Trên cơ sở giới thiệu khái quát về Hindu giáo; đề tài tập trung phân tích những ảnh hưởng của Hindu giáo đến văn minh các nước Đông Nam Á. Đồng thời rút ra những đánh giá, nhận xét chung về tôn giáo này.
Trang 1KHOA CHÍNH TRỊ HỌC
-& -TIỂU LUẬNMÔN: LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
Đề tài:
Ảnh hưởng của Hindu giáo
đến văn minh các nước Đông Nam Á
Sinh viên :
Hà Nội - 2022
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG CHÍNH 3
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HINDU GIÁO 3
1.1 Sự xuất hiện của Hindu giáo 3
1.2 Một số phân nhánh của Hindu giáo 6
1.3 Một số lễ nghi và tục thờ cúng 9
CHƯƠNG 2 ẢNH HƯỞNG CỦA HINDU GIÁO ĐẾN VĂN MINH ĐÔNG NAM Á 13
2.1 Quá trình du nhập Hindu giáo vào Đông Nam Á 13
2.2 Ảnh hưởng của Hindu giáo đến văn minh Đông Nam Á 14
CHƯƠNG 3 NHẬN XÉT CHUNG VỀ HINDU GIÁO 21
KẾT LUẬN 23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hindu giáo (Hinduism) hay Ấn Độ giáo - là một trong những tôn giáo lớnnhất thế giới trong quá khứ Khởi nguồn từ Ấn Độ, Hindu giáo đã lan truyền vàảnh hưởng rất nhiều nước ở châu Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng Ở ĐôngNam Á, tôn giáo là một hiện tượng văn hóa xã hội rất phức tạp, là bộ phận khôngthể thiếu được trong đời sống tinh thần, văn hóa Đông Nam Á Trong đó, Hindugiáo là tôn giáo có rất nhiều ảnh hưởng quan trọng tới đời sống văn hóa và xã hộitại các quốc gia như Thái Lan, Lào, Campuchia, Mianmar, Việt Nam, Indonesia,…Hindu giáo không chỉ đem lại nhiều giá trị văn hóa trong lịch sử mà còn để lạinhiều di sản văn hóa tinh thần cho đến tận hôm nay Trong lịch sử các quốc gia vàdân tộc ở Đông Nam Á, Hindu giáo còn có mối quan hệ tác động lớn đến thể chếchính trị các quốc gia Mặc dù ngày nay, số lượng tín đồ Hindu giáo không nhiềunhưng giá trị tinh thần đặc sắc của Hindu giáo vẫn là một kho tàng văn hóa và làmột đối tượng nghiên cứu đầy lý thú đối với các nhà nghiên cứu thuộc nhiềungành khoa học khác nhau
Chính vì thế, em xin chọn đề tài: “Ảnh hưởng của Hindu giáo đến văn
minh các nước Đông Nam Á” để nghiên cứu, làm rõ hơn về vấn đề này Trong
khuôn khổ phạm vi của mình, hi vọng đề tài có thể đóng góp giá trị lý luận mangtính tham khảo để các đề tài khác liên quan trong tương lai nghiên cứu và triểnkhai
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở giới thiệu khái quát về Hindu giáo; đề tài tập trung phân tíchnhững ảnh hưởng của Hindu giáo đến văn minh các nước Đông Nam Á Đồngthời rút ra những đánh giá, nhận xét chung về tôn giáo này
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trang 5- Giới thiệu khái quát về Hindu giáo: sự xuất hiện, sự phân nhánh và một số
lễ nghi, tục thờ cúng của nó
- Phân tích những ảnh hưởng của Hindu giáo đến văn minh các nước ĐôngNam Á trong lịch sử và hiện nay
- Đồng thời rút ra những đánh giá, nhận xét chung về tôn giáo này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
* Đối tượng nghiên cứu: đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của Hindu giáo đến
văn minh Đông Nam Á
* Phạm vi nghiên cứu: Vì là đề tài mở, đi theo dòng thời gian nên phạm vi
nghiên cứu của đề tài tương đối không ổn định Từ khi hình thành cho tới lúc suy tàn,Hindu giáo đã đi qua nhiều quốc gia khác nhau, vì vậy đề tài không cố định đặt raphạm vi nghiên cứu cụ thể trong không gian địa lý hoặc không gian văn hóa nào Dùvậy, tinh thần chung của bài này vẫn là xoay quanh các quốc gia có sự ảnh hưởng ítnhiều bởi Hindu giáo ở Đông Nam Á cả trong lịch sử và hiện tại: Thái Lan, Lào,Campuchia, Mianmar, Việt Nam, Indonesia, Singapore
4 Phương pháp nghiên cứu
Có thể thấy là các đặc tính của tôn giáo ở Đông Nam Á đa dạng và phức tạp.Trong khi mục tiêu nghiên cứu của tiểu luận chỉ là giới thiệu Vì vậy đề tài chọncách tiếp cận lịch sử dân tộc, tôn giáo từ tôn giáo học, văn hóa học và nhân học Từ
đó, có thể thấy phương pháp nghiên cứu, trình bày là lịch sử - logic, chủ yếu thiên
về lịch sử Bên cạnh đó có kết hợp sử dụng thêm các phương pháp khác: đọc vàphân tích tài liệu, so sánh, thu thập thông tin,…
Trang 6Chương 2: Ảnh hưởng của Hindu giáo đến văn minh các nước Đông NamÁ
Chương 3 Nhận xét chung về Hindu giáo
Trang 7NỘI DUNG CHÍNH
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HINDU GIÁO
1.1 Sự xuất hiện của Hindu giáo
Ấn Độ là đất nước của thần linh, quê hương của những tôn giáo lớn (Phậtgiáo, Ấn Độ giáo…), văn minh xứ này tràn đầy không khí tôn giáo Chẳng phải vô
cớ mà nhiều học giả, nhà nghiên cứu xem nền văn minh Ấn Độ là một trong nhữngnền văn minh có tính duy tâm cao nhất
Khởi đầu, Hindu giáo phát triển từ một tôn giáo bình dân, có từ khoảng năm
700 trước công nguyên Đạo Hindu (hinduism) hay Ấn Độ giáo là một tôn giáođược phát triển cao hơn từ một tôn giáo bình dân Theo tôn giáo này, thần Krishna,Vishnu, Siva, Rama, thần Brahman và nhiều vị thần thánh cao quý chỉ là hiện thâncủa một Thượng Đế (Đấng Tối Cao) duy nhất
Đến trước thiên niên kỷ thứ I (Tr.CN), cùng với quá trình phân tầng xã hội
bộ lạc, hình thành nhà nước, tham gia của các dân tộc ngày một mới vào quá trìnhhình thành nền văn hóa Ấn Độ, thì tính chất cổ, tính hạn chế của bộ lạc, tính bítruyền của hệ thống triết học tôn giáo hình thành trên cơ sở những quan niệm Vedagiáo, được các nhà nghiên cứu xác định như là Bà la môn giáo (Brahmanisme) (dovai trò đặc biệt, then chốt trong nghi lễ và thực tiễn xã hội của nhà tư tế -Brahman), đã trở thành trở ngại đối với sự phát triển xã hội Bà la môn giáo cũngkhông phù hợp với cơ cấu của công xã nông nghiệp láng giềng mà đã trở thành tếbào kinh tế và xã hội cơ bản của xã hội Ấn Độ Các nhóm mới, chưa tiếp cận đượcvới nghi lễ Veda giáo, đã tham gia vào quan hệ kinh tế - xã hội và lễ nghi trongcông xã này
Sau khi trải qua cuộc khủng hoảng sâu sắc, chuyển hóa đáng kể, chống đỡđược sự cạnh tranh với Phật giáo và Giai na giáo (Jainaisme), Bà la môn giáo, mànói chính xác hơn là Hindu giáo (Hindouisme), đã có thể đáp ứng đầy đủ nhất các
Trang 8nhu cầu xã hội, trước hết là nhờ mối liên hệ hữu cơ của mình, thậm chí là sự hợpnhất với hệ thống đẳng cấp Sau khi vay mượn và phát triển quan niệm của Vedagiáo về sự phân cấp các nhóm người không bình đẳng về mặt nghi lễ, về vai trò củatầng lớp Bà la môn như người môi giới trong giao tiếp giữa con người với các thần,sau khi giữ lại kinh Veda với tư cách là sách kinh (nhưng bổ sung cho nó vô sốbình luận), Hindu giáo xây dựng cẩn thận các khái niệm về sự luân hồi của linh hồntrong thế giới theo quy luật nghiệp báo (karma) mà trước hết được quy định bởiviệc tuân thủ các chuẩn tắc ứng xử đối với một nhóm cụ thể, một đẳng cấp cụ thể.Hindu giáo bắt đầu lý giải những khác biệt xã hội bằng sự trong sáng về mặt nghi lễcủa cá nhân sinh ra trong đẳng cấp tương ứng.
Như vậy có thể thấy rằng đạo này chịu ảnh hưởng phần lớn tư tưởng Bà LaMôn, coi kinh Veda như sách thánh và rõ ràng là giới tăng lữ Bà La Môn nắmquyền cai trị chính trong đó Nhìn chung đạo Hindu là tôn giáo bình dân đã mangtính cách nhất thần, thần bí dưới sự ảnh hưởng của đạo Thần bí Bà la môn
Việc nền văn minh Ấn Độ khai thác vùng ngoại diên rộng lớn, đưa các dântộc mới và rất cổ vào hệ thống phân công lao động xã hội với tư cách các đẳng cấp
đã làm cho tính chuẩn tắc của Hindu giáo, vai trò kẻ quy địnđ lối ứng xử của nócàng trở nên có hiệu quả hơn khi nó tiếp nhận một cách hữu cơ hơn những nghi lễđịa phương
Rất nhiều các học giả đã bày tỏ ý kiến với những lý lẽ vững chắc rằng, hìnhthức sùng tín Bhakti trong đạo Hindu có nguồn gốc ở miền Nam Ấn và lan rộngđến tận miền Bắc Ấn Sankara – bậc thầy của đạo Hindu – cũng là người miềnnam Ông là người đầu tiên nhận thấy học thuyết Cứu rỗi của hình thức tôn giáoBhakti có thể tồn tại song song với thuyết thần bí Bà la môn, đến từ miền Nam Ấn
Cũng chính bởi phụ thuộc nhiều vào tư tưởng Bà la môn, đạo Hindu cổ xưachỉ có thể phát triển thành tôn giáo nhất thần chứ không phải tôn giáo nhất thần
Trang 9phục vụ đạo đức Đạo này coi Thượng Đế có ý nghĩa cao hơn tất cả những gì thuộc
về đạo đức và những gì không thuộc về đạo đức
Như vậy ngoài việc tuân thủ thuyết chối bỏ cuộc sống và thế giới của đạo Bà
la môn, đạo Hindu giữ lại cho mình một khía cạnh riêng: thay vì chỉ khoan dungvới hành động, nó còn tôn vinh hành động Nhưng đạo giáo của chúng sinh khôngthể làm gì hơn ngoài việc lưu tâm tới cảm xúc tự nhiên
Hindu giáo khôgn đòi hỏi hành động nào khác ngoài hành động như đạo Bà
la môn đòi hỏi, nhưng thể hiện lại khác Con người không thể thỏa mãn (như người
Bà la môn) ở sự quý trọng (bên cạnh ý tươnggr từ bỏ cõi trần) một sự đánh giá hạnhẹp và chỉ liên quan đến hành động (những hành động của bổn phận do tầng lớpđặc quyền đề ra) Đạo này đòi hỏi con người phải thể hiện lòng tận tụy hoàn toànvới Thượng Đế Đòi hỏi này cũng gắt gao không kém nỗ lực từ bỏ cõi trần của một
cá nhân
Vì đánh giá cao hành động, đạo nhất thần Hindu bắt buộc phải là tôn giáocủa giới bình dân Khởi đầu đạo Hindu không quan tâm tới việc chống lại họcthuyết chối bỏ cuộc sống và thế giới ở bất cứ hình thức nào Nó chỉ muốn hànhđộng được nhìn nhận và được đánh giá đúng mức Đạo Hindu tưởng rằng có thể kếthợp (ở một mức độ nhất định) học thuyết chối bỏ cuộc sống và thế giới với họcthuyết công nhận cuộc sống và thế giới
Trong tư tưởng Hindu cổ đại, quan điểm chối bỏ cuộc sống và thế giới được
hỗ trợ bởi cảm xúc tự nhiên của dân tộc Ấn, cũng phải khuất phục quan điểm côngnhận cuộc sống và thế giới
Những nguồn tư liệu chính về hệ tư tưởng của đạo Hindu cổ đại này lànhững tư liệu mang nội dung triết học pha lẫn tôn giáo được giới thiệu trong haithiên sử thi vĩ đại của Ấn Độ là Mahabharata và Ramayana và kinh Puranass.Purana (tên đầy đủ là Puranams akhyanam) có nghĩa là truyện cổ tích Thế nên
Trang 10Puranass có nhiều chuyện thần thoại và tôn giáo kèm theo những dòng suy ngẫm vềnhững câu chuyện này.
Xét về mặt lịch sử, Hindu giáo đã hình thành hai khuynh hướng cơ bản –Visơnu giáo (Vishnouisme) và Sivai giáo (Shivaisme), hơn nữa là cả hai tôn giáonày đều chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của những quan niệm tiền Arya, những quanniệm dựa trên những sự thờ cúng tối cổ, trong đó tư tưởng và biểu tượng sinh đẻ,vai trò của người mẹ, sự mê hồn của thực tiễn thờ cúng, ý nghĩa của sự hy sinh máu
là rất lớn
Các cơ sở của Hindu giáo bắt nguồn từ kinh Veda, từ các truyền thuyết vàcác văn bản có liên quan tới kinh ấy, chủ yếu quy định tính chất và các đặc điểmcủa nền văn minh Ấn Độ trên các phương diện lịch sử văn hóa, triết học tôn giáogiáo, nghi lễ - sinh hoạt, xã hội – gia đình, v.v… Cái mang quyết định đối với quátrình hình thành các cơ sở tổng hợp của Hindu giáo trong một thời gian dài và rấtphức tạp là quá trình khắc phục dần dần tính chất bí truyền của các nguyên tắcVeda – Bà la môn giáo trong văn hóa Ấn Độ cổ
Một điều không đáng ngạc nhiên là sau khi đã được đơn giản hóa và chỉnh lýcho phù hợp với nhu cầu của đông đảo quần chúng, Hindu giáo đã đặt lên hàng đầucác thần mới, chính xác hơn là những bình diện mới của chính các thần cổ được cảibiến chút ít, nhưng có được một cuộc sống mới và có được quyền uy cao chínhtrong khuôn khổ của hệ thống Hindu giáo đang hình thành Các thần này là gần gũi
và dễ hiểu hơn đối với con người
1.2 Một số phân nhánh của Hindu giáo
Giáo phái Vishnu
Giáo phái này chủ yếu sùng bái Vishnu (thần giữ gìn vũ trụ) và những hóathân của thần này như Thiên nữ tốt lành, chim đại bàng cánh vàng, khỉ thầnHanôman, trâu thần Nmcát, v.v… Tín đồ của giáo phái này coi trọng sự trungthành đối với thần, đa số họ đều theo chủ nghĩa khổ hạnh như ăn chay, cấm dục,
Trang 11v.v… Việc thờ cúng được tín đồ Vishnu giáo tiến hành trong chùa, họ phản đốiviệc dùng động vật làm vật tế lễ Hiện nay, giáo phái này chủ yếu phổ biến ở miềnBắc Ấn Độ.
Vishnu giáo hình thành vào thế kỷ XI Người sáng lập và đặt cơ sở lý luậncho nó là Ramanuja Theo ông, sự hợp nhất linh hồn của cá nhân với thần là conđường giải thoát chính Ngoài ra tín đồ còn phải thụ lễ theo Vishnu giáo, bày tỏtình yêu tuyệt đối với thần, sống cuộc sống tu hành khổ hạnh và chấp hành nghiêmchỉnh những lễ nghi cúng bái như là điều kiện để nhận được sự ân sủng của thần.Môn đệ của Ramanuja là Ramananda đã tiếp tục phát triển Vishnu giáo Ông xâydựng nên Giáo phái Rama Theo Ramananda, con đường giải thoát đối với tín đồ làviệc bày tỏ tình yêu đối với thần Rama và luôn nhắc thầm tên của thần này, là việctắm trong ân huệ của thần
Vào thế kỷ XVI, Jaithanic đã lập ra giáo phái Hắc Thiên để tôn thờ HắcThiên (nhân vật anh hùng trong sử thi Ấn Độ) và Rata Theo Jaithanic, tình yêu củaHắc Thiên với Rata tượng trưng cho tình yêu của linh hồn con người đối với thần.Việc thụ lễ theo đạo không nên tiến hành theo một lễ nghi rườm rà, chỉ cần hát mộtbài thánh ca dành cho Hắc Thiên và Rata là đủ điều kiện nhận được sự sùng ái củathần Do vậy, khi hát thánh ca, phái này thường phát cao cờ, hò hét, đánh trống, gõchiêng
Giáo phái Siva
Giáo phái này thờ cúng thần Siva (thần thứ ba được tín đồ Ấn Độ giáo thờcúng, được coi là người phá hủy và xây dựng lại thế giới) Sankara là người đặt cơ
sở lý luận cho giáo phái này Siva giáo có nhiều phân nhánh khác nhau, trong đócần phải kể tới một số phân nhánh sau đây 1) Siva giáo ở Casmia phổ biến vàogiữa thế kỷ XI, tuân thủ 64 loại kinh điển Giáo phái này cho rằng nhờ sức mạnhthần bí mà Siva tạo ra linh hồn cá nhân và những hiện tượng hữu hình đa dạng.Linh hồn cá nhân cần phải nhận thức nhiều lần thế giới hiện thực để hợp nhất với
Trang 12Siva và qua đó được giải thoát 2) Linga giáo bắt đầu hưng thịnh sau sự suy thoáicủa Phật giáo và Giana giáo Người sáng lập ra giáo phái này là Basaoa ở thế kỷXII Giáo phái Linga phủ định quyền uy của kinh Vệ đà và thuyết nghiệp báo luânhồi, phản đối việc tôn thờ oranh và tượng thần, phủ nhận chế độ đẳng cấp và nhữngquy tắc hà khắc đối với phụ nữ và sinh hoạt gia đình 3) Giáo phái Thánh điển xuấtphát từ kinh điển của Siva giáo nên có tên như vậy Thánh điển giáo coi trọng sựnghiên cứu và tìm tòi lý luận, tuyên bố vũ trụ có ba dạng tồn tại cơ bản là thầnSiva, linh hồn cá nhân và vật chất Vật chất thể hiện dưới 36 loại hiện tượng hư ảo,nhưng do dốt nát nên con người bị ràng buộc với vật chất (nghiệp), sa vào kiếp luânhồi Để được giải thoát thì con người phải loại bỏ được sự dốt nát và nghiệp, giànhđược tình yêu của thần Siva, hợp nhất với thần Siva cùng với sức sống và tri thức
vô hạn
Giáo phái Tính lực
Là một giáo phái độc lập, tách ra từ Siva giáo Giáo phái này chủ yếu tôn thờ
vợ của các thần: Donhijia, Nan cận mẫu (vợ của Siva), Cát tường thiên nữ (vợ củaVishnu), Saravati, hay Biện tài thiên nữ (vợ của Brahma), Rata (vợ của Hắc Thiên).Giáo phái này quan niệm rằng tính lực (hoạt tính, tính tích cực) của các nữ thần này
là cái biểu hiện của tính tích cực của thần linh tối cao hay của thực tại tối cao(Phạn), là nguyên nhân sáng tạo ra và phát triển vạn vật trong vũ trụ, còn bản thâncác thần là thụ động Tính tích cực có hai hình thức biểu hiện là sự trong sáng, hiền
từ, nhân ái lành mạnh và sự xấu xa, độc ác, hung hãn, bạo tàn Tính lực giáo có haiphân nhánh là Tả tính lực giáo và Hữu tính lực giáo Tả tính lực giáo sử dụng lễnghi bí mật mà chủ yếu gồm có: 1) hy sinh, tức dùng động thực vật, kể cả conngười, để tế lễ; 2) luân tọa, tức nam nữ đồng niên thay đổi chỗ giao hợp cho nhautrong đêm tối; 3) Yoga, tức luyện tập theo những pháp đặc biệt; 4) ma pháp Giáophái này không tin vào nghiệp báo luân hồi, phản đối phân hóa đẳng cấp và kỳ thịphụ nữ Hữu Tính lực giáo xuất hiện ở thế kỷ XIII, nó công khai tiến hành những
Trang 13nghi thức cúng tế của Vệ đà giáo, việc cúng tế diễn ra ở chùa, dùng hoa quả và bộtgạo làm vật cúng tế.
Giáo phái Kabir
Là một trong các giáo phái xuất hiện trong phong trào cải cách tôn giáo ởthời trung cổ Kabir là người sáng lập ra giáo phái này Theo ông, thực tại hay thầntối cao trong vũ trụ là Brahma, Vishnu và Siva Sự giải thoát diễn ra nhờ có sựthành kính đối với thần và hợp nhất với thần Ông phản đối việc thờ tranh và tượngthần, sự phân hóa đẳng cấp và kỳ thị đối với phụ nữ, kêu gọi sự đoàn kết giữa tín
đồ Hindu giáo và Hồi giáo
Giáo phái Samai (Phạn xã)
Là một giáo phái ra đời trong phong trào cải cách Hindu giáo Giáo phái nàydựa trên nhất thần luận của Upanisah, những nhân tố của Hồi giáo và Thiên Chúagiáo Tín đồ của giáo phái này thờ Phạn (thực tại tối cao, lý tính tối cao), loại bỏmọi nghi thức cúng tế nghiêm khắc, rối rắm Họ kiên quyết phản đối sự phân hóa
và sùng bái đẳng cấp, sự kỳ thị đối với phụ nữ, coi dị giáo là kẻ thù, đề xướng nềngiáo dục hiện đại và coi trọng khoa học – kỹ thuật phương Tây Môn đệ của Roy làTaker đã đưa ra một loạt chương trình cải cách tôn giáo triệt để hơn Vào năm
1866, một môn đồ khác của giáo phái là Keshab đã kết hợp nội dung của BrahmaSamaj giáo, của Thiên Chúa giáo, Hồi giáo và Nho giáo thành Tân Thiên Giáo vớikhẩu hiệu “phục vụ thần tức là phục vụ con người”, triển khai cải cách xã hội vàvăn hóa Như vậy, giáo phái Brahma Samaj đóng một vai trò quan trọng trongphong trào khai sáng và dân tộc chủ nghĩa của Ấn Độ
1.3 Một số lễ nghi và tục thờ cúng
Ngày nay, Ấn Độ giáo vẫn là tôn giáo mạnh và đầy sức sống ở Ấn Độ, đặcđiểm của nó là có rất nhiều niềm tin và cách hành đạo Những truyền thống của nókhởi nguyên từ khoảng năm 800 trước CN, hoặc thậm chí sớm hơn, và nó nhấnmạnh sự thống nhất của mọi sinh linh, tính tất yếu của việc tái sinh và việc thờ
Trang 14phụng nhiều vị thần khác nhau… Một số là những người vô thần Hoàn toàn không
có giáo lý hay đòi hỏi nghi thức, tính đa dạng của Ấn Độ giáo tự thể hiện trong vô
số phong tục, truyền thống và văn chương
Đạo Hindu không nhất quán Tôn giáo này có nhiều hình thức thờ cúng,không chỉ có hình thức của người Aryan, mà còn hình thức của những người Ấn
Độ nguyên thủy Nó không có thiên hướng thờ một thần, mà gắn bó với thiênhướng đa thần
Một điểm khác biệt nữa giữa đạo thần bí Hindu với đạo Bà la môn (và cả với
Cơ Đốc giáo) là: lý tưởng sống ẩn dật xa lạ với đạo này Nó không thôi thúc conngười phải rời bỏ cuộc sống bình thường Hindu giáo mong đợi con người trải quamọi thăng trầm trong tư tưởng và việc làm, nhưng vẫn tận tâm thờ Thượng Đế.Mặc dù có nhiều thần linh nhưng cũng chính bởi phụ thuộc nhiều vào tư tưởng Bà
la môn, đạo Hindu cổ xưa chỉ có thể phát triển thành tôn giáo nhất thần chứ khôngphải tôn giáo nhất thần phục vụ đạo đức Đạo này coi Thượng Đế có ý nghĩa caohơn tất cả những gì thuộc về đạo đức và những gì không thuộc về đạo đức
Như vậy ngoài việc tuân thủ thuyết chối bỏ cuộc sống và thế giới của đạo Bà
la môn, đạo Hindu giữ lại cho mình một khía cạnh riêng: thay vì chỉ khoan dungvới hành động, nó còn tôn vinh hành động Nhưng đạo giáo của chúng sinh khôngthể làm gì hơn ngoài việc lưu tâm tới cảm xúc tự nhiên Hindu giáo không đòi hỏihành động nào khác ngoài hành động như đạo Bà la môn đòi hỏi, nhưng thể hiện lạikhác Con người không thể thỏa mãn (như người Bà la môn) ở sự quý trọng (bêncạnh ý tưởng từ bỏ cõi trần) một sự đánh giá hạn hẹp và chỉ liên quan đến hànhđộng (những hành động của bổn phận do tầng lớp đặc quyền đề ra) Đạo này đòihỏi con người phải thể hiện lòng tận tụy hoàn toàn với Thượng Đế Đòi hỏi nàycũng gắt gao không kém nỗ lực từ bỏ cõi trần của một cá nhân
Bản chất nhất thần nhưng thực tế cho thấy trong Hindu giáo có hệ thống thầnlinh đồ sộ và phong phú đến mức khó mà ghi nhớ hết Tuy nhiên, hình ảnh tam