Vai trò đại diện chủ sở hữu đất đai được thực hiện bằng việc Nhà nước thực hiện quyền điềutiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua chính sách tài chính về đất đai; trao quyềnSDĐ cho người
Trang 1ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
MÔN HỌC:
PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI MÔI TRƯỜNG
ĐỀ TÀI:
HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Mã sinh viên:
Lớp:
Hà Nội, Tháng 3/2022
Trang 2Mục lục
MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Dự kiến kết cấu của đề tài 5
CHƯƠNG I TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CƠ QUAN QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI Ở NƯỚC TA 5
1 Sự cần thiết của việc Nhà nước quản lý đất đai 5
1.1 Vị trí và vai trò của đất đai với con người 5
1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc Nhà nước quản lý đất đai 8
1.3 Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai 10
2 Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai14 CHƯƠNG II HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 21
1 Hệ thống các cơ quan quản lý đất đai ở nước ta hiện nay 21
1.1.Khái niệm hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai 21
1.2 Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta 21
2 Nội dung quản lý nhà nước về đất đai 28
3 Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về đất đai 29
3.1.Yếu tố chính trị 29
3.2.Yếu tố nhận thức của đội ngũ quản lý và người sử dụng đất đai 31
3.3 Yếu tố về cơ sở vật chất, kĩ thuật và nghiệp vụ địa chính; đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất .32
3.4 Yếu tố hội nhập quốc tế 32
CHƯƠNG III THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI Ở NƯỚC TA 33
1 Tình hình thực hiện quản lý nhà nước về đất đai theo quy định của Luật Đất đai 2013 33
Trang 32 Thành tựu đạt được trong suốt chiều dài lịch sử của hệ thống cơ quan quản lý đất đai ở 38 nước ta 38
2.1.Góp phần ổn định xã hội và giải quyết các vấn đề trong phát triển kinh tế - xã hội 38 2.2.Đảm bảo nhu cầu sử dụng đất cho các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường phù hợp với yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 40 2.3.Góp phần tăng thu ngân sách và tăng trưởng kinh tế 41
3 Đánh giá về thực tiễn quản lý của hệ thống cơ quan quản lý đất đai ở nước ta, nguyên nhân của những ưu điểm, nhược điểm trong quản lý đất đai đó 42
CHƯƠNG IV MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC VÀ HOÀNTHIỆN HỆ THỐNG CƠ QUAN QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 45
1 Định hướng tăng cường công tác quản lý của hệ thống quản lý về đất đai trong tương lai 45
1.1.Cơ hội và thách thức đối với ngành Quản lý đất đai 45 1.2 Triển vọng và tương lai đối với ngành Quản lý đất đai 47
2 Các giải pháp để tăng cường và hoàn thiện hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước
về đất đai 48
2.1.Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng bộ đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai 48 2.2 Hoàn thiện pháp luật về đất đai 48 2.3 Đào tạo nâng cao năng lực quản lý của cán bộ, công chức quản lý nhà nước
về đất đai 49 2.4 Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan 51
KẾT LUẬN 51
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, nó không chỉ là tư liệu sảnxuất đặc biệt mà còn là thành phần quan trọng không thể thiếu của môi trường sống, là địabàn phân bổ khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốcphòng, có vai trò cực kỳ quan trọng đối với đời sống kinh tế - xã hội loài người Ngày nay,khi xã hội ngày càng phát triển mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, sức
ép dân số , sự chuyển dịch cơ cấu từ nông nghiệp sang công nghiệp dịch vụ kéo theo nhucầu sử dụng đất ngày một tăng cao, cung không đủ cầu Bởi vậy, trong quá trình sử dụngđất, chúng ta cần phải khai thác, bảo vệ và cải tạo đất cho phù hợp, đáp ứng kịp thời nhucầu phát triển nhanh chóng của xã hội khắc phục những vấn đề về ô nhiễm, quá tải dân số,
… Và để làm được điều đó thì công tác quản lý đất đai là rất cần thiết, nó đòi hỏi phải có
sự thống nhất trong bộ máy quản lý từ trung ương đến địa phương, đặc biệt là hệ thống cơquan quản lý về đất đai phải luôn không ngừng củng cổ và cải thiện để sớm hoàn thànhnhiệm vụ đưa công tác quản lý đất đai đi vào nề nếp
Song, việc cải thiện bộ máy quản lý đất đai như thế nào cho phù hợp khi vẫn còn nhiều hạnchế như tình trạng chồng chéo trong quản lý, nạn than nhũng, tham ô, những dự án bỏhoang, chung cư ma,… vẫn ngày ngày hiện hữu mà sâu xa chính là việc xây dựng hệ thốngquản lý đất đai còn cồng kềnh, chưa sát sao trong hoạt động Cho nên, việc nghiên cứu,đánh giá để không ngừng hoàn thiện hệ thống cơ quan quản lý đất đai là điều kiện cần thiết
để đáp ứng công nghiệp hóa ,hiện đại hóa, theo kịp thời đại; đồng thời đưa ra những giảipháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực trong hệ thống cơ quan quản lý đất đai ở nước tahiện nay
Trang 52 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và sự cần thiết của việc thành lập hệ thống cơ quanquản lý đất đai ở nước ta; khái quát quá trình hình thành và phát triển trong các giaiđoạn lịch sử phát triển của đất nước
- Nghiên cứu đánh giá pháp luật hiện hành về cơ cấu, tổ chức; chức năng,nhiệm vụ và quyền hạn của hệ thống cơ quan quản lý đất đai ở nước ta
- Đánh giá hiệu quả thực trạng hoạt động của hệ thống nhằm chỉ ra tồn tại, hạnchế, nguyên nhân xuất hiện tồn tại hạn chế đó
- Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống cơ quan quản lý đấtđai ở nước ta
3 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống cơ quan quản lý đất đai ở nước ta:
- Hệ thống cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền chung: Chính phủ, UBNDcấp tỉnh, UBND cấp huyện và UBND cấp xã
- Hệ thống cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền riêng (còn gọi là hệ thống cơquan quản lý có thẩm quyền chuyên ngành): Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tàinguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường và cán bộ địa chính cấp
xã, phường, thị trấn
4 Phương pháp nghiên cứu
Bài viết vận dụng quan điểm nghiên cứu khoa học của chủ nghĩa Mác- Leeenin; quanđiểm lý luận, đường lối của Đảng; tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước, pháp
Trang 6quyền trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế Quốc tế Đồng thời sửdụng các phương pháp cụ thể như: phân tích, đánh giá, bình luận, phương pháp tổnghợp, so sánh luật học,… trong quá trình nghiên cứu đề tài
5 Dự kiến kết cấu của đề tài
Bố cục bài viết gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong đóphần nội dung chia thành 4 chương:
Chương I: Tổng quan những vấn đề lý luận về hệ thống cơ quan quản lý đất đai ở
nước ta
Chương II: Hệ thống cơ quan quản lý đất đai ở nước ta
Chương III: Thực trạng hoạt động của hệ thống cơ quan quản lý đất đai ở nước ta Chương IV: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực và hoàn thiện hệ thống cơ
quan quản lý đất đai ở nước ta hiện nay
CHƯƠNG I TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CƠ QUAN QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI Ở NƯỚC TA
1 Sự cần thiết của việc Nhà nước quản lý đất đai
1.1 Vị trí và vai trò của đất đai với con người
Đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng: “đất đai là một diệntích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh tháingay trên vỏ dưới bề mặt đó bao gồm: khí hậu, bề mặt, thổ nhưỡng, dáng địa hình,mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy,…) Các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nướcngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cưcủa con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san
Trang 7nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường xá, nhà cửa )” Như vậy,
“đất đai” là khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng , theo chiều nằmngang trên mặt đất giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sảnxuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người Cùng với quá trình lịch sử kinh tế-xãhội, đất đai là điều kiện lao động, đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại vàphát triển của xã hội loài người
Đất là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng là yếu tốmang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trêntrái đất Các Mác viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện để sinhtồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trongnông, lâm nghiệp” Bởi vậy, nếu không có đất đai thì không có bất kỳ một ngành sảnxuất nào, con người không thể tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộcsống và duy trì nòi giống đến ngày nay Tuy nhiên, đất đai có những đặc trưng rấtriêng không giống với các tư liệu sản xuất khác:
Thứ nhất, đất đai không do con người làm ra mà do tự nhiên tạo ra, có trước con
người và bị giới hạn bởi diện tích, không gian, bị cố định về vị trí địa lý Trải quamột quá trình lịch sử lâu dài, con người chiếm hữu đất đai biến chúng từ một sản vật
tự nhiên thành tài sản của cộng động, của quốc gia; cứ như vậy đi cùng nhu cầu sửdụng đất ngày càng tăng, đất đai cũng trở nên khan hiếm và có giá trị cao
Thứ hai, cũng giống như bất kỳ tư liệu sản xuất khác, đất đai cũng có độ khấu hao.
Độ khấu hao của đất được chuyển hóa thành giá thành sản phẩm qua mỗi chu kỳ sửdụng Song khác với các tư liệu đó, đất đai không bao giờ mất hết độ khấu hao nếucon người biết cách cải tạo, bồi bổ đất đai sau mỗi chu kỳ sử dụng
Thứ ba, do giá trị ngày càng cao, có tính bền vững và ổn định về vị trí địa lý nên đất
đai trở thành tài sản bảo đảm trong các quan hệ thế chấp, bảo lãnh vay vốn và được
Trang 8dùng làm vốn góp liên doanh, liên kết trong hoạt động kinh tế, thậm chí còn trởthành di sản thừa kế, của hồi môn,…
Thứ tư, đất đai không những liên quan đến lợi ích của cá nhân trong xã hội mà còn
liên quan đến lợi ích của Nhà nước, là một thành tố quan trọng hàng đầu của môitrường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, xãhội, chính trị, an ninh quốc phòng nên việc sử dụng đất phải tuân thủ nghiêm ngặtcác quy tắc chung do Nhà nước đặt ra
Khác với các quốc gia trên thế giới đất đai thuộc quyền sở hữu khá nhau như tư
nhân, Nhà nước tập thể,…tại Việt Nam, theo điều 53 Hiến pháp 2013: “Đất đai, tài
nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc
sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” Đất đai là
lãnh thổ thiêng liêng của quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu, nguồn lực quan trọng
để phát triển đất nước Vì vật, theo quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước vànhân dân ta đã được xác định từ năm 1980 đến nay là đất đai thuộc sở hữu toàn dân,
do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý thì việc khai thác, sử dụngđất đai mới bảo đảm hiệu quả cao, nhằm phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế - xãhội, củng cố quốc phòng, an ninh của đất nước Quy định này xuất phát từ nhu cầunội tại của việc đoàn kết sức mạnh toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh chống ngoạixâm, giành và giữ nền độc lập, đồng thời việc xác định và tuyên bố đất đai thuộcquyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý còn mang ý nghĩa khẳng
định chủ quyền, tính độc lập và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia
Trang 9Việc quy định đất đai là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diệnchủ sở hữu và thống nhất quản lý theo quy định của Hiến pháp là cần thiết và đúngđắn, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh nước ta hiện nay, bảo đảm sự thống nhất lợiích của người dân và lợi ích quốc gia Bởi vật mà đất đai luôn đòi hỏi phải có sựquản lý chặt chẽ, thống nhất, sát sao và đồng bộ nhằm bảo đảm sử dụng đất đúngmục đích, tiết kiệm và mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất
1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc Nhà nước quản lý đất đai
Luật đất đai 2013 đã quy định rõ tại Điều 4 Sở hữu đất đai: “Đất đai thuộc sở hữu
toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này” Vai trò đại
diện chủ sở hữu đất đai được thực hiện bằng việc Nhà nước thực hiện quyền điềutiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua chính sách tài chính về đất đai; trao quyềnSDĐ cho người SDĐ thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐđối với người SDĐ ổn định, quy định quyền và nghĩa vụ của người SDĐ,… theo cácĐiều 5-8 của Bộ luật này
Có thể nói, việc Nhà nước quản lý toàn bộ vốn đất đai dựa trên những cơ sở lý luận
và thực tiễn sau:
Thứ nhất, xét về bản chất chính trị, Nhà nước CHXHCN Việt Nam là Nhà nước do
nhân dân lao động lập nên, đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền và lợi ích củanhân dân; do dân vì dân, lợi ích của Nhà nước đồng nhất với lợi ích của nhân dân.Mặt khác, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, để quản lý toàn bộ vốn đất đai ( ~327.480km²), nhân dân với tư cách cộng đồng xã hội không thể tự mình đứng ra thực hiệncác nội dung cụ thể của hoạt động quản lý đất đai mà phải cử người thay mặt mình
Trang 10thực hiện nhiệm vụ này và đó chính là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam
Thứ hai, Nhà nước ra đời là một tổ chức chính trị do xã hội lập nên với chức năng cơ
bản là thay mặt xã hội quản lý, điều phối, đồng bộ mọi hoạt động của con người theomột quỹ đạo chung đảm bảo sự vận động và phát triển của xã hội không rơi vào tìnhtrạng rối loạn, vô tổ chức Đất đai có vị trí quan trọng đối với toàn xã hội, là nguồnsống vì thế nó không thể không chịu sự quản lý của Nhà nước nhằm dung hòa lợiích chung giữa cá nhân và cá nhân, cá nhân và cộng đồng trong quá trình SDĐ
Thứ ba, Nhà nước là tổ chức chính trị - quyền lực được nhân dân trao quyền công
quản lý xã hội Để thực hiện chức năng của mình, nhà nước có quyền đề ra các biệnpháp thu thuế, ban hành pháp luật,… nhằm đảo bảo tính nghiêm chỉnh của pháp luật
Do đó phương thức quản lý Nhà nước là cách hiệu quả nhất để quản lý đất đai
Thứ tư, ngoài các khu vực kinh tế phát triển vẫn tồn tại diện tích đất tự nhiên chưa
sử dụng tập trung ở các vùng nú, vùng sâu vùng xa – đây là những vùng địa lý đấtđai khô cằn, chậm phát triển nhất cả nước Vì vậy việc tìm và sử dụng chúng vàođúng mục đích tạo sự thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, kéo ngắn khoảng cách giàunghèo cần một nguồn vốn rất lớn mà ngoài Nhà nước không có tổ chức, cá nhân nào
có điều kiện thực hiện được
Thứ năm, đối với một nước nông nghiệp có khoảng 80% dân số nông nghiệp như
Việt Nam, “đất chật người đông”, diện tích đất canh tác bình quân đầu người vàoloại thấp trên thế giới trong khi sự phát triển dân số tỉ lệ nghịch ngày càng cao, việcquản lý chặt chẽ, khai thác sử dụng hiệu quả đất thì không thể thiếu sự quản lý củaNhà nước Đặc biệt là để xây dựng và củng cố quyền lực nhà nước trung ương tậpquyền thì việc nắm và quản lý toàn bộ đất đai nói chung là điều kiện cần thiết và cấpbách
Trang 111.3 Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai
1.3.1 Khái niệm
Theo từ điển, quản lý nhà nước: “Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực
nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định, phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi.”
“Quản lý Nhà nước theo nghĩa rộng là bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống nhất.”
“Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp là chấp hành, điều hành, quản lý hành chính do
cơ quan hành pháp thực hiện đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.”
Trên cơ sở khái niệm về quản lý nhà nước nói chung, ta có khái niệm quản lý đất đai
và quản lý nhà nước đối với đất đai như sau:
“Quản lý đất đai là hoạt động thiết lập các cơ chế, chính sách, các công cụ quản lý, biện pháp quản lý và việc vận hành cơ chế đó nhằm quản lý, sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm và đạt hiệu quả kinh tế cao”
“ Quản lý nhà nước đối với đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu nhà nước về đất đai.”
Nội dung quản lý nhà nước về đất đai được quy định tại Điều 22 Bộ luật Đất đai vàMôi trường năm 2013
1.3.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước về đất đai
Trang 12- Nhà nước thống nhất quản lý NN về đất đai từ trung ương đén địa phươngđảm bảo đất đai sử dụng đúng pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhằmkhai thác và sử dụng đất ổn định, lâu dài thông qua các cơ quan quản lý nhà nước vềđất đai
- Nhà nước đóng vai trò chính trong việc hình thành chính sách đất đai và cácnguyên tắc của hệ thống quản lý nhà nước về đất đai, bao gồm pháp luật đất đai vàpháp luật liên quan đến đất đai Nhà nước quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn củacác cơ quan nhà nước: Chính phủ, Hội đồng nhân dân, UBND các cấp trong quản lýnhà nước về đất đai trên cả nước cũng như tại địa phương
1.3.3 Các nguyên tắc của quản lý nhà nước đối với đất đai
Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai là các quy tắc xử sự chung, những tiêu chuẩnhành vi mà các cơ quan quản lý nhà nước và các chủ sử dụng đất phải tuân thủ trong
quá trình quản lý và sử dụng Quản lý nhà nước về đất đai có các nguyên tắc sau: a)
Công khai minh bạch
Đất đai là tài nguyên của quốc gia, là tài sản chung của toàn dân Vì vậy, không thể cóbất kỳ một cá nhân hay một nhóm người nào chiếm đoạt tài sản chung thành tài sảnriêng của mình được Chỉ có Nhà nước - chủ thể duy nhất đại diện hợp pháp cho toàndân mới có toàn quyền trong việc quyết định số phận pháp lý của đất đai, thể hiện sựtập trung quyền lực và thống nhất của Nhà nước trong quản lý nói chung và trong lĩnhvực đất đai nói riêng
Vấn đề này được quy định tại Điều 54, Hiến pháp 2013 “Nhà nước thống nhất quản
lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và
có hiệu quả” và được cụ thể hơn tại Điều 4, Luật Đất đai 2013 “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao
Trang 13quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này” Tuy nhiên, sự
tập trung và thống nhất quản lý nhà nước về đất đai cũng phải đảm bảo tính công khaiminh bạch bằng việc công khai thông tin đất đai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đấttrên cổng thông tin điện tử của các cơ quan có thẩm quyền quản lý
b) Đảm bảo quyền lợi ích của chủ thể sử dụng đất
Từ khi Hiến pháp 1980 ra đời quyền sở hữu đất đai ở nước ta chỉ nằm trong tay Nhànước còn quyền sử dụng đất đai vừa có ở Nhà nước, vừa có ở trong từng chủ sử dụng
cụ thể
Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất đai mà thực hiện quyền sử dụng đất đai thôngqua việc thu thuế, thu tiền sử dụng từ những chủ thể trực tiếp sử dụng đất đai Vìvậy, để sử dụng đất đai có hiệu quả Nhà nước phải giao đất cho các chủ thể trực tiếp
sử dụng và phải quy định một hành lang pháp lý cho phù hợp để vừa đảm bảo lợi íchcho người trực tiếp sử dụng, vừa đảm bảo lợi ích của Nhà nước
Vấn đề này được thể hiện ở Điều 5, Luật Đất đai 2013 “Người sử dụng đất được Nhànước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sửdụng đất theo quy định của Luật này…” Như vậy, theo quy định trên, đất đai thuộc
sở hữu toàn dân, Nhà nước với tư cách đại diện chủ sỡ hữu và thống nhất quản lý sẽtrao quyền sử dụng đất cho các chủ thể sử dụng đất (người sử dụng đất) dưới các hìnhthức Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyểnquyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai năm 2013 Muốn đảm bảo kết tốtquyền sở hữu toàn dân và quyền từng ngườisử dụng phải có cơ chế kết hợp, trong đó,quyền và trách nhiệm của các bên (Nhà nước và người sử dụng) phải được công nhận
và thể chế hóa bằng các văn bản pháp luật c) Đảm bảo yêu cầu kinh tế thị trường, hội
nhập quốc tế
Trang 14Nhà nước ta đã tham gia vào các tổ chức kinh tế thế giới để đảm bảo nhu cầu hội nhậpkinh tế quốc tế trong thời gian tới nhà nước cần phải có các nguyên tắc quản lý đất đaiđảm bảo yêu cầu kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Xây dựng các phương án quyhoạch, kế hoạch sử dụng đất, có tính khả thi cao Quản lý và giám sát tốt việc thựchiện các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Có như vậy, quản lý nhà nước
về đất đai mới phục vụ tốt cho chiến lược phát triển kinh tế thị trường và hội nhậpquốc tế mà vẫn đạt được mục đích đề ra
Xuất phát từ vai trò vị trí của đất đai đối với sự sống và phát triển của xã hội loàingười nói chung, phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia nói riêng, mà đất đai đòihỏi phải có sự quản lý của nhà nước Đất đai là tài sản quốc gia thể hiện quyền lãnhthổ của quốc gia đó Vì vậy, cần thiết có sự quản lý Nhà nước về đất đai
Ngoài các yếu tố trên trong điều kiện hiện nay khi chuyển sang nền kinh tế thị trường,những yếu tố thị trường, trong đó có sự hình thành và phát triển của thị trường bấtđộng sản Đất đai và nhà ở là nhu cầu vật chất thiết yếu của con người, là những yếu
tố quan trọng bậc nhất cấu thành thị trường bất động sản Hiện nay, thị trường hànghoá, dịch vụ phát triển nhanh nhưng còn mang nhiều yếu tố tự phát, thiếu định hướng,thị trường bất động sản, thị trường sức lao động chưa có thể chế rõ ràng, phát triểncòn chậm chạp, tự phát, thị trường vốn và công nghệ còn yếu kém Do vậy, việc hìnhthành đồng bộ các loại thị trường nói chung và hình thành, phát triển thị trường bấtđộng sản nói riêng tạo động lực phát triển cho nền kinh tế Tăng cường năng lực vàhiệu quả QLNN đối với đất đai được bắt nguồn từ nhu cầu khách quan của việc sửdụng có hiệu quả tài nguyên đất đáp ứng nhu cầu đời sống của xã hội, do tính địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta quy định Khi tham gia vào nền kinh tế thị trường,đất đai có sự thay đổi căn bản về bản chất kinh tế - xã hội: Từ chỗ là tư liệu sản xuất,
là điều kiện sống chuyển sang là tư liệu sản xuất chứa đựng yếu tố sản xuất hàng hoá,phương diện kinh tế của đất trở thành yếu tố chủ đạo quy định sự vận động của đất
Trang 15đai theo hướng ngày càng nâng cao hiệu quả Chính vì vậy, việc quản lý nhà nước vềđất đai là hết sức cần thiết nhằm phát huy những yêu cầu của kinh tế thị trường, hộinhập quốc tế và hạn chế những khuyết tật của thị trường khi sử dụng đất đai, ngoài racũng làm tăng tính pháp lý của đất đai
2 Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra một kỷ nguyên mới củanước Việt Nam, kỷ nguyên dân tộc độc lập, dân quyền và dân chủ Đến nay, trải qua 73năm xây dựng và phát triển, ngành Quản lý đất đai Việt Nam đã trải qua nhiều giaiđoạn lịch sử khác nhau và ở mỗi giai đoạn, Ngành đều có những đóng góp to lớn cho
sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, có thể tóm tắt như sau:
❖ Giai đoạn 1945 – 1959
Sau khi nước nhà giành được độc lập, Chủ tịch nước đã ban hành Sắc lệnh số 41 ngày
03/10/1945 tiếp nhận Sở Trước bạ - Văn tự - Quản thủ điền thổ và Thuế Trực thu củaPhủ Toàn quyền Đông Dương về trực thuộc Bộ Tài chính Năm 1946, cơ quan này
được đổi tên thành Nha Trước bạ, Công sản và Điền thổ theo Sắc lệnh số 75 ngày 29/5/1946 của Chủ tịch nước, với hệ thống các đơn vị trực thuộc ở 3 cấp tỉnh, huyện,
xã nhằm duy trì, bảo vệ chế độ sở hữu ruộng đất và thu thuế điền thổ Song song vớihoạt động của Nha Trước bạ,
Công sản, Điền thổ còn có Nha Địa chính Năm 1947, Nha Địa chính được sáp nhập
vào Bộ Canh nông theo Sắc lệnh số 11-b/SL ngày 02/02/1947 của Chủ tịch nước
Năm 1950, Nha Công sản - Trực thu - Địa chính được thành lập trên cơ sở hợp nhất
Nha Trước bạ - Công sản - Điền thổ với Nha Địa chính theo Sắc lệnh số 112/SL ngày 11/7/1950 của Chủ tịch nước
Trang 16Đến năm 1958, thực hiện Chỉ thị số 334-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngành Quản lý
đất đai có tên gọi là Sở Địa chính thuộc Bộ Tài chính, hệ thống các cơ quan ngành dọccủa Sở trực thuộc Ủy ban hành chính các cấp để để quản lý ruộng đất
Trong giai đoạn này, nhiệm vụ của Ngành chủ yếu bảo vệ chế độ sở hữu ruộng đất vàthu thuế điền thổ, huy động thuế nông nghiệp phục vụ kháng chiến, kiến quốc Sau cảicách ruộng đất ở miền Bắc, để góp phần thực hiện nhiệm vụ khôi phục kinh tế của đấtnước, ngành Địa chính đã tổ chức đo đạc, lập bản đồ giải thửa và sổ sách địa chính đểnắm diện tích ruộng đất, phục vụ kế hoạch hóa và hợp tác hóa nông nghiệp, tính thuếruộng đất, xây dựng đô thị
Thời kỳ này kết quả thực hiện nhiệm vụ quản lý đất đai của Ngành đã đạt được một sốthành tựu nổi bật như: (1) tham mưu trình Quốc hội ban hành Luật Thuế trực thu ViệtNam, Luật Cải cách ruộng đất năm 1953 góp phần thực hiện chế độ sở hữu ruộng đấtcủa người dân, đảm bảo người cày có ruộng Nhà nước đã ban hành nhiều văn bảnpháp luật về đất đai, trong đó có 26 sắc lệnh của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủCộng hòa về quản lý, sử dụng đất đai và thuế điền thổ (2) Công tác xây dựng bản đồthổ nhưỡng, đo đạc lập bản đồ giải thửa, thống kê, kiểm kê đất nông nghiệp được tổchức thực hiện để thay thế tài liệu cũ của thực dân Pháp để lại nhằm phục vụ công tácquản lý đất đai trong thời kỳ mới
❖ Giai đoạn 1960 – 1978
Do sự phát triển quan hệ ruộng đất ở nông thôn và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa, ngành Quản lý ruộng đất được thiết lập theo Nghị định số 70-CP và Nghị định
số 71CP ngày 09/12/1960 của Hội đồng Chính phủ, chuyển từ Bộ Tài chính sang Bộ
Nông nghiệp với nhiệm vụ quản lý mở mang, sử dụng và cải tạo ruộng đất trong nôngnghiệp Hệ thống quản lý ruộng đất được tổ chức thành 04 cấp gồm Trung ương, tỉnh,huyện và xã
Trang 17Trong giai đoạn này, nhiệm vụ chủ yếu của Ngành là: "Quản lý việc mở mang, sử dụng
và cải tạo ruộng đất trong nông nghiệp", ngành Quản lý ruộng đất đã có đóng góp to lớntrong việc mở rộng và sử dụng có hiệu quả diện tích đất nông nghiệp, xây dựng kinh tếhợp tác xã và phát triển nông thôn
Thời kỳ này kết quả thực hiện nhiệm vụ quản lý đất đai của Ngành đã đạt được một sốthành tựu nổi bật như: (1) Ngành đã xây dựng trình cơ quan có thẩm quyền ban hànhcác chính sách đất đai chủ yếu tập trung khôi phục kinh tế nông nghiệp và cải tạo Chủnghĩa Xã hội đối với các thành phần kinh tế (2) Lập bản đồ thổ nhưỡng và phân hạngđất nông nghiệp đã được thực hiện ở các tỉnh miền Bắc trước năm 1975 Năm 1976triển khai xây dựng bản đồ đất Việt Nam tỷ lệ 1/1.000.000, xây dựng bản đồ thổnhưỡng cấp tỉnh của các tỉnh phía nam (3) Đo đạc chỉnh lý bản đồ giải thửa trên diệntích gần 7.800.000 ha của 5.000 xã ở các tỉnh phía Bắc (4) Việc thanh tra, kiểm tra, giảiquyết tranh chấp đất đai bắt đầu được quan tâm tổ chức thực hiện
Trang 18ngày 22/02/1994 và Nghị định số 34/CP ngày 23/4/1994 của Chính phủ Sau khi thành
lập Tổng cục Địa chính, các địa phương đã thành lập Sở Địa chính trực thuộc UBNDcấp tỉnh Tại cấp huyện là Phòng Địa chính trực thuộc UBND cấp huyện, tại cấp xã, cócán bộ địa chính xã
Trong thời kỳ này thời kỳ này Ngành đã đạt được một số thành tựu nổi bật như: (1)Trình Quốc hội ban hành Luật Đất đai năm 1987 và Luật Đất đai năm 1993; (2) Xâydựng bản đồ đất Việt Nam tỷ lệ 1/1.000.000, bản đồ thổ nhưỡng cấp tỉnh của các tỉnhphía nam, hoàn thành năm 1985; (3) Triển khai thí điểm phân hạng đất phục vụ thu thuếnông nghiệp ở một số xã, huyện ở các vùng sản xuất lúa, mầu, đến năm 1986 có 65%diện tích đất lúa đã được phân hạng; (4) Công tác quy hoạch sử dụng đất bắt đầu đượcchú trọng từ nghiên cứu cơ sở lý luận đến xây dựng hệ thống văn bản quy phạm và triểnkhai thực hiện trong thực tế để làm cơ sở giao đất, cho thuê đất và cho phép chuyểnmục đích sử dụng đất (5) Công tác đo đạc lập bản đồ giải thửa về cơ bản đã hoàn thànhtrong cả nước theo Chỉ thị số 299/TTg của Thủ tướng Chính phủ; (6) Ứng dụng côngnghệ định vị toàn cầu (GPS) để lập bản đồ địa chính có tọa độ được bắt đầu triển khai
từ năm 1990, đến năm 2001 đã thực hiện tổ chức xây dựng lưới cơ sở địa chính phủtrùm lãnh thổ; (7) Cả nước đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 92,0% hộ sửdụng đất nông nghiệp với diện tích đạt trên 91,0% diện tích đất nông nghiệp; đã tổ chứcđăng ký đất đai cho 2.712.490 hộ sử dụng đất đô thị, cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất cho trên 855.000 hộ chiếm 26,8% số hộ sử dụng đất đô thị; (8) Từ năm
1990, hàng năm, công tác thống kê đất đai và công tác kiểm kê đất đai (5 năm một lần)được Ngành thực hiện hiệu quả Số liệu thống kê, kiểm kê đất đai được cung cấp chocác ngành, các cấp sử dụng vào công tác quy hoạch ngành, lĩnh vực; phục vụ thu thuếnông nghiệp; (9)
Tham mưu cho Nhà nước ban hành Luật Đất đai năm 1993; việc ban hành Luật Đất đainăm 1993 đánh dấu bước phát triển quan trọng trong quản lý đất đai với việc Nhà nước
Trang 19công nhận đất có giá đã tạo nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước và thị trườngbất động sản dần hình thành và phát triển (10) Nhiều công trình nghiên cứu khoa học,chương trình, dự án quốc tế đã góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn và kinhnghiệm quốc tế cho công tác xây dựng chính sách, pháp luật đất đai và hỗ trợ đáng kểcho công tác quản lý đất đai; (11) Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tốcáo, tranh chấp về đất đai đã được Ngành quan tâm, chú trọng, phát hiện và xử lý nhiều
vi phạm, giải quyết nhiều vụ khiếu kiện liên quan đất đai, trong đó có nhiều vụ khiếukiện đông người
❖ Giai đoạn 2002 đến nay
Đến năm 2002, theo định hướng thành lập các Bộ đa ngành, Bộ Tài nguyên và Môi
trường được thành lập theo Nghị quyết số 02/2002/QH11 của Quốc hội khoá XI và Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ Ở địa phương thành lập
Sở Tài nguyên và Môi trường trên cơ sở hợp nhất Sở Địa chính, các đơn vị quản lý nhànước về tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thuỷ văn, đođạc và bản đồ
Để tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường, năm 2008,
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường Tổng cục Quản lý đấtđai được thành lập trong Bộ Tài nguyên và Môi trường nhằm tập trung các hoạt độngquản lý nhà nước về đất đai ở cấp Trung ương về một đầu mối chuyên trách
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 134/2008/QĐ-TTg và Quyết định số 25/2011/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Tổng cục Quản lý đất đai trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường Hiện nay, chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Quản lý đất đai được quy
định tại Quyết định số 02/2018/QĐ-TTg ngày 17/01/2018 của Thủ tướng chính phủ
Trang 20Về cơ cấu tổ chức bộ máy, đến nay Tổng cục Quản lý đất đai có 13 đơn vị trực thuộc,trong đó có 9 đơn vị quản lý nhà nước, 01 đơn vị nghiên cứu và 03 đơn vị sự nghiệp.Tại cấp tỉnh, nhiều địa phương đã thành lập Chi cục Quản lý đất đai thuộc Sở Tàinguyên và Môi trường Đến nay, tổ chức của Ngành ở cấp tỉnh có cơ cấu hoàn chỉnhgồm 63 Sở Tài nguyên và Môi trường với đầy đủ các phòng, ban chức năng về quản lýđất đai và các đơn vị sự nghiệp, trong đó có: Trung tâm Phát triển quỹ đất, Văn phòngĐăng ký đất đai hoạt động theo mô hình một cấp, Quỹ phát triển đất Tại cấp huyện,
cơ quan quản lý đất đai là Phòng Tài nguyên và Môi trường; tại cấp xã có công chứcđịa chính xã
Hiện tại, toàn ngành có gần 20.000 người, trong đó: Trung ương có hơn 700 công chức,viên chức và người lao động; cấp tỉnh có 2.2000 công chức, viên chức; cấp huyện có5.200 công chức, viên chức; cấp xã, phường, thị trấn có khoảng 11.000 cán bộ địachính Hiện nay, Ngành tập trung vào thực hiện 15 nhiệm vụ chính, so với thời kỳ trướcNgành được bổ sung nhiệm vụ điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giáđất; xây dựng hệ thống thông tin đất đai; kiểm soát quản lý, sử dụng đất đai
Thời kỳ này kết quả thực hiện nhiệm vụ quản lý đất đai của Ngành đã đạt được một sốthành tựu nổi bật như (1) trình Quốc hội thông qua Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đấtđai năm 2013; (2) Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ngày càng có bướctiến rõ rệt về chất lượng Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất
5 năm (2011-2015) cấp quốc gia đã được Quốc hội phê duyệt Chính phủ đã xét duyệtquy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) cho 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; (3) Ngành đã thực hiện tốt việcgiao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và chuyển mục đích
sử dụng đất Đến nay, tổng diện tích đất đã giao, đã cho thuê là khoảng 25,5 triệu ha,chiếm 71% tổng diện tích tự nhiên của cả nước; (4) Năm 2014, đánh dấu mốc quantrọng, cả nước ta cơ bản hoàn thành công tác cấp giấy chứng nhận lần đầu Cả nước đã
Trang 21cấp được hơn 41,6 triệu Giấy chứng nhận (5) Với mục tiêu quản lý đến từng thửa đấtbằng công nghệ số, từ năm 2000 đến nay, Ngành đã từng bước chuẩn hóa dữ liệu địachính và xây dựng cơ sở dữ liệu số đến từng thửa đất Đến nay một số địa phương đãxây dựng xong và vận hành cơ sở dữ liệu đất đai toàn tỉnh; (6) Hệ thống chính sách tàichính về đất đã tiếp cận và ngày càng phù hợp hơn với cơ chế kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa Nguồn thu từ đất là một trong những nguồn lực quan trọng chophát triển kinh tế - xã hội của đất nước; (7) Ngành đã thực hiện tốt chủ trương cải cáchthủ tục hành chính, đã rà soát và cắt giảm được nhiều thủ tục hành chính trong Luật Đấtđai năm 2013 và các văn bản quy định chi tiết thi hành, được dư luận xã hội đánh giácao; (8) Công tác nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh đãđóng góp cơ sở lý luận và thực tiễn, những kinh nghiệm quốc tế trong việc quản lý đấtđai; (9) Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đaitrong thời gian qua đã được Ngành tích cực thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.Các vi phạm phát hiện qua thanh tra, kiểm tra đất đai đã được xử lý và chấn chỉnh, ngănchặn các sai phạm; giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai, hướngdẫn cho các tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của phápluật
Trang 22CHƯƠNG II HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI Ở NƯỚC TA HIỆNNAY
1 Hệ thống các cơ quan quản lý đất đai ở nước ta hiện nay
1.1.Khái niệm hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai
Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai ra đời gắn liền với sự xuất hiện của một hìnhthức quản lý đất đai con người: Quản lý nhà nước về đất đai Hệ thống cơ quan này đượcNhà nước thành lập và bằng pháp luật Nhà nước quy định cơ cấu, tổ chức, chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn nhằm giúp Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ vốn đất đai trong cảnước theo quy hoạch, kế hoạch chung
Hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai là hệ thống cơ quan do Nhà nước thành lập, thống nhất từ trung ương xuống địa phương có cơ cấu, tổ chức chặt chẽ và có mối quan hệ mật thiết với nhau theo quan hệ “song trùng trực thuộc” thực hiện chức năng, nhiệm vụ giúp Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ vôn đất đai trong phạm vi cả nước và
ở mỗi địa phương theo quy hoạch, kế hoạch chung;
Hệ thống cơ quan này có đặc trưng là hệ thống cơ quan chuyên ngành được giao nhiệm vụquản lý nhà nước về đất đai Trong hoạt động, cơ quan quản lý đất đai cấp dưới chịu sự chỉđạo về chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan quản lý đất đai cấp trên; đồng thời chịu sự lãnhđạo trực tiếp, toàn diện của UBND cùng cấp Đây là tính chất song trùng trực thuộc tronghoạt động quản lý của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai
1.2 Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta
Theo quy định của Luật đất đai năm 2013, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai ởnước ta bao gồm: (1) Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai có thẩm quyền chunggồm: Chính phủ, UBND các cấp; (2) Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cóthẩm quyền riêng gồm: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường,
Trang 23Phòng Tài nguyên và Môi trường, cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn Bên cạnh đó còn
có sự tham gia của hệ thống cơ quan quyền lực vào hoạt động quản lý nhà nươc về đất đaivới vai trò đại diện cho nhân dân thực hiện chức năng giám sát
1.2.1 Hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu; Luật Đất đai 2013 xácđịnh rõ thẩm quyền của cơ quan đại diện cho nhân dân là Quốc hội và HĐND các cấp (cấptỉnh, cấp huyện, cấp xã) trong việc thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đấtđai Các cơ quan này không làm thay chức năng quản lý nhà nước về đất đai của cơ quanquản lý mà tham gia hoạt động quản lý nhà nước về đất đai với tư cách giám sát như nói ởtrên Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND các cấp trong linh vực quản lý đất đai
được thực hiện theo Khoản 1,2 Điều 21 Bộ luật này về thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu đất đai:
“1, Quốc hội ban hành luật, nghị quyết về đất đai; quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lý và sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước
2, Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện quyền thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương mình trước khi trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; thông qua bảng giá đất, việc thu hồi đất thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng của địa phương theo thẩm quyền quy định tại Luật này; giám sát việc thi hành pháp luật về đất đai tại địa phương.”
1.2.2 Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai có thẩm quyền chung
Với chức năng quản lý Nhà nước về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vựcđất đai, Chính phủ và UBND các cấp có vai trò quan trọng trong việc thực hiện nội dung
quản lý nhà nước về đất đai theo Khoản 1,3 Điều 23 Luật Đất đai 2013:
“ 1, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về đất đai trong phạm vi cả nước
Trang 243, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương theo thẩm quyền quy định tại Luật này.”
1.2.3 Hệ thống cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai
Hệ thống cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai được thành lập, thống nhất từ
TW đến địa phương theo 4 cấp đơn vị hành chính:
- Cấp trung ương: theo khoản 2 Điều 24 Luật Đất đai 2013, “Cơ quan quản lý
nhà nước về đất đai ở trung ương là Bộ Tài nguyên và Môi trường”.Đây là cơ quan
của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tài nguyên đất, nước,khoáng sản và môi trường, khí tượng thủy văn,… trong phạm vi cả nước; quản lýcác dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanhnghiệp có vốn nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên môi trường theo quy định phápluật; chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thống nhất quản lý nhà nước vềlĩnh vực đất đai (khoản 2 Điều 23 Luật đất đai 2013) Bộ Tài nguyên và Môi trườngchủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu
tổ chức của cơ quan quản lý đất đai ở địa phương và nhiêm vụ của công chức địachính xã, phường, thị trấn
- Cấp tỉnh: Theo điểm a khoản 1 Điều 4 Nghị định 43/2014/NĐ-CP “Cơ quan
quản lý đất đai ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là Sở Tài nguyên và môi trường” Đây là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, giúp UBND cấp tỉnh
thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tài nguyên, môi trường trên địabàn tỉnh theo quy định pháp luật Sở Tài nguyên và Môi trường chịu sự chỉ đạo,quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND cấp tỉnh; đồng thời chịu sự chỉ
đạo, kiểm tra chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Trang 25- Cấp huyện: Điểm b khoản 1 Điều 4 Nghị định 43/2014/NĐ-CP “ Cơ quan
quản lý đất đai ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là Phòng Tài nguyên và Môi trường” Đây là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh có chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vĩnh tài nguyên và môitrường trên địa bàn huyện theo quy định pháp luật; Phòng Tài nguyên và Môitrường chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND cấp
huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về chuyên môn của Sở TN và MT
➔ UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện có trách nhiệm xây dựng tổ chức bộ máy quản lý
đất đai tại địa phương, UBND cấp huyện bố trí công chức địa chính xã, phường, thị trấn bảo đảm thực hiện nhiệm vụ
- Cấp xã, phường, thị trấn: Theo khoản 2 Điều 25 Luật Đất đai 2013 “ Công chức địa
chính ở xã, phường, thị trấn có trách nhiệm giúp UBND cấp xã trong việc quản lýđất đai tại địa phương; đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra chuyên môn của Sở TN
& MT
1.2.4 Các tổ chức dịch vụ công trong quản lý về sử dụng đất
Tổ chức sự nghiệp công và tổ chức dịch vụ công trong lĩnh vực đất đai là những khái niệmlần đầu tiên được đề cập trong Luật đất đai 2003 Các tổ chức này ra đời nhằm phúc đápyêu cầu của công cuộc cải cách các thủ tục hành chính trong quản lý và sử dụng đất; gópphần đẩy nhanh sự hình thành thị trường bất động sản có tổ chức và làm “lành mạnh hóa”các giao dịch liên quan đến BĐS Hơn nữa, sự ra đời của tổ chức sự nghiệp công và tổchức dịch vụ công trong lĩnh vực đất đai đánh dấu sự chuyển đổi nền hành chính côngmang nặng tính chất quan liêu “cai trị, quản lý” san nền hành chính mang tính chất gầndân, tính chất “dịch vụ, phục vụ”
Trang 26Khái niệm tổ chức sự nghiệp công được Luật đất đai 2003 định nghĩa như sau: “Tổ chúc sựnghiệp công là tổ chức do các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổchức chính trị - xã hội thành lập, có chức năng thực hiện các hoạt động dịch vụ công dongân hàng nhà nước chi trả” (khoản 28 Điều 4) Tổ chức sự nghiệp công theo Luật nàygồm: Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (vp ĐKQSDĐ), Tổ chức phát triển quỹ đất và
tổ chức hoạt động dịch vụ trong quản lý, sử dụng đất đai
Theo Điều 5 Nghị định 43/2014/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Nghị định 01/2017/NĐ-CP), cácđơn vị thực hiện dịch vụ đất đai gồm: Văn phòng đăng ký đất đai và Tổ chức phát triển quỹđất
a) Văn phòng đăng ký đất đai (khoản 1 Điều 5 NĐ)
Văn phòng Đăng ký đất đai là đơn vị sự nghiệp công trực thuộc Sở Tài nguyên và Môitrường do
UBND cấp tỉnh thành lập hoặc tổ chức lại trên cơ sở hợp nhất Văn phòng đăng ký quyền
sử dụng đất trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường và các Văn phòng đăng ký quyềnSDĐ trực thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường hiện có ở địa phương, có tư cách phápnhân, có trụ sở, con dấu riêng và được mở tài khoản để hoạt động theo quy định của phápluật
Văn phòng đăng ký đất đai có chức năng thực hiện đăng ký đất đai và tải sản khác gắn liềnvới đất; xây dựng, quản lý, cập nhật, chỉnh lý thống nhất hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệuđất đai; thống kê, kiểm kê đất đai; cung cấp thông tin đất đai theo quy định cho các tổchức, cá nhân có nhu cầu;
Văn phòng đăng ký đất đai có chi nhánh tại các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai được thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạncủa Văn phòng ĐK đất đai theo quyết định của UBND cấp tỉnh; kinh phí hoạt động của
Trang 27văn phòng đăng ký đất đai thực hiện theo quy định pháp luật về tài chính đối với đơn vị sựnghiệp công lập
Trong đó, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (văn phòng ĐKQSDĐ) là cơ quan dịch vụcông có có chức năng tổ chức thực hiện đăng ký sử dụng đất và biến động về sử dụng đất,quản lý hồ sơ địa chính và giúp cơ quan Tài nguyên và Môi trường trong việc thực hiện thủtục hành chính về quản lý, sử dụng đất đai Việc văn phòng ĐKQSDĐ ra đời chính là việcNhà nước xác lập mô hình “một cửa” thực hiện cải cách các thủ tục hành chính về đất đai,giúp cho cơ quan quản lý nhà nước về đất đai giảm áp lực từ nhu cầu thực hiện các thủ tục
về đất đai từ phía người dân và xã hội
Nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng đăng ký đất đai (theo NĐ 43/2014/NĐ-CP, Thông tưliên tịch 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC)
- Thực hiện việc đăng ký đất được Nhà nước giao quản lý, đăng ký quyền SDĐ,quyền sở hữu nhà ở gắn liền với đất
- Thực hiện việc cấp lần đầu, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụngđất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất
- Thực hiện việc đnăg ký biến động đối với đất được Nhà nước giao quản lý,quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
- Lập, chỉnh lý, cập nhật, lưu trữ và quản lý hồ sơ địa chính; tiếp nhận, quản lýviệc sử dụng Giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật
- Cập nhật, chỉnh lý, đồng bộ hóa, khai thác giữ liệu đất đai, xây dựng quản lý
hệ thống thông tin đất đai theo quy định pháp luật
- Thực hiện việc thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đấtchính lý bản đồ địa chính; trích lục bản đồ địa chính