1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIÊU LUẬN PHÂN TÍCH QUAN điểm của TRIẾT học mác LÊNIN về CON NGƯỜI và bản CHẤT CON NGƯỜI ý NGHĨA lý LUẬN và THỰC TIỄN của QUAN điểm TRÊN

16 24 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà triết học cổ đại phương Đông cố gắng giải thích bản chất con người, có thể kể đến là triết học Phật giáo với nhiều quan điểm tiến bộ như phủ nhận niềm tin cho rằng thượng đế tạo

Trang 1

TIỂU LUẬN MÔN HỌC TRIẾT HỌC MARX - LENIN

Sinh viên thực hiện: Hồ Nguyên Bảo

Khoá – Hệ: 47 MSSV: 31211021613

Khoa: tài chính Chuyên ngành: Tài chính quốc tế

Lớp: DH47TE003

Mã lớp học phần: 21C1PHI51002332

Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Thanh Hà

ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH DOANH UEH KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

LKhj

ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

VỀ CON NGƯỜI VÀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI.

Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUAN ĐIỂM TRÊN.

Ngày tháng năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 0

Chương 1 Quan điểm của triết học Marx – Lenin về con người và bản chất con người 1

1 Khái niệm con người 1

Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội 1

2 Khái niệm bản chất con người 3

a Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những mối quan hệ xã hội 3

b Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử 4

Chương 2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của quan điểm triết học Marx – Lenin về con người và bản chất con người 4

1 Ý nghĩa lý luận: 4

2 Ý nghĩa thực tiễn: 5

TỔNG KẾT 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO 6

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Từ khi sinh vật có dạng giống con người xuất hiện cách ngày nay khoảng 1,8 – 1,6 triệu năm của kỷ đệ tứ thuộc Đại Tân Sinh, người hiện đại tiến hoá vào khoảng 100.000 năm trước đây và phải đến khoảng 40.000 năm trước công nguyên, nhà nước đầu tiên trên thế giới mới xuất hiện (nhà nước Ai Cập cổ đại) Nhưng không phải chờ đến thời điểm nhà nước đầu tiên xuất hiện, con người mới suy nghĩ các vấn đề triết học về con người, con người thời cộng sản nguyên thuỷ đã biết tự nhận thức bản chất con người nhưng ở một mức độ rất hạn chế, chưa đủ để hình thành các cơ sở lý luận Các nhà triết học cổ đại phương Đông cố gắng giải thích bản chất con người, có thể kể đến là triết học Phật giáo với nhiều quan điểm tiến bộ như phủ nhận niềm tin cho rằng thượng đế tạo ra con người từ các nguyên tố hay những giải thích xoay quanh chữ

“nghiệp”, tuy nhiên tựu chung lại vẫn chưa nói rõ hết định nghĩa con người và bản chất con người Trong khi các nhà triết học trung đại phương Tây đã tiến bộ hơn khi dám bác bỏ những trường phái triết học duy tâm của những nhà triết học Cơ đốc giáo

và tiếp nhận chủ nghĩa duy vật của các nhà triết học cổ đại, dẫn đến chia làm nhiều trường phái triết học, trong đó tiến bộ nhất là chủ nghĩa duy vật biện chứng của Karl Marx với quan điểm “con người là một sinh vật có tính xã hội ở trình độ cao nhất của giới tự nhiên và lịch sử xã hội, là chủ thể của lịch sử, sáng tạo nên tất cả thành tựu của văn minh và văn hóa” Marx đã kế thừa và phê phán nhiều quan điểm thời bấy giờ để rút ra các kết luận về con người và bản chất con người, những đại diện xuất sắc đó là Charles Darwin với thuyết tiến hoá (nguồn gốc các loài), Ludwig Andreas Feuerbach

và Georg Wilhelm Friedrich Hegel là hai trường phái đối lập nhau (duy vật siêu hình

và duy tâm biện chứng) Marx đã sàng lọc và kế thừa có chủ ý để tìm ra phương pháp

0

Trang 4

luận mang tính khoa học khách quan nhất, nhờ có sự xác quyết quan điểm về con người và bản chất con người của Marx mà những tranh cãi trong chủ đề này đã đi đến hồi kết vì sự thật của khoa học biện chứng không thể chối cãi

Xin gửi lời cảm ơn đến cô Nguyễn Thị Thanh Hà và bài giảng của cô đã truyền đạt cho em một cách đầy đủ và súc tích những cơ sở quan trọng trong Triết học Mác – Lênin Cô cũng đã nhiệt tình hướng dẫn em viết bài tiểu luận cuối kì

Em xin chân thành cảm ơn ạ!

Trang 5

Chương 1 Quan điểm của triết học Marx – Lenin về con người và bản chất con người.

Trên thế giới, có thể nói có hai cái nôi của hai nền văn hoá nằm ở hai hướng đối nhau đó là Trung Quốc, Ấn Độ - cái nôi nền văn hoá phương Đông và Hy Lạp với thành phố dân chủ sơ khai Athena là cái nôi văn minh của văn hoá phương Tây Tuỳ theo giai đoạn lịch sử và điều kiện cụ thể của mỗi thời đại mà nổi lên những vấn đề khác nhau mà các trường phái triết học, các nhà triết học có những phát hiện và đóng góp khác nhau cho việc lý giải định nghĩa con người và bản chất con người bằng những phương pháp luận như duy vật, duy tâm, siêu hình hay biện chứng Nhưng nhìn chung cả hai nền văn hoá đều có những quan niệm riêng về con người và bản chất con người và có nhiều điểm khác biệt trong cách lựa chọn giác độ để làm tham chiếu cho việc định nghĩa con người trong hai nền văn hoá

Theo nhận xét của cố giáo sư Lương Kim Định (1973) thì nền văn hoá phương Đông có đặc điểm là tĩnh, ít có xu hướng dịch chuyển nhiều, trong khi nền văn hoá phương Tây thì động, đặc điểm chính là triệt tiêu Vậy nên không khó hiểu là về mặt khoa học kĩ thuật và công nghệ của phương Tây lại tiến nhanh hơn phương Đông, nguyên nhân vì ngay từ ban đầu, nền triết học phương Tây luôn cố gắng định nghĩa thế giới quan một cách logic và chặt chẽ nhất, thêm nữa là triết lý của nó không yêu cầu sự thống nhất như những giáo lý của những tôn giáo phương Đông Trong nền triết học phương Tây, việc coi phủ định như là một sự phát triển là điều hiển nhiên, các cuộc tranh luận liên tục diễn ra giữa các nhà triết học phương Tây trong suốt chiều dài lịch

sử của nó

1

Trang 6

Nhờ ở trong môi trường có tính tranh luận phản biện cao mà Marx đã lãnh hội và sàng lọc có chủ ý những quan điểm triết học tiến bộ để từ đó đưa ra cách lý giải khoa học và thuyết phục nhất cho nhân sinh, xã hội cũng như những phương pháp hiện thực nhằm giải phóng con người Phương pháp luận khoa học biện chứng của Marx đã khắc phục những hạn chế mang tính phiến diện của các quan điểm triết học trước Marx Theo Marx thì con người là một thực thể trong sự thống nhất biện chứng giữa cái tự nhiên và cái xã hội Con người sinh ra từ tự nhiên, tuân theo các quy luật tự nhiên, đồng thời con người tồn tại và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội Song song với đó, các bản chất con người cũng đã hình thành trong sự phát triển của con người

1 Khái niệm con người

Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội.

- Con người là một thực thể tự nhiên: Tiền đề đầu tiên quy định sự hình

thành, tồn tại và phát triển của con người là giới tự nhiên do đó con người có những bản tính tự nhiên và việc nghiên cứu, khám phá khoa học về cấu tạo tự nhiên của con người là cơ sở đúng đắn cho các phương pháp luận duy vật Bản tính tự nhiên của con người được phân chia làm hai giác độ sau:

Thứ nhất: Con người là kết quả của quá trình tiến hoá và phát triển lâu dài từ một

gốc ban đầu trong sinh giới bắt nguồn từ sự kết hợp của các phân tử sinh học sơ khai nhất, điều này đã được Darwin chứng minh trong cuốn “Nguồn gốc các loài” xuất bản

Trang 7

năm 1859 Giống như những loài vật khác, con người cũng có những đặc điểm sinh học riêng biệt đặc trưng cho tính loài và cũng có những nhu cầu sinh học (ăn uống, nghỉ ngơi, hoạt động, sinh lý…) cho nên có thể nói con người là một loài sinh vật với đầy đủ các bản tính của sinh vật và loài của nó theo cơ sở khoa học tự nhiên và chủ nghĩa duy vật

Thứ hai, con người là một bộ phận của giới tự nhiên và đồng thời giới tự nhiên

cũng là “thân thể vô cơ của con người”, do đó giới tự nhiên và con người như là các cơ quan trao đổi vật chất Những biến đổi và tác động, quy luật của giới tự nhiên trực tiếp hoặc gián tiếp quy định sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội loài người; ngược lại, sự biến đổi và hoạt động của con người luôn tác động trở lại môi trường tự nhiên, làm biến đổi môi trường đó Đây là mối quan hệ biện chứng giữa sự tồn tại của con người và các tồn tại khác của giới tự nhiên

- Con người là một thực thể xã hội: Nếu không có mặt xã hội thì con

người không khác những loài sinh vật khác, tức chỉ có mặt tự nhiên chứ không có mặt

xã hội Mặt tự nhiên là “nền” cho mặt xã hội của con người và mặt xã hội nâng mặt tự nhiên của con người lên trên động vật Theo Marx, xã hội con người có điểm nổi bật hơn hẳn và phân biệt với động vật là con người lao động và sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình Thông qua hoạt động sản xuất vật chất; con người đã làm thay đổi, cải biến giới tự nhiên: “Con vật chỉ sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên” 1

1 Sđd, t.42, tr 137.

3

Trang 8

Nhờ lao động và sản xuất, con người phát triển tư duy, ngôn ngữ, mục đích hoạt động, cải tạo tự nhiên, xác lập quan hệ xã hội; đồng thời hình thành bản chất xã hội và nhân cách của con người Vì vậy con người không chỉ có nguồn gốc tự nhiên mà cũng

có nguồn gốc xã hội mà trước hết và cơ bản nhất là nhân tố lao động

Tiếp đó nhờ lao động mà con người thay đổi xã hội theo những chiều hướng cụ thể và xã hội ảnh hưởng trở lại sự phát triển của con người qua các nhân tố và quy luật

xã hội Xã hội biến đổi thì mỗi con người cũng có sự thay đổi tương ứng

Do đó có thể kết luận các nhân tố, quy luật xã hội làm phát triển con người và con người là tiền đề xã hội phát triển

Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển của con người luôn bị chia phối bởi ba hệ thống quy luật khác nhau nhưng thống nhất với nhau: hệ thống quy luật tự nhiên (quy định phương diện sinh học), hệ thống quy luật tâm lý ý thức (hình thành và vận động trên nền tảng sinh học của con người) và hệ thống quy luật xã hội (quy định quan hệ xã hội giữa người với người) Ba hệ thống này cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh trong đời sống con người bao gồm mặt sinh vật và mặt xã hội, là cơ sở hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học và xã hội của con người

Theo phép duy vật biện chứng, con người là một chỉnh thể thống nhất giữa các mặt tự nhiên và mặt xã hội cũng trong mỗi con người là thống nhất Hai mặt này thống nhất với nhau và là tiền đề của nhau, trong đó mặt tự nhiên quyết định sự tồn tại của người, mặt xã hội quyết định bản chất con người và là cơ sở để phân biệt con người với loài vật

Trang 9

2 Khái niệm bản chất con người.

Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ thừa nhận bản tính tự nhiên của con người mà còn lý giải con người từ giác độ các quan hệ xã hội, lịch sử, từ đó phát hiện

ra bản chất xã hội của con người Hơn nữa, bản chất xã hội của con người là phương diện bản chất nhất, gắn chặt với từng hoàn cảnh lịch sử và thời đại

a Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những mối quan hệ xã hội.

Điều khiến con người trở thành loài cao cấp nhất, vượt hẳn các loài sinh vật khác

là ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người Cả ba mối quan hệ đó, tận suy đều mang tính xã hội như

trong luận cương về Feuerbach, Karl Marx đã khẳng định: “Bản chất con người không

phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” 2 Khi nói về bản chất con người

là tổng hoà các mối quan hệ xã hội thì điều này có nghĩa:

 Bản chất con người được quy định bởi tất cả các mối quan hệ xã hội (như quan

hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế, đạo đức, tôn giáo; quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội,…), tức bị quy định giữa mối quan hệ giữa người với người Mối quan hệ này là bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người

 Cái bản chất không phải là cái duy nhất mà chỉ là cái chung nhất, sâu sắc nhất,

do đó, trong khi nhấn mạnh bản chất xã hội của con người không thể tách rời cái sinh

2 Sđd, t.3, tr 11.

5

Trang 10

học trong con người mà cần phải thấy được các biểu hiện riêng biệt, phong phú và đa dạng của mỗi cá nhân về phong cách, nhu cầu và lợi ích trong cộng đồng xã hội

 Bản chất con người không trừu tượng hay thoát ly khỏi những điều kiện lịch sử

cụ thể, một thời đại nhất định, mà thực chất vừa mang tính lịch sử vừa mang tính thời đại Trong mỗi hoàn cảnh lịch sử, thời đại cụ thể có những yếu tố văn hoá, kinh tế, hoàn cảnh, giai cấp, quan hệ chính trị, quan hệ cá nhân, quan hệ giai cấp, dân tộc,… khác nhau mà con người bộc lộ bản chất xã hội tương ứng với từng giai đoạn lịch sử

xã hội, thời đại đó Vậy nên bản chất con người không phải là cố định, bất biến sau khi xuất hiện mà nó là một quá trình luôn biến đổi theo sự biến đổi của các quan hệ xã hội

mà con người gia nhập vào đồng thời bản chất con người luôn chịu kết quả và kế thừa

sự biến đổi trong tiến trình lịch sử

Luận đề “bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội” của Marx không phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người mà là nhấn mạnh sự khác biệt của con người và các loài sinh vật khác, đồng thời chỉ ra việc thực hiện những nhu cầu sinh học ở con người cũng mang tính xã hội Như vậy có thể hiểu con người là một thực thể tự nhiên, mang đặc tính xã hội

b Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử.

Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người

Vì vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài Qua hoạt động thực tiễn, con người tác động và cải biến tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của xã hội Trong quá trình cải biến theo nhu cầu sinh tồn và phát triển, con người cũng làm

ra lịch sử của mình Do đó theo quan điểm duy vật biện chứng về bản chất xã hội của

Trang 11

con người thì con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch

sử của chính bản thân con người

Như vậy không có con người phi lịch sử mà trái lại, con người sống, hoạt động trong một xã hội nhất định, một thời đại cụ thể, trong những điều kiện lịch sử xác định, nghĩa là những con người cùng với xã hội của mình hoạt động thực tiễn, thông qua hoạt động thực tiễn tác động vào giới tự nhiên, sinh hoạt xã hội, phát triển ý thức Trên thực tế, con người lại là những con người ở những thời đại khác nhau, các dân tộc khác nhau, các giai cấp, các nhóm xã hội khác nhau; nên trong họ, cái tự nhiên tồn tại trong sự tác động của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau

Chương 2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của quan điểm triết học Marx – Lenin về con người và bản chất con người.

Sau khi đã nắm rõ các khái niệm và quan niệm triết học của Marx – Lenin về con người và bản chất con người, điều quan trọng tiếp theo là ý nghĩa luận và thực tiễn áp dụng Ngoài cái chung mà loài người có, mỗi cá nhân con người lại có một nét riêng biệt tạo nên sự khác biệt và phong phú trong xã hội loài người Điều này cũng đúng nếu xét trên khía cạnh từng dân tộc, mỗi dân tộc có những đặc điểm riêng với hoàn cảnh lịch sử, thời đại khác nhau nên việc áp dụng quan niệm triết học của Marx – Lenin về con người và bản chất con người cũng không thể giống nhau với các dân tộc, quốc gia trên thế giới

7

Trang 12

1 Ý nghĩa lý luận:

Quan điểm của chủ nghĩa Marx – Lenin về con người và bản chất con người là

cơ sở phương pháp luận cho mọi hoạt động của con người Nó được biểu hiện qua hai giác độ sau:

Về nhận thức, con người cần được đánh giá theo hai phương diện là phương diện bản tính sinh học và phương diện bản tính xã hội, trong đó phài coi trọng phương diện bản tính xã hội vì như Marx đã khẳng định rằng ngay cả những nhu cầu tự nhiên của con người cũng mang tính xã hội Cần lưu ý là trong việc xây dựng thái độ sống không những biết tính đến nhu cầu sinh học mà cũng phải coi trọng rèn luyện phẩm chất xã hội, tránh rơi vào trường hợp có thái độ sống chạy theo nhu cầu bản năng tầm thường

Bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội, do đó cần chú trọng xây dựng môi trường xã hội tốt đẹp cũng như môi trường tự nhiên ngày càng mang tính người nhiều hơn nhằm xây dựng, phát triển những con người tốt đẹp, hoàn thiện Thêm vào đó, phải luôn chú ý giải quyết đúng đắn mối quan hệ xã hội – cá nhân trong hoạt động nhận thức, tránh các khuynh hướng đề cao quá mức cá nhân hoặc xã hội

2 Ý nghĩa thực tiễn:

Với đặc điểm linh hoạt sáng tạo, chủ nghĩa Marx – Lenin đã được vận dụng sao cho phù hợp trong từng hoàn cảnh, điều kiện lịch sử thời đại tại nước ta Đặc biệt, quan điểm của triết học Marx – Lenin về con người và bản chất con người và tư tưởng

Hồ Chí Minh được đảng ta quán triệt và vận dụng trong thời kỳ đổi mới đất nước

Ngày đăng: 02/04/2022, 17:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w