1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn vấn đề đạo đức của cán bộ, đảng viên trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở hải phòng hiện nay

153 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn Đề Đạo Đức Của Cán Bộ, Đảng Viên Trong Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Hải Phòng Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học Hải Phòng
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại luận văn
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 481,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đạo đức cách mạng là nền đạo đức tích tụ nhiều giá trị đạo đức truyền thống dân tộc và đạo đức nhân loại. Nó có vị trí đặc biệt quan trọng, là nhân tố có sức mạnh to lớn đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước ta hơn nửa thế kỷ qua. Nó đã trở thành nền tảng đạo đức xã hội ta, một di sản văn hóa vô cùng quý báu, đã và đang là động lực tinh thần to lớn cho toàn Đảng, toàn dân trong sự nghiệp đổi mới đất nước, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nhận thức được vai trò to lớn của đạo đức cách mạng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng và thường xuyên chăm lo giáo dục, trau dồi đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Do đó, cách mạng nước ta trong những năm qua, đặc biệt, sau 18 năm đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), đã đạt được những thành quả to lớn chưa từng có trong lịch sử Việt Nam về kinh tế, chính trị, xã hội. Nhưng bên cạnh những thành tựu nói trên, chúng ta cũng đang đối mặt với những suy thoái về đạo đức, lối sống đang diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Đáng chú ý là sự suy thoái này ngày một gia tăng. Điều đó Đảng ta đã khẳng định qua các kỳ Đại hội: Đại hội Đảng lần thứ VI nhận định: Tình trạng vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật nhà nước nghiêm trọng kéo dài chưa giảm 29, tr. 9. Đại hội Đảng lần thứ VII nhận định: Số đảng viên vi phạm kỷ luật trong số được kiểm tra tăng lên nhiều hơn 29, tr. 10. Đại hội Đảng lần thứ VIII khẳng định: Điều đáng lo ngại là không ít cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, tha hóa về phẩm chất, đạo đức 26, tr. 27. Đến Đại hội Đảng lần thứ IX, Đảng ta một lần nữa nhấn mạnh: Tình trạng tham nhũng, suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng 30, tr. 76. Đạo đức cán bộ, đảng viên ở Hải Phòng cũng không nằm ngoài tình trạng chung đó. Sự suy thoái đạo đức xã hội ngày càng gia tăng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đó đã làm giảm uy tín của Đảng, suy giảm niềm tin của nhân dân đối với chế độ, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) ở nước ta nói chung, ở Hải Phòng nói riêng. Vậy tại sao có sự suy thoái về đạo đức ngày càng gia tăng trong một bộ phận cán, bộ đảng viên ở Hải Phòng? Làm thế nào để khắc phục được tình trạng trên? Làm sao để có được đội ngũ cán bộ, đảng viên không chỉ có năng lực chuyên môn mà còn có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng làm động lực phát triển kinh tế xã hội ở Hải Phòng?

Trang 1

LUẬN VĂN- Vấn đề đạo đức của cán bộ, đảng viên trong kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Hải Phòng hiện nay

Mục Lục

Trang

Chương 1: tầm quan trọng và yêu cầu của đạo đức

người cán bộ, đảng viên trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Hải Phòng hiện nay

6

1.1

Tầm quan trọng của đạo đức người cán bộ, đảng

viên trong kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

6

1.2

Yêu cầu của đạo đức người cán bộ, đảng viên

trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa ở Hải Phòng hiện nay

30

Chương 2: Đạo đức của cán bộ, đảng viên trong kinh tế

thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Hải Phòng hiện nay - Thực trạng và giải pháp

Trang 2

cách mạng cho cán bộ, đảng viên trong kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Hải Phòng

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đạo đức cách mạng là nền đạo đức tích tụ nhiều giá trị đạođức truyền thống dân tộc và đạo đức nhân loại Nó có vị trí đặc biệtquan trọng, là nhân tố có sức mạnh to lớn đối với sự nghiệp cáchmạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước ta hơn nửa thế kỷqua Nó đã trở thành nền tảng đạo đức xã hội ta, một di sản văn hóa

vô cùng quý báu, đã và đang là động lực tinh thần to lớn cho toàn

Trang 3

Đảng, toàn dân trong sự nghiệp đổi mới đất nước, nhằm mục tiêudân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Nhận thức được vai trò to lớn của đạo đức cách mạng đối với

sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xãhội (CNXH), Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vàthường xuyên chăm lo giáo dục, trau dồi đạo đức cách mạng chocán bộ, đảng viên Do đó, cách mạng nước ta trong những năm qua,đặc biệt, sau 18 năm đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường(KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), đã đạt được nhữngthành quả to lớn chưa từng có trong lịch sử Việt Nam về kinh tế,chính trị, xã hội Nhưng bên cạnh những thành tựu nói trên, chúng

ta cũng đang đối mặt với những suy thoái về đạo đức, lối sống đangdiễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên Đáng chú ý là sự suythoái này ngày một gia tăng Điều đó Đảng ta đã khẳng định qua các

kỳ Đại hội:

Đại hội Đảng lần thứ VI nhận định: "Tình trạng vi phạm kỷluật Đảng, pháp luật nhà nước nghiêm trọng kéo dài chưa giảm"[29, tr 9]

Đại hội Đảng lần thứ VII nhận định: "Số đảng viên vi phạm

kỷ luật trong số được kiểm tra tăng lên nhiều hơn" [29, tr 10]

Đại hội Đảng lần thứ VIII khẳng định: "Điều đáng lo ngại làkhông ít cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, tha hóa vềphẩm chất, đạo đức" [26, tr 27]

Trang 4

Đến Đại hội Đảng lần thứ IX, Đảng ta một lần nữa nhấnmạnh: "Tình trạng tham nhũng, suy thoái về chính trị, đạo đức, lốisống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêmtrọng" [30, tr 76].

Đạo đức cán bộ, đảng viên ở Hải Phòng cũng không nằmngoài tình trạng chung đó

Sự suy thoái đạo đức xã hội ngày càng gia tăng trong một bộphận cán bộ, đảng viên đó đã làm giảm uy tín của Đảng, suy giảmniềm tin của nhân dân đối với chế độ, ảnh hưởng không nhỏ đến quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) ở nước ta nóichung, ở Hải Phòng nói riêng

Vậy tại sao có sự suy thoái về đạo đức ngày càng gia tăngtrong một bộ phận cán, bộ đảng viên ở Hải Phòng? Làm thế nào đểkhắc phục được tình trạng trên? Làm sao để có được đội ngũ cán bộ,đảng viên không chỉ có năng lực chuyên môn mà còn có phẩm chấtđạo đức cách mạng trong sáng làm động lực phát triển kinh tế - xãhội ở Hải Phòng?

Đó là những vấn đề lớn, bức xúc đặt ra đối với Đảng bộ và

nhân dân thành phố Hải Phòng Đề tài: "Vấn đề đạo đức của cán

bộ, đảng viên trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Hải Phòng hiện nay" muốn góp một phần nhỏ vào việc

giải quyết vấn đề lớn đó

Trang 5

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề đạo đức nói chung, đạo đức cách mạng trong điềukiện KTTT định hướng XHCN nói riêng đã có nhiều cá nhân và tậpthể tác giả quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau, với

những cách tiếp cận khác nhau như: Vũ Khiêu: "Mấy vấn đề đạo đức cách mạng", Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1978; Nguyễn Ngọc Long: "Quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và đạo đức trong việc đổi mới tư duy", Tạp chí Nghiên cứu Lý luận, số 1-2/1987; Trần Thành: "Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức", Nxb Chính trị quốc gia, 1996; Nguyễn Tĩnh Gia: "Sự tác động hai mặt của cơ chế thị trường đối với đạo đức người cán bộ quản lý", Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 2/1997; Nguyễn Chí Mỳ: "Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay", Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Nguyễn Ngọc Long (chủ biên):

"Giáo trình đạo đức học", Nxb Chính trị quốc gia, 2000; Nguyễn Văn Lý: "Kế thừa và đổi mới những giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế trị trường Việt Nam hiện nay", Luận án Tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000; Nguyễn Thế Thắng: "Tìm hiểu tư tưởng đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh", Nxb Lao động, Hà Nội, 2002; Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Phúc (Đồng chủ biên), Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện

Trang 6

nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; Nguyễn thế Kiệt (chủ nhiệm đề tài), Kỷ yếu đề tài cấp bộ (2002-2003), Đạo đức người cán bộ lãnh đạo chính trị trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, thực trạng và xu hướng biến động, Hà Nội, 2003; Trần Văn Phòng: "Tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ lãnh đạo chính trị hiện nay", Tạp chí Lý luận chính trị, số 5-2003.

Một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề xây dựng đạođức cho cán bộ, đảng viên của các tác giả như: Đặng Thanh Giang:

"Vấn đề xây dựng đạo đức mới cho cán bộ cơ sở trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay" (qua thực tế ở tỉnh Thái

Bình), Luận văn Thạc sĩ triết học, Hà Nội, 2001; Dương Xuân Lộc:

"Quan hệ kinh tế và đạo đức với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ, đảng viên hiện nay" (qua thực tế ở Thành phố Hồ Chí

Minh), Luận văn Thạc sĩ triết học, Hà Nội, 2001; Trương Thế

Thắng: "Vấn đề xây dựng đạo đức mới cho cán bộ, đảng viên trong điều kiện kinh tế thị trường ở tỉnh Hà Giang hiện nay", Luận văn

chúng tôi chọn đề tài: "Vấn đề đạo đức của cán bộ, đảng viên

Trang 7

trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Hải Phòng hiện nay" để viết luận văn thạc sĩ Triết học.

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

Phân tích thực trạng đạo đức cán bộ, đảng viên trong điềukiện KTTT định hướng XHCN ở Hải Phòng, từ đó đề ra những giảipháp chủ yếu nhằm xây dựng và nâng cao đạo đức cách mạng cho

họ ở Hải Phòng hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 8

Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước

ta hiện nay, thông thường cán bộ là đảng viên Tuy nhiên, có cán bộkhông là đảng viên Ngược lại, không phải đảng viên nào cũng làcán bộ Do vậy, đối tượng nghiên cứu của luận văn là đạo đức củangười cán bộ là đảng viên và đạo đức của người đảng viên

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là vấn đề đạo đức của cán

bộ, đảng viên trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN ởHải Phòng hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên quan điểm triết học và đạo đức học Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam, đồng thời luận văn kế thừa các thành tựu của một số côngtrình khoa học đã được công bố có liên quan đến nội dung mà đề tàiluận văn đề cập

-5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng tổng hợp các phương pháp của chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháplịch sử và lôgíc; phân tích và tổng hợp; phương pháp điều tra xã hộihọc đã được sử dụng để thực hiện mục đích và nhiệm vụ đề tài đặtra

Trang 9

6 Cái mới và ý nghĩa của luận văn

6.1 Cái mới của luận văn

Làm rõ thực trạng đạo đức của cán bộ, đảng viên ở HảiPhòng hiện nay; qua đó, đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằmnâng cao phẩm chất đạo đức cho cán bộ, đảng viên ở Hải Phòngtrong điều kiện KTTT hiện nay

6.2 ý nghĩa của luận văn

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo để nghiêncứu và giảng dạy môn Đạo đức học, môn Xây dựng Đảng trongcác trường đại học và các trường chính trị tỉnh, thành phố

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để đề ra kế hoạch,giải pháp nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức cho cán bộ, đảng viên ởthành phố Hải Phòng

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo vàphụ lục, luận văn gồm 2 chương, 4 tiết

Trang 10

Chương 1

tầm quan trọng và yêu cầu của đạo đức người cán bộ, đảng viên trong kinh tế thị trường định hướng xã

hội chủ nghĩa ở Hải Phòng hiện nay

1.1 Tầm quan trọng của đạo đức người cán bộ, đảng viên trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

1.1.1 Đạo đức và đạo đức cách mạng; quan hệ kinh tế và đạo đức

1.1.1.1 Đạo đức

Đạo đức là một hình thái ý thức - xã hội, là tổng hợp nhữngnguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực nhằm hướng dẫn con người tiến tớicái thiện, cái chân, cái mỹ chống lại cái ác, cái giả, cái xấu Đạođức luôn là một động lực tinh thần to lớn đối với sự phát triển, tiến

bộ của xã hội Vì vậy, trong mỗi thời đại lịch sử, để phù hợp với sựtiến bộ của xã hội, giai cấp thống trị đều đặc biệt quan tâm đến vấn

đề đạo đức và điều chỉnh các hành vi, cách ứng xử của con ngườisao cho phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội

Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, quan niệm về đạo đức

đã để lại không ít những giá trị to lớn Nhưng do những hạn chế vềthế giới quan, phương pháp luận và những thiên kiến giai cấp, nên

Trang 11

tất cả các quan niệm về đạo đức trước C.Mác đều thiếu luận cứ khoahọc Hầu hết các quan niệm đó đã rơi vào chủ nghĩa duy tâm, tôngiáo Đạo đức học trước C.Mác bằng cách này hay cách khác đã trởthành một trong những công cụ tinh thần của giai cấp thống trị dùng

để duy trì trạng thái ổn định tạm thời của các chế độ xã hội cũ, bảo

vệ địa vị thống trị của các giai cấp thống trị

Trên cơ sở của những tiến bộ trong đời sống vật chất, phươngthức sản xuất và những thành quả của sự phát triển khoa học, cácnhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin dùng thế giới quan duy vật

và phương pháp luận biện chứng, đồng thời kế thừa một cách có phêphán những giá trị đạo đức đạt được trong lịch sử lâu dài của nhânloại, làm một cuộc cách mạng có tính chất bước ngoặt về đạo đức.Quan điểm mác-xít cho rằng: Đạo đức nảy sinh do nhu cầu của đờisống xã hội, là sản phẩm của lịch sử xã hội, do cơ sở kinh tế - xã hộisinh ra và quyết định; quan hệ đạo đức là biểu hiện của quan hệ vậtchất xã hội và biến đổi theo đời sống vật chất xã hội Nghĩa là, theoquá trình phát triển của xã hội, trên cơ sở phát triển của sản xuất vậtchất mà đạo đức được hoàn thiện dần dần Đạo đức phát triển từ thấpđến cao cùng với sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội,thông qua sự đấu tranh, lọc bỏ, kế thừa để tiến bộ không ngừng

Như vậy, đạo đức xét về bản chất là sự phản ánh tồn tại xãhội, là tồn tại xã hội được nhận thức, bị quy định bởi tồn tại xã hội.Điều đó giải thích một cách khoa học sự khác nhau, thậm chí đối lập

Trang 12

nhau giữa đạo đức học mác-xít với những hệ thống đạo đức khácnhau trong lịch sử.

Đạo đức thường được xét ở ba góc độ: nhận thức luận, chứcnăng, hệ giá trị

Dưới góc độ nhận thức luận: Đạo đức là một hiện tượng tinh thần, một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội, là tính thứ hai so với tồn tại xã hội Tính đặc biệt của nó thể hiện trong quá trình hình

thành các quy tắc đạo đức, là do sự thừa nhận của số đông trong xãhội hay sự thừa nhận của một giai cấp nhất định

Dưới góc độ chức năng: Chức năng cơ bản nhất của đạo đức

là điều chỉnh hành vi của con người bằng chuẩn mực và quy tắc theo yêu cầu của xã hội, nhằm đảm bảo lợi ích chung của xã hội hay

lợi ích cơ bản của giai cấp đề ra chuẩn mực, quy tắc đạo đức ấy Vớichức năng nhận thức và chức năng giáo dục, nó giúp con người hìnhthành những quan điểm, nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực cơ bản đểđánh giá hành vi đạo đức xã hội và những hành vi đạo đức của bảnthân

Cách tiếp cận từ hai góc độ trên đây còn được bổ sung bằng

cách thứ ba, đó là xem xét đạo đức với tính cách là một hệ giá trị.

Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, thường bao giờcũng được khẳng định hoặc phủ định một lợi ích, một quan niệmđương thời xác định Vì vậy, đạo đức là một hệ giá trị Lợi ích là cơ

sở khách quan của giá trị Trong xã hội có giai cấp đối kháng, do lợi

Trang 13

ích căn bản khác nhau mà các giai cấp quan niệm về giá trị đạo đứckhác nhau, thậm chí đối lập nhau Như vậy, nội hàm của khái niệmđạo đức không chỉ hạn định ở đặc trưng là một hình thái ý thức xãhội, là một phương thức cơ bản điều chỉnh hành vi con người màđạo đức còn là một hệ giá trị bao gồm những giá trị chung và nhữnggiá trị riêng.

Cho đến nay đã có rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau

về đạo đức, ở một mức độ khái quát nhất, chúng ta có thể hiểu:

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợpnhững nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điềuchỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan

hệ xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởitruyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội [49, tr 8]

Đạo đức bao gồm: ý thức đạo đức, quan hệ đạo đức và thực tiễn đạo đức.

ý thức đạo đức là ý thức của con người về hệ thống nhữngquy tắc, chuẩn mực hành vi phù hợp với những quan hệ đạo đức đã

và đang tồn tại ý thức đạo đức bao hàm các yếu tố tạo thành là trithức, tình cảm và ý chí đạo đức

Quan hệ đạo đức là hệ thống những quan hệ xác định giữacon người và con người, giữa cá nhân và xã hội về mặt đạo đức Nó

là một bộ phận hợp thành của quan hệ xã hội

Trang 14

Thực tiễn đạo đức là hoạt động của con người do ảnh hưởngcủa niềm tin, của ý thức đạo đức, là quá trình hiện thực hóa ý thứcđạo đức vào trong đời sống của con người.

ý thức đạo đức, thực tiễn đạo đức và quan hệ đạo đức lànhững yếu tố tạo nên cấu trúc của đạo đức Mỗi yếu tố không tồn tạiđộc lập mà liên hệ tác động lẫn nhau, tạo nên sự vận động phát triển

và chuyển hóa bên trong của hệ thống đạo đức

Theo C Mác và Ph Ăngghen, đạo đức không sinh ra đạo đức

mà đạo đức nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả của

sự phát triển lịch sử Với tư cách là sự phản ánh tồn tại xã hội, đạođức là sản phẩm của những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội,của cơ sở kinh tế - xã hội Ph Ăngghen nhận xét: "Xét cho đến cùng,mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩmcủa tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ" [55, tr 137] Sự pháttriển của ý thức đạo đức của người nguyên thủy đến ý thức đạo đứccủa xã hội văn minh là kết quả của sự phát triển từ thấp đến cao củahoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức của con người

1.1.1.2 Đạo đức cách mạng

Đạo đức cách mạng của giai cấp vô sản là thành quả pháttriển cao trong lịch sử tiến hóa lâu dài của đạo đức Nó là kết quảcủa sự phủ định biện chứng những giá trị đạo đức đã đạt được tronglịch sử Nếu như đạo đức của xã hội có đối kháng giai cấp được xâydựng trên sự bất bình đẳng, sự nô dịch và sự áp bức bóc lột giữa

Trang 15

người và người thì đạo đức cách mạng được xây dựng trên cơ sởbình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa người vớingười Nếu như đạo đức tư sản kích thích sự phát triển cá nhân mộtcách cực đoan trở thành chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, kích thích nhữngdục vọng thấp hèn, những bản năng ở con người, vật hóa con người,thì đạo đức cách mạng phát triển cá nhân trong sự hài hòa với cộngđồng xã hội, hạn chế những dục vọng, bản năng thấp hèn ở conngười Đạo đức cách mạng kích thích phát triển và giữ vai trò chỉđạo mặt ý thức, mặt xã hội của con người, nâng con người lên đúngtầm vị trí làm người.

Có thể nói, đạo đức cách mạng - đạo đức cộng sản chủ nghĩakhông những khác mà hoàn toàn đối lập với đạo đức của giai cấpbóc lột (đạo đức chủ nô, phong kiến, tư sản) Đạo đức cộng sản lànền đạo đức có giá trị phổ biến và nhân đạo Theo V.I Lênin, đạođức mới là những gì "góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột vàgóp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giaicấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộngsản " [45, tr 369] Đạo đức cộng sản biểu hiện sự sáng tạo mangtính quần chúng rộng rãi Các giá trị đạo đức cộng sản chủ nghĩamang đầy ý nghĩa cao cả và vì con người Những giá trị ấy nói lênbản chất sáng tạo của trí tuệ, của ý thức danh dự, của lòng dũng cảm

và những phẩm chất cao quý của con người Nền đạo đức ấy vừa là

Trang 16

sản phẩm của nền sản xuất xã hội đầy sáng tạo và nhân văn, vừa làđộng lực thúc đẩy xã hội phát triển.

Nhằm nhấn mạnh vai trò nhân tố tinh thần của đạo đức mới đạo đức cách mạng - đạo đức cộng sản chủ nghĩa trong việc gópphần vào thắng lợi của cách mạng XHCN, và để phù hợp với thựctiễn cách mạng XHCN trong giai đoạn hiện nay, trong luận văn nàychủ yếu sử dụng khái niệm "Đạo đức cách mạng" theo quan điểmcủa Chủ tịch Hồ Chí Minh

-Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là: "Tuyệt đối trungthành với nhân dân", "ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu củaĐảng", "làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng"; "quyết tâmđấu tranh chống mọi kẻ địch"; "đặt lợi ích của Đảng lên trên hết";

"luôn hòa mình với quần chúng" v.v ở Chủ tịch Hồ Chí Minh,khái niệm đạo đức cách mạng được vận dụng một cách khá linhhoạt, mềm dẻo - điều này phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể ởmức độ khái quát nhất, theo Người, đạo đức cách mạng là:

Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cáchmạng Đó là điều chủ chốt nhất

Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật củaĐảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng

Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lêntrên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình Hết lòng hết

Trang 17

sức phục vụ nhân dân Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quênmình, gương mẫu trong mọi việc.

Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn luôndùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cảitiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ [61,

tr 285]

Đạo đức cách mạng Việt Nam được hình thành, phát triểngắn liền với thực tiễn cách mạng Việt Nam, là sự phản ánh quá trìnhđấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, nông dân và các tầnglớp tiến bộ khác nhằm giành độc lập dân tộc và đi lên xây dựngCNXH Đạo đức cách mạng xét dưới góc độ nhận thức, là kết quảcủa sự phản ánh tồn tại xã hội, là tính thứ hai so với tồn tại xã hội.Nhưng với tư cách là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, luân lýđạo đức phản ánh cái bản chất của tồn tại xã hội Cho nên đạo đứccách mạng kế thừa những đặc điểm của hệ thống lý luận đạo đứctrong lịch sử; phản ánh quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, các tầnglớp khác nhau trong xã hội

Sự khác nhau căn bản giữa đạo đức cách mạng với các hệ

thống đạo đức khác là ở tính cách mạng và khoa học của nó Đạo đức cách mạng là đạo đức phản ánh lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động khác, nó mang bản chất giai cấp công nhân

Trang 18

Giai cấp công nhân Việt Nam có sứ mệnh lãnh đạo cách mạngViệt Nam giành lại độc lập dân tộc và xây dựng thành công CNXH.Mục tiêu lý tưởng đó phù hợp với quy luật vận động tất yếu của lịch

sử xã hội và quy luật tiến bộ của đạo đức nhân loại; vì nó hướng tớimục tiêu giải phóng triệt để con người khỏi khổ đau, áp bức bóc lột,bất công trong xã hội hiện thực Mục tiêu này, theo cách nói củaC.Mác: "Phải lật đổ tất cả những quan hệ biến con người thành mộtsinh vật bị làm nhục, bị nô dịch, bị bỏ rơi, bị khinh rẻ " [51, tr.581]

Tính cách mạng, khoa học trong lý luận đạo đức cách mạngcủa Hồ Chí Minh không chỉ phản ánh sự sáng tạo qua thực tiễn cáchmạng Việt Nam với tư cách là nguồn gốc chủ yếu của nó, mà cònthể hiện sự phê phán, kế thừa, chọn lọc tinh hoa truyền thống đạo đứcdân tộc và đạo đức nhân loại trong quá trình hình thành và phát triểnđạo đức cách mạng Hồ Chí Minh cho rằng:

Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạođức

cá nhân

Tôn giáo Giê su có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả.Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sáchcủa nó phù hợp với điều kiện nước ta

Trang 19

Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việcbiện chứng

Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy [68, tr 92]

Hồ Chí Minh đã thể hiện rất rõ tư tưởng, thái độ đối với disản đạo đức của nhân loại Nắm vững phương pháp biện chứng duyvật của C.Mác, dựa trên cơ sở thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người

đã có thái độ khoa học và cách mạng trong việc kế thừa những yếu

tố hợp lý của các hình thái ý thức đạo đức trước đó để góp phần hìnhthành nên lý luận về đạo đức cách mạng ở Việt Nam

Thực tiễn cách mạng nước ta cũng đã chứng tỏ những giá trịđạo đức cách mạng là hệ giá trị hàng đầu trong hệ thống những giátrị đạo đức của xã hội Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua Tính cáchmạng và khoa học của đạo đức cách mạng thể hiện trong hệ thốngnhững nguyên tắc cơ bản, nó không mang tính cố định, giáo điều,

mà đòi hỏi phải được bổ sung, phát triển cho phù hợp với yêu cầucủa thực tiễn cách mạng ở các giai đoạn khác nhau của cách mạng,trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của đạo đức cách mạng, Hồ ChíMinh và Đảng ta đã bổ sung và phát triển những nội dung đạo đứccách mạng cụ thể Ví dụ: Trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dântộc trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng yêu cầu cán bộphải "am hiểu con đường chính trị " [3, tr 528] và Hồ Chí Minhnhấn mạnh đến niềm tin cộng sản: "Giữ chủ nghĩa cho vững", ý

Trang 20

thức giữ "bí mật", trách nhiệm tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản và

cổ động quần chúng theo Đảng nhằm chuẩn bị tinh thần và lựclượng cho Tổng khởi nghĩa thắng lợi Sau thắng lợi Chiến dịchĐông Xuân năm 1947, cuộc kháng chiến chống thực dân Phápchuyển sang thời kỳ mới - thời kỳ cầm cự, khó khăn gian khổ, quyếtliệt hơn Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ vừa đẩy mạnh kháng chiếnvừa thực hiện kiến quốc, xây dựng và củng cố chính quyền cáchmạng, khi viết tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", Hồ Chí Minh đặcbiệt đề cao tinh thần học tập, nhất là học tập lý luận Mác - Lênin; đềcao chuẩn mực đạo đức "Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư";nhấn mạnh lề lối, tác phong làm việc khoa học nhằm khắc phụctình trạng đội ngũ cán bộ còn yếu kém về lý luận, tác phong côngtác, đạo đức lối sống Khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bước vàokhôi phục kinh tế, chuẩn bị tiền đề cho CNXH, tạo hậu phươngvững chắc để giải phóng miền Nam, trước yêu cầu mới của thực tiễnxây dựng CNXH, trong nhiều tác phẩm, đặc biệt là tác phẩm "Đạođức cách mạng", Người đề cập nhiều đến chủ nghĩa tập thể, đấutranh loại trừ chủ nghĩa cá nhân, nhất là các biểu hiện quan liêu, đặcquyền, đặc lợi ở cán bộ có chức, có quyền

Như vậy, lý luận đạo đức cách mạng đã luôn được Chủ tịch

Hồ Chí Minh và Đảng ta bổ sung và phát triển theo yêu cầu thựctiễn cách mạng nước ta Từ "Tư cách người cách mệnh" đến "Đạođức cách mạng", đến "Di chúc" được coi là những mốc đánh dấu sự

Trang 21

phát triển về nội dung đạo đức cách mạng trong tư tưởng Hồ ChíMinh

Từ những phân tích trên, cho phép tác giả luận văn đưa raquan niệm về đạo đức cách mạng như sau:

Đạo đức cách mạng là đạo đức phản ánh thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động; là sự thống nhất hữu cơ giữa những phẩm chất đạo đức tạo nên nền tảng nhân cách của người cách mạng; là động lực thúc đẩy người cách mạng trong quá trình hoạt động cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới xã hội

xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Đạo đức cách mạng được hiểu với nội dung là tổng hòa cácphẩm chất đạo đức của người cách mạng Đó là lòng trung thành vôhạn với mục tiêu, lý tưởng cách mạng, chủ nghĩa tập thể, lao động

tự giác, sáng tạo, chủ nghĩa yêu nước kết hợp với chủ nghĩa quốc tế,chủ nghĩa nhân đạo cộng sản và những phẩm chất đạo đức cá nhânnhư tính trung thực, tính nguyên tắc, tính khiêm tốn, tinh thần dũngcảm Những phẩm chất đạo đức cách mạng trên thống nhất hữu cơtrong nhân cách của người cách mạng Đạo đức cách mạng khôngngừng được củng cố và phát triển cùng với sự thắng lợi ngày càng

to lớn của cách mạng XHCN, của phương thức sản xuất XHCN, trởthành nền đạo đức chung của loài người Tuy nó chưa phải là nềnđạo đức tuyệt đối chân chính cuối cùng, nhưng như Ph.Ăngghennói: hiện nay nó "đang tiêu biểu cho sự lật đổ hiện tại, biểu hiện cho

Trang 22

lợi ích của tương lai là thứ đạo đức có một số lượng nhiều nhấtnhững nhân tố hứa hẹn một sự tồn tại lâu dài" [55, tr 136].

1.1.1.3 Quan hệ giữa kinh tế với đạo đức

Quan hệ giữa kinh tế với đạo đức là mối quan hệ biện chứng,trong đó, suy cho cùng yếu tố kinh tế đóng vai trò quyết định đốivới đạo đức Sự tác động của kinh tế đối với đạo đức tuân theo quyluật chung về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xãhội, giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng Theo C.Mác,phương thức sản xuất vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xãhội, chính trị và tinh thần nói chung; không phải ý thức của conngười quyết định tồn tại của họ, trái lại tồn tại xã hội của họ quyếtđịnh ý thức của họ V.I.Lênin cũng nhấn mạnh: "Chủ nghĩa duy vậtlịch sử thừa nhận rằng tồn tại xã hội không phụ thuộc vào ý thức xãhội của loài người Trong hai trường hợp đó ý thức chỉ là phản ánhcủa tồn tại, nhiều lắm thì cũng chỉ là một sự phản ánh gần đúng,không khớp, chính xác một cách lý tưởng" [48, tr 404] Từ đó suy

ra là phải lấy sự tồn tại của con người để giải thích ý thức của conngười, chứ không phải ngược lại Phần lớn các nguyên nhân thayđổi ý thức xã hội nằm trong phương thức sản xuất, chứ không phảitrong đầu óc của người ta, không phải trong triết học mà là trongkinh tế

Quá trình phát triển sản xuất là quá trình không ngừng giảiphóng con người cả về lĩnh vực vật chất lẫn tinh thần (trong đó có

Trang 23

đạo đức) Xã hội càng phát triển, kinh tế càng phát triển, thì conngười càng có điều kiện hoàn thiện mình Tuy nhiên, sự tác độngcủa kinh tế đến đạo đức không phải bao giờ cũng theo chiều thuận

mà còn có cả chiều nghịch Thực tế chứng minh, có khi kinh tế pháttriển cao, nhưng đạo đức có sự tha hóa, thụt lùi hoặc có sự tiến bộcục bộ và sự tha hóa cục bộ Nước Mỹ kinh tế rất phát triển, nhưngquan hệ xã hội, quan hệ đạo đức không phát triển lành mạnh hay chí

ít cũng không có sự tăng tiến tương ứng với kinh tế Thái Lan cómột thời kỳ tăng trưởng kinh tế rất nhanh, song nền đạo đức cũngxuống cấp và hiện nay là nơi có tỷ lệ người nhiễm HIV hàng nămcao trên thế giới Điều đó nói lên rằng, điều kiện kinh tế là quantrọng, có ý nghĩa quyết định đối với chế độ chính trị và đạo đức xãhội, nhưng nhân tố chủ quan cũng chiếm một vị trí quan trọng TheoNhà tương lai học A.Toffler, trong lịch sử nhân loại, nhiều nướckém phát triển chỉ là kinh tế thôi, còn văn hóa không phải là kémphát triển

ở một góc độ khác, đạo đức là nhân tố, động lực của sự pháttriển kinh tế Trong KTTT, lợi nhuận và hiệu quả là mối quan tâmlớn của người sản xuất Bởi vậy, có người cho rằng, các nhân tố đạođức can thiệp vào kinh tế sẽ cản trở sự tăng trưởng kinh tế Đây làcách hiểu không đúng, họ đã cố tình gạt bỏ mọi quy phạm đạo đức

ra khỏi các hoạt động kinh tế; là cách hiểu cực đoan mang tính thực

Trang 24

dụng và ngày càng tỏ ra không thể đứng vững trước yêu cầu pháttriển của nền KTTT.

Thực tế cho thấy, không phải mọi chính sách mang lại hiệuquả kinh tế cao đều có ý nghĩa tích cực cho sự phát triển đạo đức vàngược lại những gì không có hiệu quả kinh tế đều vô đạo lý Giảiquyết mâu thuẫn này trong các trường hợp cụ thể và ưu tiên caonhất phải dành cho mục tiêu xã hội Tính toán lỗ lãi không nằmngoài tư duy kinh tế, nhưng đó không phải là mục đích cuối cùng.Trong CNXH, ý nghĩa nhân bản của chính sách kinh tế là ở chỗ vừađáp ứng nhu cầu vật chất của con người, vừa tạo điều kiện vật chấtcho sự phát triển đạo đức, nhân cách của con người Chính sáchkinh tế mà bất chấp yêu cầu xã hội, không mang trong nó nhân tố xãhội, mục tiêu xã hội, thì trật tự kỷ cương của kinh tế sẽ bị phá vỡ,khả năng tha hóa của con người vẫn diễn ra Nhận thức một cáchsâu sắc mối quan hệ biện chứng này, tại Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII Đảng ta khẳng định: "Tăng trưởng kinh tế phải gắn liềnvới tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốtquá trình phát triển" [26, tr 113] Còn tại Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX, Đảng ta xác định: "Tăng trưởng kinh tế đi liền với pháttriển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần củanhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội" [30, tr 89]

Mặt khác, trong cạnh tranh mọi gian dối tầm thường dần dần

bị lọc bỏ và cuối cùng thắng lợi chủ yếu là công nghệ, phương pháp

Trang 25

quản lý mới Xã hội tồn tại và phát triển không phải bằng lừa dối,đầu cơ, buôn lậu, hàng giả mà bằng trình độ và sức sáng tạo củacon người Sáng tạo không chỉ là điều kiện kinh tế, tất yếu kinh tế,

mà còn là hành động của lý trí, của lương tri

Đạo đức được nảy sinh từ các hoạt động kinh tế, nhưng nótác động trở lại với kinh tế và có vai trò nhất định trong đời sống xãhội Sự tác động của đạo đức đến kinh tế thể hiện thông qua cácchức năng sau:

+ Chức năng điều chỉnh hành vi

sâu rộng thì sự tác động tích cực của đạo đức đến đời sống kinh tế

-xã hội càng có hiệu quả Ngược lại, nếu ý thức đạo đức mà thâm

Trang 26

nhập ít, nó không thể tạo ra được phong trào quần chúng thực hiệncác mục tiêu kinh tế - xã hội.

Thứ ba: Phụ thuộc vào khả năng của giai cấp cầm quyền hiện thực hóa tư tưởng, đường lối lãnh đạo và ý thức đạo đức của mình đối với xã hội, đất nước đến đâu Nếu giai cấp cầm quyền có

tư tưởng, ý thức đạo đức tiến bộ, đường lối đúng đắn thì giai cấp đóhoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình, thúc đẩy, lãnh đạo nhândân tham gia vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Ngượclại, nếu là hệ tư tưởng, ý thức đạo đức phản tiến bộ, đường lối lãnhđạo không đáp ứng với tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, nó sẽ tạo

ra một lực cản lớn trên con đường đi lên của xã hội

Sự tác động của kinh tế đến đạo đức được thực hiện thôngqua nhiều "khâu trung gian" như: Chế độ chính trị, chính sách kinh

tế - xã hội, pháp luật Bởi vì:

Một là, kinh tế và đạo đức là hai yếu tố của quan hệ biện

chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Xét đến cùng,đạo đức là sự phản ánh của các quan hệ kinh tế Song tình hình kinh

tế không tác động một cách tự động đối với đạo đức Vai trò quyếtđịnh của kinh tế được thực hiện, như Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: thườngthường là một cách gián tiếp thông qua các mắt khâu quan trọng đó

là chính sách kinh tế - xã hội được thể hiện trong thực tế đời sống

Hai là, các chính sách kinh tế - xã hội tác động đến các

nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội và các giá trị đạo đức xã hội

Trang 27

Các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội là khuôn mẫu ứng xửcủa xã hội đòi hỏi các cá nhân trong xã hội phải tuân theo, đồng thời

nó là thước đo đánh giá, điều chỉnh hành vi của cá nhân cho phùhợp với lợi ích của cộng đồng xã hội Sức mạnh của dư luận, niềmtin cá nhân, tập quán, truyền thống xã hội sẽ là điều kiện đảm bảocho các nguyên tắc, chuẩn mực đó có hiệu lực trong việc uốn nắn,điều chỉnh, đánh giá hành vi đạo đức của cá nhân, làm thay đổi tìnhcảm đạo đức của cá nhân Mặt khác, giá trị đạo đức là cái được conngười lựa chọn và đánh giá như một việc làm có ý nghĩa tích cựcđược lương tâm đồng tình và dư luận biểu dương ở đây, lợi ích xãhội là tiêu chuẩn khách quan của các giá trị đạo đức Do đó, chỉ khinào những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức điều chỉnh hành vi phùhợp với lợi ích xã hội, được dư luận đồng tình ủng hộ thì mới có giátrị

Như vậy, giá trị đạo đức được xác định bởi mức độ phù hợpcủa chúng đối với yêu cầu của tiến bộ xã hội Điều đó khẳng địnhvai trò của chính sách kinh tế xã hội đối với những nguyên tắc vàcác giá trị đạo đức xã hội

Ba là, các chính sách kinh tế - xã hội tác động đến dư luận,

tập quán, truyền thống xã hội góp phần điều chỉnh hành vi của các

cá nhân Thông qua chính sách kinh tế - xã hội tạo nên dư luận, tậpquán, truyền thống xã hội Nó ca ngợi, khuyến khích cái thiện, cáitốt; phê phán, lên án cái ác, cái xấu Dư luận xã hội một khi được

Trang 28

củng cố, phát triển bởi các chính sách kinh tế - xã hội sẽ phát huysức mạnh to lớn trong việc điều chỉnh hành vi đạo đức Nó giáo dục

ý thức đạo đức cho các cá nhân, tuyên truyền những tư tưởng,những chuẩn mực đạo đức xã hội, biến nó thành thước đo, đánh giá,điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân nhằm đạt tới sự phù hợp giữahành vi đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội

Bốn là, chính sách kinh tế - xã hội còn góp phần nâng cao

nhận thức đạo đức cho các cá nhân Sự nhận thức đạo đức bao gồmhai trình độ tình cảm và tư tưởng đạo đức, kinh nghiệm và lý luậnđạo đức

Tóm lại, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội ra đời từ rất

sớm trong lịch sử nhân loại Nó là sự phản ánh và thể hiện kinhnghiệm chung sống và kinh nghiệm lịch sử - thực tiễn của conngười Nó có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và pháttriển của con người và xã hội Đạo đức cộng sản là thành quả pháttriển cao trong lịch sử phát triển lâu dài của đạo đức Nó là kết quảcủa sự phủ định biện chứng những giá trị đạo đức đã đạt được tronglịch sử C.Mác, Ph.Ăngghen là những người đặt nền móng vàV.I.Lênin là người kế thừa và phát triển Đạo đức cách mạng ở ViệtNam do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng và cùng Đảng Cộng sảnViệt Nam xây dựng, bồi dưỡng cho các thế hệ cách mạng ở nước tathực hiện mục đích cuối cùng là giải phóng triệt để con người, trước

Trang 29

hết là giai cấp công nhân và các giai cấp, tầng lớp nhân dân laođộng khác thoát khỏi áp bức, bất công xã hội.

Đạo đức và kinh tế có mối quan hệ biện chứng tác động qualại lẫn nhau, trong đó yếu tố kinh tế suy cho cùng đóng vai trò quyếtđịnh Tuy nhiên, đạo đức cũng là động lực cho sự phát triển kinh tế.Trong điều kiện của nền KTTT định hướng XHCN hiện nay củaViệt Nam, mối quan hệ giữa kinh tế với đạo đức càng đặc biệt đượcquan tâm

1.1.2 Tầm quan trọng của đạo đức người cán bộ, đảng viên trong kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

1.1.2.1 Khái niệm cán bộ và đảng viên

Cán bộ - theo Từ điển tiếng Việt - có hai nghĩa cơ bản sau:

Thứ nhất, là khái niệm chỉ "người làm công tác có nghiệp vụ

chuyên môn trong nhà nước" [70, tr 121] như: cán bộ nhà nước;cán bộ khoa học; cán bộ chính trị v.v

Thứ hai, là khái niệm chỉ "người làm công tác có chức vụ trong

một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không cóchức vụ" [70, tr.121]

Trong khuôn khổ đề cập của luận văn này chúng ta hiểu cán

bộ theo cả hai nghĩa như trên

Đảng viên - theo Từ điển tiếng Việt - có hai nghĩa sau:

Trang 30

Thứ nhất, "người ở trong tổ chức của một chính đảng" [70,

Hiện nay ở nước ta, khái niệm cán bộ thường kèm theo từ

công chức hoặc viên chức, được dùng để chỉ những người làm việc

trong cơ quan nhà nước, thuộc diện biên chế nhà nước Trong điềukiện Đảng cầm quyền, người cán bộ thường là đảng viên ĐảngCộng sản Việt Nam, nên có thêm cụm từ ghép cán bộ, đảng viên.Như vậy, ở một góc độ nhất định, khái niệm cán bộ công chức vàcán bộ, đảng viên có nghĩa gần giống nhau Vừa là cán bộ côngchức vừa là đảng viên cộng sản

* Một số đặc điểm hoạt động của người cán bộ, đảng viên:

Khi đi sâu vào xem xét, phân tích cho thấy, hoạt động củacán bộ, đảng viên có những đặc điểm sau:

- Phạm vi tác động của người cán bộ, đảng viên là rất rộng,

bởi vì, mọi lĩnh vực, tất cả các vùng miền, đơn vị sản xuất, kinhdoanh, lực lượng vũ trang; nghiên cứu khoa học, văn hóa nghệthuật của đất nước đều được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và đềucần có sự hiện diện, tác động của người cán bộ, đảng viên Bất kỳ ở

Trang 31

đâu, từ đồng bằng, thành thị, cho đến hải đảo, vùng núi, vùng cao,vùng sâu, vùng xa, nếu có con người lao động sản xuất, học tập, xâydựng và bảo vệ Tổ quốc thì tại đấy có tổ chức cơ sở đảng, và cónhững cán bộ, đảng viên đứng mũi chịu sào, tổ chức, lãnh đạo vàhướng dẫn nhân dân thực hiện nghị quyết của Đảng, chủ trương,chính sách, pháp luật của Nhà nước Tóm lại, phạm vi hoạt động vàtác động của người cán bộ, đảng viên là rộng lớn, bao gồm tất cảcác vùng, miền, khu vực và địa hạt hoạt động của người dân trêntoàn quốc.

- Đối tượng tác động của người cán bộ, đảng viên bao gồm

tất cả các tầng lớp nhân dân ở mọi lĩnh vực trong xã hội, từ ngườilao động trí óc, đến những người lao động chân tay có trình độ vănhóa, nhận thức, điều kiện, hoàn cảnh, tâm sinh lý khác nhau trongcác tầng lớp dân cư Để thu được kết quả tốt đẹp trong công tác,người cán bộ, đảng viên phải biết hòa mình với quần chúng, đượcquần chúng tin yêu, ủng hộ; đồng thời, phải "xứng đáng là ngườilãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân" [62, tr.498]

- Phương thức hoạt động của người cán bộ, đảng viên rất

phong phú, đa dạng Người cán bộ, đảng viên trước hết phải luôngương mẫu đi đầu trong công việc, đồng thời phải biết vận động, tậphợp, đoàn kết quần chúng để thực hiện đúng chủ trương, chính sáchcủa Đảng và pháp luật của Nhà nước Tuyên truyền, giáo dục,

Trang 32

thuyết phục, vận động quần chúng là những công việc cần thiết đốivới bất kỳ người cán bộ, đảng viên nào ở đây, đòi hỏi người cán bộ,đảng viên phải khổ công học tập, đúc rút kinh nghiệm, phải nói vàlàm nhiều điều để làm gương cho quần chúng học tập, tin theo.

Như vậy, đối tượng, phạm vi tác động và phương thức tácđộng của người cán bộ, đảng viên trong công việc rất đa dạng trênphạm vi cả nước, có liên quan trực tiếp đến quần chúng nhằm thựchiện, hoàn thành nhiều mục tiêu ở tất cả các lĩnh vực của đời sống

xã hội Đặc điểm này là dấu hiệu đặc thù trong hoạt động của ngườicán bộ, đảng viên, đòi hỏi công tác cán bộ cần quán triệt và cónhững kế hoạch cụ thể trong bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ,đảng viên cho từng giai đoạn cách mạng

1.1.2.2 Tầm quan trọng của đạo đức người cán bộ, đảng viên trong kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, đội ngũ cán bộ, đảng viên

có một tầm quan trọng đặc biệt, có ý nghĩa quyết định Bởi vì, như

Hồ Chí Minh đã nói: "Cán bộ là sợi dây chuyền của bộ máy Nếudây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn

bộ, máy cũng bị tê liệt Cán bộ là những người đem chính sách củaChính phủ, các đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thìchính sách hay cũng không thể thực hiện được" [59, tr 54] Đảng tacũng chỉ rõ: Xây dựng kinh tế - xã hội là nhiệm vụ trọng tâm, xâydựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, trong đó công tác cán bộ là then

Trang 33

chốt của vấn đề then chốt Trong điều kiện kinh tế thị trường ở ViệtNam hiện nay, đạo đức của người cán bộ, đảng viên có vai trò vôcùng to lớn Khẳng định điều đó là do:

Thứ nhất: Đạo đức người cán bộ, đảng viên là nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công công cuộc đổi mới.

Trong mỗi giai đoạn cách mạng, cần có một đội ngũ cán bộ,đảng viên thích ứng với yêu cầu của thực tiễn cách mạng, không chỉ

về năng lực, chuyên môn, nghiệp vụ, mà còn trước hết và đặc biệtphải có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng Hiện nay, sựnghiệp đổi mới của đất nước ta đang tiếp tục đi vào chiều sâu, hoànthiện cơ chế thị trường theo định hướng XHCN, thực hiện CNH,HĐH đất nước, mà trọng tâm là CNH, HĐH nông nghiệp, nôngthôn theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) của Đảng.Với những thành tựu và những yếu kém, với những thuận lợi mới vàkhó khăn mới đan xen vào nhau, khắc phục sự phát triển không đều,

sự phân cực giữa các khu vực, các địa phương đòi hỏi phải xâydựng một đội ngũ cán bộ, đảng viên mới ngang tầm với nhiệm vụ,yêu cầu của thực tiễn mới

Đạo đức cách mạng giúp cho người cán bộ, đảng viên không

sợ sệt, rụt rè, lùi bước khi gặp khó khăn và thất bại, khi thành côngkhông say sưa kiêu ngạo, công thần, xa rời quần chúng Từ thànhcông đến thoái hóa, thất bại không xa Cho nên khi thành công,thắng lợi, cán bộ, đảng viên càng phải chú ý rèn luyện đạo đức cách

Trang 34

mạng Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nói: "Có đạo đứccách mạng thì gặp thuận lợi và thành công vẫn giữ vững tinh thầngian khổ, chất phát, khiêm tốn "lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ";

lo hoàn thành nhiệm vụ; không công thần, không quan liêu; khôngkiêu ngạo, không hủ hóa, đó cũng là biểu hiện của đạo đức cáchmạng" [61, tr 284]

Người còn nhấn mạnh: "Cũng như sông thì có nguồn mới cónước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốcthì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đứcthì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân" [59, tr 252-253]

Nhìn nhận một cách khách quan, có thể khẳng định rằng, nềnKTTT bản thân nó không tự tạo ra sự thoái hóa, biến chất về đạođức, nhưng nó tác động mạnh mẽ tới đời sống riêng tư của mỗingười, khiến người ta phải tính toán đến những động cơ và dụcvọng cá nhân Một trong những đặc trưng của thị trường là cạnhtranh, là tính toán được thua, lỗ lãi Đặc trưng này có quan hệ đếnhành vi đạo đức và vô đạo đức trong kinh doanh Song KTTTkhông chỉ tác động đến đạo đức trong kinh doanh, mà còn tác độngđến mọi mặt của đời sống xã hội, trước hết là lợi ích của từng cánhân Từ đạo đức trong kinh doanh dẫn đến đạo đức trong lối sống,đạo đức trong gia đình, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức quản lý vàlãnh đạo Vì vậy, làm thế nào để vừa phát triển KTTT theo định

Trang 35

hướng XHCN, vừa giữ gìn được phẩm chất đạo đức và lối sống lànhmạnh? Chưa làm được điều này thì chẳng những CNXH khó trởthành hiện thực, mà sự tồn vong của đất nước cũng bị đe dọa.

Tất nhiên, việc thực hành đạo đức trong điều kiện phát triểnKTTT không chỉ là trách nhiệm của cán bộ quản lý nhà nước và cán

bộ lãnh đạo của Đảng, mà còn là trách nhiệm của toàn dân Nhưng,như Bác Hồ thường căn dặn, cán bộ bao giờ cũng có vai trò quyếtđịnh Người viết: "Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ

có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay không [60, tr 480] Nghịquyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương (khóa VIII)

Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cũng khẳng định: "Gương mẫu là một nội dung,

một phương thức trọng yếu trong công việc lãnh đạo của Đảng".Như vậy, Đảng ta coi đạo đức của người cán bộ, đảng viên là "cáigốc" của sự phát triển

Trong điều kiện KTTT định hướng XHCN, người cán bộ,đảng viên ngoài việc phấn đấu để có tài năng và trí tuệ, còn phảitrau dồi đạo đức cách mạng cao hơn nữa, đặt lợi ích của dân tộc, củađất nước, của toàn dân lên trên hết Trong điều kiện này, làm giàuchính đáng cho mình và làm giàu cho đất nước là đạo đức cáchmạng, cần được khuyến khích, ngược lại, làm giàu bất chính là phiđạo đức, cần phải chống

Trang 36

Chúng ta không coi việc phát triển KTTT là mục đích, mà coi

đó là một phương tiện cần thiết để xây dựng đất nước Cho nên,trong phát triển, cần khuyến khích làm giàu, đồng thời thực hiệncông bằng xã hội; tiến hành CNH, HĐH, đồng thời phát triển ngànhnghề, tạo ra nhiều công ăn việc làm; phát triển kinh tế đô thị, nhưngvẫn chú trọng phát triển nông thôn để không làm gia tăng khoảngcách giữa hai khu vực này; xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ với xâydựng các chính sách xã hội, chú ý quan tâm đến vùng sâu, vùng xa,vùng đồng bào các dân tộc ít người Đây là những nội dung cơ bảnnói lên đạo đức XHCN của vấn đề phát triển KTTT Đây cũng làmối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội và là thử thách lớn đối vớimọi người, trước hết là đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên có chức,

có quyền Đây còn là thử thách về tài năng, trí tuệ, về lòng kiênnhẫn của Đảng và Nhà nước ta khi hạ quyết tâm thực hiện côngcuộc đổi mới toàn diện, xây dựng thành công CNXH

Thứ hai: Đạo đức của người cán bộ, đảng viên - động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người luôn quan tâm đến việc bồidưỡng và rèn luyện đạo đức cho người cán bộ, đảng viên TheoNgười, làm cách mạng mà chỉ giác ngộ chính trị và tăng cường sứcmạnh tổ chức không thôi thì chưa đủ, mà còn phải thấm nhuần đạođức cách mạng Bởi vì, đạo đức cách mạng không những là yếu tố

"chất" người, mà còn là động lực của sự nghiệp cách mạng Từ kinh

Trang 37

nghiệm bản thân có được trong những năm hoạt động cách mạngkhó khăn và gian khổ, Hồ Chí Minh khuyên cán bộ, đảng viên:

"Chúng ta đem tinh thần mà chiến thắng vật chất, chúng ta vì nước, vìdân mà chịu khổ, một cái khổ rất có giá trị, thì vật chất càng khổ tinhthần càng sướng" [59, tr 148]

Hiện nay, cách mạng nước ta đã bước sang một thời kỳ mới thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Xây dựng nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN, chúng ta bắt gặp rất nhiều hiện tượngđáng báo động về nguy cơ đổ vỡ các giá trị tinh thần, giá trị truyềnthống trước sức mạnh của đồng tiền, lợi nhuận Không ít trường hợpkhi tham gia thị trường đã vì lợi nhuận mà bất chấp đạo lý, vi phạmpháp luật, làm đảo lộn các giá trị đạo đức Các vụ tiêu cực lớn nhưTamexco, Epco - Minh Phụng, Trương Văn Cam và đồng bọn, LãThị Kim Oanh… đã thể hiện rõ thực tế đó Phải chăng, tất cả những

-vụ việc tiêu cực đều bắt nguồn từ việc xa rời những giá trị tinh thầntruyền thống, chạy đuổi theo những hưởng thụ vật chất tầm thường.Chính vì vậy, trong điều kiện KTTT, người cán bộ, đảng viên làmcông tác kinh doanh rất cần và cần hơn bao giờ hết là phải thấmnhuần tư tưởng Hồ Chí Minh; phải tự trang bị cho mình vốn tri thức

về thị trường, nhưng cũng phải trau dồi tâm huyết và đạo đức kinhdoanh Mặt khác, phải bồi dưỡng, rèn luyện cho đội ngũ cán bộ,đảng viên những giá trị về văn hóa, giá trị đạo đức, có "cái tâm" củacon người trong các hoạt động sản xuất kinh doanh Một nguyên lý

Trang 38

rất sơ đẳng nhưng cũng rất cần thiết đối với người cán bộ làm công

tác kinh doanh là nguyên lý tài năng phải đi đôi với đạo đức, nhân

cách đạo đức làm cho tài năng được nâng lên

Nhật Bản là một trong những nước có nền KTTT phát triểnnhất thế giới và các nhà doanh nghiệp Nhật Bản luôn là nhữngngười thành đạt Một nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng, một trongnhững nguyên nhân thành công của người Nhật là họ luôn đề caotriết lý:

Cuộc sống hạnh phúc không có gì khác hơn là sángtạo tối đa Sáng tạo ra ba loại giá trị: giá trị của cái đẹp;giá trị của cái lợi; giá trị của cái thiện Những giá trị đóđược thể hiện trong các sản phẩm hoàn hảo của họ Chúngvừa có ý nghĩa đạo đức, vừa có giá trị thực dụng; đồng thờichứa đựng cả chữ tín, sự tôn trọng khách hàng và niềm tựhào của nhà kinh doanh [64, tr 42]

Rõ ràng là, một khi những giá trị đạo đức chân chính đượctôn trọng, được gìn giữ thì chúng sẽ trở thành nhân tố cơ bản khôngnhững thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp, mà còn thúc đẩy sựphát triển của xã hội nói chung ở góc độ này, đạo đức của ngườicán bộ, đảng viên làm công tác kinh doanh cũng là động lực thúcđẩy công cuộc cải cách, đổi mới, phát triển

Trong điều kiện KTTT, ranh giới giữa cái xấu và cái tốt,giữa cái thiện và cái ác hết sức mong manh Nếu thiếu bản lĩnh,

Trang 39

thiếu kiến thức văn hóa và lương tâm nghề nghiệp thì người kinhdoanh khó có thể tránh được cái xấu Cho nên, KTTT đòi hỏi ngườicán bộ, đảng viên không những phải năng động, sáng tạo, mà cònphải có lòng trung thành, tận tâm đối với công việc, tôn trọng kỷcương, tuân thủ luật pháp Có như vậy mới có thể đứng vững vàvươn lên trong cuộc cạnh tranh gay gắt của thương trường.

Trong cơ chế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiệnnay, cạnh tranh tuy khắc nghiệt, nhưng không phải cạnh tranh theoluật rừng, bằng mọi thủ đoạn và hành vi phi đạo đức, mà là cạnhtranh để vươn lên bằng tài năng, bằng hiệu quả và đóng góp vào sựphồn vinh của xã hội Nhiều nhà tư tưởng trên thế giới đưa ra quanđiểm cạnh tranh lành mạnh theo các cách tiếp cận khác nhau Chẳnghạn, có quan điểm cho rằng, cạnh tranh với vũ khí là sản phẩm vàdịch vụ không ngừng cải tiến và đổi mới tạo những giá trị sử dụnggóp phần thúc đẩy cuộc sống xã hội phát triển Đó là cạnh tranhlành mạnh Một số nhà đạo đức học Trung Quốc còn cho rằng, cạnhtranh lành mạnh là cạnh tranh làm phồn vinh xí nghiệp, tạo ra sảnphẩm nhiều hơn, tốt hơn nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người, tạo

ra cơ hội việc làm nhiều hơn… Vì thế, đòi hỏi ở nước ta khi thamgia thực hiện cơ chế thị trường, người cán bộ, đảng viên còn phảiluôn có ý thức tôn trọng mình và tôn trọng người khác, giữ chữ "tín"với khách hàng, phải làm sao cho cạnh tranh vừa thôi thúc conngười hướng thiện, vừa thỏa mãn nhu cầu vật chất của con người,

Trang 40

đồng thời làm tăng thêm lòng kính trọng lẫn nhau trong cuộc sống.Làm được như vậy thì các giá trị đạo đức chân chính vẫn được bảotồn và nâng cao, đồng thời vẫn phát triển được KTTT định hướngXHCN.

Thứ ba: Đạo đức cách mạng - mục tiêu hướng tới của người cán bộ, đảng viên để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xãhội, cần phải có con người xã hội chủ nghĩa" [61, tr 448] Người cònnói: "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây Vì lợi ích trăm năm thìphải trồng người" [61, tr 222] Sự nghiệp "trồng người", "xây dựngcon người mới xã hội chủ nghĩa" mà Bác nói tới không xa rời việcbồi dưỡng, vun đắp đạo đức cách mạng cho người cán bộ, đảngviên Nói về đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên, Bácnhấn mạnh: Đã là cán bộ nhà nước - so sánh với nhân dân - thì ítnhiều đều có quyền hành Đã có chức, có quyền càng phải trau dồi,rèn luyện đạo đức cách mạng Người viết: "Những người trong cáccông sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành Nếu không giữ đúng Cần,Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt củadân" [59, tr 104]

Đạo đức cách mạng còn giữ vai trò to lớn, là mục tiêu hướngtới, là sức mạnh, sự tiến bộ về tinh thần của một quốc gia dân tộc

Theo Bác Hồ, vì đạo đức cách mạng luôn gắn liền với việc

thực hiện mục tiêu của Đảng nên người làm cách mạng phải vừa có

Ngày đăng: 02/04/2022, 16:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. G.Bandxelaze (1985), Đạo đức học, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: G.Bandxelaze (1985), "Đạo đức học
Tác giả: G.Bandxelaze
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1985
2. G.Bandxelaze (1985), Đạo đức học, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: G.Bandxelaze (1985), "Đạo đức học
Tác giả: G.Bandxelaze
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1985
3. Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương (1977), Văn kiện Đảng 1930-1945, tập1, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương (1977), "Văn kiệnĐảng 1930-1945
Tác giả: Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1977
4. Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng (2004), Báo cáo nhận diện sự suy thoái trong Đảng qua 20 năm đổi mới và hướng khắc phục, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng (2004), "Báo cáo nhận diệnsự suy thoái trong Đảng qua 20 năm đổi mới và hướng khắcphục
Tác giả: Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng
Năm: 2004
5. Ban Tổ chức Thành ủy Hải Phòng (2001), Báo cáo tổng kết công tác tổ chức xây dựng Đảng năm 2000; nhiệm vụ trọng tâm, cơ bản 2001, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tổ chức Thành ủy Hải Phòng (2001), "Báo cáo tổng kết côngtác tổ chức xây dựng Đảng năm 2000; nhiệm vụ trọng tâm,cơ bản 2001
Tác giả: Ban Tổ chức Thành ủy Hải Phòng
Năm: 2001
6. Ban Tổ chức Thành ủy Hải Phòng (2002), Báo cáo tổng kết công tác tổ chức xây dựng Đảng năm 2001; nhiệm vụ trọng tâm, cơ bản 2002, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tổ chức Thành ủy Hải Phòng (2002), "Báo cáo tổng kết côngtác tổ chức xây dựng Đảng năm 2001; nhiệm vụ trọng tâm,cơ bản 2002
Tác giả: Ban Tổ chức Thành ủy Hải Phòng
Năm: 2002
7. Ban Tổ chức Thành ủy Hải Phòng (2003), Báo cáo tổng kết công tác tổ chức xây dựng Đảng năm 2002; nhiệm vụ trọng tâm, cơ bản 2003, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tổ chức Thành ủy Hải Phòng (2003), "Báo cáo tổng kết côngtác tổ chức xây dựng Đảng năm 2002; nhiệm vụ trọng tâm,cơ bản 2003
Tác giả: Ban Tổ chức Thành ủy Hải Phòng
Năm: 2003
8. Ban Tổ chức Thành ủy Hải Phòng (2004), Báo cáo tổng kết công tác tổ chức xây dựng Đảng năm 2003; nhiệm vụ trọng tâm, cơ bản 2004, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tổ chức Thành ủy Hải Phòng (2004), "Báo cáo tổng kết côngtác tổ chức xây dựng Đảng năm 2003; nhiệm vụ trọng tâm,cơ bản 2004
Tác giả: Ban Tổ chức Thành ủy Hải Phòng
Năm: 2004
9. Ban Tuyên giáo Thành ủy Hải Phòng (2001), Báo cáo công tác tuyên giáo năm 2000; phương hướng nhiệm vụ năm 2001, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tuyên giáo Thành ủy Hải Phòng (2001), "Báo cáo công táctuyên giáo năm 2000; phương hướng nhiệm vụ năm 2001
Tác giả: Ban Tuyên giáo Thành ủy Hải Phòng
Năm: 2001
10. Ban Tuyên giáo Thành ủy Hải Phòng (2002), Báo cáo công tác tuyên giáo năm 2001; phương hướng nhiệm vụ năm 2002, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tuyên giáo Thành ủy Hải Phòng (2002), "Báo cáo công táctuyên giáo năm 2001; phương hướng nhiệm vụ năm 2002
Tác giả: Ban Tuyên giáo Thành ủy Hải Phòng
Năm: 2002
11. Ban Tuyên giáo Thành ủy Hải Phòng (2003), Báo cáo công tác tuyên giáo năm 2002; phương hướng nhiệm vụ năm 2003, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tuyên giáo Thành ủy Hải Phòng (2003), "Báo cáo công táctuyên giáo năm 2002; phương hướng nhiệm vụ năm 2003
Tác giả: Ban Tuyên giáo Thành ủy Hải Phòng
Năm: 2003
12. Ban Tuyên giáo Thành ủy Hải Phòng (2004), Báo cáo công tác tuyên giáo năm 2003; phương hướng nhiệm vụ năm 2004, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tuyên giáo Thành ủy Hải Phòng (2004), "Báo cáo công táctuyên giáo năm 2003; phương hướng nhiệm vụ năm 2004
Tác giả: Ban Tuyên giáo Thành ủy Hải Phòng
Năm: 2004
13. Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương (1997), Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương (1997), "Tài liệu nghiên cứuNghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ươngĐảng khóa VIII
Tác giả: Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
14. Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương (2001), Sổ tay báo cáo viên về Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương (2001), "Sổ tay báo cáo viênvề Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương
Năm: 2001
15. Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương (1999), Tài liệu nghiên cứu nghị quyết lần thứ năm BCH Trung ương Đảng khóa VIII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương (1999)
Tác giả: Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương
Năm: 1999
16. Bộ Văn hóa Thông tin (1994), Văn hóa và phát triển kinh tế - xã hội,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Văn hóa Thông tin (1994), "Văn hóa và phát triển kinh tế - xãhội
Tác giả: Bộ Văn hóa Thông tin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
17. Hà Nguyên Cát (2000), Vấn đề đạo đức cách mạng của người cán bộ hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam trong điều kiện hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nguyên Cát (2000), "Vấn đề đạo đức cách mạng của ngườicán bộ hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam trong điềukiện hiện nay
Tác giả: Hà Nguyên Cát
Năm: 2000
18. Nguyễn Trọng Chuẩn (1995), "Đôi điều suy nghĩ về giá trị và sự biến đổi của giá trị khi nước ta chuyển sang kinh tế thị trường", Triết học, (1), tr. 3-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều suy nghĩ về giá trị và sựbiến đổi của giá trị khi nước ta chuyển sang kinh tế thịtrường
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1995
19. Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Phúc (Đồng chủ biên) (2003), Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Phúc (Đồng chủ biên)(2003), "Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thịtrường ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Phúc (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
20. Cục Thống kê Hải Phòng (2004), Niên giám thống kê 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục Thống kê Hải Phòng (2004)
Tác giả: Cục Thống kê Hải Phòng
Năm: 2004

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w