Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Đề tài thực hiện nhằm đề xuất được một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác PCCCR cho huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới, góp phần quản
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -
NGÔ QUANG KHOA
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CƠ SỞ KHOA HỌC GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY RỪNG TẠI HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -
NGÔ QUANG KHOA
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CƠ SỞ KHOA HỌC GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY RỪNG TẠI HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: Lâm học
Mã số ngành: 8 62 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS ĐẶNG KIM VUI
Thái Nguyên, năm 2020
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu nghiên cứu này đều được tiến hành tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên do bản thân tôi thực hiện trong thời gian
từ năm 2018 đến năm 2020
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào Các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm./
Thái Nguyên, tháng … năm 20……
Người viết cam đoan
Ngô Quang Khoa
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Trải qua hai năm học tập tại trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, Khóa học cao học K26 Lâm học (2018 - 2020) đã bước vào giai đoạn kết thúc Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp, tôi luôn nhận được sự động viên và giúp đỡ nhiệt tình của Nhà trường, các thầy, cô giáo, cơ quan và bạn bè đồng nghiệp
Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy giáo GS.TS Đặng Kim Vui người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, dìu dắt và giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm, Phòng đào tạo bộ phận Quản lý Sau Đại học đã tạo điều kiện cho tôi theo học khóa học này Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn tới BQL rừng ATK Định Hóa
và toàn thể bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện về thời gian, thu thập số liệu;
hỗ trợ và tham gia nhiều ý kiến quý báu cho luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn anh chị em học viên lớp cao học Lâm học
26 đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, những người luôn sát cánh và động viên, giúp đỡ tôi về mọi mặt trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng trong khuôn khổ thời gian còn hạn chế nên luận văn sẽ không tránh khỏi thiếu sót Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy giáo, cô giáo để luận văn hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng …… năm 202……
Học viên
Ngô Quang Khoa
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học: 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở khoa học vấn đề nghiên cứu 5
1.2 Những nghiên cứu về cháy rừng trên thế giới 7
1.3 Những nghiên cứu về cháy rừng ở Việt Nam 12
1.4 Nhận xét và đánh giá chung 21
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 23
2.2 Địa điểm và thời gian 23
2.2.1 Địa điểm thực hiện 23
2.2.2 Thời gian thực hiện: 23
2.3 Nội dung nghiên cứu 23
2.4 Phương pháp nghiên cứu 24
2.4.1 Quan điểm nghiên cứu và cách tiếp cận của đề tài 24
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 25
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
Trang 6iv
3.1 Đánh giá đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng tới công
tác PCCCR tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 32
3.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên ảnh hưởng tới công tác PCCCR 32
3.1.2 Ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế - xã hội 40
3.2 Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng và tình hình cháy rừng tại khu vực nghiên cứu giai đoạn 2015 - 2019 43
3.2.1 Hiện trạng tài nguyên rừng tại địa bàn nghiên cứu 43
3.2.2 Tình hình cháy rừng tại khu vực nghiên cứu giai đoạn 2015-2019 44
3.3 Nghiên cứu xác định mùa cháy rừng và phân vùng trọng điểm cháy rừng tại khu vực nghiên cứu 45
3.3.1 Xác định mùa cháy rừng tại khu vực nghiên cứu 45
3.3.2 Ảnh hưởng của thảm thực vật tới cháy rừng 46
3.3.3 Xác định khối lượng và độ ẩm của vật liệu cháy 49
3.3.4 Phân vùng trọng điểm dễ cháy rừng khu vực nghiên cứu 53
3.4 Đánh giá hiệu quả công tác phòng chống cháy rừng tại khu vực nghiên cứu giai đoạn 2015 - 2019 55
3.4.1 Các công tác phòng chống cháy rừng chủ đạo 55
3.4.2 Một số luật và văn bản liên quan đến công tác PCCCR 59
3.4.3 Tổ chức lực lượng chữa cháy tại chỗ 62
3.4.4 Công tác tuyên truyền PCCCR tại khu vực nghiên cứu 68
3.5 Những thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải pháp góp phần cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 69
3.5.1 Thuận lợi 69
3.5.2 Khó khăn 71
3.5.3 Các giải pháp PCCCR 72
3.5.4 Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng 76
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 7v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BNN&PTNT : Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
Cr : Cấp cực kỳ nguy cấp (Critically Endangered); GPS : Hệ thống định vị toàn cầu;
DT : Đường kính tán;
D1.3 : Đường kính 1,3 m;
D00 : Đường kích gốc;
D1.3tb : Đường kính ngang ngực trung bình;
HDC : Chiều cao dưới cành;
HVN : Chiều cao vút ngọn;
Hvntb : Chiều cao vút ngọn trung bình;
OTC : Ô tiêu chuẩn;
Trang 8vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phân cấp cháy rừng theo chỉ số P 13
Bảng 1.2 Phân cấp nguy cơ cháy rừng 14
Bảng 3.1 Nhiệt độ các tháng trong 5 năm tại khu vực nghiên cứu 35
Bảng 3.2 Số giờ nắng theo các tháng trong 5 năm tại khu vực nghiên cứu 36
Bảng 3.3 Lượng mưa các tháng trong 5 năm tại khu vực nghiên cứu 37
Bảng 3.4 Độ ẩm các tháng trong 5 năm tại khu vực nghiên cứu 39
Bảng 3.5 Hiện trạng tài nguyên rừng huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 43
Bảng 3.6 Tình hình cháy rừng tại khu vực nghiên cứu giai đoạn 2015 - 2019 44
Bảng 3.7 Nhiệt độ và lượng mưa trung bình 5 năm của khu vực nghiên cứu 45
Bảng 3.8 Kết quả điều tra tầng cây cao ở các trạng thái rừng 47
Bảng 3.9 Kết quả điều tra cây bụi thảm tươi ở các trạng thái rừng 48
Bảng 3.10 Kết quả điều tra cây tái sinh 49
Bảng 3.11 Khối lượng VLC ở các loại rừng tại khu vực nghiên cứu 51
Bảng 3.12 Độ ẩm vật liệu cháy các trạng thái rừng tại khu vực nghiên cứu 51
Bảng 3.13 Phân cấp khả năng xuất hiện cháy rừng tại 3 xã khu vực nghiên cứu dựa vào độ ẩm vật liệu cháy (theo Bế Minh Châu, 2002) 52
Bảng 3.14 Phân vùng trọng điểm cháy và đặc điểm nơi cháy 53
Bảng 3.15 Một số văn bản Luật và dưới Luật liên quan đến PCCCR 59
Bảng 3.16 Biên chế và giao nhiệm vụ chỉ huy lực lượng chữa cháy 64
Bảng 3.17 Kết quả thực hiện công tác tuyên truyền PCCCR tại khu vực nghiên cứu năm 2019 68
Trang 9vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Tam giác lửa 6 Hình 2.1 Phương hướng giải quyết vấn đề của đề tài 25 Hình 3.1 Sự thay đổi nhiệt độ theo tháng trong 5 năm tại khu vực nghiên cứu 36 Hình 3.2 Sự thay đổi số giờ nắng theo tháng trong 5 năm tại khu vực nghiên cứu 37 Hình 3.3 Sự thay đổi lượng mưa theo tháng trong 5 năm tại khu vực nghiên cứu 38 Hình 3.4 Sự thay đổi độ ẩm không khí theo tháng trong 5 năm tại khu vực nghiên cứu 39 Hình 3.5 Biểu đồ thay đổi nhiệt độ và lượng mưa trung bình trong 5 năm theo các tháng tại khu vực nghiên cứu 46 Hình 3.6 Thu thập mẫu vật liệu cháy tại rừng 50 Hình 3.7 Sơ đồ chỉ đạo phối hợp giữa các lực lượng hỗ trợ chủ rừng trong công tác chữa cháy lửa rừng 58
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cháy rừng là thảm họa, gây thiệt hại lớn đối với tính mạng và tài sản của con người, tài nguyên rừng và môi trường sống Ảnh hưởng của nó không những tác động đến một quốc gia mà còn ảnh hưởng đến cả khu vực và toàn cầu
Nước ta hiện có trên 14.377.682 ha rừng (10.242.141 ha rừng tự nhiên
và 4.135.541 ha rừng trồng), trong đó, có trên 50% là diện tích rừng có nguy
cơ cháy cao, chủ yếu là rừng: thông, tràm, tre nứa, keo, bạch đàn, Quế, rừng khộp, rừng non khoanh nuôi tái sinh tự nhiên
Trong 10 năm tới, diện tích rừng trồng của cả nước sẽ tiếp tục tăng Diện tích rừng trồng, rừng non do khoanh nuôi tái sinh ngày càng được mở rộng, cùng với diễn biến bất thường của thời tiết làm tăng nguy cơ cháy rừng, gây thiệt hại lớn về kinh tế và môi trường sống
Như chúng ta đã biết, rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, một yếu tố vô cùng quan trọng đối với cuộc sống con người và thiên nhiên Trong những thập kỷ qua hoạt động kinh tế của con người đã làm cho rừng không những suy giảm cả về diện tích và chất lượng Một trong những nguyên nhân gây mất rừng là do cháy rừng và cháy rừng là một thảm họa thiên tai gây tổn thất to lớn, nhanh chóng về kinh tế và môi trường sinh thái Nó tiêu diệt gần như toàn bộ các giống loài trong vùng bị cháy, thải vào khí quyển khối lượng lớn khói bụi cùng với những khí gây hiệu ứng nhà kính như CO, CO2, NO v.v… Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng làm gia tăng quá trình biến đổi khí hậu trái đất và các thiên tai hiện nay Mặc dù công tác phòng cháy chữa cháy rừng ngày càng hiện đại nhưng cháy rừng vẫn không ngừng xảy ra, thậm chí ngay cả ở những nước phát triển nhất Đấu tranh với cháy rừng đang được xem là một trong những nhiệm vụ cấp bách của thế giới để bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sống
Trang 112
Ở Việt Nam mỗi năm xảy ra hàng trăm vụ cháy thiêu hủy hàng ngàn ha rừng, gây thiệt hại hàng trăm tỷ đồng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sinh thái,… Theo báo cáo của Cục Kiểm Lâm từ năm 2000 - 2008, ở nước ta xảy ra 6.412 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 42.607 ha, hàng năm Nhà nước phải giành một nguồn kinh phí khá lớn cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) (chỉ tính riêng năm 2005, Cà Mau đã chi 6,5 tỷ đồng, Kiên Giang 2,4 tỷ đồng, Lâm Đồng 6 tỷ đồng, Gia Lai 1,4 tỷ đồng,…) Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có nhiều vụ cháy rừng gây nhiều tổn thất lớn về kinh tế, môi trường Năm 2002, Vụ cháy rừng Tràm ở Vườn Quốc Gia U Minh Thượng và U Minh Hạ làm thiệt hại trên 5.200 ha rừng, chi phí cho công tác chữa cháy lên tới 7 - 8 tỷ đồng; năm 2007, tỉnh Yên Bái cháy 643 ha rừng, Lai Châu cháy 230 ha,… Gần đây nhất, theo Báo Dân trí đưa tin ngày 11/11/2016 tính đến thời điểm hiện tại cả nước có 3.209 ha rừng bị cháy, năm 2017 xảy ra
vụ cháy rừng ở Sóc Sơn, Hà Nội thiệt hại 50 ha rừng phòng hộ … Nước ta luôn có hơn 333.000 ha rừng dễ cháy và rất dễ cháy thuộc 114 vùng trọng điểm, trong đó có 35.000 ha là rừng trồng
Rừng là tài sản quốc gia, là nguồn sống của người dân và là yếu tố quan trọng bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước Đến năm 2019, ngành lâm nghiệp đã được coi là ngành kinh tế, diện tích rừng trồng thâm canh, thuần loài ngày càng gia tăng, góp phần tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân vùng sâu, vùng xa Do vậy Đảng và Chính phủ Việt Nam đã rất quan tâm đến công tác PCCCR từ việc ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về lâm nghiệp và đặc biệt quan tâm đến công tác PCCCR nhằm giảm thiểu xảy ra cháy rừng và hạn chế mức thấp nhất thiệt hại khi cháy rừng xảy ra
Định Hóa có tổng diện tích tự nhiên 52.200 ha, đất quy hoạch cho lâm nghiệp 34.759,64 ha, trong đó rừng đặc dụng 8.064,31 ha, rừng phòng hộ 9.181,23 ha, rừng sản xuất 17.514,11 ha (theo kết quả kiểm kê rừng năm 2016), tỷ lệ che phủ rừng năm 2018 đạt 58% Định Hóa là một trong những
Trang 123
huyện có tỷ lệ che phủ rừng cao của tỉnh Thái Nguyên và là huyện có điểm di tích quốc gia đặc biệt ATK Định Hóa Hiện nay, Định Hóa đã chủ động đẩy mạnh công tác tuyên truyền Luật Lâm nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành, trong đó tập trung hướng dẫn các chủ rừng xây dựng Phương án quản lý rừng bền vững và Phương án phòng cháy, chữa cháy rừng Tuy nhiên, hiện nay diện tích rừng trồng thuần loài trên địa bàn huyện lớn, đặc biệt là diện tích rừng trồng Quế đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân, trước tình hình biến đổi khí hậu khác thường, không khỏi có nhiều nguy cơ xảy ra cháy rừng gây thiệt hại về người và tài sản cho người dân đồng bào dân tộc có thể dân tới tình trạng mất an ninh, trật tự xã hội Trong khi đó trên địa bàn chưa có một nghiên cứu nào về công tác PCCCR Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài
“Nghiên cứu một số cơ sở khoa học góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên” đặt ra
là rất cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tại Định Hóa, Tỉnh Thái Nguyên và tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác phòng cháy, chữa cháy rừng
- Đề xuất được một số giải pháp nâng cao hiệu quả phòng cháy chữa cháy rừng ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới và hướng tới xây dựng mô hình nhân rộng ra các huyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học:
- Nắm được phương pháp nghiên cứu về thực trạng và nguyên nhân gây cháy rừng ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái nguyên nói riêng và cháy rừng ở tỉnh Thái Nguyên nước ta nói chung
- Xác định được một số cơ sở khoa học: Các yếu tố về nội tại (đặc điểm sinh vật học, trạng thái rừng, thành phần loài…); Các yếu tố tự nhiên (Khí hậu,
Trang 134
thủy văn, địa hình, giao thông ); Các yếu tố con người (Phong tục, tập quán, đầu tư trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy, cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện… làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp, nâng cao hiệu quả công tác PCCCR tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài thực hiện nhằm đề xuất được một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác PCCCR cho huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới, góp phần quản lý, bảo vệ rừng, nâng cao hiệu quả kinh tế từ rừng, giảm thiểu thiệt hại do cháy rừng gây ra và đặc biệt nâng cao chức năng phòng hộ, cảnh quan bảo
vệ môi trường sinh thái tại địa bàn nghiên cứu
Trang 145
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học vấn đề nghiên cứu
Theo tài liệu về quản lý lửa rừng của tổ chức Nông Lương liên Hiệp Quốc (FAO) cháy rừng là: “Sự xuất hiện và lan truyền các đám cháy trong rừng mà không nằm trong sự kiểm soát của con người, gây nên tổn thất nhiều mặt về tài nguyên, của cải và môi trường” (Theo Bế Minh Châu, Phùng Văn Khoa, 2002)
Một phản ứng cháy xảy ra khi đủ các yếu tố:
Vật liệu cháy có độ ẩm dưới 25% (chất bị cháy)
Oxy (chất duy trì sự cháy)
Nguồn lửa (nguồn nhiệt cháy) Nguồn lửa gây ra cháy rừng có nhiều nhưng có thể chia ra làm 2 nhóm chính: Lửa do các hiện tượng tự nhiên và lửa
do hoạt động của con người
+ Nguồn lửa do các hiện tượng tự nhiên gây ra như sấm sét, núi lửa, động đất, v.v… rất khó khống chế Nguyên nhân này chiếm tỉ lệ thấp 1 - 5% và chỉ xuất hiện trong những điều kiện hết sức thuận lợi cho quá trình phát sinh nguồn lửa tiếp xúc với các vật liệu khô ở trong rừng
+ Trong thực tế nguồn lửa gây ra các đám cháy trong rừng là do con người gây nên như từ các hoạt động cố ý hay vô ý như: đốt nương, đốt ong, đốt lửa sưởi ấm … Theo thống kê nguồn lửa gây cháy rừng do hoạt động của con người chiếm trên 90%
Nếu thiếu 1 trong 3 nhân tố trên quá trình cháy không xảy ra, sự kết hợp 3 nhân tố này tạo thành một tam giác lửa
Mỗi yếu tố trên tạo thành ba cạnh của một tam giác lửa như hình vẽ sau:
Trang 156
Nguồn lửa Oxy
Vật liệu cháy
Hình 1.1 Tam giác lửa
Thiếu một trong ba yếu tố trên đều không xảy ra đám cháy Khi đủ ba yếu tố có thể tạo thành đám cháy hay không còn phụ thuộc vào độ ẩm của vật liệu cháy nếu độ ẩm của vật liệu cháy nhỏ hơn 25% thì khả năng bắt lửa
sẽ cao hơn
Nếu làm giảm hoặc loại bỏ một trong những yếu tố trên thì đám cháy rừng sẽ thu nhỏ hoặc bị dập tắt Đây là một cơ sở khoa học trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng đem lại hiệu quả cao
Cháy rừng được chia làm 3 loại là:
- Cháy lan trên mặt đất: Là trường hợp đám cháy xảy ra ở tầng cây bụi
cỏ khô trên mặt đất
- Cháy tán rừng: Là trường hợp ngọn lửa lan tràn nhanh từ tán cây này sang cây khác, làm cho tán rừng trồng và rừng tự nhiên bị cháy táp lá gây chết một phần hoặc toàn bộ cây rừng
- Cháy ngầm: Là trường hợp xảy ra khi ngon lửa lan chậm dưới mặt đất, trong lớp thảm mục hoặc than bùn
Khi xảy ra cháy rừng có thể xuất hiện cùng lúc 2 đến 3 loại cháy rừng Tùy theo loại cháy rừng mà ta có thể đưa ra những biệt pháp chữa cháy khác nhau để đem lại hiệu quả cao nhất
Trang 167
1.2 Những nghiên cứu về cháy rừng trên thế giới
Trên thế giới những nghiên cứu về phòng cháy, chữa cháy rừng đã được bắt đầu vào thế kỷ XX Thời kỳ đầu chủ yếu tập trung ở các nước có nền kinh
tế và lâm nghiệp phát triển như Mỹ, Nga, Đức, Thụy Điển, Canada, Pháp Ở những nước này việc xác định mức độ nguy hiểm của cháy rừng từng ngày đã trở thành một phương thức quản lý cháy rừng không thể thiếu được Hiện nay trong nghiên cứu PCCCR có thể chia ra làm các lĩnh vực chính như sau (Dẫn theo Phạm Ngọc Hưng, 1988):
- Bản chất của cháy rừng;
- Phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng;
- Công trình PCCCR;
- Phương pháp chữa cháy rừng;
- Phương tiện chữa cháy rừng
1.2.1 Các nghiên cứu về bản chất của cháy rừng
Ở Mỹ, từ năm 1914, E.A Beal và C.B Show đã nghiên cứu và xác định khả năng cháy rừng thông qua việc xác định độ ẩm của lớp thảm mục Các tác giả đã nhận định rằng độ ẩm của lớp thảm mục thể hiện mức độ khôhạn của rừng Độ khô hạn càng cao, khả năng xuất hiện cháy rừng càng dễ xảy ra (dẫn theo Phạm Ngọc Hưng, 1988)
Các nghiên cứu đã chỉ ra bản chất của cháy rừng là hiện tượng ôxy hóa các vật liệu hữu cơ do rừng tạo ra ở nhiệt độ cao, nó xảy ra khi có mặt đồng thời của 3 thành tố là nguồn nhiệt, ôxy và vật liệu cháy Tùy thuộc vào đặc điểm của các yếu tố nêu trên, cháy rừng có thể được hình thành, phát triển hay
bị ngăn chặn hoặc suy yếu đi (Brown A.A,1979; Chandler C và cs., 1983) Các nhà khoa học phân biệt 3 loại cháy rừng như sau (dẫn theo Bế Minh Châu, 2001):
Trang 17Những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của cháy rừng là thời tiết, loại rừng và hoạt động kinh tế - xã hội của con người Thời tiết đặc biệt là lượng mưa (Lm), nhiệt độ không khí (Tkk), độ ẩm không khí (Wkk) và tốc độ gió (Vg) ảnh hưởng quyết định đến tốc độ bốc hơi
và độ ẩm vật liệu cháy (Wvlc) rừng qua đó ảnh hưởng đến khả năng bén lửa và lan tràn đám cháy Loại rừng ảnh hưởng tới tính chất vật lý, hóa học, khối lượng và phân bố của vật liệu cháy qua đó ảnh hưởng đến loại cháy, khả năng hình thành và tốc độ lan tràn của đám cháy và hoạt động kinh tế - xã hội của con người như: Đốt nương rẫy, săn bắn, du lịch, nấu ăn… đều có ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ và phân bố nguồn lửa khởi đầu của các đám cháy Phần lớn các biện pháp phòng cháy rừng đều được xây dựng trên cơ sở phân tích đặc điểm 3 yếu tố trên trong hoàn cảnh cụ thể ở địa phương (theo Bế Minh Châu, 2005)
1.2.2 Các nghiên cứu về phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng
Với nghiên cứu về bản chất của cháy rừng nói trên thì các phương pháp
dự báo nguy cơ cháy rừng (DBNCCR) đều tính đến đặc điểm diễn biến hằng ngày của lượng mưa, nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí (Chandler C và cs 1983; MiBbach K, 1972) Ở một số nước khi DBNCCR ngoài yếu tố khí tượng
Trang 189
còn căn cứ vào một số yếu tố khác Ở Đức và Mỹ sử dụng thêm độ ẩm của vật liệu cháy, ở Pháp tính thêm lượng nước hữu hiệu trong đất và độ ẩm của vật liệu cháy, ở Trung Quốc có bổ sung thêm cả tốc độ gió (Vg), số ngày không mưa và lượng bão hòa (Lbh)
Năm 1920, hệ thống cháy rừng ở Mỹ được đưa ra sử dụng và cho đến nay, nó đã được cải tiến tương đối hoàn chỉnh Hệ thống này, căn cứ chủ yếu vào mối quan hệ giữa nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí và độ ẩm vật liệu cháy để dự báo khả năng cháy rừng cho các loại vật liệu cháy khác nhau trên
cơ sở phân loại vật liệu cháy ra các nhóm chính và kết hợp quan sát điều kiện khí tượng, địa hình, độ ẩm vật liệu cháy từ đó đưa ra mô hình dự báo khả năng xuất hiện cháy rừng và quy mô đám cháy (Brown A.A, 1979)
Ở Trung Quốc đã nghiên cứu phương pháp cho điểm các nhân tố ảnh hưởng đến NCCR, trong đó có cả những yếu tố kinh tế - xã hội và NCCR được tính theo tổng số điểm của các yếu tố (Asian Biodiversity, 2001)
Các phương pháp DBNCCR ở mỗi nước trên thế giới có nhiều điểm tương đồng, nhưng hiện nay vẫn chưa có phương pháp mang tính quy chuẩn
áp dụng chung cho thế giới Vì vậy, hiệu quả của công tác DBNCCR vẫn còn hạn chế ngay ở các nước phát triển
1.2.3 Các nghiên cứu về công trình phòng cháy rừng
Gronquist R., Juvelius M., Heikkila T., (1993), những nghiên cứu đã chỉ
ra sự hiệu quả của các công trình PCR là các đường băng cản lửa, các vành đai cây xanh và hệ thống kênh mương ngăn cản cháy rừng Từ những năm đầu thế
kỷ XX, nhiều chuyên gia về lửa rừng ở một số nước Châu Âu đã nghiên cứu
và bước đầu đưa ra những ý kiến về xây dựng các băng xanh cản lửa và đai xanh phòng cháy rừng trên đó có trồng các loài cây lá rộng; ở Nga đã thiết lập những băng cây xanh chịu lửa khép kín với kết cấu nhiều loài cây, tạo thành nhiều tầng để ngăn lửa cháy từ ngoài vào các khu rừng thông, bạch đàn, sồi,… Các nước khác tiến hành nghiên cứu vấn đề này, rất sớm và có nhiều công
Trang 1910
trình nhất vẫn là Đức, Nga và các nước thuộc Liên Xô cũ, Mỹ, Canada, Nhật Bản và Trung Quốc,… (Phạm Ngọc Hưng, 2001)
1.2.4 Các nghiên cứu về biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng
Các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng được nghiên cứu chủ yếu hiện nay là hướng vào làm suy giảm 3 thành phần của tam giác lửa:
- Giảm nguồn lửa: Quản lý chặt chẽ sử dụng lửa trong rừng, tuyên truyền vận động tăng cường ý thức của người dân trong sử dụng lửa, chặt phát băng ngăn lửa cháy lan
- Đốt trước một phần vật liệu cháy: Thu gom, đốt trước vật liệu cháy trong rừng để giảm khối lượng vật liệu cháy hoặc đốt đón cháy (đốt ngược hướng với hướng lan tràn để cô lập đám cháy) Các công trình nghiên cứu về đốt trước làm giảm vật liệu cháy đã được nhiều nước áp dụng ngay từ đầu thế
kỷ XX ở nhiều nước: Đức, Mỹ, Nga, Canada và Trung Quốc Đối tượng rừng được đưa vào đốt trước làm giảm vật liệu có cả rừng tự nhiên và rừng trồng Thường các chủ rừng đốt theo đám ở những diện tích rừng có nhiều vật liệu cháy, có nguy cơ cháy cao vào thời gian trước mùa cháy, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng cháy lan đến khu rừng lân cận (Brown A.A,1979; Gronquist R và cs., 1993) Từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX đến nay, có một số nước: Australia, Mỹ, Nga, Canada, Indonexia, Thái Lan,… đã có nhiều nghiên cứu và đưa ra được những quy trình đốt trước cho các khu rừng trồng thuần loài có nguy cơ cháy cao
Gronquist R và cs (1993), đã đưa ra các vấn đề về khối lượng, độ ẩm vật liệu cháy, thời tiết, diện tích, địa hình và các vấn đề về kinh phí, tổ chức lực lượng một cách khá toàn diện trong đốt trước có điều khiển cho các vùng rừng trọng điểm cháy dựa trên nghiên cứu về đặc điểm nguồn vật liệu cháy và việc đốt thử trên những diện tích rộng lớn
- Dùng chất dập cháy để giảm nhiệt lượng của đám cháy hoặc ngăn cách vật liệu cháy với ôxy không khí (nước, đất, cát, hóa chất dập cháy v.v…)
Trang 2011
1.2.5 Các nghiên cứu về phương tiện phòng cháy và chữa cháy rừng
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, những nghiên cứu và ứng dụng phục vụ cho công tác PCCCR ngày càng được nâng cao Với việc phát triển của lĩnh vực viễn thám và công nghệ GIS đã đem lại những thông tin một cách nhanh chóng nhất về diễn biến tài nguyên rừng, thời tiết, có khả năng
dự báo chính xác nguy cơ xảy ra cháy rừng Các thông tin này có thể dược tiếp cận thông qua nhiều hình thức: radio, truyền hình, internet… một cách dễ dàng thuận lợi
Các phương tiện chữa cháy rừng đã và đang được nghiên cứu và không ngừng hoàn thiện từ phương tiện thô sơ thủ công đến cơ giới hiện đại Ở một
số nước phát triển: Mỹ, Canada đã sử dụng máy bay chữa cháy, bom dập lửa, tạo mưa nhân tạo…
Năm 1997, Trung tâm hợp tác nghiên cứu châu Âu đã thành lập một nhóm nghiên cứu về sự phát triển các phương pháp tiên tiến cho việc đánh giá nguy cơ cháy rừng để tính toán diện tích bị cháy và thiệt hại do cháy ở châu
Âu Kết quả là Hệ thống thông tin cháy rừng châu Âu (EFFIS) được thành lập
và kể từ năm 2000, tình hình cháy rừng ở châu Âu liên tục được theo dõi bởi EFFIS Hiện nay, các nước tham gia vào mạng lưới EFFIS là: Áo, Bulgaria, Croatia, Cyprus, Cộng hòa Séc, Estonia, Phần Lan, Pháp, Cộng hòa Macedonia, Đức, Hy Lạp, Hungary, Ireland, Ý, Kosovo, Latvia, Lebanon, Lithuania, Montenegro, Ma-rốc, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Romania, Serbia, Slovakia, Slovenia, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Vương quốc Anh (Hennessy và cs., 2005)
Mô hình xác định nguy cơ cháy rừng thông qua độ ẩm VLC được xây dựng dựa trên mối liên hệ giữa độ ẩm nhiên liệu với độ ẩm không khí và lượng mưa Mô hình này được xác định thông qua ước tính về nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa từ đặc điểm phản xạ phổ của ảnh vệ tinh Mô hình đã được đưa vào ứng dụng tại miền Nam Amazon trong năm 2013, khu vực phía Bắc và vùng
Trang 2112
đất thấp ở Bolivia Kết quả được xác định bởi mô hình cho thấy tương quan chặt với các chỉ tiêu thời tiết được xác định tại các trạm đo Mô hình được đánh giá có hiệu quả cao trên cả hai phương diện kỹ thuật và chi phí cho các chương trình quốc gia quản lý cháy rừng (Theo Maja Stula và cs, 2011)
1.3 Những nghiên cứu về cháy rừng ở Việt Nam
1.3.1 Các nghiên cứu về phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng
Những nghiên cứu về công tác dự báo cháy rừng ở nước ta được bắt đầu
từ năm 1981, trong thời gian này chủ yếu áp dụng phương pháp dự báo của V.G Nesterop (Ngô Quang Đê, Lê Đăng Giảng, Phạm Ngọc Hưng, 1983) Theo phương pháp này cấp nguy hiểm của cháy rừng được xác định theo giá trị khí tượng tổng hợp (P) bằng tổng của tích số giữa nhiệt độ và độ chênh lệch bão hòa của không khí lúc 13 giờ hàng ngày kể từ ngày cuối cùng có lượng mưa dưới 3mm
Năm 1988 theo kết quả nghiên cứu của Phạm Ngọc Hưng (1988) cho thấy, phương pháp của V.G Nesterop có độ chính xác cao hơn nếu tính giá trị
P kể từ ngày cuối cùng có lượng mưa dưới 5mm) Tác giả tính chỉ tiêu khí tượng tổng hợp P cho từng ngày ở Quảng Ninh, công thức tính như sau:
Trong đó
P: Chỉ tiêu tổng hợp đánh giá nguy cơ cháy rừng
K: Hệ số điều chỉnh theo lượng mưa ngày, K có giá trị bằng 1 khi lượng mưa ngày nhỏ hơn 5mm, K có giá trị bằng 0 khi lượng mưa ngày vượt quá 5mm
n: Số ngày không mưa hoặc có lượng mưa ngày nhỏ hơn 5mm kể từ ngày cuối cùng có lượng mưa lớn hơn 5mm
ti13: Nhiệt độ không khí lúc 13 giờ (00)
di13: Độ chênh lệch bão hoà của không khí lúc 13 giờ (mb)
Trang 2213
Tác giả dựa vào kết quả phân tích mối liên hệ giữa chỉ tiêu P với số vụ cháy đã xảy ra trong 10 năm để điều chỉnh lại ngưỡng của các cấp dự báo cháy rừng ở Quảng Ninh Kết quả phân cấp cháy rừng Thông theo chỉ tiêu P cho rừng Thông Quảng Ninh (Phạm Ngọc Hưng, 1988):
Bảng 1.1 Phân cấp cháy rừng theo chỉ số P
Năm 1991, dự án tăng cường khả năng phòng cháy, chữa cháy rừng cho Việt Nam của UNDP, Cooper A N, (1991) đã nghiên cứu, soạn thảo phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng theo chỉ tiêu khí tượng tổng hợp P của V G Nesterop nhưng thêm yếu tố gió; chỉ tiêu P của V G Nesterop sẽ được nhân với hệ số là:
Tốc độ gió: 0 - 4km/h P x 1 Tốc độ gió: 5 - 15km/h P x 1,5 Tốc độ gió: 16 - 25km/h P x 2 Tốc độ gió lớn hơn 25km/h P x 3 Căn cứ vào kết quả xác định chỉ số P mới (Pm) ở Việt Nam, A.N Cooper
đã phân cấp dự báo nguy cơ cháy rừng ở Việt Nam thành 4 cấp như sau:
Trang 23Năm 1995, tác giả Võ Đình Tiến (1995) đã đưa ra phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng cho từng tháng tại Bình Thuận theo 6 yếu tố: Nhiệt độ không khí trung bình, lượng mưa trung bình, độ ẩm không khí, tốc độ gió, số
vụ cháy rừng, lượng người vào rừng (tất cả đều lấy giá trị trung bình) Tác giả
đã xác định được cấp nguy hiểm với cháy rừng cho từng tháng trong cả mùa cháy Đây là chỉ tiêu có tính đến cả yếu tố thời tiết và yếu tố kinh tế - Xã hội liên quan đến nguy cơ cháy rừng Tuy nhiên chỉ căn cứ vào số liệu khí tượng trung bình năm nên cấp dự báo của tác giả chỉ thay đổi theo thời gian của lịch
mà không thay đổi theo thời tiết hàng ngày Do vậy, phương pháp này chủ yếu mang ý nghĩa xác định mùa cháy hơn là đi sâu vào dự báo nguy cơ cháy rừng
Năm 2001, Bế Minh Châu (2001) đã khẳng định phương pháp DBNCCR theo chỉ tiêu P và H có độ chính xác thấp ở những vùng có sự luân phiên thường xuyên của các khối không khí biển và lục địa hoặc vào các thời gian chuyển mùa Trong những trường hợp này, thì mức độ lên hệ của chỉ tiêu tổng hợp P và chỉ số ngày khô hạn liên tục H với độ ẩm vật liệu cháy dưới tán rừng và tần suất xuất hiện của cháy rừng rất thấp
Năm 2004, Nguyễn Tiến Đạt đã nghiên cứu phương pháp dự báo cháy rừng cho một số kiểu rừng dễ cháy tỉnh Gia Lai Tác giả đã nghiên cứu đặc điểm cấu trúc một số trạng thái rừng với nguy cơ cháy rừng và đưa ra một số phương trình dự báo độ ẩm vật liệu cháy, tốc độ cháy dưới rừng Thông và rừng Khộp ở khu vực nghiên cứu để giúp cho việc bố trí lực lượng và phương tiện chữa cháy Tuy nhiên, đề tài vẫn chưa thử nghiệm được tốc độ cháy của vật liệu
Trang 2415
cháy cho từng trạng thái rừng nên chưa xác định được cấp cháy cho từng trạng thái rừng, phải kế thừa phân cấp nguy cơ cháy rừng của các nghiên cứu trước mà chưa có kiểm nghiệm độ chính xác
Nghiên cứu của Vương Văn Quỳnh (2005) đưa ra phương pháp dự báo phát hiện sớm cháy rừng cho khu vực U Minh và Tây Nguyên Kết quả của nghiên cứu chỉ áp dụng được cho một khu vực cụ thể, chưa mang tính rộng rãi
Năm 2004 - 2006, Lê Thị Hiền và các cộng sự đã thực hiện đề tài nghiên cứu cơ sở khoa học để hiệu chỉnh phương pháp dự báo cháy rừng ở các tỉnh phía Bắc Đề tài đã nghiên cứu được đặc điểm phân hóa của một số nhân tố khí tượng, phân hóa tiểu khí hậu và nguy cơ cháy rừng ở các kiểu rừng có nguy cơ cháy cao ở các tỉnh phía Bắc Từ đó làm cơ sở nghiên cứu hiệu chỉnh phương pháp dự báo cháy rừng cho các tỉnh phía Bắc, là công thức dự báo cháy rừng ở Miền Bắc có dạng chung của công thức dự báo nguy cơ cháy rừng của Việt Nam - công thức của Nesterov Tuy nhiên đây là công thức dự báo cho một vùng không phải cho một khu vực đơn lẻ, do đó sẽ gặp khó khăn cho một số địa phương khi có những điều kiện về khí hậu địa phương khác
Năm 2007, Lê Văn Tập nghiên cứu cơ sở khoa học để hiệu chỉnh cấp dự báo nguy cơ cháy rừng cho các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ Tác giả đã nghiên cứu trên 3 loại rừng:
Loại 1: Là rất dễ cháy bao gồm rừng tre nứa tự nhiên, rừng trồng Thông, tre luồng và một số trạng thái thực bì như ràng ràng, cỏ tranh, lau lách…
Loại 2: Là rừng dễ cháy gồm một số trạng thái rừng trồng ngoài Thông, trạng thái DT2, DT1
Loại 3: Là rừng ít có khả năng cháy là rừng tự nhiên và rừng ngập mặn Qua nghiên cứu tác giả đã đưa ra bảng hiệu chỉnh chỉ tiêu P cho 2 loại rừng rất dễ cháy và dễ cháy cho khu vực Bắc Trung Bộ, hệ số điều chỉnh chính
là hệ số Tuy nhiên nghiên cứu mới chỉ đưa ra các yếu tố khí tượng có ảnh
Trang 251.3.2 Các nghiên cứu về các công trình phòng cháy rừng
Ở nước ta hiện nay còn rất ít những nghiên cứu về hiệu quả của các công trình phòng cháy rừng Phần lớn đều được xây dựng trên cơ sở tham khảo tư liệu nước ngoài và kinh nghiệm, chưa có khảo nghiệm đầy đủ trong điều kiện Việt Nam (Đặng Vũ Cẩn, Hoàng Kim Ngũ, Phạm Ngọc Hưng, Trần Công Loanh, Trần Văn Mão, 1992)
Các công trình PCR ở nước ta hiện nay chủ yếu là đường băng trắng và đường băng xanh cản lửa hạn chế cháy lan trên mặt đất, cháy lướt trên ngọn cây rừng Thống kê của Cục Kiểm lâm (2014) cho thấy năm 2014 cả nước có 1.584 km đường băng xanh và 7.775 km đường băng trắng cản lửa
Theo Phạm Ngọc Hưng (2001), đường băng xanh được trồng cùng với việc trồng rừng trong năm trên những diện tích rừng có độ dốc 25 độ Đai rừng phòng cháy có chiều rộng từ 20 - 30m, nếu xây dựng theo đường phân khoảnh thì chiều rộng đai rừng chỉ cần từ 15 - 20m là đủ Thông thường đường băng cản lửa lợi dụng những chướng ngại vật tự nhiên như: Sông, suối, hồ nước, đường mòn, đường dông; những công trình nhân tạo: đường sắt, đường giao thông, đường vận xuất, vận chuyển để làm băng Trong những trường hợp này, đường băng thường chỉ xây dựng dọc theo hai bên đường bằng một hoặc hai vành đai cây xanh cản lửa, có bề rộng từ 6 - 10m Một số loài loài cây được
Trang 2617
giới thiệu đưa vào trồng thành băng hoặc đai xanh cản lửa: Cây Tống quá sủ
(Alnus nepalensis), Dứa bà (Agave americara), Vối thuốc răng cưa (Schima
superb Gardn et Champ ), Me rừng (Phyllanthus emblica L), Thẩu tấu (Aporosa microcalyx Hassk, Dâu da đất (Baceaerea sapida Mull - Arg.) và Keo tai tượng (Acacia mangium Wild)
Năm 2002, trường Đại học Lâm nghiệp phối hợp với Cục Kiểm lâm xây dựng phần mềm dự báo cháy rừng cho Việt Nam Đây là một giải pháp mang tính hiện đại phục vụ cho công tác dự báo cháy rừng, các thông tin được truyền
đi nhanh chóng, dễ tiếp cận đến nhiều đối tượng Tuy nhiên, do dự báo nguy
cơ cháy rừng được đồng nhất cho những đơn vị hành chính rộng lớn và cho các kiểu rừng khác nhau nên tính chính xác của thông tin dự báo cháy rừng còn thấp, chưa có sự chi tiết các trọng điểm cháy cụ thể
Năm 2006, Vương Văn Quỳnh và các cộng sự đã nghiên cứu xây dựng phần mềm dự báo lửa rừng cho khu vực U Minh và Tây Nguyên Phần mềm này khắc phục được một số nhược điểm của phần mềm xây dựng năm 2002
Năm 2007, hệ thống theo dõi cháy rừng trực tuyến của Cục Kiểm lâm (gọi tắt là FireWatch Việt Nam) là một hệ thống tự động phát hiện sớm các điểm cháy (hotspots) trên toàn lãnh thổ Việt Nam từ dữ liệu ảnh MODIS và AVHRR trên vệ tinh TERRA, AQUA và các vệ tinh NOAA thu được thường xuyên tại trạm thu TeraScan đặt tại Cục FireWatch Việt Nam (Phiên bản 2.0, 2008) nhằm hỗ trợ lực lượng kiểm lâm toàn quốc và các đơn vị, người dân liên quan thực hiện PCCCR, khai thác thông tin cháy, quản lý cháy rừng kịp thời
và hiệu quả Với thông tin về các điểm cháy, phân vùng cháy trên trang Web của Cục Kiểm lâm đã giúp việc khai thác sử dụng dữ liệu một cách nhanh chóng hiệu quả
Năm 2008, Trần Văn Thắng đã nghiên cứu xây dựng giải pháp quản lý thủy văn phục vụ phòng cháy chữa cháy rừng vườn quốc gia U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang Kết quả nghiên cứu cho thấy để đảm bảo an toàn cho rừng
Trang 2718
Tràm trên than bùn không bị cháy thì mực nước cần đảm bảo duy trì ở mức ngập 50 cm so với mặt than bùn Kết quả này tạo cơ sở cho việc điều tiết chế
độ thủy văn phục vụ công tác PCCCR ở VQG U Minh Thượng
Năm 2008, Nguyễn Tuấn Anh đã phân vùng trọng điểm cháy cho tỉnh Quảng Bình Tác giả đã đưa ra được mối quan hệ giữa nhiệt độ không khí và lượng mưa trung bình theo kinh độ, vĩ độ và độ cao để có thể phân vùng trọng điểm cháy của Quảng Bình theo điều kiện khí hậu và địa hình thành 5 cấp Tuy nhiên đề tài mới chỉ dừng lại ở một số trạng thái rừng điển hình của khu vực, chưa có nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế - Xã hội đến nguy cơ cháy rừng
Năm 2009, Nguyễn Đình Thành đã nghiên cứu giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm giảm thiều nguy cơ cháy rừng trồng ở Bình Định Tác giả đã tiến hành nghiên cứu trên trạng thái Bạch đàn và Keo ở các tuổi khác nhau, ảnh hưởng của vật liệu cháy, độ ẩm vật liệu cháy và độ dốc đến khả năng cháy rừng, đồng thời cũng đưa ra một số loài cây trồng làm băng xanh để giảm thiểu nguy cơ cháy rừng như: Sao đen, Muồng đen, Chò chỉ, Dầu rái, Xoan ta, Bời lời nhớt, Sữa Tuy nhiên việc nghiên cứu mới chỉ được thử nghiệm và giới hạn trong một địa phương Vì vậy, cần có những nghiên cứu cho các vùng lân cận để đánh giá chính xác hơn của nghiên cứu này Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã đưa ra bảng phân cấp khả năng xuất hiện cháy rừng theo độ ẩm VLC Việc dự báo khả năng cháy rừng và phân cấp mức độ nguy hiểm của cháy rừng cho từng ngày cụ thể cần phải xác định chính xác độ ẩm vật liệu trong ngày đó Nhưng thực tế điều này rất khó làm, nên việc dự báo phải thông qua yếu tố khí tượng
Năm 2010, Trịnh Phú Thuận đã nghiên cứu xây dựng các giải pháp quản
lý cháy rừng tại thị xã Uông Bí Tác giả đã tiến hành nghiên cứu trên trạng rừng tự nhiên (IIa, IIIa), rừng trồng Keo ở các cấp tuổi, rừng trồng Thông Bạch đàn ở các cấp tuổi Ảnh hưởng của vật liệu cháy, điều kiện khí tượng,
Trang 2819
điều kiện địa hình ảnh hưởng đến khả năng cháy rừng, xây dựng bản đồ quản
lý cháy rừng cho khu vực Uông Bí Tác giả cũng đã đề xuất các biện pháp kỹ thuật: Xây dựng đường băng xanh cản lửa, đường băng trắng, quản lý vật liệu cháy, đốt trước vật liệu cháy Đề tài nghiên cứu đã chỉ ra rằng những nơi có địa hình dốc trên 250 không nên xây dựng băng trắng cản lửa, nên xây dựng đường băng xanh, nếu trong trường hợp chưa có điều kiện có thể làm đường băng trắng 1-2 năm đầu sau đó xây dựng đường băng xanh
1.3.3 Các nghiên cứu về giải pháp kỹ thuật lâm sinh phòng cháy rừng
Trong lĩnh vực quản lý bảo vệ và phát triển rừng nói chung thì việc áp dụng các biện pháp KTLS là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu Ở nước ta đã có một số nghiên cứu biện pháp kỹ thuật lâm sinh phòng cháy rừng (KTLSPCR), các nghiên cứu này tập trung vào các nội dung chủ yếu:
Trồng rừng hỗn giao nhiều loài để hạn chế thực bì là tầng cây bụi và lớp thảm tươi sinh trưởng và phát triển Các tác giả đã tập trung nhiều vào các loài cây mọc nhanh ưu sáng hiện nay như: Keo lai, Keo tai tượng, Bạch đàn Phùng Ngọc Lan (1991) đã gây trồng rừng trồng hỗn giao Thông đuôi ngựa, Keo lá tràm, Bạch đàn trắng ở Núi Luốt - Xuân Mai Nguyễn Hữu Vĩnh, Phạm Thị Huyền, Nguyễn Quang Việt (1994) đã nghiên cứu cơ sở khoa học của phương thức trồng rừng hỗn giao giữa loài Bạch đàn trắng và Keo lá tràm Theo Trần Nguyên Giảng (1985) thí nghiệm trồng rừng hỗn giao trên đối tượng đất trống, trọc sau khí phá rừng để trồng cây lương thực, đất phát triển trên nền đá vôi; thực bì gồm cỏ là xen cỏ tranh, lau, găng gai,… Tác giả đã trồng Keo tai tượng và Keo lá tràm với mật độ 3.300 cây/ha làm áo che phủ; khi keo được 2 tuổi, tác giả đã đưa vào trồng 10 loài cây lá rộng bản địa là: Lát hoa, Sấu, Nhội, Giổi, Kim giao, Trám trắng, Gội trắng, Muồng đỏ, Lim xẹt và giữa hai hàng keo theo phương pháp hỗn giao các loài theo hàng, cự ly 2m x 2m Nguyễn Bá Chất (1994) nghiên cứu cơ cấu cây trồng và xây dựng quy trình hướng dẫn kỹ thuật trồng cho một số loài cây chủ yếu phục vụ Chương trình 327/CT-CP, sau đó là Dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng của Chính phủ
Trang 2920
Đến nay, các Dự án KfW do Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức tài trợ đang hướng đến trồng rừng hỗn loài và chuyển hóa từ rừng trồng thuần loài sang hỗn loài bằng việc kết hợp các cây trồng chính: Keo, Thông mã vĩ… với các loài cây bản địa
Bế Minh Châu, Phùng Văn Khoa (2002), đốt trước vật liệu cháy là biện pháp làm giảm nguồn vật liệu cháy trong rừng bằng cách chủ động đốt những vật liệu dễ cháy trong các khu rừng có nguy cơ cháy cao vào thời gian trước mùa khô, nhưng có sự điều khiển của con người để không gây cháy rừng và hạn chế tới mức thấp nhất những ảnh hưởng bất lợi của lửa gây ra Tuy nhiên, biện pháp này cho tới nay vẫn chưa được áp dụng phổ biến rộng rãi ở nước ta Việc tiến hành đốt trước khá phức tạp, đòi hỏi phải có nhiều kinh nghiệm và phải được chuẩn bị chu đáo cả về lực lượng, phương tiện dập lửa Phó Đức Đỉnh (1996) đã thử nghiệm đốt trước vậy liệu cháy dưới tán rừng thông non 2 tuổi tại Đà Lạt (Lâm Đồng), ở rừng thông non nhất thiết phải thu gom vật liệu cháy vào chính giữa các hàng cây hoặc nơi trống để đốt, chọn thời tiết đốt để ngọn lửa âm ỉ, không cao quá 0,5m Phan Thanh Ngọ (1996) đã thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy dưới tán rừng thông 8 tuổi ở Đà Lạt (Lâm Đồng), với rừng thông lớn tuổi không cần phải thu gom vật liệu cháy trước khi đốt mà chỉ cần tuân thủ nguyên tắc chọn thời điểm và thời tiết thích hợp để đốt Nghi cứu này có thể áp dụng cho một số loại rừng ở địa phương khác như rừng khộp ở Đắc Lắk và Gia Lai
Thái Thành Lượm (1996) đã áp dụng biện pháp đốt trước để xúc tiến tái sinh rừng tràm bằng cách đốt trực tiếp có kiểm soát đúng thời điểm, chia thành nhiều lần đốt để giảm bớt độ che phủ, kích thích hạt giống nảy mầm nhanh, hình thành lớp cây tái sinh dưới tán rừng
Năm 1986, Bộ Lâm Nghiệp nay là Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn đã đưa ra quy định tạm thời về điều kiện đốt trước vật liệu cháy có điều khiển dưới tán rừng thông Quy định này dựa trên các nghiên cứu về lửa rừng trước đó của các chuyên gia, vì vậy việc áp dụng rộng rãi còn nhiều hạn chế
Trang 3021
Tại huyện Định Hóa diện tích rừng có nguy cơ cháy là các khu rừng tự nhiên giáp ranh với các khu làm nương rẫy của bà con dân tộc thiểu số do xử lý thực bì bằng phương pháp đốt dẫn đến cháy lan vào các khu rừng tự nhiên, các khu rừng trúc khuy chết, thảm thực bì khô nỏ và ở Định Hóa thường sảy ra tuyết
do vậy thảm thực bì sẽ chết khi tuyết đóng băng là một trong nguyên nhân dẫn đến nguy cơ cháy rừng cao khi người dân bất cẩn dùng lửa trong rừng
và hoạt động kinh tế - xã hội của con người và cũng khẳng định rằng, chưa có một yếu tố nào khác ngoài ba yếu tố trên Về các kết quả nghiên cứu về DBNCCR đều khẳng định mối liên hệ chặt chẽ giữa điều kiện thời tiết với độ
ẩm vật liệu cháy có khả năng xuất hiện cháy rừng Hầu hết các phương pháp DBNCCR đều tính đến đặc điểm diễn biến hàng ngày của các yếu tố khí tượng Đến nay, vẫn chưa có phương pháp dự báo chung cho cả thế giới Đối với các công trình PCR hiện nay, vẫn chưa đưa ra được phương pháp xác định tiêu chuẩn kỹ thuật cho các công trình PCCR Các biện pháp KTLSPCR trong thời gian qua, cũng chủ yếu làm giảm nguồn vật liệu cháy bằng các biện pháp trồng rừng hỗn giao và làm giảm nguồn vật liệu cháy bằng đốt trước
- Trong nước nghiên cứu về PCCR bắt đầu từ năm 1981, có nhiều phương pháp DBNCCR khác nhau, trong đó vẫn chưa tính đến đặc điểm của các trạng thái rừng, đặc điểm tiểu khí hậu và những yếu tố kinh tế - xã hội có liên quan ảnh hưởng tới cháy rừng ở địa phương Đối với các công trình PCCR hiện nay, còn rất ít nghiên cứu về hiệu lực các công trình cũng như phương pháp PCCR Song các công trình này, được xây dựng dựa vào tài liệu nước
Trang 3122
ngoài là chính Đối với các biện pháp KTLSPCR có nhiều mô hình trồng rừng hỗn giao giữa các loài cây trồng và có thể xem ba công trình thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy rừng là tiêu biểu nhất Tuy nhiên, các tác giả vẫn chưa định lượng được hiệu quả cũng như xác định được ảnh hưởng của đốt trước vật liệu cháy đến hoàn cảnh sinh thái và năng suất rừng, tính thuyết phục của biện pháp đốt trước vật liệu cháy rừng chưa cao
- Hiện nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về PCCCR ở Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên Trong quá trình xây dựng và thực hiện phương án PCCCR của Định Hóa còn chưa bố trí được hợp lý các công trình PCCCR, hoặc tăng cường được những trang bị cần thiết và tổ chức được lực lượng PCCCR hợp lý ở các khu vực khác nhau trong địa bàn huyện, vì tùy thuộc vào từng địa hình, thảm thực vật thì khả năng xảy ra cháy khác nhau Điều này
đã ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của các hoạt động PCCCR của địa phương Vì
vậy, đề tài “Nghiên cứu một số cơ sở khoa học góp phần nâng cao hiệu quả
công tác phòng cháy và chữa cháy rừng tại Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên”
nhằm giảm thiểu nguy cơ cháy rừng ở địa phương và hoàn thiện giải pháp kỹ thuật lâm sinh phòng cháy rừng là hết sức cần thiết
Trang 3223
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các yếu tố ảnh đến công tác phòng cháy chữa cháy rừng tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vị nội dung: Nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất giải pháp phòng
cháy chữa cháy rừng tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
- Phạm vi không gian: Tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, do điều kiền
thời gian hạn chế nên đề tài chỉ nghiên cứu thực địa tại 05 xã (Phú Đình, Thanh Định, Điềm Mặc và Kim Phượng) địa bàn hay xảy ra cháy rừng và có đủ các đối tượng rừng trồng, rừng tự nhiên, với diện tích đủ lớn phù hợp với đề tài nghiên cứu Các xã này là địa bàn sinh sống của nhiều thành phần dân tộc sống phụ thuộc nghề rừng khá phổ biến, đại diện cho địa bàn huyện Vì vậy, việc nghiên cứu đánh giá công tác phòng chống cháy rừng từ các xã đại diện này sẽ giúp tìm ra hướng nâng cao hiệu quả công tác quản lý rừng nói chung và PCCCR nói riêng, đồng thời giúp địa phương
ổn định sản xuất kinh doanh trong nghề rừng
2.2 Địa điểm và thời gian
2.2.1 Địa điểm thực hiện
Đề tài được thực hiện điều tra thực địa tại 5 xã (Phú Đình, Thanh Định, Điềm Mặc và Kim Phượng) huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
2.2.2 Thời gian thực hiện:
Từ tháng 5 năm 2019 đến tháng 8 năm 2020
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện những mục tiêu trên đề tài tiến hành nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau:
Trang 332.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm nghiên cứu và cách tiếp cận của đề tài
Đối với hoạt động phòng cháy rừng, đây là lĩnh vực đòi hỏi phải có sự vào cuộc của tất cả các cấp, các ngành, mọi tổ chức, cá nhân và là trách nhiệm của toàn dân; chính vì vậy mà quan điểm nghiên cứu và cách tiếp cận của đề tài phải có sự tham gia và tính kế thừa, chọn lọc
Đề tài xuất phát từ việc thống kê các kết quả điều tra về nguyên nhân của các vụ cháy rừng trên địa bàn Định Hóa huyện từ năm 2015 đến nay; trên
cơ sở các nguyên nhân gây cháy rừng ta tiến hành điều tra, đánh giá các yếu tố chi phối đặc thù đến việc xuất hiện các nguyên nhân gây cháy rừng như: Thực trạng tài nguyên rừng, ảnh hưởng của vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế
xã hội; thể chế, chính sách, tài chính hiện hành, các phương pháp phòng cháy đang được áp dụng và diễn biến tình hình cháy rừng qua các năm từ đó nhìn nhận rõ mối quan hệ giữa nguyên nhân của các vụ cháy rừng đối với các yếu
tố điều tra để thấy rõ được những ưu điểm, nhược điểm cần khắc phục làm
cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp phòng cháy rừng có hiệu quả tại huyện Định Hóa
Trang 3425
Hình 2.1 Phương hướng giải quyết vấn đề của đề tài 2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.4.2.1 Phương pháp kế thừa thông tin số liệu có chọn lọc
Đề tài kế thừa một số thông tin và số liệu sau:
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên: Các số liệu liên quan về địa hình, khí hậu, thuỷ văn, mưa, nhiệt độ,
Phòng chữa cháy rừng
Khảo sát, điều tra, đánh giá các vấn đề liên quan đến PCR
Phân tích ảnh hưởng của yếu tố
tự nhiên, KT-XH đến CR
Đề xuất các giải pháp phòng
cháy rừng
Các biện pháp phòng cháy rừng đang được
áp dụng
Diễn biến tình hình cháy rừng
từ năm
2015 đến nay
Trang 3526
gió, Dân số, dân tộc, thu nhập của người dân, tình hình khai thác sử dụng lâm sản, săn bắn động vật rừng để từ đó phân tích những tác động, ảnh hưởng của các nhân tố đó như thế nào, mức độ ảnh hưởng đến công tác phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn
- Báo cáo đánh giá về hiện trạng diện tích, chất lượng rừng khu vực nghiên cứu Căn cứ kết quả theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp hàng năm của Hạt Kiểm lâm huyện Định Hóa để thu thập các thông tin về đánh giá hiện trạng về tài nguyên rừng: tập trung vào phân tích các trạng thái rừng, trữ lượng, mức độ dễ cháy của các loại rừng; khối lượng vật liệu cháy trên địa bàn
- Thu thập số liệu các báo cáo sơ kết, tổng kết, đánh giá về công tác PCCCR trên địa bàn huyện Định Hóa do Chi cục Kiểm lâm Thái Nguyên, Hạt Kiểm lâm huyện Định Hóa cung cấp Các số liệu về cơ cấu tổ chức của huyện, nhân lực, các trạm bảo vệ rừng, cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí, con người; sự phối hợp PCCCR như thế nào; hiệu quả PCCCR (số vụ cháy, thiệt hại), vai trò của các bên có liên quan, Từ đó đánh giá thực trạng công tác PCCCR trên địa bàn
- Thông tin về tình hình cháy rừng ở khu vực nghiên cứu được thu thập qua số liệu thống kê hàng năm của Chi cục Kiểm lâm Thái Nguyên, Hạt Kiểm lâm huyện Định Hóa, từ năm 2015 đến nay Căn cứ số liệu về số vụ cháy rừng trên địa bàn, phân tích nguyên nhân gây cháy, diện tích, loại rừng xảy ra cháy, công tác chỉ huy chữa cháy, huy động lực lượng, phương tiện tham gia và công tác hậu cần cho chữa cháy để từ đó rút ra kinh nghiệm và bài học trong phòng
và chữa cháy rừng Đặc biệt là thông qua các vụ cháy lớn đề tài tập chung phân tích về đặc điểm loại rừng, cách thức tổ chức huy động lực lượng, phương tiện, công tác chỉ huy chữa cháy và đảm bảo hậu cần cho công tác chữa cháy để từ
đó đánh giá công tác phòng cháy chữa cháy trên địa bàn, tìm ra nguyên nhân
và rút ra bài học kinh nghiệm trong phòng và chữa cháy rừng của địa phương
Trang 3627
2.4.2.2 Phương pháp điều tra nhanh nông thôn (PRA)
Thông qua việc đi quan sát thực tế và phỏng vấn một số cán bộ và người dân tham gia công tác PCCCR để thu thập những thông tin cần thiết phục vụ
đề tài sử dụng công cụ phỏng vấn cá nhân
Phỏng vấn 10 người là cán bộ làm công tác chuyên trách bảo vệ rừng, cán bộ địa phương liên quan đến bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng trong toàn huyện
Tiến hành phỏng vấn người dân ở 5 xã với số lượng 30 người Phỏng vấn những người là chủ hộ gia đình có rừng, những người này đại diện về tuổi, giới tính, dân tộc, thôn bản… để mang tính khách quan cho toàn huyện
2.4.2.3 Nghiên cứu thực nghiệm tìm ảnh hưởng của thảm thực vật, vật liệu cháy ảnh hưởng đến cháy rừng (thời gian điều tra thu thập số liệu vào tháng 10/2019-03/2020)
Cấu trúc các trạng thái rừng được thu thập bằng phương pháp điều tra trên các ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời, diện tích mỗi ô tiêu chuẩn là 1000m2, trên mỗi ô tiêu chuẩn tiến hành điều tra các cây tầng cao với các nhân tố điều tra H(vn); D13; Dt
Tiến hành xác định độ tàn che bằng phương pháp hệ thống mạng lưới điểm (100 điểm) Tùy từng diện tích ô tiêu chuẩn mà bố trí các điểm điều tra, sao cho các điểm điều tra bố trí đều trong các ô tiêu chuẩn Dùng một cây gậy nhỏ chiếu thẳng tán nếu gặp tán thì ghi số 1, không nhìn thấy tán thì ghi số 0, lúc nhìn thấy, lúc không nhìn thấy mép tán thì ghi 0,5
Công thức xác định độ tàn che:
(2.1)
Kết quả tra ghi vào bảng 01
ĐTC = ∑ số điểm ghi 1 + ½ (∑ số điểm ghi 0,5)
∑ số điểm điều tra
Trang 3728
Mẫu bảng 01: Điều tra tầng cây cao
- Chiều cao cây bụi thảm tươi được đo bằng sào có độ chính xác đến 0,5m
- Độ che phủ chung của cây bụi thảm tươi được xác định trên các ô dạng bản, xác định độ che phủ của cây bụi thảm tươi thiêu hệ thống điểm: Nếu điểm điều tra có tán che của cây bụi thảm tươi ghi 1, nếu không có tán che của cây bụi thảm tươi ghi 0 Độ tàn che của cây bụi thảm tươi chung cho toàn ô tiêu chuẩn được tính bằng tỷ số giữa tổng số điểm điều tra có giá trị che phủ bằng 1
trên tổng số điểm điều tra (90 điểm) Kết quả được ghi vào mẫu bảng 02
Mẫu bảng 02: Điều tra tình hình sinh trưởng của cây bụi thảm tươi
Trang 38
* Điều tra cây tái sinh được điều tra trên 5 ô dạng bản
- Chiều cao cây tái sinh xác định bằng sào có độ chính xác đến dm
- Chất lượng cây tái sinh được đánh giá qua hình dạng, hình dạng tán cây tái sinh và phân ra 3 cấp tốt, trung bình, xấu kết quả điều tra ghi vào bảng 03
Mẫu bảng 03: Điều tra cây tái sinh
TT
ÔDB Loài cây
chú
<0,5m 0,5-1m ≥1m Tốt TB Xấu
* Điều tra đặc điểm vật liệu cháy, ẩm độ của vật liệu cháy
Vật liệu cháy được điều tra trên 5 ô dạng bản có diện tích 1m2 phân bổ ở góc và giữa các ô dạng bản 25m2 của ô tiêu chuẩn Điều tra thành phần của thảm khô, thảm tươi và xác định khối lượng của vật liệu cháy bằng cân Số liệu điều tra được thống kê vào mẫu bảng sau:
Mẫu bảng 04: Điều tra vật liệu cháy
Trang 39Thảm khô
Thảm tươi
Thảm khô
Dễ
cháy
Khó cháy
Dễ cháy
Khó cháy
Trên mỗi ô tiêu chuẩn tiến hành đốt thử ngẫu nhiên 3 ô mẫu, diện tích đốt thử là 9m2 (3m x 3m), trước khi đốt cần chuẩn bị đầy đủ các yêu cầu, đảm bảo an toàn chánh để cháy lan Xác định thời gian ngọn lửa cháy hết, chiều cao ngọn lửa và chiều cao ảnh hưởng của ngọn lửa
Phương pháp điều tra thực hiện trên các ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời Tại các trạng thái rừng tự nhiên, mỗi trạng thái bố trí 01 Ô tiêu chuẩn Đối với rừng trồng trên địa bàn huyện, điều tra trên rừng trồng hai loài chủ yếu là Quế và Keo thuần loài, đối tượng 3 năm tuổi trở lên, mỗi loại rừng trồng bố trí 01 OTC
Điều tra ẩm độ của vật liệu cháy: Đối với rừng tự nhiên, diện tích
OTC là 1000 m2 (25mx40m), đối với rừng trồng là 500 m2 (20mx25m) Vật liệu cháy được điều tra trên 5 ô dạng bản có diện tích 25m2 (5mx5m) phân
bố ở 4 góc và giữa các ô tiêu chuẩn để xác định sinh khối cây bụi thảm tươi
và thảm khô (phụ lục 4) Xác định khối lượng của vật liệu cháy bằng cách thu gom toàn bộ vật liệu cháy trong ô dạng bản gồm 02 loại: thảm khô và thảm tươi và xác định sinh khối của vật liệu cháy bằng cân Đối với thảm khô thu gom toàn bộ cành khô, lá rụng; đối với thảm tươi tiến hành chặt toàn bộ cây bụi
Để quy đổi lượng vật liệu cháy xác định ở hiện trường thành lượng khô của chúng (xác định độ ẩm VLC), trên mỗi OTC của từng trạng thái lấy 01 kg/
01 mẫu về sấy VLC ở 105oC tại phòng thí nghiệm từ 6 đến 8 giờ đến khối lượng không đổi Tính độ ẩm vật liệu cháy theo công thức sau (Theo Phạm Ngọc Hưng, 1988):
Trang 4031
W = (Q0 - Q)*100% (2.2.)
Trong đó:
W là độ ẩm của vật liệu cháy (%)
Q0 là Khối lượng mẫu trước khi sấy (kg)
Q là Khối lượng khô tuyệt đối sấy ở 105oC (kg)
Để có thể dự báo cháy rừng dựa trên độ ẩm của vật liệu cháy, sau khi có kết quả nghiên cứu phải dựa theo tài liệu của Phạm Ngọc Hưngs được thể hiện ở bảng dưới đây, từ đó dự báo cấp cháy và đặc trưng cháy cho địa phương
Cấp dự báo cháy rừng theo độ ẩm vật liệu cháy (Phạm Ngọc Hưng, 1988)
lan tràn lửa rất nhanh
2.4.2.4 Phương pháp phân tích số liệu
Dựa vào số liệu đã thu thập tại khu vực nghiên cứu, tôi tiến hành tổng hợp và phân tích số liệu để đánh giá được thực trạng công tác PCCCR giai đoạn 2015 - 2019, theo từng nội dung nghiên cứu của đề tài và viết luận văn