1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái

24 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 207,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ~~~~*~~~~ Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

~~~~*~~~~

Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ

giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái

Sinh viên thực hiện

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

Trang 5

1

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

I PHẦN I: PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN 5

1 Sự ra đời của phép biện chứng 5

2 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến 6

2.1 Nội dung nguyên lí về mối liên hệ phổ biến 6

2.2 Ý nghĩa phương pháp luận về mối liên hệ phổ biến 7

II PHẦN II: MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 10

1 Mối liên hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường 10

2 Môi trường đang bị huỷ hoại do các chính sách tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 11

KẾT LUẬN 18

TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Chúng ta đang sống trong một mạng lưới sự sống rộng lớn, càng có nhiềumối liên hệ thì mạng lưới càng bền vững Chúng ta cũng biết rằng tất cảnhững mối liên kết trong sự sống sẽ không tồn tại và phát triển được nếukhông được hỗ trợ bởi môi trường Với tốc độ phá hoại môi trường như hiệnnay của con người, môi trường của chúng ta đang dần bị suy thoái, mạng lưới

sự sống đó đang dần bị phá vỡ Sự tăng trưởng kinh tế ngày càng nhanh, mộtmặt nó nâng cao đời sống của người dân nhưng mặt khác nó đang gây mộtsức ép nặng nề lên môi trường tự nhiên Cũng như các nước đang phát triểnkhác, để có những kết quả về kinh tế trong giai đoạn trước mắt, đất nước taphải trả giá là mất đi sự bền vững của các nguồn tài nguyên về lâu dài Sựphát triển nhanh chóng ở Việt Nam đã dẫn đến sự gia tăng ô nhiễm đất,không khí, nước mạng lưới đang dần mất đi sức mạnh của nó Chính vì vậy

em đã chọn đề tài tiểu luận: “Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và

vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái”.

2 Mục đích nghiên cứu

Vận dụng phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến vào phân tích mối liên

hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái từ đó tìm ra giảipháp phát triển kinh tế đất nước ta theo hướng lâu dài, ổn định, bền vững

3 Đối tượng nghiên cứu

Tăng trưởng kinh tế, vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái và mối quan hệ giữachúng

Trang 9

4 Kết cấu tiểu luận

PHẦN I: PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN

PHẦN II: MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẢO VỆMÔI TRƯỜNG SINH THÁI

PHẦN NỘI DUNG

I PHẦN I: PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN

1 Sự ra đời của phép biện chứng

Triết học ra đời từ thời cổ đại đánh dấu sự ra đời của phép biện chứng.Trải qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển có phồn vinh có suy vong Khởiđầu là phép biện chứng tự phát cổ đại, thể hiện rõ nét trong thuyết “âm -dương” của Trung Quốc, đăc biệt là trong nhiều học thuyết của Hi Lạp cổđại Đến khoảng thế kỷ 17 nửa đầu thế kỷ 18, phương pháp siêu hình thốngtrị trong tư duy triết học mà đại diện là Đềcáctơ – ông được coi là linh hồncủa phương pháp siêu hình

Trong khoảng nửa sau thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 đây là thời kỳ tổng kếtcác lịch sử triết học nhân loại và hình thành hệ thống lớn đó là phương phápbiện chứng duy tâm mà đại diện là Hêgen (ông được coi là tiền đề củaphương pháp biện chứng duy vật sau này) Ngày nay phép biện chứng đã đạtđến trình độ cao nhất đó là phép biện chứng duy vât Phép biện chứng duy

4

Trang 10

vật được tạo thành từ một loạt những phạm trù, những nguyên lý, những quyluật được khái quát từ hiện thực Cho nên nó phản ánh đúng sự liên hệ, sựvận động và sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Nhờ vậy nó đã khắcphục được những hạn chế vốn có của phép biện chứng tự phát cổ đại chorằng thế giới là một chỉnh thể thống nhất, giữa các bộ phận của nó có mốiliên hệ qua lại, thâm nhập vào nhau, tác động và chịu ảnh hưởng lẫn nhau,thế giới và các bộ phận cấu thành thế giới ấy không ngừng vận động và pháttriển Hơn nữa phép biện chứng duy vật còn sửa được sai lầm của phép biệnchứng duy tâm khách quan thời cổ đại mà đại biểu là Hêgen Ông cho rằng

sự phát triển biện chứng của thế giới bên ngoài chỉ là sự sao chép lại sự tựvận động của “ý niệm tuyệt đối”mà thôi Phép biện chứng duy vật đã chứngminh rằng: những ý niệm trong đầu óc của chúng ta chẳng qua là sự phảnánh của các sự vật hiện thực khách quan, do đó bản thân biện chứng của ýniệm chỉ đơn thuần là sự phản ánh có ý thức của sự vận động biện chứng củathế giới hiện thực khách quan Như vậy phép biện chứng duy vật đã kháiquát một cách đúng đắn những quy luật vận động và sự phát triển chung nhấtcủa thế giới

2 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến

2.1 Nội dung nguyên lí về mối liên hệ phổ biến

Phép biện chứng duy vật có vai trò làm sáng tỏ những quy luật của sựliên hệ và phát triển của tự nhiên, xã hội loài người và của tư duy Vì vậy ởbất kỳ cấp độ phát triển nào của phép biện chứng duy vật, nguyên lý về mốiliên hệ phổ biến vẫn được xem là một trong những nguyên lí có ý nghĩa kháiquát nhất Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến cho rằng các sự vật hiện tượng

và các quá trình cấu thành thế giới đó vừa tách biệt nhau, vừa có sự liên hệqua lại, thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau.Trong đó liên hệ là sự tác động

Trang 11

qua lại lẫn nhau, là điều kiện tiền đề tồn tại cho nhau, là sự quy định lẫnnhau, là sự nương tựa lẫn nhau, sự chuyển hoá lẫn nhau của các mặt, các yếu

tố, các thuộc tính cấu thành sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan.Ngoài ra những người theo quan điểm duy vật biện chứng còn khẳng định cơ

sở của sự liên hệ qua lại giữa các sự vật và hiện tượng chính là tính thốngnhất vật chất của thế giới Theo quan điểm này, các sự vật, các hiện tượngtrên thế giới dù có đa dạng, có khác nhau như thế nào đi chăng nữa thì chúngcũng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là thếgiới vật chất Các mối liên hệ diễn ra trong mỗi sự vật, giữa các sự vật vớinhau, trong toàn bộ vũ trụ, trong mọi không gian và thời gian Quan điểmduy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của

sự liên hệ giữa các sự vật, các hiện tượng, các quá trình mà nó còn nêu rõtính đa dạng của sự liên hệ qua lại đó Tính đa dạng của sự liên hệ do tính đadạng trong sự tồn tại, sự vận động và phát triển của chính các sự vật và hiệntượng quy định Có mối liên hệ bên trong là mối liên hệ qua lại, là sự tácđộng lẫn nhau giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặtkhác nhau của một sự vật, nó giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vậnđộng và phát triển của sự vật Có mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữacác sự vật, các hiện tượng khác nhau, nói chung nó không có nghĩa quyếtđịnh, hơn nữa nó thường phải thông qua các mối liên hệ bên trong mà pháthuy Tuy nhiên mối liên hệ bên ngoài cũng hết sức quan trọng, đôi khi còngiữ vai trò quyết định Ngoài ra còn có mối liên hệ chủ yếu, có mối liên hệthứ yếu, có mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới, có mối liên hệ baoquát một số lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực riêng biệt của thế giới Có mốiliên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp mà trong đó sự tác động qua lạiđược thực hiện thông qua một hay một số khâu trung gian Có mối liên hệbản chất và mối liên hệ không bản chất, có mối liên hệ tất yếu và mối liên hệ

6

Trang 12

ngẫu nhiên Có mối liên hệ giữa các sự sự vật khác nhau, có mối liên hệ khácnhau của cùng một sự vật Sự vật, hiện tượng nào cũng vận động và pháttriển qua nhiều giai đoạn khác nhau, giữa các giai đoạn đó cũng có mối liên

hệ với nhau tạo thành lịch sử phát triển hiện thực của các sự vật và các quátrình tương ứng Quan điểm duy vật biện chứng về sự liên hệ đòi hỏi phảithừa nhận tính tương đối trong sự phân loại đó Các loại liên hệ khác nhau cóthể chuyển hoá cho nhau Sự chuyển hoá đó có thể diễn ra hoặc do thay đổiphạm vi bao quát khi xem xét hoặc do kết quả vận động khách quan củachính sự vật hiện tượng ấy

2.2 Ý nghĩa phương pháp luận về mối liên hệ phổ biến

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến xét dưới góc độ thế giới quan thì nóphản ánh tính thống nhất của vật chất và thế giới Các sinh vật, hiện tượngtrên thế giới dù có đa dạng, có khác nhau như thế nào chăng nữa thì chúngcũng chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất đó là thế giớivật chất Xét dưới góc độ nhận thức lí luận, nó là cơ sơ lí luận của quan điểmtoàn diện Với tư cách là một nguyên tắc phương pháp luận trong việc nhậnthức các sự vật, hiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi để có nhận thứcđúng về sự vật chúng ta cần xem xét nó: một là : trong mối liên hệ qua lạigiữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật

đó, hai là: trong mối liên hệ qua lại giữa các sự vật đó với các sự vật khác, kể

cả trực tiếp lẫn gián tiếp Hơn thế nữa quan điểm toàn diện đòi hỏi để nhậnthức đúng sự vật, chúng ta cần xem xét nó trong mối quan hệ với nhu cầuthực tiễn của con người Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải đi từ trithức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đến chỗ khái quát để rút rabản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện tượng đó.Nhưng quan điểm toàn diện không đồng nhất với cách xem xét dàn trải, liệt

Trang 13

kê những quy định khác nhau của sự vật hay hiện tượng đó, nó đòi hỏi phảilàm nổi bật cái cơ bản nhất, cái quan trọng nhất của sự vật hay hiện tượng

đó Với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận trong hoạt động thực tiễn,nguyên lí về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi để cải tạo được sự vật, chúng taphải bằng hoạt động thực tiiễn của mình biến đổi những mối liên hệ nội tạicủa sự vật cũng như mối liên hệ qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác.Muốn vậy phải sử dụng đồng bộ nhiều phương pháp, nhiều phương tiện khácnhau để tac động nhằm thay đổi những liên hệ tương ứng Để tránh nhữngphưng pháp luận sai lầm trong việc xem xét sự vật, hoạt động cần tránh chủnghĩa chiết trung, thuật nguỵ biện Mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại trongkhông gian thời gian nhất định và mang dấu ấn của không gian thời gian đó

Do đó chúng ta cần có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xet và giải quyếtmọi vấn đề thực tiễn đặt ra

3.

8

Trang 14

II PHẦN II: MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẢO

VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

1 Mối liên hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường

Môi trường sinh thái là toàn bộ các điều kiện vô cơ, hữu cơ của các hệ sinhthái ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và mọi hoạt động khác của xã hội loàingười Nó là những điều kiện tự nhiên, xã hội trong đó con người hay một sinhvật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người Còn tăng trưởng kinh tếnhằm cải thiện và phát triển đời sống của con người Vì vậy giữa môi trườngsinh thái và tăng trưởng kinh tế có mối liên hệ biện chứng chặt chẽ Nhưchúng ta đã biết môi trường sống được sinh ra và tồn tại trong tự nhiên, vì vậy

có thể nói nó tồn tại một cách khách quan độc lập với ý thức con người Tuynhiên sự phát triển của môi trường lại hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức của conngười, con người có thể tác động làm cho môi trường tốt lên hoặc xấu đi Tăngtrưởng kinh tế lại được sinh ra, tồn tại và phát triển hoàn toàn phụ thuộc vàocon người nên nó tồn tại chủ quan Môi trường chịu tác động trực tiếp của conngười, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào con người từ đó ta có thể thấy môitrường cũng chịu tác động của tăng trưởng kinh tế và ngược lại, mối quan hệgiữa chúng được thông qua một thực thể đó là con người Môi trường là địabàn để tăng trưởng kinh tế hoạt động vì tăng trưởng kinh tế diễn ra trên diệnrộng và cần khai thác tài nguyên thiên nhiên nhằm phục vụ cho lợi ích của conngười Nhưng tài nguyên của môi trường không phải là vô hạn Nếu chỉ tăngtrưởng kinh tế mà không nghĩ đến việc cải tạo môi trường thì một ngày nào đótăng trưởng kinh tế phải dừng lại do môi trường bị suy thoái Lúc đó conngười phải gánh chịu hậu quả do chính con người gây ra Một sản phẩm do

Trang 15

người không thể sống mà không chịu sự tác động của môi trường Ngược lại,nếu tăng trưởng kinh tế gắn với việc bảo vệ môi trường thì không những nólàm cho đời sống của con người ngày càng được cải thiện mà nó còn làm cảithiện cả môi trường do kinh tế phát triển nhà nước có ngân sách cho những dự

án bảo vệ môi trường, nguồn tài nguyên bị khai thác được thay thế dần bởi cácnguồn tài nguyên tự tạo

2 Môi trường đang bị huỷ hoại do các chính sách tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

2.1 Trong công nghiệp

Thực hiện nghị quyết Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ 6, kể từ năm

1986 Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới Công cuộc đổi mới này đượctiến hành trên toàn diện, trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội nhưđổi mới tư duy, hệ thống kinh tế, chính sách, thể chế quản lí hành chính…Trong lĩnh vực kinh tế, Việt Nam chuyển từ nền kinh tế chỉ huy, tập chung,quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hànhtheo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng Xã HộiChủ Nghĩa Trong gần hai thập kỷ qua thực hiện chủ trương và đường lối đổimới nền kinh tế Việt Nam đã đạt được một số thành tựu to lớn Chính sáchđổi mới đã mang lại những thay đổi, tạo ra một nền kinh tế năng động, một

xã hội văn minh, công bằng và dân chủ Tổng sản phẩm quốc nội ( GDP)tăng trung bình hơn 7%/năm Đặc biệt trong công nghiệp, tăng trưởng côngnghiệp từ xuất phát điểm chỉ có 0,6% năm 1980 tăng lên đến 6,07% năm

1990 và giai đoạn 1991-2000 tăng lên trung bình 12,9%/năm, trong đó thời

kỳ 1991-1995 có tốc độ tăng trưởng cao nhất đạt 17%/năm Tỷ trọng côngnghiệp đã có sự chuyển dịch đáng kể theo hướng công nghiệp hoá, từ mức22,7% GDP năm 1991 tăng lên 36,6% năm 2000 Sự phát triển của quá trình

10

Trang 16

công nghiệp hoá trong những năm qua một mặt là động lực thúc đẩy pháttriển kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người dân nhưng mặt khác nó đã ítnhiều bộc lộ những mặt trái của nó mà nếu không có biện pháp bảo vệ cụ thểthì trong tương lai không xa chúng ta sẽ phải gánh chịu những hậu quả đặcbiệt nghiêm trọng.

Cùng với sự ra đời của hàng loạt các doanh nghiệp và cơ sở kinhdoanh đó, hiện nay trên cả nước tổng lượng chất thải rắn ước tính khoảng 49

000 tấn/ngày, trong đó chất thải rắn công nghiệp chiếm khoảng 27.000tấn/ngày Việc quản lý chặt chẽ chất thải rắn nguy hại đang gặp nhiều khókhăn, không có đủ kho chứa đủ tiêu chuẩn để lưu giữ các chất thải độc hạitrước khi xử lí, không có nhà máy xử lí chất thải độc Phần lớn chất thải rắnnguy hại này thuần tuý chỉ được chôn chung lẫn lộn với rác thải sinh hoạthay thậm chí đổ ngay tại nhà máy gây mối nguy hại rất lớn đối với môitrường sống

Ngoài ra, trong quá trình sản xuất, kinh doanh, các cơ sở doanh nghiệpthường thải ra một lượng nươc thải khá lớn Đặc biệt là khoảng hơn 90% cơ

sở sản xuất cũ chưa có thiết bị xử lí nước thải Phần lớn các nhà máy xínghiệp nếu có tiến hành xử lí thì chỉ xử lí sơ bộ rồi thải thẳng ra nguồn nướcmặt, gây ô nhiễm trầm trọng đối với nhiều dòng sông Trong nhiều trườnghợp, nuớc thải ứ đọng lâu ngày còn gây ô nhiễm không khí, mất mỹ quan,lan truyền bệnh dịch và nhiều tác động tiêu cực khác Nước thải công nghiệpchính là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm cho môi trường đô thị

Khí thải của các cơ sở doanh nghiệp sản xuất cũng là vấn đề cần bàntới Ô nhiễm môi trường không khí chủ yếu do các ngành nhiệt điện, côngngiệp hoá chất gây nên Ví dụ nhà máy nhiệt điện Phả Lại, nồng độ bụi trungbình tại các điểm đo đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1 đến 6 lần Tại nhà

Ngày đăng: 02/04/2022, 16:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w