Quản lý nhà nước về hải quan là hoạt động quản lý nhà nước đối với hàng hóa được xuất nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong lãnh thổ hải quan. Quản lý hải quan là cần thiết để góp phần bảo đảm thực hiện chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ; hợp tác và giao lưu quốc tế; bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, trong quá trình chịu sự quản lý hải quan, hàng hóa xuất, nhập khẩu (XNK) có thể bị cản trở ở mức nhất định. Trong thời đại toàn cầu hóa, khi thương mại quốc tế phát triển với gia tốc lớn, Một vấn đề đặt ra với quản lý hải quan là phải cân bằng giữa chức năng kiểm soát và chức năng tạo thuận lợi cho thương mại. Chính vì thế cải cách, hiện đại hóa, hài hòa thủ tục hải quan giữa các nước trở thành yêu cầu cấp bách của đa số các nước.
Trang 1MỤC LỤC
CHỮ VIẾT TẮT 2
I PHẦN MỞ ĐẦU: 3
1 Sự cần thiết của công tác quản lý rủi ro: 3
2 Mục đích của đề tài: 4
II PHẦN NỘI DUNG: 4
1 Khái quát chung về quản lý rủi ro: 4
2 Thực trạng: 7
3 Nguyên nhân: 9
a Khách quan: 9
b Chủ quan: 10
4 Đề xuất phương án giải quyết: 11
5 Ưu, nhược điểm các phương án: 12
III PHẦN KẾT LUẬN: 13
1 Các giải pháp: 13
2 Kiến nghị đối với cơ quan chức năng: 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 2CHỮ VIẾT TẮT
1 QLRR: Quản lý rủi ro
2 XNK: Xuất nhập khẩu
3 VNACCS/VCIS: là hệ thống thông quan hàng hóa tự động của Việt Nam (Tên tiếng Anh là Viet Nam Automated Cargo Clearance System) và Cơ chế một cửa quốc gia gồm 02 hệ thống nhỏ: (i) Hệ thống thông quan tự động (gọi tắt là Hệ thống VNACCS); (ii) Hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin nghiệp vụ (gọi tắt là Hệ thống VCIS)
4 CBCC: Cán bộ công chức
5 HQTN: Hải quan tỉnh Tây Ninh
6 KTSTQ: Kiểm tra sau thông quan
7 KSHQ: Kiểm soát hải quan
8 KSPCMT: Kiểm soát phòng chống ma túy
9 QLVP14: Phần mềm quản lý thông tin vi phạm
Trang 3I PHẦN MỞ ĐẦU:
1 Sự cần thiết của công tác quản lý rủi ro:
Quản lý nhà nước về hải quan là hoạt động quản lý nhà nước đối với hàng hóa được xuất nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong lãnh thổ hải quan Quản
lý hải quan là cần thiết để góp phần bảo đảm thực hiện chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ; hợp tác và giao lưu quốc tế; bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Tuy nhiên, trong quá trình chịu sự quản lý hải quan, hàng hóa xuất, nhập khẩu (XNK) có thể bị cản trở ở mức nhất định Trong thời đại toàn cầu hóa, khi thương mại quốc tế phát triển với gia tốc lớn, Một vấn đề đặt ra với quản lý hải quan là phải cân bằng giữa chức năng kiểm soát và chức năng tạo thuận lợi cho thương mại Chính vì thế cải cách, hiện đại hóa, hài hòa thủ tục hải quan giữa các nước trở thành yêu cầu cấp bách của đa số các nước
Một trong những nội dung cải cách hoạt động hải quan của nhiều nước tham gia hội nhập, trong đó có Việt Nam, là áp dụng phương thức quản lý rủi ro (QLRR) vào quá trình quản lý hàng hóa XNK QLRR cho phép hải quan tập trung nguồn kiểm soát các đối tượng có mức rủi ro cao, nhờ đó vừa tạo điều kiện cho hàng hóa thông quan nhanh, vừa thực thi được chức năng kiểm soát hiệu quả của Nhà nước
Do có ưu thế như vậy nên QLRR đã được nhiều nước áp dụng Hải quan Việt Nam cũng không nằm ngoài
Trong những năm gần đây, để đảm bảo công tác quản lý nhà nước về hải quan được tiến hành một cách khoa học, không cản trở không cần thiết hoạt động XNK, Tổng cục Hải quan đã bắt đầu áp dụng QLRR vào công tác nghiệp vụ, nhất
Trang 4được hiện đại hóa và đẩy mạnh từ khi thực hiện Hệ thống VNACCS/VCIS (01/4/2014), Cục Hải quan tỉnh Tây Ninh đã và đang triển khai thực hiện, áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan có hiệu quả, góp phần quan trọng trong tiến trình cải cách, hiện đại hóa, nâng cao năng lực quản lý hoạt động XNK hàng hóa Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ QLRR trong thời gian qua tại Cục Hải quan tỉnh Tây Ninh vẫn còn một bộ phận CBCC chưa quan tâm, chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của công tác QLRR dẫn đến hiệu quả công tác này chưa cao
Xuất phát từ những việc trên, đề tài “Công tác quản lý rủi ro tại Cục Hải
quan tỉnh Tây Ninh” được em chọn làm đối tượng nghiên cứu.
2 Mục đích của đề tài:
Mục tiêu nghiên cứu của bài thu hoạch là phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng, đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác QLRR nhằm triển khai hiệu quả kỹ thuật quản lý dựa trên phân tích rủi ro trong quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Tây Ninh
II PHẦN NỘI DUNG:
1 Khái quát chung về quản lý rủi ro:
Thuật ngữ quản lý rủi ro (QLRR) được hiểu là “việc áp dụng có hệ thống
các biện pháp, quy trình nghiệp vụ và thông lệ nhằm giúp cơ quan hải quan bố trí, sắp xếp nguồn lực hợp lý để tập trung quản lý có hiệu quả đối với các lĩnh vực, đối tượng được xác định là rủi ro”.
Theo Điều 17 của Luật Hải quan 2014 Quản lý rủi ro trong hoạt động
nghiệp vụ hải quan là:
Trang 5“1 Cơ quan hải quan áp dụng quản lý rủi ro để quyết định việc kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải; hỗ trợ hoạt động phòng, chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.
2 Quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan bao gồm việc thu thập,
xử lý thông tin hải quan; xây dựng tiêu chí và tổ chức đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người khai hải quan, phân loại mức độ rủi ro; tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý hải quan phù hợp.
3 Cơ quan hải quan quản lý, ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ để tự động tích hợp, xử lý dữ liệu phục vụ việc áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan.
4 Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định tiêu chí đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người khai hải quan, phân loại mức độ rủi ro và việc áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan.”
Quy trình QLRR có thể được chia thành 04 bước:
* Bước 1 Thu thập thông tin, xác định rủi ro
Đây là giai đoạn bắt đầu của quá trình nhận biết và xử lý rủi ro, để làm rõ điều gì có thể xảy ra, tại sao xảy ra và xảy ra như thế nào? qua đó phân tích, xác định các nguy cơ không tuân thủ pháp luật hải quan để làm cơ sở cho các bước tiếp theo của quy trình
* Bước 2 Phân tích, đánh giá rủi ro
Phân tích rủi ro là việc sử dụng kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng và kỹ thuật công nghệ thông tin để xem xét một cách có hệ thống các thông tin được thu thập
Trang 6nhằm xác định các khả năng (tần suất) và hậu quả của việc không tuân thủ pháp luật hải quan
Đánh giá rủi ro là việc xem xét một cách có hệ thống các rủi ro đã được xác định, phân tích bằng việc so sánh, đối chiếu với tiêu chí QLRR và những rủi ro đã
xử lý trước đó để xác định mức độ và yêu cầu cần thiết cho việc xử lý đối với rủi
ro đó
* Bước 3 Xử lý rủi ro
Xử lý rủi ro là việc cơ quan Hải quan áp dụng biện pháp để phòng ngừa, ngăn chặn hoặc làm giảm thiểu khả năng và hậu quả của rủi ro Xử lý rủi ro bao gồm việc lựa chọn biện pháp, chuẩn bị kế hoạch và thực hiện xử lý rủi ro
* Bước 4 Theo dõi - kiểm tra và đo lường mức độ tuân thủ
Để duy trì hiệu quả của hệ thống QLRR, cơ quan Hải quan phải theo dõi, đánh giá lại những rủi ro được xác định và xử lý trước đó; thu nhận phản hồi về những rủi ro mới; qua đó đánh giá hiệu quả của quá trình áp dụng QLRR
Kết quả của những đánh giá này sẽ giúp cho việc định hướng nguồn lực một cách có hiệu quả; áp dụng mức độ kiểm tra, kiểm soát phù hợp với mức độ tuân thủ của doanh nghiệp
Việc áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan mang lại những lợi ích to lớn cho cơ quan Hải quan như:
- Sử dụng phương pháp QLRR giúp cơ quan Hải quan quản lý các hoạt động một cách khoa học mang tính logic và có hệ thống Qua việc xác định đối tượng có rủi ro cao, ưu tiên tập trung nguồn lực vào quản lý đối với các đối tượng này đã giúp cho công tác quản lý không bị dàn trải, giảm bớt áp lực về khối lượng công
Trang 7việc, đồng thời tạo được sự cân bằng giữa tạo thuận lợi thương mại với kiểm soát chặt chẽ quá trình tuân thủ pháp luật
- Áp dụng kỹ thuật QLRR là một bộ phận và cũng là điều kiện cho việc triển khai thực hiện chương trình phát triển, hiện đại hoá ngành Hải quan
- Phương pháp QLRR làm giảm thiểu các thủ tục hành chính, giảm bớt vai trò can thiệp của cán bộ hải quan trong quá trình làm thủ tục hải quan Điều này giúp cho doanh nghiệp không bị lệ thuộc vào thủ tục hành chính, giảm chi phí phát sinh; đặc biệt loại trừ các tệ nạn gây phiền hà sách nhiễu có thể nảy sinh trong quá trình làm thủ tục hải quan
- QLRR tạo ra môi trường minh bạch trên nền tảng của tuân thủ pháp luật, giúp cho doanh nghiệp có điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh, thúc đẩy kinh tế phát triển
2 Thực trạng:
Trong thời gian qua, Cục Hải quan tỉnh Tây Ninh đã thực hiện có hiệu quả thủ tục hải quan điện tử, tự động hóa các hoạt động nghiệp vụ hải quan, góp phần tạo thuận lợi, giảm thời gian thông quan, đồng thời đảm bảo kiểm soát việc tuân thủ pháp luật Hải quan
Hàng năm, Cục ban hành Kế hoạch thu thập, xử lý thông tin quản lý rủi ro
và Quy chế phối hợp thực hiện, áp dụng quản lý rủi ro Từ đó, tổ chức triển khai thực hiện đồng bộ các nội dung đã đề ra
Tiến hành thu thập, xử lý, phân tích thông tin đối với các cá nhân, tổ chức có hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh để cập nhật vào Hệ thống thông tin quản
lý rủi ro và áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro trong thông quan hàng hóa, thiết
Trang 8lập kịp thời các tiêu chí lựa chọn đối với hàng hóa xuất nhập khẩu trên Hệ thống VCIS
Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý rủi ro được đánh giá chưa cao, vẫn còn một số hạn chế, tồn tại cần được khắc phục như sau:
- Việc thực hiện thu thập, cập nhật thông tin hồ sơ doanh nghiệp trên Hệ thống thông tin quản lý rủi ro còn chậm, chưa đảm bảo đầy đủ thông tin
- Tỷ lệ kiểm tra hồ sơ và kiểm tra thực tế hàng hóa đối với hàng hóa áp dụng các tiêu chí quản lý rủi ro còn khá cao, tỷ lệ phát hiện sai phạm trong kiểm tra thực
tế hàng hóa còn thấp, trung bình chiếm khoảng dưới 1%
- 20,000
40,000
60,000
80,000
100,000
120,000
93,706
86,364 92,836
114,163
61,266
17,173
33,833
46,675
62,192
23,706 8,290 10,845 12,516 17,002 5,515
Biểu đồ phân luồng tờ khai
Xanh Vàng Đỏ
Trang 92012 2013 2014 2015 6 tháng đầu 2016 0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
79%
66%
18%
Biểu đồ tỉ lệ phân luồng tờ khai
Xanh Vàng Đỏ
- Thu thập, xử lý, phân tích thông tin đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động xuất nhập khẩu được chuyển đến để cập nhật vào Hệ thống thông tin quản lý rủi ro
và cung cấp thông tin có liên quan theo yêu cầu của các đơn vị ngoài ngành
- Tăng cường công tác thu thập, phân tích xử lý các thông tin, dấu hiệu rủi
ro, dấu hiệu vi phạm để xây dựng hồ sơ rủi ro
- Thực hiện việc theo dõi, đánh giá xếp hạng doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn Cục để có những đề xuất Tổng cục Hải quan điều chỉnh hạng cho phù hợp với tình hình thực tế
- Áp dụng có hiệu quả quản lý rủi ro trong thông quan hàng hóa, thiết lập kịp thời các tiêu chí lựa chọn đối với hàng hóa xuất nhập khẩu thuộc các văn bản chỉ đạo của Bộ ngành, Tổng cục Hải quan; hàng hóa có dấu hiệu vi phạm theo đề xuất của các bộ phận có liên quan như: Đội Kiểm soát Hải quan, các Chi cục Hải quan trực thuộc trong quá trình làm thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu tại các cửa khẩu, khu công nghiệp
Trang 10Mặt khác, Công tác QLRR đòi hỏi người thực hiện cần có kinh nghiệm trong thực tế công việc, nắm bắt sâu đối tượng, địa bàn hoạt động, theo dõi sâu sát các cá nhân, tổ chức trong thời gian dài để có cơ sở đánh giá được mức tuân thủ của doanh nghiệp nhưng thực tế hiện nay cán bộ, công chức làm nhiệm vụ QLRR tại Cục HQTN nói chung, tại các Chi cục Hải quan nói riêng chưa thật vững kiến thức
về QLRR, chưa được đào tạo chuyên sâu về công tác này Bên cạnh đó, vẫn còn một số CBCC chưa thật sự quan tâm đến công tác QLRR, chưa tự xây dựng cho mình một nền tảng kiến thức về QLRR, chưa thông thạo trong việc cập nhật, khai thác các thông tin dữ liệu trên Hệ thống của Ngành Hải quan nói chung và Hệ thống thông tin QLRR nói riêng
3 Nguyên nhân:
a Khách quan:
- CBCC thực hiện công tác QLRR chưa chuyên sâu, chuyên nghiệp Đây được đánh giá là một trong những nguyên nhân khách quan do yêu cầu điều động, luân chuyển của ngành
- Công tác QLRR luôn thực hiện theo cơ chế mật nên việc phổ biến rộng rãi,
áp dụng thực hiện cũng gặp khó khăn, đòi hỏi người làm phải thận trọng trong việc xem xét, đánh giá và áp dụng các biện pháp nghiệp vụ vào các hoạt động hải quan
- Hiện nay, theo phân công nhiệm vụ người làm công tác QLRR còn hạn chế
về số lượng, công chức được phân công làm công tác QLRR còn đảm nhiệm một
số công việc khác nên chưa đảm bảo thực hiện tốt công tác QLRR
- Hệ thống thông tin đã được xây dựng từng bước đáp ứng yêu cầu nghiệp
vụ, tuy nhiên nhiều phần mềm hệ thống còn phân tán, chưa đồng bộ, chưa tích hợp
Trang 11lại với nhau thành một khối thống nhất; Hạ tầng mạng còn yếu, hiện tượng lỗi, tắc nghẽn hệ thống vẫn còn xảy ra phổ biến
- Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS là hệ thống đặc thù của Nhật Bản là dành cho cảng biển và hàng không, nên áp dụng các tiêu chí QLRR tại của khẩu đường bộ tại Cục Hải quan tỉnh Tây Ninh còn khó khăn
- Ngoài ra, chưa có đầu mối tham mưu điều phối công tác thu thập, xử lý thông tin Công tác phối hợp trao đổi thông tin với các đối tượng ngoài ngành hạn chế, mặc dù có văn bản pháp luật nhưng thực tế triển khai gặp nhiều khó khăn Thông tin doanh nghiệp cung cấp mang tính hình thức, giá trị sử dụng thấp
b Chủ quan:
- Một số CBCC chưa có ý thức về công tác QLRR, còn lơ là không chú trọng, khi thực hiện nhiệm vụ mang tính chất tham gia chưa có chất lượng, chưa có
sự đầu tư giải quyết sâu các nội dụng mà công tác QLRR yêu cầu
- Chưa có sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của các cấp lãnh đạo của đơn vị về công tác QLRR
- Công tác QLRR đòi hỏi sự kết hợp toàn diện của tất cả các lực lượng trong quy trình nghiệp vụ hải quan từ khâu đăng ký tờ khai, khâu kiểm tra thực tế hàng hóa, khâu giám sát hàng hóa, khâu kiểm tra sau thông quan và toàn thể các bộ phận chuyên môn có liên quan như KTSTQ, KSHQ, KSPCMT, Nghiệp vụ, Thanh tra, các Chi cục nhưng hiện nay chưa có sự đồng bộ rõ rệt như yêu cầu của công tác QLRR
- Phòng Chống buôn lậu và xử lý vi phạm đã tổ chức triển khai văn bản liên quan đến công tác QLRR trong năm 2016 nhưng vẫn có một số đơn vị không cử
Trang 124 Đề xuất phương án giải quyết:
- Công tác QLRR phải được phổ biến, quán triệt đến toàn thể cán bộ, công chức làm công tác nghiệp vụ chứ không riêng của bộ phận quản lý rủi ro, từ đó định hướng việc thực hiện phối hợp thu thập, phân tích thông tin, đánh giá hiệu quả, chất lượng áp dụng quản lý rủi ro trong quy trình nghiệp vụ hải quan Các biện pháp, kỹ thuật nghiệp vụ QLRR phải được triển khai đầy đủ, toàn diện trong các hoạt động nghiệp vụ hải quan, trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật và thực tiễn
- Cần phát triển công tác QLRR theo hướng chuyên sâu, chuyên nghiệp hóa các biện pháp, kỹ thuật nghiệp vụ
- Cơ chế pháp luật quy định rộng, đòi hỏi người thực hiện phải am hiểu, nắm bắt được kiến thức toàn diện trong tất cả các lĩnh vực Vì vậy, mỗi CBCC cần hệ thống lại cho mình trước tiên là các văn bản quy định về công tác QLRR, sau đó nâng cao nghiên cứu các quy định về nghiệp vụ hải quan
- CBCC cần nâng cao trình độ về tin học, thông thạo trong việc tra cứu các thông tin trên các hệ thống của ngành, khai thác cơ sở dữ liệu thông tin có liên quan, đặc biệt là việc nhập liệu các nội dung thông tin vào hệ thống QLRR, QLVP14
- Việc tổ chức, bố trí, luân chuyển cán bộ công chức thực hiện công tác QLRR cần ưu tiên những cán bộ có kinh nghiệm, đã được đào tạo làm công tác quản lý rủi ro và nhiệt tình có trách nhiệm, đảm bảo đáp ứng yêu cầu của các hoạt động nghiệp vụ hải quan trong thời gian tới
- Tổ chức đào tạo và đào tạo lại cho các đơn vị, cá nhân thuộc các lĩnh vực nghiệp vụ hải quan có liên quan công tác QLRR