1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Tiểu luận: CHƯƠNG TRÌNH KHAI THÁC THUỘC ĐỊA LẦN THỨ HAI VÀ NHỮNG CHUYỂN BIẾN KINH TẾ-XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ppt

19 2,6K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai và những chuyển biến kinh tế-xã hội ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Thùy Trang
Người hướng dẫn GVHD. Trịnh Thành Công
Trường học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam cận đại
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của chương trình khai thác thuộc địa lần hai của thực dân Pháp Sau chiến tranh thứ nhất, tuy thắng trận nhưng nước Pháp đã chịu nhiều hậu quả hết sức nặng nề.. Do đó, để giải qu

Trang 1

CHƯƠNG TRÌNH KHAI THÁC THUỘC ĐỊA

LẦN THỨ HAI VÀ NHỮNG CHUYỂN BIẾN

KINH TẾ-XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LỊCH SỬ

- -Đề tài:

TP Hồ Chí Minh tháng 11/2012

GVHD: Trịnh Thành Công SVTH: Nguyễn Thị Thùy Trang MSSV: K37.602.104

Lớp: K37_Sử B Môn: Lịch sử Việt Nam cận đại

Trang 2

MỤC LỤC

I Hoàn cảnh lịch sử 3

1 Tình hình thế giới 3

2 Nước Pháp sau chiến tranh thế giới thứ nhất 3

II Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp 4

1 Mục đích của chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp 4

2 Nội dung của chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp 4

III Những biến đổi trong nền kinh tế-xã hội của Việt Nam từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất 5

1 Những biến đổi trong nền kinh tế 5

2 Những biến đổi trong xã hội 10

IV Kết luận 14

Phụ lục 15

Tài liệu tham khảo 19

Trang 3

I Hoàn cảnh lịch sử

1 Tình hình thế giới

Vào 30 năm cuối thế kỉ XIX, chủ nghĩa tư bản chuyển nhanh từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền, sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh, nhu cầu về thị trường, nguyên liệu, nhân công ngày càng tăng Đó chính là nguyên nhân dẫn tới các cuộc chiến tranh xâm lược của các nước phương Tây đối với các quốc gia phong kiến phương Đông

Cùng với đó là sự thức tỉnh về ý thức dân tộc và chủ quyền quốc gia của dân tộc phương Đông, mà Lênin gọi là “Sự thức tỉnh của phương Đông” vào đầu thế kỉ XX

Cách mạng tháng 10 Nga (1917) thành công đã đưa đến sự ra đời của nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới, trở thành ngọn đuốc soi đường cho phong trào cách mạng thế giới

Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) được thành lập cùng với sự ra đời hàng loạt các Đảng Cộng sản như Đảng Cộng sản Pháp 1920, Đảng Cộng sản Trung Quốc 1921 đã tác động tích cực đến phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa của Pháp

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc phát triển mạnh mẽ

2 Tình hình nước Pháp sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918)

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, tuy là nước thắng trận nhưng nền kinh tế Pháp bị tàn phá nặng nề, hơn 1,4 triệu người chết, thiệt hại về vật chất lên tới 200 tỉ Frang Các cơ sở sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải bị tàn phá trầm trọng, thương nghiệp bị đình trệ, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, đồng Frang bị mất giá, các khoản đầu tư ở Nga là 5 tỉ Frang bị mất trắng Nước Pháp trở thành con nợ lớn, nhất là của Mĩ, năm 1920 nợ 300 tỉ Frang Chiến tranh cúng đã tiêu huỷ hàng triệu Frang đầu tư của Pháp ở nước ngoài, điển hình cuộc Cách mạng tháng Mười Nga đã làm mất thị trường đầu tư lớn nhất của Pháp tại châu Âu Các vấn đề lạm phát, tăng giá và đời sống khó khăn của các tầng lớp lao động đã làm trỗi dậy các phong trào đấu tranh chống chính phủ

Trang 4

II Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp ở Đông Dương

1 Mục đích của chương trình khai thác thuộc địa lần hai của thực dân Pháp

Sau chiến tranh thứ nhất, tuy thắng trận nhưng nước Pháp đã chịu nhiều hậu quả hết sức nặng nề Do đó, để giải quyết những nhu cầu về kinh tế, chính trị và xã hội nước Pháp sau chiến tranh, bù đắp những thiệt hại do chiến tranh gây ra và khôi phục vị thế của Pháp trong thế giới tư bản, giai cấp tư sản Pháp đẩy mạnh công cuộc khai thác thuộc địa tập trung chủ yếu vào Đông Dương và Châu Phi nhưng tập trung chủ yếu vào Việt Nam

2 Nội dung của chương trình khai thác thuộc địa lần hai của thực dân Pháp

Về thời gian, cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai được bắt đầu từ sau khi kết thức Chiến tranh thế giới thứ nhất và chấm dứt trước cuộc tổng khủng hoảng 'kinh tế thế giới, tức là từ năm

1919 đến năm 1929

Điểm nổi bật của chương trình khai thác thuộc địa lần hai là được tiến hành trên quy mô lớn gấp nhiều lần so với trước chiến tranh

Thời kì trước chiến tranh trong vòng 30 năm (1888-1918), tư bản Pháp đầu tư vào Đông Dương trên dưới 1 tỷ Frang vàng, thì chỉ trong vòng 6 năm (1924-1929), con số đó đã tăng lên đến 4 tỷ Frang

Biểu đồ thể hiện sự tập trung đầu tư vốn vào một số ngành kinh tế chủ yếu của tư bản Pháp trong cuộc khai thác thuộc địa

lần 2

Trang 5

Như vậy sự đầu tư có xu hướng tập trung vào nông nghiệp, chủ yếu lúa gạo xuất khẩu và cao su Trong khi đó vào đầu thế kỉ XX với “Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất”, sự đầu tư được ưu tiên cho khai thác mỏ, giao thông vận tải và thương mại

Trong thời điểm này nổi bật lên vai trò của Ngân hàng Đông Dương trong hoạt động kinh

tế cũng như trong sự đầu tư của tư bản Pháp ở Việt Nam Với các chức năng phát hành tiền, thương mại và đầu tư, có thể nói Ngân hàng Đông Dương đã can thiệp sâu vào lĩnh vực kinh

tế-xã hội Việt Nam, giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển nền kinh tế Đông Dương

Sự tăng cường đầu tư của tư bản Pháp trong “Chương trình khai thác thuộc địa lần 2” đã

có tác động và ảnh hưởng quan trọng làm biến đổi mạnh mẽ cơ cấu và trình độ phát triển của các ngành kinh tế truyền thống ở Việt Nam

III Những biến đổi trong nền kinh tế-xã hội của Việt Nam từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất

1 Những biến đổi trong nền kinh tế

a) Nông nghiệp

Dưới tác động của công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, cơ cấu và trình độ phát triển của nền kinh tế Việt Nam tiếp tục có những bước chuyển biến theo hướng hiện đại

Sự đầu tư vào nông nghiệp tăng nhanh từ 52 triệu Frang (1924) lên tới 400 triệu Frang (1927) Diện tích trồng lúa và sản lượng cũng tăng nhanh theo từng năm 1939: 4,4 triệu ha, 5,25 triệu tấn; 1943: 4,7 triệu ha, 6,04 triệu tấn

Kinh tế nông nghiệp Việt Nam giai đoạn này có xu hướng gắn liền với thị trường bên ngoài chủ yếu các thị trường lúa gạo và cao su Dường như đã có những mâu thuẫn giữa hai xu hướng: một mặt tăng cường sự phụ thuộc của kinh tế Đông Dương đối với chính quốc, mặt khác

do có sự gắn kết với thị trường bên ngoài tạo nên sự phát triển và những biến đổi về kinh tế Việt Nam

Sự mở rộng và phát triển kinh tế đồn điền, trước hết về diện tích, chỉ trong vòng 30 năm

từ 1900 đến 1930 đã tăng từ 322.000 ha lên đến 1.025.600 ha Năm 1937, toàn Đông Dương có

Trang 6

814 đồn điền cao su, trong đó 382 đồn điền của người Pháp chiếm tới 93,4% tổng diện tích Trong kinh doanh cao su đã hình thành ba tập đoàn lớn: Công ty đất đỏ, Công ty trồng cây nhiệt đới và Công ty Misơlanh Ngoài ra còn có các đồn điền trồng cây công nghiệp như chè, cà phê, mía được xây dựng và mở rộng diện tích Cà phê dược trồng chủ yếu ở Bắc Kì và Trung Kì, có diện tích 10.000 ha, sản lượng từ 2000-3000 tấn/năm

Nhìn chung, từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, nông nghiệp Việt Nam đã có biến đổi theo chiều hướng phát triển, tuy nhịp độ tăng trưởng vẫn còn tương đối thấp (khoảng 1,4%) Ở khu vực kinh tế đồn điền, khoa học kỹ thuật đã được áp dụng, công cụ lao động đã được cải tiến, công tác thủy lợi có nhiều tiến bộ Tuy nhiên, do phương thức canh tác và trình độ kỹ thuật nông nghiệp cũng còn rất hạn chế, bên cạnh đó ảnh hưởng của thiên tai, bão lụt dẫn tới năng suất không ổn định tuy diện tích và sản lượng vẫn tăng Cùng với sự gia tăng dân số và tình trạng mất cân đối giữa xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng (khoảng ¼ sản lượng lúa gaojdanhf cho xuất khẩu), bình quân lương thực ngày càng giảm, dẫn tới nạn thiếu lương thực thường trực có tính phổ biến ở nhiều nông thôn Từ những nguyên nhân trên, đối với nông dân vấn đề ruộng đất đã trở nên cấp bách, tạo ra tiền đề cho một cuộc cách mạng dân chủ bên cạnh cách mạng dân tộc

b) Thủ công nghiệp

Đây cũng là thời kì tiểu thủ công nghiệp Việt Nam có những bước phát triển mới, các ngành nghề thủ công truyền thống đã có sự quan tâm của chính quyền thuộc địa, nhiều hội đoàn

đã ra đời với mục đích bảo vệ quyền lợi người lao động thuộc ngành nghề

Sự phát triển mới của tiểu thủ công nghiệp Việt Nam vào thời gian này còn có nguyên nhân từ nhu cầu cao của thị trường trong nước, từ sự mở rộng và phát triển của các đô thị và sự tập trung dân số ở các thị xã, thị trấn cũng như sự du nhập của các phương tiện máy móc kĩ thuật

từ nước ngoài

Tiểu thủ công nghiệp phát triển chủ ysud ở Bắc Kì và Trung Kì (khoảng 7% cư dân sống bằng nghề thủ công) Ngoài các ngành thủ công truyền thống cũng đã xuất hiện thêm một số ngành mới, như: dệt, gốm sứ, mỹ nghệ, mộc…

Nói chung từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, tiểu thủ công nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển mới cả về số lượng ngành nghề cũng như số lượng người tham gia, ước

Trang 7

tính thời gian này có khoảng 108 nghề thủ công khác nhau, với tổng số thợ thủ công vào năm

1943 là 277.400, riêng Bắc Kì là 171.500 người

Tuy nhiên tiểu thủ công nghiệp Việt Nam có một số hạn chế trong quá trình phát triển, đó

là việc gắn chặt và phụ thuộc vào nông nghiệp, hoạt động thủ công nghiệp mang nặng tính gia đình Tuy có nhiều hạn chế trong cơ cấu và tốc độ phát triển nhưng sự có mặt của thủ công nghiệp trong giai đoạn này đã tạo ra những tiền đề không thể thiếu cho sự ra đời của công nghiệp dân tộc và bộ phận tư sản dân tộc cũng như vai trò, vị trí của họ trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ

c) Công nghiệp

Chủ trương chung của thực dân Pháp đối với Đông Dương “công nghiệp thuộc địa chỉ có thể bổ sung hoặc hỗ trợ, chứ không thể làm tổn hại đến công nghiệp chính quốc”, theo tinh thần trên nền công nghiệp Đông Dương chỉ có thể phát triển có mức độ và không thể cạnh tranh với chính quốc Do đó trong thời kì này, công nghiệp Đông Dương có ba ngành chính: công nghiệp

mỏ, công nghiệp chế biến và công nghiệp nhẹ

Dù không cân đối và què quặt nhưng nền công nghiệp Việt Nam cũng đã xuất hiện

một nền công nghiệp với hai bộ phận công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ Vào những năm

1920, công nghiệp Việt Nam được tăng cường theo hai hướng chính: mở rộng về quy mô, về cường độ các xí nghiệp, nhà máy đã có từ trước; xây dựng thêm những xí nghiệp những công ty mới

Như vậy, so với thời kỳ trước, ngành công nghiệp đã có bước tiến về chất Chẳng hạn, trong khai khoáng, đi đôi với việc thành lập các công ty mới như Công ty than Hạ Long, Công

ty than và mỏ kim khí Đông Dương đã xuất hiện một số cơ sở chế biến quặng, đúc kim, thiếc

ở Quảng Yên, Hải Phòng, Cao Bằng-những loại hình công nghiệp còn vắng bóng trước chiến tranh

Cùng với sự điều chỉnh trong khu vực công nghiệp nặng, khu vực công nghiệp nhẹ cũng trở nên sôi động hơn, không chỉ tăng số lượng các nhà máy chế biến nông sản tại chỗ, mà còn được nâng cấp, mở rộng quy mô sản xuất Nhà máy dệt Nam Định được xây dựng từ những năm

Trang 8

cuối thế kỷ XIX nay được mở rộng, nâng cấp để trở thành một trung tâm dệt nổi tiếng trên toàn liên bang với một tổ hợp nhà máy khép kín từ khâu đầu đến khâu cuối

A.Dumarest-nhà xã hội học người Pháp đã nhận xét “từ 1919 xứ Đông Dương đã xa dần giai đoạn tiền tư bản để tiến sát gần với chủ nghĩa tư bản thực sự”, nhận xét đó có thể thực sự chưa đúng với thực tế nhưng trong một chừng mực nào đó nó cũng đã phản ánh được sự phát triển của công nghiệp Đông Dương cũng như Việt Nam bấy giờ

d) Giao thông vận tải

Giao thông vận tải là một thành tố trong cơ sở hạ tầng, đã được thực dân Pháp chủ yếu đầu tư xây dựng ngay từ đầu, nay được tiếp tục đầu tư vốn và kỹ thuật, hoàn tất những công trình đang dang dở và nâng cấp một số phương tiện giao thông vận tải mới

Trên tuyến đường sắt xuyên Việt, thực dân Pháp tiếp tục xây dựng các đoạn Vinh - Đông

Hà, Đồng Đăng - Na Sầm; đến năm 1931 đã xây dựng được 2389 km đường sắt trên đất Việt Nam

Đường bộ tiếp tục được xây dựng, nhiều con đường quốc lộ và liên tỉnh đã được rải đá cấp phối và tráng nhựa Đến năm 1930, Pháp đã mở được 15.000 km đường bộ, trong đó có khoảng 2.000 km đường rải nhựa ,đường sắt, đường bộ có vị trí quan trọng trong kinh tế đối nội

Đường thủy đóng vai trò chủ đạo trong kinh tế đối ngoại Nó là phương tiện giao thông duy nhất lúc đó nối nước ta với các nước bên ngoài Vì thế, cùng với quá trình hiện đại hóa các hải cảng đã có như cảng Sài Gòn, Hải Phòng, Đà Nẵng, Pháp cho xây dựng các hải cảng mới như Hòn Gai, Bến Thủy Mạng lưới vận tải đường sông vùng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long cũng được khai thác triệt để

Như vậy sự phát triển của giao thông vận tải thời kì này đã góp phần thống nhất thị trường dân tộc, tạo tiền đề phát triển kinh tế hàng hóa

Trang 9

e) Thương nghiệp

Thương nghiệp gồm ngoại thương và nội thương cũng có những bước tiến mới mà chủ yếu là ngoại thương đã có những bước phát triển mới so với chiến tranh

Ơ Việt Nam thời gian này xuất hiện các chợ lớn như chợ Bến Thành (Sài Gòn), chợ Đông

Ba (Huế), chợ Đồng Xuân (Hà Nội)

Ngoại thương là lĩnh vực buôn bán mà Pháp độc quyền Thực dân Pháp dựng hàng rào thuế quan để bảo hộ hàng hóa chính quốc bằng cách đánh thuế cao hàng hóa nước ngoài, đặc biệt là hàng hóa Trung Quốc và Nhật Bản đã hạn chế đến mức tối đa hàng ha của nước ngoài nhập vào Đông Dương, tạo điều kiện tốt nhất cho hàng hóa Pháp tràn ngập thị trường Việt Nam Tuy vậy, chỉ số ngoại thương tính trên đầu người còn rất thấp, chỉ đạt 180 Frang Do đó mà hàng xuất khẩu chủ yếu là hàng thô hoặc mới qua sơ chế có khối lượng nhiều nhưng giá trị thấp như gạo (60-70%), cao su, than…

Nhìn chung, đặc trưng của nền thương mại thuộc địa được phản ánh rõ nét trong cơ cấu xuất nhập Xuất chủ yếu là những mặt hàng nguyên liệu, nông sản phẩm Nhập chủ yếu là những mặt hàng công nghiệp, kỹ thuật, những mặt hàng tiêu dùng cao cấp từ Pháp

f) Tài chính

Bao trùm toàn bộ đời sống kinh tế Đông Dương là hệ thống ngân hàng, đứng đầu là Ngân hàng Đông Dương

Ngân hàng Đông Dương, ngoài chức năng được quyền phát hành giấy bạc, đã chỉ đạo các ngân hàng hàng tỉnh (19 Nông phố Ngân hàng) trong việc cho vay lãi, góp vốn thành lập các công ty, các đồn điền, các nhà máy

Như vậy, dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, nền kình tế Việt Nam

tiếp tục chuyển biến sâu sắc thêm theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực Về hình thức đó là một cơ cấu kinh tế thuộc địa, đã mang sắc thái hiện đại nhưng thực chất đây chính là một cơ cấu kinh tế

thuộc địa mất cân đối, què quặt được biểu hiện rõ nét ở tỷ lệ giữa khu vực công nghiệp và nông

Trang 10

nghiệp, giữa khu vực công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ và giữa các vùng và các miền của đất nước

Tuy nhiên sự tăng trưởng kinh tế đã không tỷ lệ thuận với đời sống của đại đa số tầng lớp nhân dân, nông dân ngày càng có xu hướng bần cùng hóa, từ năm 1885 đến 1943, dân số tăng gấp 2 lần trong khi diện tích canh tác chỉ tăng 0,5 lần

Tính chất thuộc địa nửa phong kiến của kinh tế Việt Nam ngày càng đậm nét hơn trong thời kì này Nhưng dưới ảnh hưởng và tác động khách quan của quá trình đầu tư khai thác, kinh

tế Việt Nam cũng đã có nhiều biến đổi quan trọng với những bước phát triển mới

2 Những biến đổi trong xã hội

Trên phương diện xã hội, sau cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, xã hội Việt Nam tiếp tục có sự phân hóa giai cấp sâu sắc và cùng với nó là sự xuất hiện một hệ thống thành phố kiểu phương Tây

a) Địa chủ phong kiến

Nét đặc trưng của xã hội thuộc địa là sự cấu kết chặt chẽ giữa thực dân và giai cấp địa chủ phong kiến bản xứ

Giai cấp địa chủ vì thế, không những không bị thu hẹp lại, mà trái lại được phát triển đủ mạnh để có thể trở thành nền tảng xã hội của chế độ thuộc địa Thế lực này được đo bằng số ruộng đất tập trung trong tay họ Ở Nam Kỳ, mức độ tập trung ruộng đất cao hơn Bắc Kỳ và Trung Kỳ

Trong giai cấp địa chủ đã xuất hiện sự phân tầng rõ rệt: địa chủ nhỏ, địa chủ vừa và đại địa chủ Nam Kỳ là nơi tập trung nhiều đại địa chủ, có 2.449 đại địa chủ sở hữu từ 100 - 500 ha

và 244 đại địa chủ sở hữu trên 500 ha

Nhìn chung, giai cấp địa chủ thời kỳ này chiếm khoảng 7% cư dân nông thôn, nhưng đã nắm trong tay một nửa diện tích canh tác Đến năm 1939, Việt Nam có khoảng 6.500 địa chủ sở hữu trên 50 ha ruộng đất, trong đó Nam Kỳ có 6.200, Bắc Kỳ có 200 và Trung Kỳ có 100 người

Giai cấp “ngồi mát ăn bát vàng" này đã tách khỏi quá trình sản xuất, sống bằng việc phát canh thu tô (tô tiền, tô hiện vật và tô lao dịch) Do sự nâng đỡ của chính quyền thực dân, giai

Ngày đăng: 16/02/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w