống nhất, chưa có nội dung đánh giá đầy đủ; vì thế chưa có được những kết quả đánh giá sát thực với từng địa phương và thống nhất trên cả nước; ngoài ra hệ thống cơ quan kiểm tra, thanh tra chuyên ngành về đất đai còn thiếu ổn định về tổ chức; lực lượng còn mỏng; năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ

Ngày đăng: 03/04/2022, 11:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w