Đây là Đề cương ôn tập cuối học phần di sản mỹ thuật Việt Nam, đầy đủ và chi tiết cho sinh viên ĐH Hải Phòng...........................................................................................................................................................................................................
Trang 1Nhóm 4 điểm
Câu 1 Phân tích vẻ đẹp của trống đồng Ngọc Lũ- Hà Nam
Xuất xứ: Theo tư liệu lịch sử được lưu giữ tại bảo tàng lịch
sử quốc gia thì trống đồng Ngọc Lũ được 2 nông dân tên Nguyễn Văn Y và Nguyễn Văn Túc phát hiện năm
1893-1894 khi đang đắp đê tại xã Như Trác, huyện Nam Xang ( nay Lý Nhân- Hà Nam)
Là trống đồng lớn nhất và cổ nhất
Cấu trúc gồm các bộ phận
o Mặt trống
o Tang trống
o Thân trống
o Chân trống
- Mặt trống chia làm 3 tuyến trang trí
+ Ở giữa là ngôi sao 14 cánh trượng trưng cho mặt trời + Vòng 1: Nhà sàn mái cong 2 bên có người ngồi giã gạo đội mũ lông chim
+Vòng 2: Trang trí xen giữa 1 đàn hươu 6 con thì có 1 con lạc
+Vòng 3: Trang trí đan xen 1 con giống bồ nông bay 1 con đậu
- Tang trống: Là chiếc hợp cộng hưởng khuyech đại âm thanh
+ Phần trên: 6 vành hoa hình văn học + Phần dưới: 6 người trên 1 thuyền
Gắn giữa tang trống và thân trống là hai đôi quai thép đúc nổi hoa văn bông lúa, đối xứng nhau
- Thân trống: Hình trụ đứng, là bộ phận nắn âm thanh
+ Phần giữa của thân: Hoa văn hình học chạy song song cắt nhau tạo thành 6 ô hình chữ nhật( trong ô là chiến binh)
+ Phần dưới của thân: Hoa văn hình học chấm giữa có tiếp tuyến
- Chân trống: nở choãi hình nón cụt, thường để trơn hoặc trang trí hình tròn
“ Trống đồng Ngọc Lũ vẫn là chiếc trống đồng có kiểu dáng và kích thước hài hòa nhất, đề tài trang trí đẹp và
Trang 2phong phú nhất, hoa văn trên trống đồng Ngọc Lũ nhiều nét đặc trưng của văn hóa Lạc Việt”
Câu 2 Diễn trình kiến trúc đình làng qua từng giai đoạn
TK XVI: Các ngôi đình có quy hoạch mặt bằng hình chữ “ Nhất”
+ Ba gian hai chái
+Gian giữa lớn hơn hai gian bên cạnh
+Các vì liên kết 4 hàng cột, 2 cột lớn và hai cột quân nhỏ hơn
- Đặc điểm nổi bật của kiến trúc đình làng là sàn đình
+ Gian giữa thờ Thành Hoàng ( Trung tâm cân đối bố cục của các gian bên)
+ Bàn thờ được đẩy cao và lui về hàng cột phía trong Nguyên liệu: gỗ mít- quy mô đình nhỏ
VD: Đình Tây Đằng, Chu Quyết ( Hà Tây)
TK XVII: Nhu cầu phát triển mở rộng , kiến trúc đình làng quy mô lớn với nhiều kiểu
- Đình chữ Đinh丁 : Đình làng xây thêm phần hậu cung để tách riêng nơi thờ thần Hoàng Làng
o Vd : Đình Lỗ Hạnh( Bắc Giang), đình Bảng( Bắc Ninh)
- Hình chữ Nhị ニ Đình Phù Lão ( Bắc Giang)
- Đình chữ Công工 Đình Thổ Hà ( Bắc Giang)
- Đình chữ Khẩu口 Đình Võ Việt ( Nghệ An)
TK XVIII
- Kiến trúc đình làng ngày càng đa dạng hơn
- Cùng với sự bổ sung, nối thêm hậu cung cho đình cũ, cả nóc và nền đều theo dạng chữ “ Công”
VD; Đình Bảng ( Bắc Ninh)
TK XIX đến đầu TK XX
- Đình làng ngày càng khẳng định vai trò, vị trí của nó trong đời sống tâm linh của dân làng
- Kiến trúc : cột biểu hoặc cổng tam môn, bình phong , hai dãy tả vũ, hữu vũ, tường bao quanh
- Hỉ với tên gọi Tiền Tế đã phản ánh tình trạng tế lễ trong hội, đưa lễ lên trước hội, thậm chí thần bí hóa hội
Trang 3Ngọ Môn
-“Chiếc cổng xây dựng quay về hướng Ngọ”
- Là cổng phía nam của hòng thành Huế ( Kinh dịch “ quy định ông vua phải hướng về phía Nam để cai trị thi hạ”)
- Được xây dựng vào năm 1833 và hoàn thành bởi vua Minh Mạng, Ngọ môn có thể chia làm 2 phần chính
+ Phần đền đài (phía dưới)
+Lầu Ngũ Phụng ( phía trên)
Kết hợp hài hòa thành một thể thống nhất
1 Hệ thống đền đài:
- Xây bằng gạch vồ và đá Thanh kết hợp với kim loại đồng
- Có mặt bằng hình chữ U vuông góc, lòng hướng ra ngoài hoàng thành
o Chiều dài đáy 57,77m
o Chiều dài cạnh 27,06m
o Chiều cao chung khoảng 5m
o Diện tích 1560 mét vuông
- Ở phần giữa nền đài có 3 cửa đi song song nhau
o Ở giưa: Vua đi
o Tả Giáp Môn và Hữu Giáp Môn : các quan văn võ đi ( Xây dựng xuông thẳng)
- Trong lòng cách chữ U mỗi bên có một cửa chạy xuyên qua như đường hâm là Tả Dịch Môn và Hữu Dịch Môn để binh lính , voi, ngựa theo hầu ( Xây dựng kiểu mái vòm)
- Ở 2 bên sườn Ngọ môn có hệ thống thang lộ thiên để đi lên trên đài Xung quanh mặt trên nền đài được bao bởi hệ thống lan can trang trí bằng gạch hoa đúc rỗng tráng men ngũ sắc
2 Lầu Ngũ Phụng
- Mặt bằng hình chữ U, gồm 2 tầng lầu và 2 tầng mái , xây dựng trên nền cao 1,14m xây trên đài
- Khung làm bằng gỗ Lim
- Toàn bộ toàn có 100 cây cột, mỗi bên có 50 cây, 48 cây cột xuyên suốt 2 tầng
Trang 4- Hệ thống mái:
o Chia làm 9 bộ mái
o Giữa cao hơn 8 bộ còn lại
o Lợp ngói thanh lưu ly, hoàng lưu ly( nơi vua ngự)
o Nhiều hình chim phụng trang trí ở phần bờ nóc, bờ quyết tinh xảo và thanh thoát
- Tầng lầu dưới: Hai bên để trống, lộ cột gồm có Tả Dực Lâu
và Hữu Dực Lâu
- Tầng lầu trên
o Phía trên là hệ thống cửa “ thượng song hạ bản” trên
đó trổ nhiều hoa văn đẹp mắt, tinh tế
o Có hệ thống lan can chạy dọc suốt lớp cửa này
Ngọ môn là đỉnh cao của kiến trúc cung đình Huế, là biểu tượng của nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc đậm bản sắc dân tộc Trải qua bao thăng trầm của lịch sử , bao biến cố của thời gian, Ngọ môn mãi là một kiệt tác đại diện cho kinh thành một thời vàng son của đất nước
Câu 4 Tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn…
- Đặt tại chùa Bút Tháp-Bắc Ninh ( Cao gần 1 m)
- Là bức tượng đầu tiên có năm làm tượng và tên tác giả được khắc trên bệ tương trong lịch sử mĩ thuật phong kiến ( 1956- Trương tiên sinh)
- Nét độc đáo
o Vầng hào quang của đức Phật được tạo bằng cách xếp 789 cánh tay nhỏ được trau chuốt, tỉ mỉ thành bố cục hình tròn phía sau hài hòa, cân xứng
o Trên mỗi bàn tay nhỉ lại vẽ một con mắt có ý nghĩa nhìn thấu nỗi khổ của chúng sinh
o Khuôn mặt của đức Phật tròn đầy , phúc hậu, vừa nghiêm trang, sâu lắng , vừa khích lệ chúng sinh
Lông mày lá liễu
Mũi dọc dừa
Mặt trái xoan
Cổ cao 3 ngấn
=>Chân dung được người Việt tổng kết Những cánh tay lớn: Như búp măng vươn ra từ hai bên tượng Phật vừa mềm mại, vừa tràn đầy sức sống
Trang 5 Tất cả các yếu tố, đường nét, hình khối thậm chí cả màu sơn đã tạo nên vẻ đẹp trang trọng , đức độ của Phật Quan
Âm, vừa sống động, tươi mát, tràn đầy sinh lực và gần gũi với con người
- Phần bệ tượng:
o Đầu rồng nhô lên dùng cánh tay lực lưỡng đỡ lấy toàn sen
o Cham khắc tôm , cua, cá… đậm nét dân gian
Tinh chất tôn giáo chính thống kết hợp với dân gian tạo thành 1 kiệt tác…
Nhóm 6 điểm
Câu 1: Đình làng là sản phẩm thuần túy của văn hóa việt Hãy trình bày các thành phần kiến trúc cơ bản của đình làng Việt Nam ?
Trải dài suốt 400 năm xây dựng đình làng VN, thế kỉ 16 là bước khởi đầu đình làng lúc đó còn nhỏ hẹp Thế kỉ 17 phát triển đến đỉnh cao của kiến trúc đình làng về cả quy mô và chạm khắc trang trí Thế kỉ 18 do thiết chế của phong kiến ngặt
nghèo,mang tính quy phạm nên chạm khắc trang trí ko còn phóng khoáng nữa Thế kỉ 20 thoái trào,ko còn đình mới nào đc xây dựng Nên có thể nói đình làng thế kỉ 17 là những ngôi đình tiêu biểu nhất
*Các hạng mục tổng thể:
-Đại đình:
+Còn đc gọi là nhà đại bái, là nơi hành lễ, nơi tiến hành các sinh hoạt công cộng và các hoạt động hành chính công vụ
Trang 6+Đại đình chia làm 3 phần:
/Chính giữa là trung đình, là nơi tế tự Nơi để hở sàn nhà,có cung thờ hoặc nối tiếp với hậu cung đc bày them hương án với
đồ thờ
/Hai bên Tả gian và Hữu gian có 2 dãy hương án thờ những người phối hưởng Sàn nhà của Tả gian và Hữu gian cao hơn nền gian trung đình
/Hai đầu hồi và vòng ngoài thì sàn còn cao hơn 1 cấp nữa
Kiến trúc tòa đại đình theo kiểu vì kèo giá chiêng.
-Hậu cung:
+hậu cung xuất hiện vào TK 18-19
+ Hậu cung còn gọi là nội điện, là chỗ thâm nghiêm, nơi thờ thành hoàng làng
+Trong cùng của hậu cung có bài vị của thành hoàng làng
+Trước nơi an phụng thần vị là bàn thờ bầy các đồ thờ Tam sự, Ngũ sự, rồi đài rượu, hòm đựng sắc phong thần tích
+Hậu cung ko đòi hỏi 1 ko gian lớn nhưng phải luôn ở vị trí trung tâm Hậu cung là ko gian khép kín tạo ko khí thần bí
thiêng liêng
-Nhà tiền tế:
+ Nhà tiền tế đc xây trước Đại đình thường có 1 gian 2 chái hoặc mặt bằng hình vuông , có 1 hoặc 2 tầng mái
+Phía trước đại đình là sân đình Hai bên có 2 dãy tả vu và hữu
vu là nơi mà các quan sửa soạn mũ áo trước khi vào tế và là nơi
để dân làng chuẩn bị cỗ bàn
+Ngoài cung là cổng, gọi là nghi môn Hai bên tường cổng đắp rồng chầu, hổ hoặc vẽ đôi võ tướng cầm long đao….Phía trước cổng là hồ , ao hoặc giếng Giữa cổng và hồ có bình phong hoặc hòn non bộ
*Mô tả tòa Đại đình :
-Khung cột ;
Trang 7+hệ thống khung cột-xà-kẻ và các kết cấu của nó là thành phần quan trọng nhất của đình làng
+ Khung cột-xà-kè là hệ thống liên kết 3 chiều của các cấu kiện
đứng (cột quân, cột cái…) ngang ( xà thượng, xà hạ, ) dọc (kẻ,
bẩy…)
+Bộ cột là hệ thống chịu lực của toàn bộ sức nặng ngôi đình Nên cột phải làm từ các cây gỗ tốt nhất
+Hệ thống liên kết các cột kèo theo chiều dài gọi là xà ngang bao gồm xà thượng nối đầu 2 cột quân, xà hạ nối đầu 2 cột hiên
+Hệ thống liên kết bên dưới bộ khung ngôi đền gọi là dầm sàn bao gồm dầm dọc nối các cột trong một vì, dầm ngang nối các cột của các vì khác nhau
-Mái đình :
+Mái đình thường bề thế, xòe rộng ra 2 mái chính rộng, lớn xòe thấp xuống, 2 mái hai đầu che kín 2 chái Chiều cao mái chiếm 2/3 chiều cao đình
+Dấu ấn đặc biệt nhất của mái đình là đao đình Hai mái chính
và 2 mái hồi gặp nhau thành đường bở giải gấp khúc, rồi nhẹ nhẹ déo cong về 4 phía
-Ngói :
+là vật liệu chủ yếu che cho công trình, có 2 loại ngói :
/ngói lợp : là loại ngói bản có nhiều loại khác nhau như ngói mũi hài, ngói vảy rồng
/ngói lót : là loại ngói hình chữ nhật có tác dụng tạo mặt phẳng trước khi lợp ngói và tạo dộ dày cho mái
Câu 2 Anh ( chị) hãy mô tả những đặc điểm về hình dáng
và cấu trúc hình thể đắc trưng của kiến trúc tháp Chăm.
Vật liệu
Trang 8Các tháp Chăm là một khối kiến trúc xây dựng bằng gạch
nung màu đỏ sẫm lấy từ đất địa phương, phía trên mở rộng và thon vút hình bông hoa Mặt bằng tháp đa số là hình vuông có không gian bên trong chật hẹp thường có cửa duy nhất mở về hướng Đông (hướng Mặt Trời mọc) Trần được cấu tạo vòm
cuốn, trong lòng tháp đặt một bệ thờ thần bằng đá Nghệ thuật chạm khắc, đẽo gọt công phu hình hoa lá, chim muông, vũ nữ, thần thánh thể hiện trên mặt tường ngoài của tháp Các viên gạch liên kết với nhau rất rắn chắc mà không sử dụng chất kết dính, bền vững tới hàng chục thế kỷ
Quy cách
- Vẫn còn là một giả định Vì việc xây dựng tháp Chăm trong khi người ta không sử dụng một chất kết dính nào để liên kết các viên gạch lại với nhau mà nó vẫn bền vững , không có lỗ
hở,không thấy mạch hồ vữa của chất kết dính, đây là điều còn gây nhiều tranh cãi trong xây dựng tháp Chăm
- Theo giả định của nhà nghiên cứu Hồ Xuân Em
Người Chăm xưa xây Tháp bằng gạch mộc chưa nung, tức là dùng những viên gạch còn sống, trong đó có chứa một ít cát, nhúng nước rồi xát và ép chặt vào nhau để kết dính, Sau đó thực hiện điêu khắc, trang trí trên mô hình của tháp, đợi vài ngày cho gạch se khô lại rồi nung toàn bộ ngôi tháp theo đúng phương pháp giả định đã được đặt ra Ðó là cho nung phía bên ngoài và phía bên trong ngôi Tháp Nhưng phương pháp này tiêu tốn rất nhiều củi và gỗ để nung cả một tòa tháp lớn
Hình dáng tháp
Có 2 dạng: + Dạng biểu tượng cho ngọn núi thiêng Meru theo truyền thuyết trong Bà La Môn giáo ( gọi là tháp đưng Meru) Tháp có nhiều tầng tầng trên lặp lại tầng dưới nhưng nhỏ dần
và tụ lại vượn lên cao Trên các tầng tháp có các đỉnh tháp nhỏ duyên dáng được chạm khắc cầu kì
+ Dạng mái cong hình thuyền và những tháp phụ, dấu hiệu đặc thù của dân cư Đông Nam Á
Cấu trúc quần thể
Trang 9Có 2 loại + Loại quần thể kiến trúc gồm 3 tháp song song thờ 3
vị thần Brahma, Visnu và Siva Tháp giữa thờ thần Siva, tháp bắc thờ thần Brahma, tháp nam thờ thần Visnu Điển hình cho loại kiến trúc này là các nhóm: Tháp Chiên Đàn, tháp Khương Mĩ ( Quảng Nam), tháp Dương Long, tháp Hưng thành ( Quy Nhơn), tháp Hòa Lai ( Phan Rang, Ninh Thuận)
+Loại 2 là các quần thể kiến trúc có một tháp trung tâm thờ thần Siva và các tháp phụ vây quanh, Loại này thường xuất hiện muộn hơn ( thế kỉ thứ 9 về sau)
Câu 3 Ngôi chùa Việt mang đặc trưng của văn hóa Việt Nam , Anh chị hãy trình bày vẻ đẹp lối kiến trúc nội công ngoại quốc.
Chùa kiểu Nội công ngoại quốc là kiểu chùa có hai hành lang dài nối liền nhà tiền đường ở phía trước với nhà hậu đường (có thể là nhà tổ hay nhà tăng) ở phía sau làm thành một khung hình chữ nhật bao quanh lấy nhà thiêu hương, nhà thượng điện hay các công trình kiến trúc khác ở giữa Bố cục mặt bằng chùa
có dạng phía trong hình chữ Công (工), còn phía ngoài có khung bao quanh như chữ khẩu (口) hay như ở chữ Quốc (國)
Tam quan
Tam quan là bộ phận không thể thiếu trong thành phần của chùa Việt Nam , là cổng vào chùa , thường là một ngôi nhà với
ba cửa và Có nhiều chùa có hai tam quan, một tam quan nội
và một tam quan ngoại Tầng trên của Tam quan có thể dùng làm gác chuông Tam quan thể hiệ 3 quan điểm về cuộc đời, bao gồm ‘không quan’, ‘trung quan’,’giả quan’
Tháp Hòa Phong và Hồ nước hình tròn
Bái đường
Từ dưới dân chùa, lớp kiến trúc đầu tiên của ngôi chùa là nhà bái đường ( hay còn gọi là nhà tiền đường, thiêu hương) Để đi được đến đây thường phải đi lên một số bậc thềm Ở nhà bái đường có thể đặt một số tượng , bia đá ghi sự tích của ngôi chùa, có thể đặt cả chuông, nếu như ngoài cửa Tam quan
không xây gác chuông Giữa bái đường là nhà hương án, nơi
Trang 10thắp hương chính Thông thường người đến lễ chùa thắp hương
ở đây Số gian của bái đường tùy thuộc vào quy mô của chùa, nhỏ nhất là 3 gian, thông thương là 5 gian
Thượng điện
Qua nhà bái đường là thượng điện Giữa bái đường và thượng điện có một khoảng trống không rộng lắm, để ánh sáng tụ
nhiên chiếu sáng Nhà chính điện là phần quan trọng nhất của ngôi chùa vì nơi đây bày những pho tượng Phật chủ yếu của điện thờ Phật ở iệt Nam , Gồm có 6 bệ thờ
Hậu đường
Qua nhà chính điện, theo đường hành lang ta đến nhà tắng đường( còn gọi là nhà hậu đường), cũng còn gọi là nhà tổ Nhà hậu đường ở một số chùa trong miền Nam Việt Nam liền sát với nhà thượng điện, ngay sau phía bàn thờ Phật