Như vậy, nghiệp vụ thị trường mở vừa là nghiệp vụ của thị trường, nhưng lại vừa là công cụ của NHTW để thực thi chính sách tiền tệ, mang lại hiệu quả cao và hiện đang được các nước trên
Trang 1MỤC LỤC
OMO : Open Market Operations – Thị trường mở.
NHNN: Ngân hàng Nhà nước.
NHTW : Ngân hàng Trung ương.
NHTM: Ngân hàng thương mại.
GTCG : Giấy tờ có giá.
TPKB : Tín phiếu Kho bạc.
Trang 2DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, BẢNG BIỂU
CHƯƠNG I
Sơ đồ 1.1 Cơ chế tác động của OMO tới dự trữ ngân hàng 4
Sơ đồ 1.2 Cơ chế tác động của OMO qua lãi suất 5
CHƯƠNG IIBảng 2.1 Tình hình hoạt động nghiệp vụ thị trường mở 6 tháng
đầu năm 2011 23
Biểu đồ 2.1 Doanh số giao dịch trên thị trường mở từ 2006 - 2012 18 Biểu đồ 2.2 Diễn biến lãi suất OMO 22 Biểu đồ 2.3 Lượng tiền NHNN hút ròng 9 tuần liên tục 4/5
đến hết 1/7 /2011 24
Biểu đồ 2.4 Lãi suất và khối lượng giao dịch trong năm 2011 24 Biểu đồ 2.5 Khối lượng bơm/hút trên thị trường mở trong năm 2012 26
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
፠፠፠፠፠፠፠
Những năm sau này nền kinh tế nước ta chuyển mạnh từ kế hoạch hóa sang cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước Sự đổi mới kinh tế đòi hỏi phải nhanh chóng tiếp cận những lý luận và thực tiễn quản lý kinh tế của các nước tiên tiến trên thế giới Hiện nay với nền kinh tế thị trường đang phát triển thì công cụ thị trường
mở được coi là một công cụ linh hoạt và hiệu quả nhất trong việc điều hành chính sách tiền tệ
Sự phát triển của thị trường tài chính nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng đã tạo điều kiện cho ngân hàng Trung ương các nước có thể điều hành chính sách tiền tệ của mình một cách chủ động hơn, đáp ứng sự vận động ngày càng nhanh chóng của luồng vốn lưu chuyển trong nền kinh tế Nghiệp vụ thị trường mở có thể điều tiết các mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ: nó là nhân tố đầu tiên có thể làm thay đổi lãi suất hoặc cơ sở tiền tệ Nguồn gốc chính làm thay đổi việc cung ứng tiền của Ngân hàng Nhà nước thông qua việc mua bán các giấy tờ có giá trên thị trường mở (hành động làm tăng cơ số tiền tệ) và vì thế làm tăng cung ứng tiền, giảm lãi suất ngắn hạn Ngược lại, việc bán các giấy tờ có giá trên thị trường mở làm giảm
cơ số tiền tệ, giảm cung ứng tiền và làm tăng lãi suất ngắn hạn Nghiệp vụ thị trường
mở cho tới nay mới được thực hiện ở Việt Nam do các điều kiện khách quan và chủ quan vừa chín muồi nên còn nhiều bất cập, hạn chế nhất định Do đó, nhu cầu đổi mới
và hoàn thiện công cụ nghiệp vụ thị trường mở ngày càng trở nên cấp bách và cần
thiết Xuất phát từ điều đó, em đã lựa chọn đề tài "Tình hình sử dụng công cụ nghiệp
vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2007 đến nay" để
làm đề tài nghiên cứu cho Đề án môn học của mình
Đây là một đề tài hết sức cần thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn để góp phần nâng cao hiệu quả chính sách tiền tệ Tuy nhiên, vì điều kiện thời gian và kiến thức còn hạn chế nên không thể tránh khỏi được những sai sót và khiếm khuyết trong quá
Trang 4trình nghiên cứu, em kính mong nhận được những lời đóng góp và sự giúp đỡ của cô
để em có được một bài viết hoàn chỉnh và tốt hơn Em xin chân thành cảm ơn
CHƯƠNG I.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ
CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
1.1. Khái niệm nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ của ngân hàng Trung ương để tiến hành mua hoặc bán chứng từ có giá ngắn hạn đối với tổ chức tín dụng nhưng không vì mục đích thu được lợi nhuận, mà vì mục đích chung của toàn bộ nền kinh tế
Như vậy, nghiệp vụ thị trường mở vừa là nghiệp vụ của thị trường, nhưng lại vừa là công cụ của NHTW để thực thi chính sách tiền tệ, mang lại hiệu quả cao và hiện đang được các nước trên thế giới sử dụng để điều hành chính sách tiền tệ
1.2 Cơ chế tác động của nghiệp vụ thị trường mở
Thông qua hoạt động mua, bán các giấy tờ có giá trên thị trường mở, NHTW
đã tác động trực tiếp đến dự trữ của các ngân hàng và ảnh hưởng gián tiếp đến các mức lãi suất trên thị trường, từ đó tác động trực tiếp đến các mục tiêu của chính sách tiền tệ cả về mặt giá và mặt lượng
1.2.1 Về mặt lượng - Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng
Hành vi mua bán các giấy tờ có giá trên thị trường mở của NHTW có khả năng tác động ngay lập tức đến tình trạng dự trữ của các ngân hàng thương mại thông qua ảnh hưởng đến tiền gởi của các ngân hàng tại NHTW (nếu các NHTM là đối tác tham gia OMO) và tiền gởi của khách hàng tại hệ thống ngân hàng (nếu các khách hàng là đối tác tham gia OMO)
Sơ đồ 1.1 Cơ chế tác động của OMO tới dự trữ ngân hàng
Trang 5Khi NHTW thực hiện bán GTCG cho các ngân hàng thì tiền gửi của ngân hàng tại NHTW sẽ giảm xuống tương ứng với khối lượng GTCG mà NHTW bán ra Trường hợp người mua là các khách hàng của ngân hàng thì số tiền mua GTCG sẽ làm giảm số dư tiền gửi của họ tại hệ thống ngân hàng Kết quả là dự trữ của hệ thống ngân hàng giảm sút tương ứng với khối lượng GTCG mà NHTW bán ra Sự giảm sút dự trữ của hệ thống ngân hàng sẽ làm giảm khả năng cho vay của ngân hàng và vì thế khối lượng tín dụng giảm dẫn đến cung tiền sẽ giảm Ngược lại, khi NHTW thực hiện mua GTCG trên thị trường mở, kết quả làm dự trữ của các ngân hàng tăng lên Như vậy, khi NHTW thực hiện nghiệp vụ thị trường mở nó sẽ tác động vào dự trữ của các ngân hàng ngân mại, làm ảnh hưởng đến khối lượng tín dụng, từ đó ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng.
1.2.2 Về mặt giá - Tác động qua lãi suất
Hành vi mua bán GTCG của NHTW trên thị trường mở có thể ảnh hưởng gián tiếp đến mức lãi suất thị trường thông qua 2 con đường sau:
Thứ nhất, khi dự trữ của ngân hàng bị ảnh hưởng sẽ tác động đến cung cầu
vốn NHTW trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng Đến lượt nó, cung cầu tiền trung ương thay đổi sẽ dẫn đến lãi suất thị trường tiền NHTW thay đổi Mức lãi suất ngắn hạn này, thông qua dự đoán của thị trường và các hoạt động arbitrage về lãi suất, sẽ truyền tác động tới các mức lãi suất trung và dài hạn trên thị trường tài chính Tại một mức lãi suất thị trường xác định, tổng cầu AD của nền kinh tế, và do đó tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ được quyết định
Sơ đồ 1.2 Cơ chế tác động của OMO qua lãi suất
Cung TPKB tăng NHTW bán TPKB
Dự trữ NH giảm Đầu tư giảm Cung của quỹ cho vay giảm Lãi suất ngắn hạn tăng
Trang 6Lãi suất thị trường tăng Giá TPKB giảm Lãi suất thị trường tăng
tăng
Thứ hai, việc mua bán GTCG sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ cung cầu
về loại GTCG đó trên thị trường và giá cả của nó Khi giá chứng khoán thay đổi, tỷ
lệ sinh lời của chúng cũng thay đổi Nếu khối lượng chứng khoán này chiếm tỷ trọng lớn trong các giao dịch trên thị trường tài chính thì sự thay đổi tỷ lệ sinh lời của nó sẽ tác động trở lại lãi suất thị trường, và vì thế mà tác động đến tổng cầu AD
và sản lượng
Khi NHTW bán tín phiếu kho bạc sẽ làm giảm dự trữ của hệ thống ngân hàng Điều này làm giảm cung quỹ cho vay và sẽ ảnh hưởng đến lãi suất ngắn hạn, làm lãi suất ngắn hạn có xu hướng tăng lên và tác động vào làm tăng các lãi suất thị trường Bên cạnh đó khi NHTW thực hiện bán tín phiếu kho bạc trên thị trường mở
sẽ làm tăng cung tín phiếu kho bạc trên thị trường, từ đó làm giảm giá của tín phiếu kho bạc Điều này làm ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của tín phiếu kho bạc theo hướng tăng lên, dẫn đến sự chuyển dịch vốn đầu tư sang tín phiếu kho bạc Để cân bằng lãi suất và hạn chế sự dịch chuyển vốn đầu tư, lãi suất thị trường sẽ tăng lên Khi lãi suất thị trường tăng lên thì hoạt động đầu tư của các chủ thể đối với nền kinh
tế sẽ giảm xuống do tỷ suất sinh lời giảm Từ đó tổng cầu trên thị trường giảm xuống và góp phần làm giảm sản lượng, ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng
Trang 71.3 Vai trò của nghiệp vụ thị trường mở
1.3.1 Đối với ngân hàng trung ương
Để thực hiện nhiệm vụ ổn định giá trị đồng tiền, NHTW đã xây dựng và thực thi các công cụ chính sách tiền tệ nhằm đưa tiền ra và rút tiền về từ lưu thông theo tín hiệu thị trường Trong đó, nghiệp vụ thị trường mở là công cụ chính sách tiền tệ gián tiếp quan trọng nhất tại nhiều quốc gia làm thay đổi cung - cầu tiền tệ dẫn đến thay đổi lãi suất trên thị trường tiền tệ Thông qua việc mua bán GTCG tại thị trường mở, NHTW có thể mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tiền dự trữ trong hệ thống ngân hàng và tác động một cách tốt nhất đến cơ số tiền tệ, lượng tiền cung ứng Như vậy, nghiệp vụ thị trường mở đã tạo điều kiện cho NHTW hạn chế sử dụng các công cụ mang tính trực tiếp trong điều hành chính sách tiền tệ
Bên cạnh mục đích điều tiết vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng, thông qua mua bán GTCG trên thị trường mở, NHTW còn cấp tín hiệu cho thị trường về định hướng điều hành chính sách tiền tệ trong tương lai là nới lỏng hay thắt chặt Đặc biệt khi thực hiện nghiệp vụ thị trường mở thường xuyên và hiệu quả, lãi suất thị trường mở có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định hướng, chỉ đạo lãi suất thị trường và qua đó NHTW có thể hạn chế những biến động của lãi suất thị trường
Nghiệp vụ thị trường mở là một công cụ chính sách tiền tệ có tính chủ động cao Nghiệp vụ thị trường mở do NHTW chủ động khởi xướng, khác với các nghiệp
vụ cho vay hỗ trợ vốn khác của NHTW thường do các ngân hàng có nhu cầu vay vốn chủ động khởi xướng Như vậy, NHTW có thể chủ động thực hiện nghiệp vụ thị trường mở theo định kỳ hoặc vào các thời điểm cần thiết Nghiệp vụ thị trường
mở có thể được thực hiện linh hoạt xét trên góc độ về khối lượng cũng như thời gian giao dịch NHTW có thể thực hiện nghiệp vụ thị trường mở ở quy mô lớn/nhỏ (khối lượng mua bán GTCG lớn/nhỏ) với thời hạn dài/ngắn tuỳ theo quyết định mua/bán GTCG
Nghiệp vụ thị trường mở có thể khắc phục được những hạn chế của các công
cụ kiểm soát tiền tệ trực tiếp và các công cụ gián tiếp khác Các giao dịch nghiệp vụ thị trường mở có tính hai chiều, qua đó NHTW có thể bơm thêm tiền vào lưu thông hoặc rút tiền từ lưu thông, trong khi công cụ tái cấp vốn chỉ có thể bơm thêm tiền vào lưu thông Mặt khác, với công cụ nghiệp vụ thị trường mở, NHTW có thể chủ
Trang 8động hơn trong việc điều tiết lưu thông, không phụ thuộc nhiều vào ý muốn chủ quan của NHTM như trong công cụ tái cấp vốn Qua việc tính toán và dự báo vốn khả dụng cũng như lượng tiền cung ứng, NHTW có thể biết chính xác được khối lượng tiền cần bơm thêm hoặc rút về từ lưu thông
1.3.2 Đối với các đối tác của ngân hàng trung ương
Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trong cơ chế thị trường ngày càng đa dạng dẫn đến hoạt động quản lý và sử dụng vốn khả dụng cần phải chủ động và linh hoạt hơn Hiện nay trong cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng, tiền gửi không kỳ hạn
và có kỳ hạn với thời gian dưới 12 tháng thường chiếm tỷ trọng từ 60-70% Vì vậy, vấn đề cấp bách hiện nay đối với các ngân hàng là làm thế nào để sử dụng vốn linh hoạt hiệu quả và giải quyết được khó khăn tạm thời về vốn khả dụng trong thời gian ngắn, không gây ách tắc trong thanh toán cũng như đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng
Thị trường mở là nơi các đối tác của NHTW được chủ động tham gia mua bán GTCG với NHTW và lãi suất thực sự là mang tính thị trường Thông qua thị trường
mở, các ngân hàng có thể sử dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để đầu tư vào các GTCG để thu được lợi tức và đáp ứng nhu cầu dự trữ thứ cấp Khi cần thiết, các ngân hàng có thể bán lại các GTCG này trên thị trường mở để giải quyết khó khăn về nguồn vốn Các thành viên tham gia thị trường mở thường là các đối tác có độ tin cậy cao, nên việc mua bán GTCG trên thị trường mở có độ an toàn rất cao Bên cạnh đó, những điều kiện về chủng loại và chất lượng các GTCG được giao dịch trong nghiệp vụ thị trường mở sẽ gián tiếp làm thay đổi danh mục đầu tư GTCG của các ngân hàng, từ đó cải thiện theo hướng tích cực cơ cấu sử dụng vốn của ngân hàng, làm giảm dự trữ không sinh lợi và cải thiện bảng tổng kết tài sản của ngân hàng
Ngoài ra, nghiệp vụ thị trường mở góp phần đa dạng hoá các nghiệp vụ kinh doanh của các tổ chức tín dụng Các tổ chức tín dụng không chỉ đơn thuần thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh truyền thống như cho vay, bảo lãnh, dịch vụ … mà còn sử dụng một nguồn vốn nhất định để thực hiện nghiệp vụ kinh doanh mới là mua bán các GTCG Nghiệp vụ thị trường mở cũng thúc đẩy các mối quan hệ mang tính kinh doanh giữa các thành viên tham gia thị trường
Trang 9Nghiệp vụ thị trường mở do các ngân hàng tự nguyện tham gia thực hiện theo các nguyên tắc thị trường, không mang tính chất bắt buộc như dự trữ bắt buộc và cũng không có tác động như một hình thức "đánh thuế" đối với hoạt động của các ngân hàng như dự trữ bắt buộc Lãi suất trên thị trường mở cũng mang tính chất thị trường chứ không bị áp đặt như trong công cụ chiết khấu GTCG của NHTW.
Như vậy, thị trường mở tạo điều kiện cho các ngân hàng sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi hiệu quả hơn và đa dạng hoá thêm các nghiệp vụ kinh doanh của các ngân hàng
1.3.3 Đối với nền kinh tế
Mặc dù thành viên của nghiệp vụ thị trường mở chủ yếu là các tổ chức tín dụng, tài chính và NHTW nhưng nghiệp vụ thị trường mở cũng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế
Thông qua việc phát hành, mua bán GTCG trên thị trường mở, các chủ thể của thị trường mở đã làm tăng thêm tính thanh khoản cho các GTCG này Điều này góp phần thúc đẩy các thị trường tài chính phát triển Từ đó, tạo điều kiện cho các trung gian tài chính thu hút vốn trong nền kinh tế và thay đổi thói quen tiết kiệm, tiêu dùng của các hộ gia đình trong nền kinh tế
Thị trường mở có sự gắn kết chặt chẽ với các thị trường tiền tệ, đặc biệt là thị trường nội tệ liên ngân hàng Sự phát triển của thị trường mở tác động mạnh đến sự hoàn thiện và phát triển của thị trường liên ngân hàng
Mặt khác, hiện nay Việt Nam đang trong quá trình mở cửa và hội nhập vào nền kinh tế thế giới Việt Nam phải thực hiện các cam kết yêu cầu của các tổ chức tài chính, tiền tệ, thương mại quốc tế hay các quốc gia phát triển, trong đó có yêu cầu về cải cách hệ thống ngân hàng và nâng cao tính minh bạch trong các hoạt động của NHTW Tại các quốc gia phát triển hay các quốc gia trong khu vực Đông Nam
á đều sử dụng nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành chính sách tiền tệ để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô Chính vì vậy, việc sử dụng nghiệp vụ thị trường
mở là một điều kiện cần thiết để hội nhập nền kinh tế vào khu vực và thế giới
1.4 Thành viên tham gia nghiệp vụ thị trường mở
1.4.1 Ngân hàng Trung ương
Trang 10Ngân hàng Trung ương tham gia thị trường mở với tư cách là người tổ chức quản lý và điều hành hoạt động của thị trường Với vai trò đó, NHTW soạn thảo, ban hành quy chế hoạt động của thị trường mở, xét duyệt hồ sơ và kết nạp các thành viên của thị trường, tổ chức các hoạt động giao dịch, mua bán GTCG trên thị trường, đảm bảo an toàn, chính xác, đảm bảo quyền lợi cho các thành viên.
Ngoài vai trò nói trên, ngân hàng Trung ương còn tham gia thị trường với tư cách thành viên, tức là tham gia các hoạt động giao dịch mua bán với các thành viên còn lại của thị trường Tuy nhiên, hoạt động giao dịch mua bán của NHTW không phải
vì mục tiêu lợi nhuận, mà vì các mục tiêu của chính sách tiền tệ, chính vì vậy NHTW hoàn toàn có thể chủ động trong khi thực hiện các nghiệp vụ giao dịch Cần mua GTCG để gia tăng khối tiền cung ứng, hoặc cần bán GTCG để làm giảm lượng tiền cung ứng, NHTW đều có thể thực hiện theo ý định
1.4.2 Đối tác của ngân hàng Trung ương
1.4.2.1 Các ngân hàng thương mại
Các NHTM là chủ thể thường xuyên và chủ yếu của thị trường mở, đồng thời là
"đối tác", là khách hàng chủ yếu của NHTW trong hoạt động giao dịch mua bán GTCG Có thể nói, nếu không có sự tham gia của các NHTM thì thị trường mở sẽ trở nên vắng lặng và xơ cứng, do đó NHTW quan tâm trước hết đến đối tượng này
Hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, họ tham gia mua bán GTCG trên thị trường mở cũng không ngoài mục tiêu đó Chính điều này giúp NHTW điều tiết được hành vi kinh doanh của NHTM Việc tham gia vào thị trường mở ngoài mục tiêu lợi nhuận, còn giúp các NHTM có thể điều hòa vốn khả dụng một cách hợp lý nhất Khi cần gia tăng ngân quỹ để thỏa mãn nhu cầu thanh toán, hoặc ngược lại, làm gia tăng dự trữ thứ cấp, các NHTM đều có thể thực hiện thuận lợi nhờ tham gia thị trường mở
Sự tham gia của các NHTM vào thị trường mở không những làm cho thị trường này trở nên sống động hơn, tích cực hơn, mà còn trở thành đối tác quan trọng nhất của NHTW trong các nghiệp vụ của mình trên thị trường mở, qua đó mà tác động một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất theo các mục tiêu và ý định cần đạt được trong điều hành chính sách tiền tệ
1.4.2.2 Các tổ chức tài chính phi ngân hàng
Trang 11Ngoài NHTM là đối tác chủ yếu và thường xuyên của NHTW trên thị trường
mở, còn có các tổ chức tài chính phi ngân hàng, bao gồm các công ty tài chính, các công ty cho thuê tài chính, các công ty bảo hiểm, các công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư Những đối tượng này tham gia hoạt động giao dịch trên thị trường mở với tư cách là những người đầu tư và kinh doanh GTCG
Chính nhờ tham gia thị trường mở, mà các công ty này có thể làm phong phú thêm các danh mục đầu tư tài chính, làm thay đổi danh mục đầu tư theo hướng có lợi nhất, tức là tìm kiếm lợi nhuận tối đa và rủi ro tối thiểu
1.4.2.3 Các nhà giao dịch sơ cấp
Các nhà giao dịch sơ cấp tham gia vào nghiệp vụ thị trường mở với tư cách là người trung gian trong việc mua bán các GTCG giữa NHTW và các đối tác khác Các nhà giao dịch sơ cấp có thể là các NHTM, công ty chứng khoán, công ty tài chính Thực tế ở nhiều nước, 70% giao dịch can thiệp của NHTW trên thị trường mở được thực hiện thông qua các nhà giao dịch sơ cấp Khi đó, NHTW chỉ thực hiện mua bán GTCG với các nhà giao dịch sơ cấp Và để thực hiện được vai trò này, các nhà giao dịch sơ cấp phải có nguồn vốn đủ mạnh đáp ứng yêu cầu quy định của NHTW và phải sẵn sàng thực hiện vai trò người tạo lập thị trường trong tất cả các phiên đấu thầu tín phiếu kho bạc
1.5 Hàng hóa của nghiệp vụ thị trường mở
Thông thường, NHTW các nước sử dụng nhiều loại GTCG khác nhau để giao dịch trong nghiệp vụ thị trường mở Đó là: trái phiếu, tín phiếu kho bạc (gọi chung là
chứng khoán kho bạc), tín phiếu NHTW, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu thời hạn
ngắn, chấp nhận (hối phiếu) của các ngân hàng, repos(hợp đồng mua lại) Tại Cộng Hòa Liên Bang Đức, NHTW còn sử dụng các chứng khoán để niêm yết trên thị trường chứng khoán được giao dịch trên thị trường mở Như vậy, thị trường mở không giới hạn cụ thể về chủng loại các GTCG giao dịch, nhưng các hàng hóa được mua bán trên thị trường mở phải phù hợp với mục tiêu và yêu cầu hoạt động của NHTW trên thị trường này Nghĩa là các hàng hóa đó phải có tính thanh khoản cao, sử dụng phổ biến
và giao dịch phải hết sức thuận lợi, dễ dàng, vì vậy hàng hóa của thị trường mở gồm các loại chủ yếu sau:
1.5.1 Tín phiếu kho bạc
Trang 12Tín phiếu kho bạc do Kho bạc Nhà nước phát hành, huy động vốn để bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước Thực chất của tín phiếu kho bạc là giấy nhận nợ của Chính phủ đối với người mua tín phiếu kho bạc, với sự cam kết mặc định
về việc hoàn trả vốn và lãi cho người sở hữu tín phiếu kho bạc
Đây là công cụ chủ yếu của nghiệp vụ thị trường mở của hầu hết NHTW các nước vì:
• Tín phiếu kho bạc có tính thanh khoản cao, dễ dàng chuyển hóa thành tiền
• Được phát hành định kỳ với khối lượng lớn vì thế có khả năng thỏa mãn nhu cầu của NHTW với liều lượng khác nhau
1.5.2 Tín phiếu Ngân hàng Trung ương
Tín phiếu NHTW do NHTW phát hành, là giấy nhận nợ của NHTW đối với người mua tín phiếu Tín phiếu NHTW cũng có những đặc điểm tương tự như tín phiếu kho bạc, nhưng vì đây là loại tín phiếu do NHTW phát hành nên tín phiếu NHTW là công cụ chủ động và linh hoạt hơn cho NHTW để điều hành chính sách tiền
tệ thông qua việc mua, bán tín phiếu này
Tuy nhiên, việc phát hành tín phiếu NHTW để thực thi chính sách tiền tệ sẽ làm cho chi phí hoạt động của NHTW tăng lên và có khả năng bị lỗ khi phát hành khối lượng lớn, mặc dù NHTW hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận Việc sử dụng tín phiếu NHTW đòi hỏi phải có sự phối hợp nhất định với Bộ Tài chính
1.5.3 Trái phiếu Chính phủ
Trái phiếu Chính phủ là một chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận số vốn cho vay của trái chủ (người mua trái phiếu) đối với tổ chức phát hành của Chính phủ (Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước) theo đó trái chủ sẽ được hưởng những quyền và lợi ích hợp pháp từ tổ chức phát hành như được hoàn lại vốn khi mãn hạn, được hưởng thu nhập cố định dưới hình thức lợi tức trái phiếu, được thế chấp cầm cố
Đây là chứng khoán nợ dài hạn được Nhà nước phát hành nhằm bù đắp thiếu hụt ngân sách Nhà nước Dù là chứng khoán dài hạn nhưng trái phiếu Chính phủ được
sử dụng rộng rãi trong nghiệp vụ thị trường mở bởi tính an toàn cao, khối lượng phát hành thường lớn, tính ổn định và có khả năng tác động trực tiếp đến giá cả trên thị trường tài chính
Trang 131.5.4 Trái phiếu Chính quyền địa phương
Trái phiếu chính quyền địa phương do chính quyền của các đô thị lớn phát hành
để vay nợ nhằm tập trung nguồn vốn để đầu tư vào các công trình, dự án của các đô thị Thực chất trái phiếu chính quyền địa phương là một dạng của trái phiếu Chính phủ, nhưng được chính quyền địa phương phát hành để phục vụ các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương
1.5.5 Chứng chỉ tiền gửi
Chứng chỉ tiền gửi do các Ngân hàng thương mại, các Tổ chức tài chính phi ngân hàng phát hành để huy động vốn có thời hạn xác định với một mức lãi suất định trước Thực chất là giấy nhận nợ của NHTM đối với người mua chứng chỉ tiền gửi Đây là công cụ quan trọng để các NHTM huy động vốn trên thị trường và là công cụ đánh giá sự thay đổi trong cơ chế quản lý của ngân hàng (chuyển từ quản lý tài sản Nợ sang quản lý tài sản Có) Chứng chỉ tiền gửi được sử dụng khá phổ biến trên thị trường tiền tệ do các nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền khi cần thiết mà không
phải rút tiền gửi trước hạn
1.6 Phương thức giao dịch và phương thức đấu thầu trên thị trường mở 1.6.1 Các phương thức giao dịch trên thị trường mở
Tùy thuộc vào tình hình thực tế mà NHTW thực hiện một trong hai nghiệp vụ như sau:
1.6.1.1 Giao dịch mua hoặc bán hẳn (Giao dịch không hoàn lại)
Giao dịch không hoàn lại là việc NHTW mua hoặc bán GTCG với các đối tác,
mà không có bất kỳ một cam kết nào về việc bán hoặc mua lại các chứng từ đó Hình thức giao dịch này được sử dụng trong trường hợp NHTW muốn điều chỉnh cơ cấu hoặc can thiệp vào thị trường để thay đổi các điều kiện tiền tệ trong dài hạn
Giao dịch mua, bán hẳn có thể làm mất đi tính linh hoạt và uyển chuyển trong thực thi chính sách tiền tệ vì sự di chuyển một chiều của giao dịch đó Tuy nhiên nó không hoàn toàn cứng nhắc, vì NHTW có thể ngay sau đó sẽ tiến hành giao dịch ngược chiều, để lấp vào chỗ "trống" sự tác động thái quá của giao dịch lần trước
1.6.1.2 Giao dịch mua hoặc bán có kỳ hạn (giao dịch có hoàn lại - REPO)
Trang 14Giao dịch có kỳ hạn là nghiệp vụ giao dịch mua hoặc bán GTCG của NHTW với các đối tác, có kèm theo điều kiện là bên bán phải cam kết mua lại các GTCG đã
bán bằng một hợp đồng cụ thể Phương thức giao dịch này thường được sử dụng cho mục đích giao dịch tạm thời thông qua các hợp đồng mua lại (Repos) hoặc hợp đồng mua lại đảo ngược Repos được sử dụng khi NHTW thực hiện mua GTCG với thoả thuận là sau một thời gian ngắn trong tương lai người bán sẽ mua lại các GTCG đó Repos đảo ngược được sử dụng khi NHTW thực hiện bán GTCG với thoả thuận người mua sẽ bán lại vào một ngày xác định trong tương lai Thông thường, Repos và Repos đảo ngược được sử dụng trong một khoảng thời gian ngắn với mục đích điều tiết vốn khả dụng của các NHTM một cách linh hoạt Giao dịch theo hợp đồng Repos thực chất
là một khoản cho vay của NHTW có bảo đảm bằng các GTCG có tính thị trường cao
Các giao dịch có hoàn lại được sử dụng chủ yếu trong nghiệp vụ thị trường mở
vì những lý do sau:
- Đây là công cụ hiệu quả nhất để bù đắp hoặc triệt tiêu những ảnh hưởng không dự tính trước đến dự trữ của các ngân hàng
- Chi phí giao dịch thấp hơn các giao dịch mua bán hẳn
- Thích hợp trong các trường hợp các định hướng chính sách tiền tệ không hoàn hảo dẫn đến việc sử dụng các giải pháp khắc phục
- Làm giảm thời gian thông báo, do đó giảm bớt biến động của thị trường trước các quyết định hàng ngày của NHTW
1.6.2 Phương thức đấu thầu của nghiệp vụ thị trường mở
Các giao dịch trên thị trường mở thường được thực hiện thông qua 2 phương thức đấu thầu là đấu thầu khối lượng và đấu thầu lãi suất
1.6.2.1 Đấu thầu khối lượng
Đấu thầu khối lượng là phương thức đấu thầu cho phép người giao dịch (người mua hoặc người bán) đăng ký khối lượng (giá trị) GTCG sẽ mua, hoặc bán (khối lượng dự thầu) Căn cứ vào khối lượng dự thầu của các thành viên, và khối lượng GTCG cần bán hoặc mua trong từng đợt thông báo, để NHTW xác định khối lượng trúng thầu cho mỗi thành viên đấu thầu theo lãi suất cố định đã được thông báo
Trang 15Việc phân bổ thầu được tiến hành thực hiện như sau: Trước hết toàn bộ số lượng đăng ký dự thầu được cộng lại với nhau Nếu tổng khối lượng đặt thầu nhỏ hơn hoặc bằng khối lượng NHTW chào mua/chào bán thì toàn bộ các đơn dự thầu đều được phân bổ theo khối lượng đặt thầu Nếu tổng khối lượng đặt thầu lớn hơn khối lượng NHTW chào mua/chào bán thì khối lượng trúng thầu của từng thành viên được phân bổ tỷ lệ thuận với khối lượng đặt thầu của thành viên đó Các đơn dự thầu sẽ được phân bổ như sau:
Tỷ lệ % phân bổ thầu: K = A 1
n i i
- A: khối lượng NHTW chào mua/chào bán
- n: tổng số thành viên tham gia dự thầu
- bi: khối lượng đặt thầu của thành viên thứ i
- K: tỷ lệ % phân bổ thầuTrên cơ sở xác định được tỷ lệ K, khối lượng trúng thầu của thành viên thứ i (Ti) được xác định như sau:
Ti = K x bi
1.6.2.2 Đấu thầu lãi suất
Đấu thầu lãi suất là phương thức đấu thầu cho phép người giao dịch (người mua hoặc người bán) được quyền đưa ra các mức lãi suất với các khối lượng tương ứng, để đăng ký bán hoặc mua GTCG theo thông báo của NHNN Căn cứ vào đó, sẽ xác định khối lượng trúng thầu với lãi suất trúng thầu được chọn, sao cho với lãi suất đó sẽ đảm bảo khối lượng giao dịch mua bán theo yêu cầu của NHTW
Trong đấu thầu lãi suất, cần phân biệt hai trường hợp:
- Trường hợp NHTW cần cung ứng tiền thêm vào lưu thông thông qua việc mua GTCG, các đơn dự thầu được sắp xếp theo thứ tự và được phân bổ theo các mức lãi suất từ cao xuống thấp Nghĩa là những đơn dự thầu ứng với lãi suất cao sẽ được ưu tiên phân bổ trước cho đến khi khối lượng phân phối được sử dụng hết Nếu tại mức lãi suất thấp nhất được chấp nhận, khối lượng đăng ký dự thầu lớn hơn khối lượng được phân phối thì quá trình phân bổ như sau:
Gọi: A: Khối lượng NHTW chào mua/chào bán
Trang 16rt : Mức lãi suất thứ t được đăng ký
b(rt)i: Khối lượng đặt thầu của thành viên thứ i ứng với mức lãi suất rt
b(rt): Tổng khối lượng đặt thầu của các thành viên ứng với mức lãi suất rt
rm: Mức lãi suất cuối cùng được chấp nhận
Đối với trường hợp NHTW đấu thầu để bơm thêm vốn khả dụng cho hệ thống ngân hàng thì: r1 ≥ rt ≥ rm
Tỷ lệ % trúng thầu được phân bổ tại mức lãi suất cuối cùng K(rm):
K(rm) = A -
1 1
( )
m t t
b r
−
=
∑b(rm)Trên cơ sở xác định được tỷ lệ K(rm), khối lượng trúng thầu của thành viên thứ i (Ti) tại mức lãi suất rm được xác định như sau:
1.7 Mối quan hệ giữa nghiệp vụ thị trường mở với các công cụ khác của chính sách tiền tệ
Để thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ, NHTW sử dụng nhiều công cụ đa dạng Chẳng hạn, tùy theo yêu cầu mở rộng hoặc thu hẹp tín dụng, NHTW có thể tăng hoặc hạ lãi suất tái chiết khấu, hoặc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, hay mua hoặc bán các chứng khoán có giá Trong các công cụ đó thì nghiệp vụ thị trường mở có thể sử dụng rất linh hoạt trong bất kỳ loại chính sách tiền tệ nào Nó là công cụ điều tiết vĩ mô
Nghiệp vụ thị trường mở có tác động thông qua "hiệu ứng thông báo" ít hơn chính sách lãi suất chiết khấu và chính sách dự trữ bắt buộc Nó tạo ra cuộc cạnh tranh giữa các thành phần ngân hàng và thành phần không phải là ngân hàng, có khả năng
Trang 17thanh toán, nhất là về khối lượng, có thể đạt được mục tiêu một cách vừa hữu hiệu, vừa phù hợp với thị trường cả về xu hướng tăng hoặc giảm.
1.8 Ưu, nhược điểm của việc sử dụng nghiệp vụ thị trường mở
1.8.1 Ưu điểm
- Nghiệp vụ thị trường mở có tác động nhanh, chính xác và có thể được sử dụng bất kỳ mức độ nào Nghiệp vụ thị trường mở có thể được hoàn thành nhanh chóng, không gây những chậm trễ về mặt hành chính Khi NHTW quyết định muốn thay đổi
cơ số tiền hoặc dự trữ nó chỉ việc ra lệnh cho một người kinh doanh chứng khoán và việc mua bán được thực hiện ngay tức khắc
- Nghiệp vụ thị trường mở rất linh hoạt Khi có một sai lầm xảy ra trong lúc tiến hành nghiệp vụ thị trường mở NHTW có thể lập tức đảo ngược lại việc sử dụng công
cụ đó Nếu NHTW thấy rằng cung ứng tiền tệ tăng quá nhanh do nó mua chứng khoán trên thị trường mở quá nhiều, thì nó có thể sửa chữa ngay lập tức bằng cách tiến hành nghiệp vụ bán chứng khoán trên thị trường
- Nghiệp vụ thị trường mở là công cụ chính sách tiền tệ chủ động Nó cho phép NHTW có thể tạo ra những biến động có khả năng hướng dẫn xu hướng thị trường trên
cơ sở dự báo nhu cầu vốn khả dụng Mặt khác, việc hoàn thành nghiệp vụ thị trường
mở không phụ thuộc nhiều lắm vào ý thích chủ quan của các đối tác Lợi dụng tác động của các lực lượng thị trường, NHTW có thể buộc các đối tác hoạt động theo mục tiêu của mình
- Nhờ có nghiệp vụ này, NHTW có thể kiểm soát được lượng tái cấp vốn không vay Việc kiểm soát này không thể thực hiện được trong nghiệp vụ tái chiết khấu Ở nghiệp vụ tái chiết khấu, NHTW có thể khuyến khích hoặc hạn chế khối lượng tái chiết khấu và có thể khống chế hạn mức tái chiết khấu nhưng không thể kiểm soát được nhu cầu tái chiết khấu các NHTM
1.8.2 Nhược điểm
- Vì các ảnh hưởng của nghiệp vụ thị trường mở đến cơ số tiền bị triệt tiêu bởi các tác động ngược chiều nên dự trữ của ngân hàng không tăng hoặc giảm tương ứng sau các hoạt động mua bán chứng khoán của NHTW Chẳng hạn, do dòng chảy ngược chiều của vốn, do mất cân đối trong cán cân thanh toán hoặc do số dư tiền gửi ngân
Trang 18sách ở NHTW tăng lên, các hoạt động mua chứng khoán của NHTW nhằm tăng lượng tiền cung ứng sẽ bị triệt tiêu một phần hay toàn bộ.
- NHTW không phải lúc nào cũng tăng hay giảm lượng cung ứng tín dụng và đầu tư khi dự trữ tăng lên hay giảm xuống dưới tác động của nghiệp vụ thị trường mở
Có nhiều yếu tố ngăn cản NHTM sử dụng tối đa số dự trữ dư thừa cho mục tiêu mở rộng tín dụng như: nhu cầu trả nợ NHTW, nhu cầu sử dụng tiền mặt tăng lên
- Khi lãi suất thị trường giảm xuống, không phải lúc nào khối lượng tín dụng cũng tăng lên tương ứng Điều này còn phụ thuộc vào khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, mức độ rủi ro và thiếu ổn định của môi trường đầu tư
Như vậy khả năng phát huy hiệu quả tối đa của nghiệp vụ thị trường mở nhiều khi không phụ thuộc vào NHTW, mà nó còn bị chi phối bởi môi trường kinh tế vĩ mô, hành vi của công chúng và các quyết định của các NHTM
ở các nước phát triển Nghiệp vụ thị trường mở được xem là còn khá mới ở Việt Nam
để NHNN điều hành chính sách tiền tệ Bắt đầu từ ngày 12/7/2000, NHNN tiến hành đưa công cụ nghiệp vụ thị trường mở vào hoạt động Mặc dù vậy, việc triển khai NVTTM cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu đổi mới của nền kinh tế, đây là một bước tiến mới trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN theo hướng từ sử dụng các công cụ trực tiếp sang các công cụ gián tiếp, để phù hợp với thông lệ quốc tế và sự phát triển của đất nước, giúp các tổ chức tín dụng đảm bảo khả năng thanh toán nhanh chóng, kịp thời Nghiệp vụ thị trường mở đánh dấu bước ngoặc quan trọng trong sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam nói chung và cơ chế điều hành chính sách tiền tệ của NHNN theo phương pháp gián tiếp nói riêng Nó đã mở ra một kênh cung