Dựa vào nguồn dữ liệu từ một số nghiên cứu do Viện Xã hội học tiến hành ở Yên Thường từ năm 2000 đến năm 2008, chúng tôi cố gắng đưa ra các dẫn chứng minh họa sự khác biệt về cơ hội tiếp
Trang 1Công bằng xã hội với các cơ hội phát triển của các nhóm dân cư ở một xã đồng bằng sông Hồng
hiện nay
Trang 2Học sinh Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội trên đường đi học
1 Đặt vấn đề
Trong bản báo cáo phát triển thế giới 2006 với tiêu đề “Công bằng và phát triển” của Ngân hàng Thế giới có đề cập đến sự bất bình đẳng của hai trẻ em cùng sinh một ngày tại một vùng nông thôn thuộc tỉnh Đông Cape (Nam Phi) Nthabiseng sinh ra trong một gia đình nghèo, mẹ cô bé không được đi học chính thức Còn Pieter sinh ra trong một gia đình giàu có, mẹ của cậu tốt nghiệp cao đẳng tại một trường Đại học gần đó Khi chúng mới ra đời, Nthabiseng và Pieter chẳng phải chịu trách nhiệm gì về hoàn cảnh gia đình của mình (…) Nhưng số liệu thống kê thì vẫn coi những biến số định trước về lý lịch đó sẽ tạo ra những khác biệt lớn trong cuộc sống sau này của chúng Mặc dù sinh ra ở cùng thời gian và trong không gian như nhauN, nhưng Nthabiseng và Pieter có cơ hội khác nhau trong cuộc sống Nthabiseng có nguy
cơ tử vong trước khi tròn một tuổi cao hơn gấp đôi Pieter Pieter
có thể dự kiến sống được 68 năm, còn Nthabiseng thì chỉ sống đến 50 tuổi Pieter có thể học hết 12 năm phổ thông, còn
Nthabiseng chỉ được đi học chưa đầy 1 năm Nthabiseng nghèo hơn Pieter rất nhiều Lớn lên, cô rất ít cơ hội được tiếp cận nước sạch và điều kiện vệ sinh, hoặc được học ở những trường tốt Vì thế, cơ hội dành cho hai đứa trẻ này để chúng có thể phát huy được hết tiềm năng con người mình ngay từ đầu đã khác nhau rất lớn - mặc dù chúng chẳng có lỗi gì trong chuyện đó Những sự
Trang 3khác biệt về cơ hội sẽ dẫn đến khả năng đóng góp của chúng rất khác nhau cho sự phát triển của Nam Phi Sức khỏe ngay từ khi sinh ra của Nthabiseng có thể kém hơn, do mẹ của cô không đủ dinh dưỡng lúc mang thai Ngay cả khi 25 tuổi và dẫu có nhiều
cơ hội giúp Nthabiseng nảy ra một ý tưởng kinh doanh lớn
(chẳng hạn như một sáng kiến làm tăng mức sản xuất nông
nghiệp) thì cô vẫn thấy rất khó khăn khi muốn thuyết phục ngân hàng cho mình vay tiền với lãi suất phải chăng Pieter cũng có một ý tưởng độc đáo tương tự (chẳng hạn như làm thế nào để thiết kế ra một phiên bản phần mềm đầy triển vọng) lại thấy dễ tiếp cận tín dụng hơn nhiều, nhờ có một bằng tốt nghiệp đại học
và một tài sản nào đó dùng để thế chấp (1)
Dẫn chứng trên cho thấy rõ thân phận xã hội và các cơ hội phát triển khác nhau của hai em bé sống ở vùng nông thôn thuộc Nam Phi Mặc dù hai em chào đời vào cùng thời điểm và chung một không gian xã hội, nhưng cơ hội tiếp cận trường học, dịch vụ y
tế, vay vốn ngân hàng để phát triển kinh tế là không như nhau Vậy, sự khác biệt các cơ hội phát triển có diễn ra đối với các cá nhân và nhóm dân cư ở Việt Nam những năm sau đổi mới?
Dựa vào nguồn dữ liệu từ một số nghiên cứu do Viện Xã hội học tiến hành ở Yên Thường từ năm 2000 đến năm 2008, chúng tôi
cố gắng đưa ra các dẫn chứng minh họa sự khác biệt về cơ hội tiếp cận giáo dục, chăm sóc sức khỏe, vay vốn ngân hàng phát triển kinh tế của cá nhân và các nhóm xã hội ở một xã nông nghiệp thuộc đồng bằng sông Hồng những năm gần đây
Trang 42 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
Xã Yên Thường thuộc huyện Gia Lâm (Hà Nội), có tổng số dân
là 15.000 dân Tổng số hộ là 3.942 hộ Diện tích đất tự nhiên là
862 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 565 ha Xã có 10 thôn, trong đó có 9 thôn vốn là những làng cổ và một thôn mới hình thành (từ năm 1995) 9 thôn là làng cổ có đầy đủ đình, chùa
và phong tục lễ hội riêng của mỗi làng Yên Thường cách trung tâm Hà Nội 15 km về phía Bắc, nơi chịu tác động mạnh mẽ của quá trình đô thị hoá, công nghiệp hóa và là điểm giáp ranh với nhiều làng nghề vùng Kinh Bắc: Ninh Hiệp, Đồng Kỵ, Đa Hội, Đình Bảng (2)
Với lợi thế địa lý “cận lộ, cận thị”, đồng thời là cửa ngõ thủ đô
Hà Nội, Yên Thường có hai tuyến đường quốc gia chạy qua: Quốc lộ 1A, đoạn đường từ Hà Nội xuyên qua địa phận xã đi Bắc Ninh, Bắc Giang và đến biên giới Lạng Sơn Quốc lộ 3 từ cầu Đuống chạy qua đường vành đai xã về phía Thái Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc Song song với tuyến đường bộ, hai tuyến đường sắt quốc gia cũng đi qua địa bàn xã Có thể nói, hệ thống giao thông này đã tạo điều kiện cho các hộ gia đình trong xã phát triển sản xuất - kinh doanh và giao lưu kinh tế, xã hội với các địa phương khác trong cả nước Yên Thường gần khu công nghiệp Yên Viên, nơi tiếp nhận khá đông nhân lực lao động của xã vào học nghề và làm công nhân viên Nằm kề sát các làng nghề vùng Kinh Bắc đã giúp Yên Thường quan hệ và tìm kiếm việc làm cho
số đông lao động nông nhàn của xã làm việc liên tục hay định kỳ
Trang 5Như vậy, những điều kiện trên đã tạo cơ hội thuận lợi cho Yên Thường phát triển kinh tế và giao lưu với các vùng trong cả nước
3 Công bằng xã hội với các cơ hội phát triển của các nhóm dân cư
3.1 Cơ hội phát triển con người: tiếp cận giáo dục và chóm sóc sức khỏe
Tiếp cận giáo dục
Sau hai mươi năm đổi mới, kinh tế - xã hội Yên Thường đã có nhiều thay đổi Khi đời sống kinh tế được cải thiện thì vấn đề học hành của con cái cũng trở thành mối quan tâm hàng đầu của
nhiều gia đình Báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội xã Yên Thường năm 2007 cho thấy, tỷ lệ học sinh đỗ cấp III, Cao đẳng và Đại học đã tăng lên đáng kể Hiện tượng học sinh bỏ học giữa cấp 2 như nhiều năm trước không còn nữa Đa số gia đình đều mong muốn cho con cái theo học ở các bậc học cao Tuy nhiên, cuộc sống mưu sinh, điều kiện kinh tế và vấn đề chi phí học hành hiện nay có liên quan đến cơ hội tiếp cận trường học của trẻ em các hộ gia đình
Quan sát cho thấy, nhóm hộ mức sống khá giả và giàu đều có điều kiện đầu tư tối đa thời gian và tiền bạc cho con cái học hành Trẻ em hiếm khi phải tham gia giúp đỡ công việc sản xuất của gia đình; hơn nữa các em còn được cha mẹ đưa đón đến trường học hàng ngày Ngoài những buổi học chính ở trường, các em còn được gửi tới các thầy cô giáo giỏi kèm cặp học ngoài giờ Các em có đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập, kể cả máy vi tính
Trang 6Với sự quan tâm và đầu tư của gia đình, các em hoàn toàn có khả năng theo học các cấp học cao hơn, kể cả vào bậc đại học Trong khi đó, nhóm hộ mức sống nghèo, trung bình, sự đầu tư về thời gian và tiền bạc cho học tập của con cái hạn chế hơn so với hai nhóm trên Đặc biệt là hộ nghèo, trẻ em thường phải tham gia giúp đỡ cha mẹ làm công việc sản xuất và nội trợ trong gia đình Hàng ngày do phải chú ý đến cuộc sống mưu sinh, cha mẹ ít khi đưa đón các em đến trường, và các em không được học thêm như các nhóm bạn khác Sách vở, trang thiết bị và đồ dùng học tập luôn trong tình trạng thiếu thốn Con đường học tập của các em, nếu cố gắng có thể theo đến cấp 3, còn việc tiếp cận đến các cấp học cao hơn trở lên rất khó khăn
Kết quả nghiên cứu tại Yên Thường năm 2007 cũng cho thấy, chỉ những hộ thuộc nhóm có mức thu nhập từ trung bình trở lên mới
đề cập nhiều đến thông tin về khoản chi phí giáo dục Nhóm hộ nghèo thì khoản chi tiêu giáo dục hầu như không được kể đến Mặc dù con cái vẫn đang ở tuổi học, song vì điều kiện kinh tế, nên cha mẹ buộc phải cho con nghỉ học sớm, tham gia lao động
hỗ trợ gia đình Các con số dưới đây sẽ giúp chúng ta hình dung những khó khăn của họ
- Tiểu học: Học phí 240.000đ (cả tiền ăn trưa và học phí); học thêm (2 môn)* 240.000đ/tháng; Hội phụ huynh học sinh
50.000đ/năm, Bảo hiểm thân thể: 100.000đ/năm
- Trung học cơ sở: Học phí 90.000đ/tháng, học thêm
Trang 740.000đ/tháng (3 môn toán, văn, ngoại ngữ), Tiền xây dựng trường 25.000đ, Hội phụ huynh học sinh 30.000đ/năm, Bảo hiểm
y tế 100.000đ/năm, Bảo hiểm thân thể 90.000đ/năm
- Phổ thông trung học: Học phí 35.000đ/tháng, cộng thêm
30.000đ/tháng thu tăng cường, Xây dựng trường 50.000đ/năm, Quỹ hội phụ huynh 50.000đ/năm, Quỹ hội cha mẹ của lớp
50.000đ tiền hồ sơ 50.000đ/năm, Xây dựng nhà thể chất
50.000đ/năm, tiền bảo trì máy tính của trường 10.000đ/tháng, tiền học thêm các môn chính 200.000đ/tháng
- Học Cao đẳng, đại học: Học phí 250.000đ/1tháng, thuê nhà trọ: 250.000 đ/tháng, tiền ăn 1.000.000đ/tháng
Với mức chi trên, các hộ thuộc nhóm nghèo có thu nhập bình quân đầu người trên 3 triệu /năm thì việc cho con cái theo học ở cấp I, II là một vấn đề khó khăn Nếu hộ có 6 sào ruộng, năng suất một vụ 1, 7 t ạ/sào, họ thu được trên 1 tấn thóc /năm và khoản chi phí giáo dục chiếm từ 40 đến 50% tổng thu bằng thóc của hộ gia đình Từ cấp phổ thông trung học trở lên, chi phí học chính thức chưa nhiều hơn cấp phổ thông cơ sở Nhưng để theo kịp chương trình và thi đỗ vào đại học, chi phí học thêm thường gấp đôi, nên chỉ những hộ có thu nhập từ loại khá trở lên mới có thể kham nổi Và nếu muốn con cái học nghề để thoát ly hay học đại học, thì thu nhập của một gia đình phải đạt từ
40.000.000đ/năm (3)
Như vậy, thực tế và khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em trong các nhóm hộ dân cư Yên Thường hiện nay là rất khác nhau Mặc
Trang 8dù trong những năm qua, chính sách giáo dục của Nhà nước đã
có nhiều hỗ trợ và ưu tiên cho các nhóm xã hội yếu thế, đặc biệt
là gia đình nghèo, nhưng thực tế con cái của một số nhóm hộ nông dân này vẫn không thể tiếp cận tốt đến hệ thống giáo dục
Rõ ràng là, với điều kiện và ưu thế xã hội thì nhóm hộ gia đình mức sống khá giả, giàu đang tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ em tiếp cận giáo dục, trong khi nhóm hộ trung bình, đặc biệt là hộ nghèo, thì trẻ em không có điều kiện học tập tốt nhất; hơn nữa, khả năng tiếp cận học tập ở bậc học cao là rất khó, nhất là trong bối cảnh chi phí học hành ngày một tăng cao như hiện nay
Chăm sóc sức khỏe: ăn uống và khám chữa bệnh
Hiện nay các khác biệt liên quan đến chăm sóc sức khỏe, cụ thể
là cơ hội tiếp cận nguồn thực phẩm và các loại hình dịch vụ chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh đang có sự phân cấp ngày càng mạnh giữa các nhóm dân cư ở Yên Thường Nghiên cứu năm
2007 ở Yên Thường cho thấy, có sự khác biệt đáng kể trong chi tiêu ăn uống giữa các nhóm hộ gia đình Chỉ số chi tiêu thấp nhất
là trên 3.000đ/người /ngày tới chỉ số cao nhất là trên
30.000đ/người /ngày Nhóm hộ gia đình có nguồn thu nhập thấp
có mức chi tiêu kém nhất, chỉ số chi bình quân ngày mỗi người là khoảng 3.000đ, chi cho cả gia đình một ngày chỉ từ 12.000đ đến 15.000đ Họ chỉ dám mua bìa đậu, cùng lắm là vài lạng cá khô cho bữa ăn Thịt, cá thì thỉnh thoảng mới có tiền mua và cũng chỉ dám dùng thực phẩm loại 2 Nhóm hộ trung bình, mức chi cho ăn uống hàng ngày có chỉ số từ 7.000đ đến 10.000đ/ người /ngày
Trang 9Mặc dù kinh tế không còn khó khăn nhưng thịt, cá vẫn chưa thể
là món thường xuyên trong bữa ăn hàng ngày của họ Nhóm hộ gia đình khá giả có chỉ số chi tiêu cao nhất khoảng 30.000đ người /ngày và thịt, cá trở thành món ăn bình thường đối với họ Ba chỉ
số trên thể hiện ba mức ăn uống cơ bản Một là mức ăn mới đảm bảo phần lương thực hay chất bột, trong khi thực phẩm có chất dinh dưỡng mới dừng lại ở mức thỉnh thoảng Hai là mức ăn vừa bảo đảm phần lương thực, vừa bảo đảm nhu cầu về chất đạm, chất béo Ba là mức ăn uống vừa đầy đủ dinh dưỡng vừa phong phú về hương vị, có thể thoả mãn nhu cầu ẩm thực của con người (4)
Việc mở rộng và nâng cấp hệ thống chăm sóc sức khỏe cho người dân, bao gồm bệnh viện của Nhà nước và cơ sở khám chữa bệnh
tư nhân ở Yên Thường và các khu vực lân cận đã tạo nhiều cơ hội cho người dân đến kiểm tra sức khỏe và điều trị bệnh tật Tuy nhiên, cơ chế khám, điều trị bệnh hiện nay đang có nhiều ảnh hưởng tới thái độ và hành vi khám chữa bệnh, hay nói cách khác
là ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khoẻ của các nhóm xã hội Quan sát cho thấy hành vi chăm sóc sức khỏe của các nhóm xã hội ở Yên Thường là hoàn toàn khác nhau, chủ yếu xuất phát từ điều kiện kinh tế và khả năng chi trả của mỗi
hộ gia đình Nhóm hộ khá giả và giàu quan tâm nhiều đến việc chăm sóc sức khỏe, họ thường đi kiểm tra sức khỏe định kỳ Nếu
bị bệnh, họ có khả năng đến thẳng tuyến bệnh viện cấp trung ương để điều trị, mua được và sử dụng các loại thuốc đặc trị; hơn
Trang 10nữa, họ còn có điều kiện mua sắm dụng cụ y tế như tủ thuốc gia đình, máy đo tim, huyết áp, máy xoa bóp hỗ trợ sức khỏe Trong khi đó, nhóm trung bình và nghèo ít quan tâm đến sức khỏe, nhóm nghèo - mặc dù được hỗ trợ thẻ khám bệnh miễn phí - nhưng họ không đi kiểm tra sức khỏe định kỳ và chỉ đến cơ sở y
tế khi bệnh đã ở giai đoạn cuối Họ thường mua thuốc tự điều trị,
ít khả năng tiếp cận các bệnh viện cấp trung ương, mua các loại thuốc đặc trị đắt tiền.*
Khi tìm hiểu về vấn đề chi tiêu cho khám chữa bệnh của hộ gia đình, kết quả nghiên cứu năm 2007 cũng cho thấy nhiều khác biệt trong hành vi khám chữa bệnh Điều ngạc nhiên, chỉ các hộ
nghèo có mức thu nhập thấp và một số hộ có mức thu nhập trung bình mới nắm được là năm qua họ phải chi tiêu cho việc mua thuốc điều trị bệnh cho bản thân hay thành viên của gia đình Trong khi đó, nhóm hộ kinh tế khá và giàu thường nhắc đến
khoản chi tiêu mua thuốc thuốc bổ (đa số là cắt thuốc Bắc) và các khoản chi cho việc đi khám kiểm tra sức khỏe định kỳ Phải
chăng, chỉ ở những hộ nghèo thì tình trạng sức khoẻ mới yếu và bệnh tật là điều không thể tránh khỏi Còn những hộ gia đình khá giả, điều kiện sản xuất và điều kiện sống đã khác, có kinh tế nên việc chăm sóc sức khoẻ và phòng bệnh cho bản thân đã được quan tâm hơn nên hạn chế ốm đau, bệnh tật?(5)
Như vậy, các dẫn chứng trên tiếp tục cho thấy sự thay đổi đời sống ở Yên Thường, với việc cải thiện chất lượng bữa ăn hàng ngày và sự mở rộng hệ thống y tế đã tạo điều kiện tốt cho người
Trang 11dân nâng cao chất lượng cuộc sống, thay đổi hành vi chăm sóc sức khỏe khám chữa bệnh Nhưng thực tế cho thấy, việc đón nhận những thay đổi có khác biệt giữa các nhóm xã hội Nhóm
hộ kinh tế khá và giàu không chỉ đã cải thiện tốt bữa ăn, mà hơn thế họ có nhiều khả năng tiếp cận hệ thống chăm sóc sức khỏe với chất lượng cao Trong khi đó nhóm hộ có mức sống trung bình, đặc biệt là hộ nghèo thì thực đơn bưa ăn chưa được cải thiện nhiều, việc tiếp cận đến hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng cao vẫn còn hạn chế
3.2 Cơ hội phát triển sản xuất và vay vốn phát triển sản xuất
Sự chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường đã tạo điều kiện cho cộng đồng nông thôn Yên Thường phát triển kinh tế Cơ chế, chính sách mới không chỉ tạo ra môi trường phát triển đa dạng, mà còn tạo cơ hội bình đẳng cho cá nhân, hộ gia đình trong phát triển kinh tế Trong những năm qua, các cá nhân, nhóm hộ đều hưởng một cơ chế chính sách xã hội như nhau, nhưng thực tiễn cho thấy, khả năng tiếp cận cơ hội phát triển kinh tế của cá nhân và các nhóm xã hội hoàn toàn khác nhau Lý do của khác biệt này được nhiều nghiên cứu nhìn nhận
là do các khác biệt trình độ học vấn, vốn, quan hệ xã hội (6) v.v Kết quả nghiên cứu ở Yên Thường năm 2002 cũng cho thấy rất
rõ năng lực và khả năng tiếp cận cơ hội phát triển kinh tế của các nhóm hộ: Hộ gia đình có quy mô sản xuất lớn: Số hộ gia đình được xếp vào nhóm có quy mô sản xuất lớn chiếm trên 10% tại
xã Yên Thường Đây là nhóm chủ hộ có học vấn cao, biết tính